Kinh tế -Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập ở Uỷ ban nhân dân xã Tràng Sơn với đề tài: “Đánh giá hiệ
Trang 1HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014 Giáo viên hướng dẫn: Th.S Lưu Thị Thùy Linh Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3NHNN&PTNT của các hộ dân tại xã Tràng Sơn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn”, chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn là công trình nghiên cứu
của riêng tôi đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong đề tài này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện
đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, ngày 27 tháng 05 năm 2014
Tác giả đề tài
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 4Kinh tế -Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập ở Uỷ ban nhân dân
xã Tràng Sơn với đề tài:
“Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay từ NHNN&PTNT của các hộ dân tại xã Tràng Sơn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn”
Khóa luận hoàn thành được nhờ sự quan tâm giúp đỡ nhà trường, các thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường
Em xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như khoa Kinh tế - Phát triển nông thôn nơi đào tạo, giảng dạy và giúp
em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đặc biệt, em xin
chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Lưu Thị Thùy Linh người đã trực tiếp
hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ tận tình tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới Uỷ ban nhân dân Xã Tràng Sơn và toàn thể bà con nhân dân xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập để hoàn thành đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 5
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Tràng Sơn 17
Bảng 4.2: Tình hình nhân khẩu vào lao động của hộ điều tra 20
Bảng 4.3: Tình hình đất đai của các hộ điều tra 22
Bảng 4.4: Tình hình TLSX của hộ điều tra 23
Bảng 4.5: Tình hình sử dụng vốn lưu động cho sản xuất của các hộ điều tra 24
Bảng 4.6: Tình hình vay vốn của các hộ dân qua các năm tạo xã Tràng Sơn 32 Bảng 4.7: Mức vay vốn của các hộ điều tra 34
Bảng 4.8: Mục đích vay vốn trong khế ước của các hộ điều tra 36
Bảng 4.9: Mục đích sử dụng vốn vay thực tế của các hộ điều tra 37
Bảng 4.10: Tình hình sử dụng vốn vay của các hộ điều tra 39
Bảng 4.11: Chi phí bình quân của các hộ 40
Bảng 4.12: Kết quả trồng keo của các hộ điều tra 41
Bảng 4.13: Hiệu quả sản xuất của trồng keo 42
Bảng 4.14: So sánh hiệu quả quả kinh tế trồng keo của các hộ sử dụng và không sử dụng nguồn vốn vay để đầu tư trồng 43
Bảng 4.15: Chi phí sản xuất chăn nuôi lợn của các hộ điều tra 45
Bảng 4.16: Kết quả chăn nuôi lợn của các hộ điều tra 46
Bảng 4.17: Hiệu quả sản xuất của chăn nuôi lợn/lứa 47
Bảng 4.18: So sánh hiệu quả quả kinh tế chăn nuôi lợn của các hộ sử dụng và không sử dụng nguồn vốn vay để đầu tư chăn nuôi 48
Bảng 4.19: Tình hình kinh doanh của các hộ 49
Bảng 4.20: Hiệu quả kinh tế kinh doanh của hộ 50
Bảng 4.21: Tình hình hoàn trả vốn vay của các hộ điều tra trong năm 2013 51
Trang 6Tổng sản phẩm quốc nội Tổng giá trị sản xuất Héc ta
Chi phí trung gian Khoa học kĩ thuật Lao động
Lợi nhuận bình quân Mét vuông
Ngân hàng Ngân hàng chính sách xã hội Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng trung ương Lợi nhuận
Strength (điểm mạnh), Weakness (điểm yếu), Opportunity (cơ hội), Threaten (thách thức)
Sản xuất Sản xuất nông nghiệp Trung bình
Tín dụng
Tư liệu sản xuất Trọng lượng xuất chuồng Trọng lượng xuất chuồng bình quân Triệu đồng
Tài sản cố định Tài sản lưu động
Uỷ ban nhân dân Giá trị tăng thêm
Trang 7PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Trong học tập và nghiên cứu 2
1.3.2 Trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1.1 Khái niệm hộ nông dân 4
2.1.1.2 Một số vấn đề về tín dụng 4
2.1.1.3 Hoạt động cho vay đối với hộ nông dân 6
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 10
2.1.2.1 Tình hình tín dụng nông thôn ở Việt Nam 10
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 12
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 12
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 12
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 12
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 12
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu 12
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 12
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 12
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 12
3.3.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 12
3.3.2.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 14
Trang 8PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15
4.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 15
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của vùng 15
4.1.1.1 Vị trí địa lý 15
4.1.1.2 Khí hậu 15
4.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội của vùng 15
4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động (tính đến này 31/12/2013) 15
4.1.2.2 Tình hình đất đai của xã: 16
4.1.2.3 Tình hình kinh tế xã hội 18
4.2 Đánh giá thực trạng vay và sử dụng vốn vay từ NHNN&PTNT của các hộ dân tại xã Tràng Sơn 20
4.2.1 Năng lực sản xuất của hộ 20
4.2.1.1 Tình hình lao động và nhân khẩu 20
4.2.1.2 Tình hình đất đai của các hộ điều tra 21
4.2.1.3 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra: 23
4.2.1.4 Tình hình sử dụng vốn lưu động vào sản xuất: 24
4.2.2 Tình hình vay vốn chung của các hộ dân trong xã từ NHNN&PTNT 26 4.2.3 Phân tích tình hình vay vốn từ NHNN&PTNT của các hộ dân điều tra tại xã Tràng Sơn 33
4.2.3.1 Phân tích mức vay vốn, thời hạn vay và lãi suất vay của các hộ điều tra 33 4.2.3.2 Mục đích vay vốn trên khế ước của các hộ điều tra 36
4.2.4 Phân tích tình hình sử vốn vay của các hộ nông dân 37
4.2.4.1 Mục đích sử dụng thực tế nguồn vốn vay của các hộ điều tra 37
4.2.4.2 Đánh giá tình hình sử dụng vốn vay của các hộ điều tra 38
4.2.4.3 Hiệu quả kinh tế sử dụng nguồn vốn vay của các hộ điều tra 39
4.2.4.4 Tình hình hoàn trả vốn vay của hộ 50
4.3 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong sử dụng nguồn vốn vay để phát triển kinh tế gia đình của các hộ điều tra tại
địa bàn xã 52
Trang 94.4.2 Về phía ngân hàng 53
4.4.3 Về phía hộ nông dân 54
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp có 70% dân số sống tập trung ở khu vực nông thôn và chiếm gần 20% tổng thu nhập quốc dân Cho nên có thể nói rằng nông nghiệp nước ta vẫn luôn là mặt trận hàng đầu, có tầm quan trọng chiến lược Ổn định sản xuất nông nghiệp, ổn định cuộc sống nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của đất nước Chính vì lẽ đó mà chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn là một trong những vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay nhằm từng bước cải thiện bộ mặt nông thôn Việt Nam trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp để có khả năng kinh doanh tốt cũng như tạo ra ưu thế và quy mô kinh doanh phù hợp hay để mua máy móc thay cho lao động thủ công nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian lao động, mua giống, phân bón, thức ăn gia súc có chất lượng tốt đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp cũng như người nông dân phải đầu tư thêm nhiều vốn Nhưng lượng vốn vay bao nhiêu thì đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của hộ, thời gian vay và lãi suất vay ở mức độ nào thì hộ có thể chấp nhận được với lượng vốn vay và thời hạn vay như vậy? Bên cạnh đó việc xác định thời điểm nào người nông dân có nhu cầu vay vốn cao? Làm thế nào để nông dân tiếp cận vốn một cách kịp thời và thuận lợi nhất? Những hộ nông dân khi đã có vốn thì họ sản xuất kinh doanh như thế nào? Có sử dụng vốn vay đúng mục đích không? Đây cũng là vấn đề mà các tổ chức cung cấp tín dụng cần quan tâm để có kế hoạch cung ứng vốn cho các hộ nông dân kịp thời, đầy đủ và có hiệu quả nhất Đặc biệt khi đã hội nhập quốc tế, để các mặt hàng nông sản có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường thế giới đòi hỏi
có nguồn vốn lớn đáp ứng yêu cầu công nghệ chất lượng cao và mở rộng sản xuất Để đáp ứng cho yêu cầu cấp bách này, đã có rất nhiều tổ chức tín dụng làm nhiệm vụ cung ứng nguồn vốn đầu vào cho nông nghiệp Trong đó, NHNN&PTNT một tổ chức ra đời từ lâu và tồn tại kỳ cựu đến hôm nay đã đóng vai trò quan trọng hàng đầu và là người bạn đồng hành trong việc hỗ trợ,
Trang 11thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp nông thôn
Xã Tràng Sơn là xã miền núi nằm ở phía Tây của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn là xã vùng III, xã đặc biệt khó khăn của huyện Vốn là một xã thuần nông, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, toàn xã có 421 hộ, trong đó có 131 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 31,12%, hộ cận nghèo có 197 hộ chiếm
tỷ lệ 46,79%, hộ khá có 93 hộ chiếm tỷ lệ 22,09% Lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp chiếm trên 90% dân số, sản xuất theo kiểu thuần nông lại chịu ảnh hưởng của tập quán canh tác cũ và dựa vào thiên nhiên nên sản xuất chưa ổn định, thu nhập và đời sống nhân dân còn thấp Do đó nhu cầu về vốn
để mở rộng, phát triển nông nghiệp là hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của xã nói chung và bà con nông dân nói riêng
Từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu
quả sử dụng nguồn vốn vay từ NHNN&PTNT của các hộ dân tại xã Tràng Sơn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử nguồn vốn vay từ NHNN&PTNT cho các hộ dân tại địa phương
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Trong học tập và nghiên cứu
- Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận
với thực tế, giúp sinh viên củng cố thêm những kiến thức kỹ năng đã được
Trang 12trang bị đồng thời có cơ hội vận dụng chúng vào thực tế và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế để phục vụ trong công tác sau này
- Vận dụng và phát huy những kiến thức đã học tập và nghiên cứu
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình nghiên cứu
1.3.2 Trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ phần nào đánh giá đúng và sát thực hơn trong việc triển khai cho các hộ dân vay vốn của NHNN&PTNT huyện Văn Quan Đồng thời, đề tài cũng giúp đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn vay của của các hộ trong sản xuất
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Khái niệm hộ nông dân
Đã có rất nhiều quan điểm tranh luận đưa ra về định nghĩa hộ nông dân, trong đó có một định nghĩa khá đầy đủ như sau: “hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về
cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao”.[9]
2.1.1.2 Một số vấn đề về tín dụng
a Khái niệm và phân loại tín dụng
Tín dụng là mối quan hệ kinh tế của người đi vay và người cho vay, là
sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thỏa thuận, hết thời hạn thì người đi vay phải trả lại người cho vay số tài khoản đó và kèm theo một số lợi tức Bản chất của nó được thể hiện trong quá trình hoạt động của tín dụng với quá trình tái sản xuất xã hội, sự
ra đời của tín dụng gắn liền với sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hóa Trên thực tế, tín dụng còn tồn tại ở nhiều loại khác nhau, nhưng xét về tính chất pháp lý chung có thể chia tín dụng thành hai loại sau:
Tín dụng chính thức: Là loại tín dụng được pháp luật thừa nhận, đó là tín dụng của các chủ thể ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng nhà nước, ngân hàng liên doanh, ngân hàng cổ phần, hợp tác xã tín dụng, kho bạc nhà nước và các tổ chức tài chính trung gian khác
Tín dụng không chính thức: Là tín dụng ngầm không được pháp luật thừa nhận, nó ra đời cùng với sự phát triển của xã hội loài người khi có sự phân chia giai cấp, phân chia xã hội thành kẻ giàu, người nghèo thì quan hệ vay mượn nảy sinh, cơ bản là cho vay nặng lãi dưới hình thức cho vay bằng hiện vật và cho vay bằng tiền
Hai loại hình thức tín dụng này song song tồn tại trong nền kinh tế, tín
Trang 14dụng không chính thức được tồn tại phổ biến ở các vùng nông thôn và đặc biệt là các vùng hẻo lánh, nơi mà hoạt động của tín dụng chính thức còn yếu.[8]
b Vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc phát triển kinh tế hộ
Tín dụng thực hiện chức năng luân chuyển vốn giữa các chủ thể khác nhau, chính sự luân chuyển mạnh mẽ này góp phần thúc đẩy nhanh sự hình thành thị trường tài chính, khi sản xuất càng phát triển thì nhu cầu về vốn càng lớn Tín dụng ngân hàng là chất xúc tác mạnh nhất kích thích quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa trong xã hội
Tín dụng ngân hàng góp phần khai thác và sử dụng triệt để những tiềm năng có sẵn (lao động, đất đai, tiền vốn…) thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển Từ việc sản xuất thủ công manh mún do thiếu vốn chính sách tín dụng
đã giúp cho người dân mạnh dạn đi vào sản xuất kinh doanh, cải tạo và nâng cao trang thiết bị, mở rộng giao lưu kinh tế với các vùng, việc đưa kinh tế nông hộ từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường thì vốn và cơ chế quản lý của nhà nước là một yếu tố có tính chất quyết định Tín dụng đã giúp cho người lao động cởi bỏ những khó khăn, mạnh dạn đưa hết tiền vốn, lao động và kinh nghiệm của mình vào đầu tư cho một ngành nghề sản xuất mà họ cho là có lãi
Tín dụng ngân hàng góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, đảm bảo cho sản xuất nông hộ có điều kiện thực hiện chuyển giao công nghệ mới cho sản xuất, đồng thời đẩy nhanh quá trình giao lưu hàng hóa
Tín dụng ngân hàng đã góp phần phát triển kinh tế nông hộ và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, có vai trò hết sức to lớn trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh cũng như giúp hộ nông dân nâng cao trình
độ sản xuất, tăng cường hạch toán kinh doanh nhằm nâng cao thu nhập, nguồn vốn tín dụng ngân hàng cũng đã góp phần giúp cho các hộ nông dân phải áp dụng quy trình mới, kỹ thuật mới để đạt được hiệu quả cao nhất
Tín dụng ngân hàng đầu tư cho hộ nông dân ngoài việc góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế còn góp phần nâng cao hiệu quả xã hội, tín dụng góp phần chống nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn và thành thị, giảm sự chênh lệch quá xa ở nông thôn và thành thị, giữa người giàu và người nghèo, xây dựng cuộc sống văn minh giàu mạnh.[7]
Trang 15c Hình thức tín dụng ngân hàng cho vay đối với hộ nông dân
Để có nguồn vốn đáp ứng cho mục đích sản xuất kinh doanh, hộ nông dân tiến hành vay vốn xuất phát từ hình thức vay trực tiếp, song để tăng hiệu quả và tiến độ của việc vay vốn thì hình thức cho vay gián tiếp đã ra đời
Hình thức cho vay trực tiếp: Là hình thức mà ở đó chủ thể vay vốn chính là các hộ nông dân, người vay vốn trực tiếp đến ngân hàng xin vay và được ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh Hình thức này được sử dụng phần lớn để đầu tư vốn trung hạn và một phần vốn lưu động với hộ kinh doanh lớn
Hình thức cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian sau:
- Tổ vay vốn: Do các thành viên là hộ nông dân, cá nhân trực tiếp tự nguyện thành lập, có nhu cầu vay vốn, cùng cư trú tại thôn, xã
- Doanh nghiệp: Đối tượng thực hiện là các hộ nông dân, cá nhân nhận khoán của các doanh nghiệp đã thực hiện giao khoán
- Các tổ chức tín dụng ở nông thôn: Quỹ tín dụng nhân dân, hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh…[7]
2.1.1.3 Hoạt động cho vay đối với hộ nông dân
a Quy trình cho vay
Quy trình xét duyệt cho vay của ngân hàng đến các đối tượng chung được thực hiện theo các bước sau:
- Cán bộ tín dụng được phân công giao với khách hàng có nhu cầu vay vốn có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn và tiến hành thẩm định các điều kiện vay vốn theo quy định
- Trưởng phòng tín dụng hoặc tổ trưởng tín dụng có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ và báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụng lập, tiến hành xem xét, tái thẩm định hoặc trực tiếp thẩm định trong trường hợp kiêm làm cán bộ tín dụng, ghi ý kiến vào báo cáo thẩm định, tái thẩm định và trình giám đốc quyết định
- Giám đốc NHNN nơi cho vay căn cứ báo cáo thẩm định:
+ Khoản vay vượt quyền phán quyết thì thực hiện theo quy định hiện hành của NHNN Việt Nam
Trang 16+ Nếu không cho vay thì thông báo cho khách hàng biết
+ Hồ sơ khoản vay được giám đốc ký duyệt cho vay được chuyển cho
kế toán thực hiện nghiệp vụ hạch toán kế toán, thanh toán, chuyển thủ quỹ
để giải ngân cho khách hàng (nếu cho vay bằng tiền mặt) [6]
Quy trình cho vay đối với hộ cũng là quy trình cho vay thực tế tại ngân hàng điều này thể hiện rõ qua Sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Quy trình cho vay thực tế tại chi nhánh NHNN&PTNT huyện
Văn Quan
THỦ QUỸ NH Giải ngân
GIÁM ĐỐC Duyệt cho vay, số tiền, lãi suất, thời hạn
KẾ TOÁN NH Lưu giữ hồ sơ vay vốn
HỘ VAY VỐN
Làm thủ tục vay vốn gửi tới NH
CÁN BỘ TÍN DỤNG
- Thẩm định dự án
- Kiểm soát các yếu tố hợp pháp
của hồ sơ vay vốn
- Đề nghị cho vay: mức tiền, lãi
Trang 17b Các quy định cho vay
Mục đích cho vay
Nhằm hỗ trợ nguồn vốn thiếu hụt cho các hộ nông dân, đồng thời tạo động lực khuyến khích hộ mạnh dạn mở rộng sản xuất về cả chiều sâu và chiều rộng trên tất cả các lĩnh vực như: nông-lâm-ngư nghiệp, chế biến, ngành nghề và kinh doanh dịch vụ với mục tiêu hướng đến là đạt hiệu quả kinh tế cao, góp phần xây dụng đất nước, xã hội ngày càng giàu mạnh, phồn vinh [8]
Nguyên tắc cho vay
Hộ vay vốn của NHNN Việt Nam phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
- Hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng [5]
Điều kiện vay vốn
- Hộ vay vốn phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân
sự và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
+ Hộ vay vốn cư trú tại địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh) nơi chi nhánh NHNN cho vay đóng trụ sở Trường hợp người vay ngoài địa bàn nói trên giao cho giám đốc sở giao dịch, chi nhánh cấp 1 quyết định Nếu người vay ở địa bàn liền kề ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khi cho vay giám đốc NHNN nơi cho vay phải thông báo cho giám đốc NHNN nơi người vay cư trú biết
+ Đại diện cho hộ vay vốn để giao dịch với ngân hàng là chủ hộ hoặc người đại diện của hộ, chủ hộ hoặc người đại diện phải có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
- Hộ vay vốn phải có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
+ Vay ngắn hạn: Gồm những đối tượng vật tư, chi phí trồng trọt, chăn nuôi như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc,…phải thuê mua trên thị trường; vật tư, hàng hóa đối với các hộ làm dịch vụ sản xuất và kinh doanh thương nghiệp
+ Vay trung hạn: Gồm những đối tượng sau: Chi phí trồng mới cây lưu gốc như, mía,, chi phí mua giống, thức ăn chăn nuôi gia cầm, giống thủy sản, chăn nuôi đại gia súc lấy thịt, gia súc cơ bản…
- Hộ nông dân phải có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn
Trang 18Mức cho vay
NHNN nơi cho vay quyết định mức cho vay căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, giá trị tài sản bảo đảm tiền vay (nếu khoản vay áp dụng bảo đảm bằng tài sản), khả năng hoàn trả của khách hàng, khả năng nguồn vốn của NHNN Việt Nam Đối với các hộ vay vốn không có thế chấp tài sản thì mức cho vay được tính bằng tổng nhu cầu cả dự án trừ đi phần vốn tự có, tối
đa bằng giá trị vật tư, chi phí phải thuê, mua trên thị trường [5]
Lãi suất vay
Mức lãi suất cho vay do NHNN nơi cho vay và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của Tổng giám đốc NHNN Việt Nam Mức lãi suất cho vay được thực hiện theo nguyên tắc mức lãi huy động cộng với chi phí quản
lý, nộp thuế, bù đắp, rủi ro và có tích lũy Mức lãi suất áp dụng đối với khoản
nợ gốc quá hạn giao cho giám đốc Sở giao dịch, chi nhánh cấp 1 lần ấn định nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay
đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng, theo quy định của NHNN Việt Nam.[6]
Thời hạn cho vay
NHNN cho vay và khách hàng thỏa thuận về thời hạn căn cứ vào: Chu
kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, khả năng trả nợ của khách hàng, nguồn vốn cho vay của NHNNViệt Nam
- Cho vay ngắn hạn: Dưới 12 tháng
- Cho vay trung hạn: 12 tháng đến 60 tháng
- Cho vay dài hạn: Trên 60 tháng
Thủ tục vay vốn và bộ hồ sơ cho vay
Hộ vay được cấp sổ vay vốn Sổ vay vốn được sử dụng lâu dài, khi viết
Trang 19hết sổ được thay sổ mới Tại NH cho vay có sổ lưu giữ khớp đúng với sổ vay của khách hàng
Mỗi lần vay vốn phải có đơn xin kèm theo sổ vay vốn để NH xem xét cho vay Đơn vay nhất thiết phải có chữ ký hoặc điểm chỉ chủ hộ vay vốn.[5]
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
2.1.2.1 Tình hình tín dụng nông thôn ở Việt Nam
Những năm trước đổi mới, lĩnh vực tài chính Việt Nam hoàn toàn do nhà nước độc quyền, trợ cấp tràn lan, lãi suất thực am và cơ cấu lãi suất nghịch đảo Trước năm 1988, Việt Nam chỉ có hệ thống NH một cấp là NHNN với hai tổ chức chuyên ngành là NH đầu tư và phát triển, và NH Ngoại thương Năm 1988, Việt Nam bãi bỏ hệ thống NH một cấp, bắt đầu áp dụng hệ thống 2 cấp, với NHNN đóng vai trò như một NHTW Hai đơn vị trực thuộc NHNN được tách thành hai NH thương mai quốc doanh là NH Công thương và NHNN Việt Nam Hệ thống tài chính phục vụ cho nông thôn
ở Việt Nam gồm 3 nhóm chính: Khu vực chính thức, bán chính thức, và phi chính thức
a Khu vực chính thức
- NHNN&PTNT được thành lập năm 1988 sau khi tách ra từ bộ phận tín dụng nông nghiệp của NHNN, thực sự hoạt động vào tháng 12/1990, NH tiếp quản mạng lưới chi nhánh nằm rải rác khắp cả nước Để tăng phạm vi phục vụ khách hàng ở nông thôn, NH đã có một số đổi mới như lập các tổ cho vay lưu động, đặt văn phòng giao dịch ở cấp cơ sở Nhờ vậy mà tới tháng 7/1991, NH đã nhanh chóng mở rộng đối tượng khách hàng được phục vụ Cũng trong thời gian này, NH chính thức được phép cho hộ nông dân vay, và chỉ trong vòng 6 tháng NH đã cho vay 558680 hộ vay với tổng số tiền khoảng
405 tỷ đồng Trong năm 1998, 36% dư nợ cho vay của NH là dành cho các hộ nông dân
- NHCSXH là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập vào tháng 8/1995 NH này cấp tín dụng cho những ai không đủ điều kiện vay ở NHNN&PTNT do không có tài sản thế chấp Các hộ muốn vay phải nằm trong diện người nghèo theo tiêu chuẩn Việt Nam
Ngoài ra còn có 2 tổ chức là quỹ tín dụng nhân dân và NH cổ phần nông thôn [4]
Trang 20b Khu vực tài chính bán chính thức
Bao gồm các tổ chức quần chúng như Hội liên hiệp Phụ Nữ, Hội Nông dân, Hội liên hiệp Thanh niên, Hội Cựu chiến binh và Hội người làm vườn đã đóng vai trò chính phủ trong việc cho vay theo những chương trình của nhà nước như chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm… ngoài
ra các tổ chức này được xem là người môi giới giữa NH với người đi vay
c Khu vực tài chính phi chính thức
Khu vực này chiếm một mảng lớn trong TD nông thôn ở Việt Nam, cung cấp đến 51% lượng vốn cho vay đối với hộ gia đình nông thôn (nguồn: tindungcanhan.vn), nó bao gồm từ các nguồn sau đây:
- Vay mượn từ người thân, bạn bè, láng giềng: Các khoản vay này sẽ có lãi suất thỏa thuận theo quan hệ xã hội, uy tín của người vay, kỳ hạn vay
- Người cho vay lãi: Những người cho vay lãi có hoạt động rất đa dạng
và linh hoạt Họ thường cho vay những món tiền nhỏ và ngắn hạn, lãi suất cho vay dựa vào thị trường, thường xê dịch từ 3% đến 10%/tháng Hình thức này ngày càng phổ biến, có thể cho vay bằng tiền mặt hay hiện vật
- Họ/hụi: Có truyền thống lâu đời ở Việt Nam, mỗi hội thường có từ 5 đến 20 hội viên ở chung một ấp/ thôn, và mỗi hộ như vậy hoạt động độc lập Mỗi hội huy động tiết kiệm từ hội viên và chỉ cho vay trong hội với nhau Các vấn đề như lãi suất, mức cho vay sẽ do hội viên quyết định thông qua bỏ phiếu kín hoặc do hội trưởng định đoạt trong những cuộc họp định kỳ
Khu vực tài chính phi chính thức vẫn là nguồn TD quan trọng đối với các nông hộ là bở các nguyên nhân sau: Cầu vượt cung TD chính thức; các cơ chế cho vay của các tổ chức chính thức vẫn còn nhiều ràng buộc; trình độ dân trí ở nông thôn còn thấp, nhất là những vùng sâu vùng xa, nên người dân có tâm lý “sợ giao dịch với ngân hàng” Ở khu vực phi chính thức lãi suất tín dụng vẫn cao hơn khu vực chính thức những vẫn được khách hàng chấp nhận, chứng tỏ rằng đối với khách hàng ở nông thôn, việc được vay vốn dễ dàng kịp thời cũng như chất lượng của dịch vụ có ý nghĩa quan trọng hơn so với mức lãi vay Do vậy, đòi hỏi khu vực tài chính chính thức phải có sự cải biến tốt hơn trong hệ thống tài chính nhằm đáp ứng tối ưu nhu cầu của khách hàng vay ở khu vực nông thôn.[4]
Trang 21PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hộ nông dân với những hoạt động vay vốn và sử dụng vốn trong
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại địa bàn xã Tràng Sơn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu
Từ 22/1/2014 - 30/5/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội của xã Tràng Sơn
- Tình hình vay và sử dụng nguồn vốn vay từ NHNN&PTNT của các
hộ dân tại địa phương
- Các hoạt động SX kinh doanh và hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay của các hộ dân đòi hỏi vốn
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong sử dụng nguồn vốn vay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay cho các hộ dân
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp:
Trang 22Tài liệu sử dụng trong đề tài này được thu thập từ các tài liệu, báo cáo
đã công bố của các cơ quan và chính quyền các cấp ở địa phương như: Phòng địa chính xã Tràng Sơn, báo cáo thống kê xã, báo cáo tổng kết năm 2013, báo cáo tổng kết của hội đồng nhân dân xã Tràng Sơn Ngoài ra một số thông tin được thu thập từ các báo cáo khoa học và kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả công bố trên các sách báo, website
Thu thập số liệu sơ cấp:
Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ các hộ vay vốn từ NHNN&PTNT trong địa bàn nghiên cứu thông qua phiếu điều tra
- Phương pháp điều tra:
+ Phương pháp quan sát khoa học: Quan sát trực tiếp hay gián tiếp để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu Đồng thời
có thể kiểm tra tính xác thực khi phỏng vấn người dân
+ Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Tiếp xúc trực tiếp với các hộ vay vốn, tạo điều kiện để họ nói lên những mong muốn, khó khăn của họ để thu được những thông tin cần thiết, tìm ra thuận lợi và khó khăn trong quá trình sử dụng nguồn vốn để làm cơ sở đưa ra các giải pháp
+ Sử dụng bộ câu hỏi để điều tra phỏng vấn từng hộ nông dân
+ Phương pháp phân tích SWOT: Là công cụ để giúp cộng đồng xác định được những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức tác động đến tiến trình phát triển của đối tượng nghiên cứu
- Chọn mẫu điều tra: Cách chọn mẫu được xác định theo phương pháp
ngẫu nhiên phân tầng với số lượng mẫu là 50 hộ trong xã để điều tra (qua thống kê năm 2013 cả xã có 152 hộ vay, để đảm bảo tính chính xác nên tôi chọn mẫu chiếm trên 30% tổng số) trong đó:
- Hộ nghèo: Trong 152 hộ vay có 49 hộ nghèo vay chiếm khoảng 32% trong tổng số hộ vay:
0,32*50 = 16 hộ
- Hộ trung bình: Trong 152 hộ vay có 70 hộ trung bình vay chiếm khoảng 46% trong tổng số hộ vay:
0,46*50 = 23 hộ
Trang 23- Hộ khá: Trong 152 hộ vay có 33 hộ khá vay chiếm khoảng 22% tổng
số hộ vay
0,22*50 = 11 hộ
3.3.2.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
Xử lý số liệu đã công bố: Dựa vào số liệu đã công bố, tôi đã tổng hợp,
đối chiếu để chọn ra những thông tin phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài
Xử lý số liệu điều tra: Toàn bộ số liệu điều tra được xử lý trên máy
tính, sử dụng phần mềm Microsoft Excel
Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê: Phương pháp thống
kê mô tả, phương pháp so sánh sự biến động
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích đề tài
3.4.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ
- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ
- Số nhân khẩu bình quân/hộ
- Số lao động bình quân/hộ
- Trình độ văn hóa của chủ hộ
3.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và các công thức tính
- Tổng giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản xuất của tất cả các
sản phẩm của nông hộ
GO = ΣQi*Pi
Pi: Giá trị sản phẩm thứ i
Qi: Số lượng sản phẩm thứ i
- Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ được
sử dụng trong quá trình sản xuất
IC = ΣCi
Ci: Là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm thứ i
- Giá trị tăng thêm (VA): Là phần giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ đi
chi phí trung gian
VA = GO - IC
- Lợi nhuận (PR): Là phần chênh lệch giữa giá trị sản phẩm hàng hoá
và tổng chi phí
Trang 24PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của vùng
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Tràng Sơn là xã miền núi nằm ở phía Tây của huyện Văn Quan, với tổng diện tích tự nhiên là 17,5km2, trong đó 70% là đồi và núi đá vôi, có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp xã Đại An
- Phía Đông giáp xã Tân Đoàn
- Phía Nam giáp xã Yên Phúc
- Phía Tây giáp xã Xuân Mai
4.1.1.2 Khí hậu
Xã Tràng Sơn thuộc vùng có khí hậu nhiệt đới, có hai mùa rõ rệt:
- Mùa nắng: Từ tháng 3 đến tháng 9 với nhiệt độ trung bình khoảng
280C-300C, thời kỳ nắng nóng nhất là từ tháng 5 đến tháng 7 do ảnh hưởng của gió Tây Nam
- Mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau với lượng mưa trung bình khoảng 2.300mm, thời tiết từ tháng 11 đến tháng 1 khá lạnh, nhiệt độ trung bình khoảng 190C do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của vùng
4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động (tính đến này 31/12/2013)
a Dân số: Trong bất kỳ lĩnh vực nào lao động đều là yếu tố quyết định, đặc biệt đối với nông nghiệp thì lao động đóng vai trò hết sức quan trọng, nhất là vào những thời điểm mùa vụ Vì vậy, công tác điều chỉnh, phân phối nguồn lao động cũng như lượng dân cư sao cho phù hợp với sự phân công lao động của xã hội là một nhiệm vụ được đặt ra
Theo số liệu của phòng thống kê UBND xã cho thấy: Toàn xã có 421
hộ, 1.792 nhân khẩu (Nam: 930 người, nữ: 862 người)
Trong đó có nhiều thành phần dân tộc anh em chung sống, cụ thể:
Dân tộc tày chiếm 42,1%
Trang 25Dân tộc Nùng chiếm 57,6%
Dân tộc kinh chiếm 0,3%
Các dân tộc sống đan xen với nhau
Dân cư phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các vùng trung tâm xã, nằm bên trục đường chính, càng nằm xa đường cái thì càng thưa thớt dần Sự phân bố dân cư không đồng đều này đã ảnh hưởng lớn đến những công tác tuyên truyền vận động quần chúng cũng như việc phát triển kinh tế chung cho toàn xã
đó nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển chung của toàn xã
4.1.2.2 Tình hình đất đai của xã:
Đất đai là TLSX đặc biệt và chủ yếu không thể thay thế được Nó là yếu tố nguồn lực đầu tiên và tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp, có tính chất quyết định đến năng suất, hiệu quả sản xuất Mặc dù đã nhận thức được tầm quan trọng của đất như vậy, song thực tế việc phân bổ, chuyển đổi và hiệu quả sử dụng đất vẫn chưa triệt để Điều này được thể hiện
ở bảng sau
Trang 26Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Tràng Sơn
nghiệp 399,74 399,55 399,48 -0,19 -0,07 -0,13
- Đất trồng lúa 167,45 167,33 167,30 -0,12 -0,03 -0,075 -Đất trồng cây hàng
năm khác 169,96 169,95 169,93 -0,01 -0,02 -0,015
- Đất lâu năm 62,33 62,24 62,25 -0,09 -0,01 -0,05 1.2 Đất lâm nghiệp 1.166,16 1.166,16 1.166,18 0 0,02 0,01 1.3 Đất nuôi trồng
2 Đất phi nông
2.1 Đất ở 17,95 18,03 18,11 0,08 0,08 0,08 2.2 Đất chuyên dùng 40,26 40,40 40,50 0,14 0,1 0,12
- Đất trụ sở, công
- Đất có mục đích
công cộng 40,20 40,34 40,36 0,14 0,02 0,08 2.3 Đất tôn giáo, tín
Trang 27Qua bảng số liệu ta thấy:
- Trong cơ cấu đất tự nhiên thì diện tích đất nông nghiệp chiếm đa số hơn, diện tích đất nông nghiệp năm 2012 giảm 0,22ha so với năm 2011 và năm 2013 giảm 0,1ha so với năm 2012, sự giảm xuống của đất nông nghiệp là
do những nguyên nhân sau :
+ Đất trồng lúa: Đất trồng lúa năm 2012 giảm 0,12ha so với năm 2011, năm 2013 giảm 0,03ha so với năm 2012
+ Đất trồng cây hàng năm : Năm 2012 giảm 0,01ha so với năm 2012, năm 2013 giảm 0,02ha so với năm 2012
+ Đất trồng cây lâu năm: Năm 2012 giảm 0,09ha so với năm 2011, năm
2013 giảm 0,01ha so với năm 2012
+ Bên canh đó diện tích đất lâm nghiệp không có sự biến động nhiều, năm 2013 tăng 0,02ha so với năm 2012 Diện tích đất nuôi trồng thủy sản có
sự biến động ít qua các năm
- Diện tích đất phi nông nghiệp toàn xã tăng nhẹ qua các năm, năm
2012 tăng 0,02ha so với năm 2011, năm 2013 tăng 0,1ha so với năm 2012 năm 2010 vì những nguyên nhân sau :
+ Diện tích đất ở tăng 0,08ha qua các năm
+ Đất có mục đích công cộng năm 2012 tăng 0,14ha so với năm 2011, năm 2013 tăng 0,02ha so với năm 2012
- Đất trụ sở công trình, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa địa, đất chưa
sử dụng và đất sông suối, mặt nước chuyên dùng không thay đổi qua ba năm
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất 2 vụ ăn chắc, chọn những giống lúa, cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng cho năng suất, sản lượng cao được đưa ra sản xuất, các chương trình khuyến nông như nuôi lợn, trồng cỏ nuôi bò vỗ béo đã được
Trang 28người dân áp dụng, các công trình hạ tầng cơ sở kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp như hệ thống đập đầu mối, kênh mương nội đồng được nhà nước
và các chương trình dự án đầu tư làm mới, nâng cấp, sửa chữa góp phần làm cho năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi được nâng lên, đem lại hiệu quả cho người sản xuất Cụ thể năng suất, sản lượng cây lúa đã đạt từ 50 đến 52,5 tạ/ha, so giai đoạn 1999-2004 tăng từ 4-5 tạ/ha
Chăn nuôi
- Đàn lợn hằng năm có từ 2.500 đến 2.800 con/năm, so với giai đoạn trước tăng từ 300 - 400 con/năm Trọng lượng xuất chuồng đạt từ 60 - 70 kg/con
- Đàn trâu giảm nguyên nhân do cơ giới hóa trong nông nghiệp hiện nay Thương nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp:
Tại địa bàn một số cửa hàng buôn bán ngày càng xuất hiện nhiều, một
số cửa hàng sửa chửa buôn bán vật tư nông nghiệp cũng phát triển
4.1.2.3.2 Về cơ sở hạ tầng
- Về giao thông: Xã có đường giao thông liên xã đi qua được nối liền với xã Tân Đoàn, Xuân Mai, Đại An và trung tâm Thị Trấn huyện Văn Quan
và các đường liên thôn, liên xã cơ bản được thông suốt tạo điều kiện thuận lợi
cho nhân dân đi lại và giao lưu hàng hoá
- Về thuỷ lợi: Hệ thống thủy lợi thuận lợi cho việc sản xuất, trên địa bàn
xã có 2 đập lớn chứa nước và 50% hệ thống kênh mương được bê tông hóa
- Về điện: Các hộ gia đình gần 100% đã được dùng điện lưới quốc gia để phục vụ sản xuất và sinh hoạt
4.1.2.3.3 Về văn hoá - Xã hội
Về giáo dục
Trong những năm gần đây hệ thống giáo dục của xã đã có nhiều chuyển biến tích cực Cơ sở vật chất trường học đã được đầu tư xây dựng kể cả trường cấp I, II và trường Mầm non Được đầu tư xây dựng bằng nhiều nguồn vốn của nhà nước như nguồn chương trình 134, 135 của Chính phủ về xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, đến nay cả 3 trường đã được xây dựng kiến cố
Về y tế
Trang 29Xã có một trạm y tế với 4 phòng, 5 giường bệnh, có 5 cán bộ y tế xã, cán bộ y tế đều được đào tạo chuyên ngành 13 cộng tác viên y tế thôn bản, đều được đi đào tạo
Về Văn hoá - TDTT
Thường xuyên tuyên truyền việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách Nhà nước vào cuộc sống nhân dân, đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hoá mới khu dân cư Tổ chức giao lưu văn hoá, thể dục thể thao dịp lễ hội thu hút đông đảo thanh niên nam, nữ tham gia góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
4.2 Đánh giá thực trạng vay và sử dụng vốn vay từ NHNN&PTNT của các hộ dân tại xã Tràng Sơn
4.2.1 Năng lực sản xuất của hộ
Bao gồm 4 yếu tố: Lao động, đất đai, vốn và tư liệu sản xuất, nếu thiếu
đi một trong bốn yếu tố này thì quá trình sản xuất không thể diễn ra được
Để thấy rõ hơn về tình hình sản xuất của hộ ta đi vào xem xét, phân tích các yếu tố nguồn lực tham gia vào quá trình sản xuất mà họ đã sử dụng
4.2.1.1 Tình hình lao động và nhân khẩu
Để thấy rõ hơn về tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra
Trang 30Từ bảng ta thấy: Số nhân khẩu bình quân mỗi hộ là 4,76 nhân khẩu/hộ, con số này khẳng định quy mô gia đình ở đây không lớn lắm Tỷ lệ này cao nhất nhóm hộ khá với 5,09 khẩu/hộ Thấp nhất là ở hộ nghèo với 4,18 khẩu/hộ, đa phần những hộ này là các gia đình trẻ, hầu như mỗi nhà đều giống nhau, có 2 vợ chồng trẻ và 1 hoặc 2 đứa con thêm 1 người lớn tuổi đã qua sức lao động
Bình quân lao động trên hộ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự giống bình quân nhân khẩu/hộ, tỷ lệ lao động/hộ cao nhất ở hộ khá, vì các thành viên trong gia đình của các hộ khá hầu như đều đang ở tuổi lao động Tỷ lệ này ở
hộ nghèo là thấp nhất, trong gia đình chủ yếu chỉ có 2 lao động chính, các thành viên còn lại phụ thuộc rất nhiều vào 2 lao động này, cuộc sống đã khó khăn lại còn khó khăn hơn
Chỉ tiêu bình quân khẩu/lao động có nghĩa là cứ 1 người lao động sẽ nuôi được bao nhiêu người ăn theo, cao nhất là hộ nghèo với bình quân 1,77 khẩu/LĐ, tỷ lệ lao động/nhân khẩu chính là nguyên nhân của đói nghèo và nhiều vấn đề xã hội khác
Nhìn vào bảng ta thấy trình độ văn hóa của các chủ hộ điều tra thấp, hầu hết là học tới cấp hai, con số này chiếm 60,38%, cụ thể ở hộ khá có 100% chủ hộ học tới cấp 2 Tỷ lệ chủ hộ học đến cấp 1 rồi nghỉ học của hộ nghèo khá cao, chiếm 37,5%
4.2.1.2 Tình hình đất đai của các hộ điều tra
Đất đai là nguồn tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp Để thấy rõ hơn về quy mô, cơ cấu và tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra, ta xem xét bảng sau
Trang 31Bảng 4.3: Tình hình đất đai của các hộ điều tra
2 Đất vườn và thổ cư 826,75 1.031,82 905,22 543,75 Tổng diện tích đất 27.472 41.304,36 21.880 11.274,36
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra của tác giả năm 2014)
Dựa vào bảng ta thấy, diện tích đất nông nghiệp bình quân của các các
hộ điều tra khá lớn khoảng 26.645,7m2/hộ
Đất trồng cây hàng năm bao gồm cả đất trồng lúa và cây hoa màu, cây ngắn ngày bình quân của các hộ điều tra đạt 1.211,12m2/hộ, ngoài hai vụ trồng lúa chính bà con trồng thêm một số loại cây ngắn ngày khác như: Rau,
củ (rau cải, khoai tây, đỗ, ) để cải thiện bữa ăn gia đình cũng như tăng thêm nguồn thu nhập cho các hộ dân Hộ khá nhiều nhất với 1.760,73m2/hộ, hộ trung bình là 1.155,13m2/hộ và hộ nghèo là 717,5m2/hộ
Cây lâm nghiệp chủ yếu là cây keo Diện tích trồng cây lâm nghiệp bình quân một hộ lên tới 2,5ha trong đó hộ khá chiếm đa số với bình quân hơn 3,8 ha/hộ, hộ trung bình gần 2,7ha/hộ và hộ nghèo là 1ha Đây là sự chênh lệch khá lớn, quy mô diện tích càng lớn thì lợi nhuận thu về sẽ càng cao
Diện tích đất nuôi trồng thủy sản rất ít, nguyên nhân là vì địa hình, khí hậu của vùng không phù hợp để đẩy mạnh phát triển theo hướng nuôi trồng thủy sản Qua điều tra thì hầu như các nông hộ cũng có ao nuôi cá, tuy nhiên
số lượng hầu như không đáng kể và họ cũng không bỏ công chăm sóc vì hầu như chỉ nuôi để ăn chứ không bán
Diện tích đất vườn và thổ cư bình quân của các các hộ điều tra khoảng 826,75m2/hộ
Trang 324.2.1.3 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra:
Tình hình đầu tư tư liệu sản xuất của các hộ điều tra được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.4: Tình hình TLSX của hộ điều tra Chỉ tiêu
chung
Hộ
Hộ khá Hộ TB Hộ nghèo
Trâu bò cày kéo Con 0,89 2,45 1,17 1
Lợn cái sinh sản Con 1,73 1,36 1,3 0
Máy tuốt lúa Cái 0,57 1,18 0,13 0,5
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra của tác giả năm 2014)
Nhìn vào bảng ta thấy các hộ có sự đầu tư về tư liệu sản xuất nhưng mức độ còn thấp so với yêu cầu đặt ra của nền cơ giới hóa nông nghiệp
So với những tư liệu sản xuất khác thì trâu bò cày kéo được đầu tư khá nhiều, bình quân là 0,89 con trâu bò cày kéo/ hộ, so với trước đây thì số lượng trâu bò giảm, nguyên nhân là vì cơ giới hóa ngày nay đã phổ biến, người ta dùng máy cày bừa vừa tiết kiệm được thời gian vừa tiết kiệm công sức mà hiệu quả cũng cao hơn
Lợn cái sinh sản thì trung bình 1 hộ là 1,73 con, cụ thể ở hộ khá bình quân có 1,36 con/ hộ, hộ trung bình là 1,3 con/hộ Qua điều tra được biết các
hộ nghèo một phần là do thiếu vốn và trình độ còn hạn chế nên việc chăn nuôi lợn nái sinh sản không hiệu quả nên họ chủ yến nuôi lợn thịt Lợn đực giống chỉ có hộ khá nuôi khoảng 0,17 con/ hộ, số lượng ít chủ yếu họ để phục vụ cho gia đình, và một số hộ đầu tư nuôi để kinh doanh
Bình quân máy cày bừa chỉ đạt 0,48 cái/hộ, máy tuốt lúa 0,57 cái/ hộ, máy gặt 0,18 cái/ hộ và máy bơm nước là 0,03 cái/hộ Máy cày bừa chủ yếu
Trang 33các hộ khá mới đủ vốn đầu tư mua, họ không chỉ dùng để phục vụ cho sản xuất của gia đình mà còn để cho thuê tạo thêm thu nhập
Máy xay xát thì bình quân có 0,83 cái/ hộ và hầu như các hộ khá và hộ trung bình đều có cụ thể hộ khá đạt 1,18 cái/ hộ, hộ trung bình đạt 1 cái/ hộ và
hộ nghèo đạt 0,31 cái/ hộ Các hộ chủ yếu mua loại máy có công suất nhỏ để phục vụ cho hộ gia đình
Về bình phun thuốc sâu thì hầu như nhà nào có trồng lúa đều có bình phun thuốc sâu, bình quân 50 hộ điều tra thì có 0,85 bình/ hộ Ngoài ra là một
số tư liệu sản xuất khác hộ gia đình nào cũng có như: cuốc, xẻng,…
4.2.1.4 Tình hình sử dụng vốn lưu động vào sản xuất:
Vốn là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động sản xuất hay kinh doanh của các thành phần kinh tế, các lĩnh vực sản xuất Trong SXNN, vốn là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố nguồn lực dùng vào SXNN
Vốn trong nông nghiệp bao gồm vốn cố định và vốn lưu động Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ sử dụng trong sản xuất, ví dụ các khoản dùng hết trong một lần sử dụng như giống, phân bón, thuê công Với nguồn vốn cố định thì không phải
hộ dân nào cũng đầu tư được hoàn toàn, họ chỉ đầu tư rất ít hoặc không đầu tư
mà chủ yếu đi thuê ngoài Còn với nguồn vốn lưu động thì dù ít hay nhiều các
hộ đều phải có đầu tư thích đáng mới có thể tạo được sản phẩm nông nghiệp
Để xem xét tình hình sử dụng vốn lưu động cho sản xuất của các hộ điều tra,
Tổng cộng 50 100 11 100 23 100 16 100
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra của tác giả năm 2014)
Trang 34Khái quát bảng số liệu ta thấy mức vốn lưu động mà các hộ sử dụng vẫn chưa cao, đây là khó khăn bước đầu của việc nâng cao hiệu quả SX
Mức vốn lưu động dưới 1 triệu đồng là mức thấp nhất, đây là các hộ không có mục đích đầu tư BQ chung trong các hộ điều tra có 6 hộ sử dụng ở mức vốn này, chiếm 12%, đây không phải là con số cao, điều này cho thấy phần lớn các hộ nông dân đều có định hướng và sự chuẩn bị cho các vụ nuôi hay gieo trồng của mình Cả 6 hộ này thuộc diện hộ nghèo, tình trạng kinh tế của hộ không đủ để chuẩn bị cho vốn lưu động được đến 1 triệu đồng
Với mức vốn lưu động từ 1 triệu đến 3 triệu đồng có tới 22/50 hộ, chiếm 44%, gồm 10 hộ nghèo chiếm 62,5% trong tổng hộ nghèo và 12 hộ trung bình chiếm 52,17% trong 23 hộ trung bình điều tra, đây là tỷ lệ lớn, đa
số các hộ trung bình và hộ nghèo được hỏi về vốn lưu động đã chọn ở mức này Điều này cho thấy mặc dù các hộ đã có sự chuẩn bị nhưng mức vốn lưu động còn quá thấp để có thể không bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như
sự biến động của giá cả thị trường hay thời tiết thay đổi đột ngột
Từ 3 triệu đến 5 triệu có 6/50 hộ chiếm 12%, 6 hộ này đều là hộ trung bình chiếm 26,09% tổng hộ trung bình được điều tra Ở mức này các hộ nông dân đã có sự đầu tư khá trong hoạt động trồng trọt, chăn nuôi song vẫn là mức đầu tư thấp đối với các hộ vừa trồng lúa, hoa màu kết hợp với chăn nuôi và cả trồng cây lâm nghiệp
Từ 5 triệu đồng 10 triệu có 5 hộ chiếm 12%, cũng là 5 hộ trung bình cuối cùng trong số 23 hộ TB và 5 hộ khá trong tổng 11 hộ khá điều tra, các hộ này đã
có sự đầu tư mạnh hơn về phân bón trong hoạt động trồng trọt, thức ăn trong hoạt động chăn nuôi và nguồn giống cải tiến trong cả 2 hoạt động Mức vốn này chủ yếu gặp ở các hộ trồng rừng đầu tư vào con giống và thuê người trồng
Từ 10 triệu trở lên, đây là mức cao nhất và cũng là mức nhà nước ta cũng như các cấp chính quyền luôn mong muốn và vận động người dân sử dụng đầu tư nhằm đem lại hiệu quả cao Có 6/50 hộ sử dụng mức vốn này chiếm 12% và 6 hộ này đều là những hộ khá Với những hộ bỏ ra mức vốn trên 10 triệu tức là họ đã có dự định, lập kế hoạch sản xuất cụ thể, lường trước được những rủi ro có thể xảy ra và chấp nhận nó Chính sự mạnh dạn đầu tư này đã mang lại kết quả thường là tốt đẹp Tuy nhiên chỉ có những hộ vững