Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hiệu quả sản x
Trang 1-
HÀ THỊ THẢO
Tên đề tài:
T
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
CHÈ TẠI XÃ SƠN PHÚ - HUYỆN ĐỊNH HÓA
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Kinh tế Nông nghiệp
Thái Nguyên, 2014
Trang 2ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
CHÈ TẠI XÃ SƠN PHÚ - HUYỆN ĐỊNH HÓA
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3Với phương châm: “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội” Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên hàng năm đã tổ chức cho sinh viên năm cuối đi thực tập tốt nghiệp Đây là cơ hội quý báu để sinh viên tiếp cận và làm quen với công việc sẽ làm sau khi ra trường Được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn Từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân
Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn tôi đã tiến hành thực hiện
khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hiệu quả sản xuất và tiêu thụ chè tại xã Sơn Phú - huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên” Đây là lần đầu tiên thực
hiện một khóa luận Vì vậy, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý kiến và phê bình từ quý thầy, cô giáo, các bạn sinh viên để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và phát triển nông thôn Đặc biệt cảm ơn sự tận tình
giúp đỡ của giảng viên TS Bùi Đình Hòa là người truyền đạt cho tôi những
kiến thức bổ ích trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo, cán bộ UBND xã
Sơn Phú, Trạm Khuyến nông huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã nhiệt tình
và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu phục vụ cho bản khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngày 20 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Hà Thị Thảo
Trang 4Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới qua các thời kỳ 20
Bảng 1.2: Sản lượng chè thế giới qua các năm 21
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng chè của một số nước trên thế giới năm 2012 22
Bảng 1.4: Tình hình xuất khẩu chè Việt Nam năm 2013 25
Bảng 1.5 : Diện tích, sản lượng chè búp tươi theo huyện, thành phố, thị xã 29
Bảng 1.6: Cơ cấu vùng sản xuất chè nguyên liệu của các huyện 30
Bảng 3.1: Thống kê tình hình phân bố và hiện trạng sử dụng đất toàn xã Sơn Phú năm 2013 41
Bảng 3.2 : Tình hình sử dụng lao động của xã Sơn Phú 42
Bảng 3.3 : Diện tích, năng suất, sản lượng chè của xã qua 3 năm 2011-2013 45 Bảng 3.4 : Diện tích trồng mới và trồng cải tạo chè của xã qua 3 năm 46
Bảng 3.5: Tình hình nhân lực sản xuất chè của các hộ điều tra năm 2013 48
Bảng 3.6 : Phương tiện phục vụ sản xuất chè của các hộ điều tra năm 2013 49 Bảng 3.7 : Diện tích đất trồng chè của các hộ điều tra năm 2013 50
Bảng 3.8: Diện tích trồng mới và trồng cải tạo chè năm 2013 51
Bảng 3.9 : Chi phí sản xuất bình quân của 0,036 ha chè của các hộ điều tra năm 2013 52
Bảng 3.10 : Kết quả sản xuất của hộ điều tra tính bình quân/năm 54
Bảng 3.11: Giá bán và sản lượng chè khô trung bình của các hộ 55
điều tra năm 2013 55
Bảng 3.12 : Khó khăn và nguyện vọng hỗ trợ sản xuất chè cử các hộ điều tra năm 2013 56
Trang 5Hình 1.1: Giá chè bình quân theo tháng trên thế giới 23 Hình 3.1 Diện tích trồng mới và trồng cải tạo chè của xã qua 3 năm 47 Hình 3.2 Diện tích trồng mới và trồng cải tạo chè năm 2013 51 Hình 3.3 Khó khăn và nguyện vọng hỗ trợ sản xuất chè cử các hộ điều tra
năm 2013 56 Hình 3.4 : Sơ đồ kênh phân phối sản phẩm chè của các nông hộ xã Sơn Phú
59
Trang 61 CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
2 ĐVT : Đơn vị tính
Trang 7MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Cơ sở khoa học 6
1.2.1 Đặc điểm sinh học của cây chè 6
1.2.2 Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè 8
1.2.3 Các đặc điểm của quá trình phát triển cây chè 9
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng, tác động tới phát triển cây chè 9
1.2.5 Các quan điểm và bản chất của hiệu quả kinh doanh trong sản xuất 17
1.3 Cơ sở thực tiễn 19
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 19
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam 23
1.3.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Thái nguyên 27
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.2.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Sơn Phú - huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên 33
2.2.2 Nghiên cứu thực trạng tình hình sản xuất chè tại xã Sơn Phú - huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên 33
Trang 82.2.4 Đề xuất giải pháp thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ chè và phát triển trồng
chè tại địa phương 33
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp chọn mẫu 33
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 33
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 34
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tại xã Sơn Phú - huyện Định Hóa - Tỉnh Thái Nguyên 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Sơn Phú 38
3.2 Đánh giá thực trạng sản xuất chè tại xã Sơn Phú qua 3 năm 2011 - 2013 45
3.2.1 Đánh giá thực trạng sản xuất chè tại xã Sơn Phú 45
3.2.2 Đánh giá thực trạng sản xuất chè của hộ điều tra 47
3.3 Tình hình tiêu thụ và thị trường tiêu thụ chè trên địa bàn xã và khả năng phát triển trồng chè 58
3.3.1 Thực trạng tiêu thụ chè ở xã Sơn Phú 58
3.3.2 Các hình thức tổ chức sản xuất chè trong xã 61
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CHÈ TẠI XÃ SƠN PHÚ – HUYỆN ĐỊNH HÓA – TỈNH THÁI NGUYÊN 63
4.1 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ chè tại xã Sơn Phú – Huyện Định Hóa – Tỉnh Thái Nguyên 63
4.1.1 Thuận lợi 63
4.1.2 Khó khăn 63
4.2 Một số định hướng và mục tiêu phát triển sản xuất và tiêu thụ chè trên địa bàn xã Sơn Phú – Huyện Định Hóa – Tỉnh Thái Nguyên 64
Trang 94.3 Một số giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ chè cành trên địa bàn xã
Sơn Phú – Huyện Định Hóa – Tỉnh Thái Nguyên 66
4.3.1 Giải pháp thúc đẩy sản xuất 66
4.3.2 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm 68
4.3.3 Các giải pháp về xã hội 70
4.3.4 Các giải pháp về môi trường 71
4.4 Kiến nghị 71
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chè là cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, là cây trồng xuất hiện từ lâu đời, được trồng khá phổ biến trên thế giới Đặc biệt là một số quốc gia khu vực châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam Nước chè là thức uống tốt, rẻ tiền hơn cà phê, ca cao, có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hoá và chữa được một số bệnh đường ruột Đặc biệt chất Tanin trong chè có khả năng hút chất phóng xạ, do đó nó còn chống được một số bệnh do các chất phóng xạ gây ra [4] Chính vì các đặc tính ưu việt trên, chè đã trở thành sản phẩm đồ uống phổ thông trên toàn thế giới
Hiện nay đã có trên 40 nước trên thế giới sản xuất chè, trong khi có trên
200 nước tiêu thụ chè Đây chính là một lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng phát triển [6]
Việt Nam là một nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển Chè có lịch sử phát triển trên 4000 năm Theo các chuyên gia về chè thì Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển, đặc biệt là các tỉnh trung du, miền núi như Phú Thọ, Hà Giang, Thái Nguyên, Yên Bái
Cây chè ở Việt Nam cho sản phẩm trên một năm từ 8 - 9 lứa, có năng suất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế Tạo nhiều việc làm cũng như thu nhập cho người lao động, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi Với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước, cây chè được coi là cây trồng mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực trung du và miền núi
Tỉnh Thái Nguyên có diện tích chè lớn thứ 2 trong cả nước (17.660 ha),
cả 9 huyện, thành thị đều có sản xuất chè Do thiên nhiên ưu đãi về thổ nhưỡng
đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè Vì vậy nguyên
liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp, chất lượng rất cao Người sản xuất chè của xã Sơn Phú nói riêng và người làm nghề chè tỉnh Thái Nguyên nói chung đã có những kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với
Trang 11đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nghề chè, bằng những công cụ chế biến
thủ công, truyền thống, đã tạo nên những sản phẩm chè cánh đẹp, thơm hương chè, hương cốm, có vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng của chè Thái Nguyên, với chất lượng và giá trị cao; 100% sản phẩm chè là sản phẩm chè xanh, chè xanh cao cấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa và có xuất khẩu [9]
Nghề sản xuất chè ở Thái Nguyên có hàng trăm năm nay đã tạo thành những làng nghề sản xuất chè truyền thống Hiện nay Thái Nguyên đã có 52 làng nghề sản xuất, chế biến chè được UBND tỉnh ra quyết định công nhận làng nghề Những làng nghề này từ lâu đã gắn liền với văn hoá mang đậm bản sắc của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Năm 2013, số lao động của các làng nghề vào khoảng 35.900 người [9]
Định Hóa đất đồi rừng rất thích hợp với cây chè Trong những năm qua,
huyện đã chú trọng đến phát triển cây chè Tuy nhiên, do được trồng từ lâu nên phần lớn diện tích này đã trở nên già cỗi, cho năng suất và chất lượng kém Do vậy, huyện thực hiện nhiều dự án trồng chè như dự án xoá đói giảm nghèo 135,… đã trồng thay thế các giống chè trung du bằng các giống chè cành mới thành công như giống chè cành LDP1, PH1, Phúc Vân Tiên và giống chè TRI
777 với năng xuất, sản lượng lớn và có chất lượng, hiệu quả cao
Xã Sơn Phú, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên là một trong những xã phát triển về việc trồng cây chè trên địa bàn huyện Định Hóa, cây chè đã gắn
bó với người dân ở Sơn Phú cách đây từ 40 đến 50 năm, cây chè là nguồn thu nhập chính của người dân trong xã, nhưng diện tích chè tại xã chủ yếu là chè trung du đã trồng lâu năm, già cỗi có năng suất sản lượng thấp Từ năm 2005,
Đảng bộ xã đã xây dựng nghị quyết chuyên đề riêng tập trung vào đẩy mạnh
cải tạo, thay thế và thâm canh giống chè, hướng tới vùng chè nguyên liệu có chất lượng cao Vì thế cây chè đang ngày càng được mở rộng tại địa phương
và cuộc sống của nhân dân cũng ngày càng được nâng cao, thu nhập tăng lên
Cũng như những ngành sản xuất khác, việc trồng chè cũng đòi hỏi cần giải quyết được các vấn đề trước mắt và lâu dài trên cả hai khía cạnh là sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm Đối với vấn đề sản xuất chè tại xã Sơn Phú – huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên, vấn đề tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng và cần thiết
Trang 12Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả sản xuất và tiêu thụ chè tại xã Sơn Phú - huyện Định Hóa - Tỉnh Thái Nguyên ” làm nội dung nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá thực trạng sản xuất và tình hình tiêu thụ chè tại
xã Sơn Phú qua các năm, qua đó đưa ra hướng phát triển sản xuất và kênh tiêu thụ chè trong những năm tới để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nông nghiệp, nông thôn của xã Sơn Phú - huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Sơn Phú, tác động của điều kiện này đến quá trình sản xuất chè
- Đánh giá được thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã trong thời gian qua
- Đánh giá được thực trạng thị trường tiêu thụ chè trong thời gian qua
- Đề xuất được những giải pháp thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ chè nhằm tăng thu nhập cho người nông dân
4 Ý nghĩa đề tài
+ Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Đề tài là thông tin cơ sở vê đặc điểm hiệu quả thu được từ trồng và sản xuất chè tại xã Sơn Phú - huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên,
+ Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp đánh giá sát thực hơn về tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ chè trên địa bàn xã, thấy được giá trị kinh tế do cây chè mang lại cho các hộ nông dân trồng chè Đồng thời đề tài cũng cho chúng
ta hiểu rõ hơn vai trò của cán bộ khuyến nông xã trong công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật tới người dân
+ Ý nghĩa đối với sinh viên
- Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, củng cố thêm kiến thức, kỹ năng đã học Đồng thời có cơ hội vận dụng chúng vào sản xuất thực tiễn
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Đánh giá
Đánh giá là một quá trình kiểm tra khách quan và độc lập về các yếu tố
như bối cảnh, mục tiêu, kết quả hoạt động và phương tiện sử dụng với mục
đích rút ra các bài học kinh nghiệm để áp dụng rộng hơn
1.1.1.2 Sản xuất
Sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất tập trung vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hoá việc
sư dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm
1.1.1.3 Một số lý luận về thị trường
Trong nền kinh tế hiện nay không thể coi thị trường chỉ là những chợ, cửa hàng, siêu thị mặc dù những nơi đó diễn ra quá trình mua và bán Cần hiểu thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh tế, là nơi chứa đựng tổng
số cung - cầu của hàng hóa
* Một số quan điểm về thị trường:
- Thị trường là nơi người mua và người bán mua và bán hàng hóa và dịch vụ [3]
- Thị trường là nhu cầu về sản phẩm hoặc dịch vụ, hay nói cách khác, thị trường là một nhóm người có nhu cầu cụ thể và sẵn sàng trả tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu đó [3]
- Thị trường là một cơ chế phân bổ nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản phẩm, dich vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh [3]
- Thị trường là một thể chế kinh tế để thực hiện các giao dịch kinh tế [3]
- Thị trường là cầu nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng, nó là mục tiêu của quá trình sản xuất hàng hóa [1]
Định nghĩa nào thì cũng không thể tách rời khỏi quan điểm cốt lõi là:
Thị trường bao gồm toàn bộ sự trao đổi hàng hóa, được diễn ra trong một thời
điểm và một không gian nhất định
Trang 14* Vai trò của thị trường trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp:
Thị trường có vị trung tâm, vừa là mục tiêu của người sản xuất kinh doanh, vừa là môi trường của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa nông nghiệp [2]
Đối với thương mại, dịch vụ nông nghiệp, thị trường đảm bảo quá trình
hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, quyết định sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp thị trường là công cụ điều tiết của nhà nước đến hoạt động thương mại và toàn nền kinh tế Thị trường dự trữ hàng hóa phục vụ sản xuất
và tiêu dùng xã hội đảm bảo việc điều hòa cung cầu Thị trường là một yếu tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài, môi trường kinh tế xã hội Thị trường
là cầu nối giữa doanh nghiệp thương mại với bên ngoài, đó là khách hàng, các doanh nghiệp khác và ngành khác… Thị trường phá vỡ ranh giới của nền sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc, phát triển các loại dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu dùng [2]
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, thị trường nông sản phẩm có vai trò quan trọng là đối tượng, là căn cứ quan trọng của việc xác định phương hướng sản xuất kinh doanh, là căn cứ để lập kế hoạch sản xuất [1]
1.1.1.4 Khái niệm tiêu thụ và kênh tiêu thụ
- Khái niệm chung về tiêu thụ hàng hóa
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh Thông qua tiêu thụ thì giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa được thực hiện, hàng hóa chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
Quá trình tiêu thụ là chuyển giao hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng Hàng hóa được coi là tiêu thụ khi được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
- Kênh tiêu thụ:
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về kênh tiêu thụ Kênh tiêu thụ có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Một số người lại mô tả kênh tiêu thụ là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để cùng thực hiện mục đích thương mại Các định nghĩa trên xuất phát từ quan điểm khác nhau của người nghiên cứu
Trang 15Kênh tiêu thụ thực chất là một tập hợp các tổ chức, cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp, người sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng Nói cách khác, kênh tiêu thụ là hệ thống các quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Kênh tiêu thụ là hệ thống mối quan hệ tồn tại giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán Các kênh tiêu thụ tạo nên hệ thống thương mại phức tạp trên thị trường
Kênh tiêu thụ hoặc kênh phân phối là tâp hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng Có thể nói đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau [2]
Tùy vào điều kiện cụ thể và các sản phẩm mà mỗi doanh nghiệp sẽ có
sự lựa chọn hình thức kênh tiêu thụ sản phẩm cho phù hợp, có thể chọn kênh tiêu thụ trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc kênh tiêu thụ hỗn hợp…
1.2 Cơ sở khoa học
1.2.1 Đặc điểm sinh học của cây chè
Cây chè hay cây trà có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà
lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè (trà - đừng nhầm với cây hoa trà) Tên gọi sinensis có nghĩa là “Trung Quốc” trong tiếng Latinh Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea bohea và thea viridis Camellia sinensis có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam á, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Nó là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa
để thấp hơn 2m khi được trồng để lây lá Nó có rễ cái dài Hoa chè màu trắng
ánh vàng, với 7-8 cánh hoa Hạt của nó có thể ép để lấy dầu [9]
Trang 16Chè xanh, chè ô long và chè đen tất cả đều được chế biến từ loài này, nhưng được chế biến ở mức độ oxi hóa khác nhau
Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu:
Trung Quốc là nước đầu tiên chế biến chè để uống sau đó nhờ những
đặc tính tốt của nó, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế giới Ngày nay
chè được phổ biến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca-cao Tác dụng chữa bệnh và chất dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác
định như sau:
- Cafêin và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt nhọc sau những lúc làm việc căng thẳng
- Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả, lỵ, thương hàn Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè, đặc biệt là chè xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày Theo xác nhận của M.N Zaprometop thì hiện nay chưa tìm ra được chất nào lại có tác dụng làm vững chắc các mao mạch tốt như catechin của chè Dựa vào số liệu của Viện nghiên cứu y học Leningrat, khi điều trị các bệnh cao huyết áp
và neprit mạch thì hiệu quả thu được có triển vọng rất tốt, nếu như người bệnh
được dùng catechin chè theo liều lượng 150mg trong một ngày E.K
Mgaloblisvili và các cộng tác viên đã xác định ảnh hưởng tích cực của nước chè xanh tới tình trạng chức năng của hệ thống tim mạch, sự cản các mao mạch, trao đổi muối - nước, tình trạng của chức năng hô hấp ngoại vi, sự trao
đổi vitamin C, trạng thái chức năng của hệ thống điều tiết máu.v.v
- Chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, vitamin
PP và nhiều nhất là vitamin C
- Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng chống phóng xạ Điều này đã được các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việc chứng minh chè có tác dụng chống được chất Stronti (Sr) 90 là một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm Qua việc quan sát thống kê nhận thấy nhân dân ở một vùng ngoại thành Hirôsima có trồng nhiều chè, thường xuyên uống nước
Trang 17chè, vì vậy rất ít bị nhiễm phóng xạ hơn các vùng chung quanh không có chè Các tiến sĩ Teidzi Ugai và Eisi Gaiasi (Nhật Bản) đã tiến hành các thí nghiệm trên chuột bạch cho thấy với 2% dung dịch tanin chè cho uống sẽ tách ra được
từ cơ thể 90% chất đồng vị phóng xạ Sr-90
1.2.2 Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè
Cây chè là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao Nó là một loại cây trồng có vị trí quan trọng trong dời sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế
và văn hóa con người, sản xuất chè tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu giải khát của đông đỏa nhân dân ở nhiều quốc gia
Chè có nhiều vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm thiểu một số bệnh thường gặp về máu, do đó chè đã trở thành đồ uống phổ thông trên thế giới Tại một số nước thói quen uống chè đã tạo thành một nền văn hóa truyền thống một tập quán Hiện nay khoa học tiến bộ đã đi sâu vào nghiên cứu tìm ra được một số hoạt chất quý trong cây chè như: Cafein, Vitamin A, B1 Đặc biệt trong cây chè còn chứa Vitamin C là loại Vitamin dùng để điều chế thuốc tân dược vì thế chè không những là loại cây giải khát
mà chè còn có tên trong danh sách cây y dược
Đối với nước ta, sản phẩm chè không chỉ thỏa mãn nhu cầu trong nước
mà còn là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn, giúp nước ta có thêm một nguồn ngân sách để đầu tư vào phát triển kinh tế của đất nước, cải thiện nâng cao mức sống của người dân Xét ở tầng vĩ mô thì xuất khẩu chè cũng như xuất khẩu các mặt hàng khác nó là cơ
sở để đẩy mạnh lưu thông buôn bán giữa các nước trong khu vực và trên thế giới góp phần tạo sự cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong tổng thể nền kinh tế, đồng thời nó tạo nên mối quan hệ bình đẳng thân thiện cùng có lợi giữa các nước xuất khẩu, nhập khẩu trên thế giới
Trực tiếp đối các hộ sản xuất kinh doanh sản phẩm chè mang lại thu nhập ổn định, cao hơn nhiều so với nhiều loại cây trồng khác, bởi cây chè có tuổi thọ cao có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm có giá trị sao và
đều đặn trong khoảng 50 - 60 năm, do vậy nó sẽ tạo ra một nguồn thu đều đặn
lâu dài và có giá trị kinh tế cao, giúp các hộ cải thiện đời sống, nâng cao mức
Trang 18sống của người dân Mặt khác, cây chè là loại cây trồng thích hợp ở các vùng
đất miền núi và trung du, những vùng đất cao, khô thoáng Hơn thế nữa nó
còn gắn bó keo sơn ngay cả với đất đồi dốc khô cằn sỏi đá Chính vì vậy trồng chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, mà nó còn góp phần bảo vệ môi trường phát triển một nề nông nghiệp bền vững
Ngoài ra trồng chè và sản xuất chè còn cần một lượng lao động lớn, cho nên nó sẽ tại ra công ăn việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tạo
điều kiện cho việc thu hút và sử dụng lao động, điều hòa lao động được hợp
lý hơn Đồng thời nó còn tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống của khu vực nông thôn, tạo
sự thây đổi lớn cho bộ mặt các vùng nông thôn, nhất là trong giai đoạn đổi mới hiện nay, việc phát triển sản xuất chè góp phần đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn, đẩy nhanh tấc độ phát triển kinh tế của khu vực nông thôn, nâng cao mức sống của các vùng nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn
1.2.3 Các đặc điểm của quá trình phát triển cây chè
Đặc điểm nổi bật của cây chè là công nghiệp dài ngày, có chu kỳ kinh
tế tương đối dài khoảng 50 - 60 năm Sản phẩm chính của cây chè là búp non làm nguyên liệu chế biến chè thành phẩm, ngoài yếu tố giống và địa hình thì mọi biện pháp ký thuật trồng trọt được áp dụng trong quá trình sản xuất chè
đề tác động lớn đến khả năng cho sản xuất búp cao, với chất lượng tốt ở mỗi
vụ có ảnh hưởng lớn đến chu kỳ kinh doanh của cây chè ngắn ngày hay dài hơn
Trong sản xuất ta cần đặc biệt chú ý một vấn đề nữa là nếu coi trọng chè là đối tượng kinh doanh thì cần phải tôn trọng các đặc điểm sinh vật học của cây chè, qua đó có các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp nhằm giúp cho cây chè đạt được năng suất cao nhất
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng, tác động tới phát triển cây chè
1.2.4.1 Điều kiện về tự nhiên
Đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói
chung và cây chè nói riêng Đất đai là yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng, chất
Trang 19lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm Chè là một loại cây không khắt khe về đất so với một số cây công nghiệp dài ngày khác Tuy nhiên để cây chè sinh trưởng, phát triển tốt, nương chè có nhiệm kỳ kinh tế dài, khả năng cho năng suất cao, ổn định, chất lượng chè ngon thì cây chè cũng phải được trồng ở nơi có đất tốt, phù hợp với đặc điểm sinh vật học của nó Qua nghiên cứu của các chuyên gia cho thấy đất trồng chè tốt phải đạt yêu cầy sau: Độ pH thích hợp là 4,5 - 5,5, hàm lượng mùn từ 2% - 4%, độ sâu ít nhất từ 0,6 - 1m, mực nước ngầm phải dưới 1m, kết cấu của đất tơi xốp sẽ giữ được nhiều nước, thấm nước nhanh, thoát nước tốt, có địa hình dốc từ 10 - 200 [6]
Thời tiết khí hậu
Độ ẩm, nhiệt độ và lượng mưa là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến cây
chè Để cây chè phát triển tốt thì nhiệt độ bình quân là từ 22 - 280C, lượng mưa trung bình là từ 1500 - 2000mm/năm nhưng phải phân đều cho các tháng, Độ ảm không khí từ 80 - 85%, độ ảm của đất từ 70 - 80%, cây chè là cây ưa sáng tán xạ, thời gian chiếu sáng trung bình 9 giờ/ngày [2]
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí dưới 100C hay trên 400C Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng cảu cây chè là từ 15 - 250C Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân bắt
đầu phát triển trở lại Thời vụ thu hoạch chè ngắn, dài, sớm, muộn tùy thuộc
chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ Tuy nhiên các giống chè khác nhau có mức
độ chống chịu khác nhau
1.2.4.2 Điều kiện về các yếu tố kỹ thuật
Ảnh hưởng của giống chè
Giống chè ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Mỗi một điều kiện sinh thái, mỗi vùng lại thích hợp cho một giống chè hay một số giống nhất định Vì vậy để có nguyên liệu phục vụ chế biến, tạo ra chè thành phẩm có chất lượng cao và để góp phần đa dạng hoá sản phẩm ngành chè, tận dụng lợi thế so sánh của các vùng sinh thái đòi hỏi phải có nguồn giống thích hợp
Ở trong nước ta đã chọn tạo được nhiều giống chè tốt bằng phương
pháp chọn lọc cá thể như: PH1, TRI777, 1A, TH3 Đây là một số giống chè
Trang 20khá tốt, tập trung được nhiều ưu điểm, cho năng suất và chất lượng búp cao,
đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên diện tích rộng, bổ sung
cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên các nương chè cằn cỗi
Bên cạnh đặc tính của các giống chè, phương pháp nhân giống cũng
ảnh hưởng trực tiếp tới chè nguyên liệu Hiện nay có 2 phương pháp được áp
dụng chủ yếu là trồng bằng hạt và trồng bằng giâm cành Đặc biệt phương pháp trồng chè cành đến nay đã được phổ biến, áp dụng rộng rãi và dần dần trở thành biện pháp chủ yếu trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật
Cách trồng:
- Trồng chè cành: Trên rạch chè đã bón phân lót và lấp đất ta bổ hố
rộng 20cm, sâu 20-25cm, khoảng cách giữa các hố dày hay thưa tùy yêu cầu; bóc túi PE, giữ nguyên bầu đất, đặt bầu chè quay theo hướng thuận lợi, lấp đất lèn chặt xung quanh, rồi lấp một lớp đất tơi xốp kín lên mặt bầu 1cm, sau trồng tủ cỏ rác theo rạch chè rộng 40cm và tưới cho chè; thời vụ trồng từ tháng 8-10
- Trồng chè hạt: Ngâm hạt trong nước 12 tiếng trước khi gieo; có thể
gieo ngay hoặc ủ trong cát cho nứt rồi đem gieo; những rạch chè sâu 10cm
được bón lót và lấp đất; gieo 4-6 hạt/hốc, lấp đất sâu 3-4cm; sau đó tỉa nhũng
cây xấu, còn 2-3 cây/cụm, tủ cỏ rác để giữ ẩm; thời vụ trồng hạt tốt nhất từ 15-10 đến 15-2
Trang 21Phòng trừ cỏ dại:
- Tủ gôc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to
- Làm cỏ: Vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ
diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần
- Nước tưới: Trong búp chè có hàm lượng nước lớn vì vậy phải cung
cấp đủ nước sẽ làm tăng năng suất và sản lượng chè, cho nên phải chủ động tưới nước cho chè vào vụ đông
- Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp
kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng búp chè, nhưng biện pháp này cũng có những tác dụng ngược bởi nếu bón phân không hợp lý sẽ làm cho năng suất và chất lượng không tăng lên được, thậm chí còn
bị giảm xuống Nếu bón đạm với hàm lượng quá cao hoặc bón các loại phân theo tỷ lệ không hợp lý sẽ làm giảm chất Tanin hoà tan của chè, làm tăng hợp chất Nitơ dẫn tới giảm chất lượng chè [1] Vì vậy bón phân cần phải bón đúng cách, đúng lúc, đúng đối tượng và cần cân đối các yếu tố dinh dưỡng chủ yếu như: Đạm, lân, kali sao cho phù hợp
- Che nắng: Theo các chuyên gia về chè, nếu thời tiết khô hạn kéo dài
thì cây bóng mát được trồng 170 - 230 cây/ha che phủ được 20 - 30% diện tích thì độ ẩm sẽ cao [1] Qua nghiên cứu về sự tác động của ánh sáng tới cây chè và quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ Vì vậy mà các nước như Ấn Độ, Nhật Bản thường áp dụng trồng cây che bóng mát cho cây chè, nên năng suất và sản lượng chè thường cao
- Mật độ gieo trồng: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng
chè, mật độ trồng chè phụ thuộc vào các giống, độ dốc, điều kiện cơ giới hoá Nhìn chung tuỳ điều kiện giống, đất đai, cơ giới hoá, khả năng đầu tư mà có khoảng cách mật độ khác nhau Nhưng xu thế hiện nay là khai thác sản lượng theo không gian do đó có thể tăng cường mật độ một cách hợp lý cho sản lượng sớm, cao, nhanh khép tán, chống xói mòn và cỏ dại trong nương chè, qua thực tế cho thấy nếu mật độ vườn đảm bảo từ 18000 đến 20000 cây/ha thì
sẽ cho năng suất và chất lượng tốt, chi phí phải đầu tư tính cho một sản phẩm
là đạt mức thấp nhất
Trang 22- Đốn chè: Đốn chè cũng ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng và chất
lượng chè, đốn chè là cắt đi đỉnh ngọn của các cành chè, ức chế ưu thế sinh trưởng đỉnh và kích thích các trồi ngủ, trồi nách mọc thành lá, cành non mới tạo ra một bộ khung tán khoẻ mạnh, làm cho cây luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng hạn chế sự ra hoa, kết quả có lợi cho việc ra lá, kích thích sinh trưởng búp non, tăng mật độ búp và trọng lượng búp, tạo bộ khung tán to có nhiều búp, vừa tầm hái tăng hiệu suất lao động, cắt bỏ những cành già tăm hương, bị sâu bệnh thay bằng những cành non mới sung sức hơn giữ cho cây chè có bộ lá thích hợp để quang hợp [2]
Các dạng đốn chè:
- Đốn phớt: Hai năm sau khi đốn tạo hình, mỗi năm đốn trên vết đốn cũ
5cm sau đó mỗi năm đốn cao thêm 3-4cm, khi đốn vết đốn cuối cùng cao 70cm thì hàng năm đốn thêm 1-2cm Sự thay đổi cách đốn sẽ làm tăng sản lượng và chất lượng chè [6]
- Đốn đau: Những cây chè đã được đốn nhiều năm, cây chè phát triển
kém, năng suất thấp, giảm rõ rệt thì đốn cách mặt đất 40 - 50cm bón phân hữu cơ và lân theo quy trình một năm trước khi đốn đau Sau khi đốn đau cần tiến hành hái chè theo phương pháp nuôi tán, chỉ hái búp chè cao hơn 65cm còn chừa lại nuôi tán [6] Theo như nghiên cứu ở Inđônêxia cho thấy rằng: Hàm lượng Caphêin của nguyên liệu chè thu hoạch ở cây chè đốn đau cao hơn ở nguyên liệu chè chưa đốn, như vậy chè đốn đau và chè đốn liên tục sẽ cho sản lượng và chất lượng tăng, đốn chè có tác dụng tạo khung tán cho chè để có mật độ búp cao, tạo chiều cao hợp lý thuận lợi cho việc chăm sóc và thu hoạch [11]
Ảnh hưởng của công nghệ thu hoạch và chế biến chè
- Hái chè:
Thời điểm, thời gian và phương thức thu hái có ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu chè, hái chè gồm 1 tôm 2 lá đó là nguyên liệu tốt nhất cho chè chế biến chè vì trong đó có hàm lượng polyphenol và cafein cao Nếu hái chè quá già thì không những chất lượng chè giảm mà còn ảnh hưởng tới sinh trưởng và sự phát triển của cây chè Thường vào tháng 6,7,8 nguyên
Trang 23liệu chè thu hái có hàm lượng tanin cao nhất Khoảng cách thu hái mỗi lần là khoảng 1 tháng [3]
- Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu
Nguyên liệu chè sau khi thu hái có thể được đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian mới đưa vào chế biến, khi thu hoạch không để dập nát búp chè, dụng cụ đựng phải thông thoáng và kích thước vừa phải, sau khi hái không để quá 10 tiếng
- Công nghệ chế biến
Tuỳ thuộc vào mục đích của phương án sản phẩm mà ta có các quy trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến gồm hai giai đoạn: Sơ chế và tinh chế nguyên thành phẩm
Hiện nay trong điều kiện công nghệ sinh học điện khí hoá và tự động hoá một yêu cầu được đặt ra cho công nghệ chế biến chè là ngày càng giảm
tỷ trọng chi phí chế biến trong sản phẩm và nâng cao chất lượng chế biến Như vậy sản phẩm chè của ta mới đủ điều kiện để đầu tư trở lại phát triển ngành chè
1.2.4.3 Điều kiện về xã hội
Sản xuất chè chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện kinh tế xã hội, cụ thể là
cơ sở hại tầng, hệ thống đường giao thông đi lại, hệ thống điện, hệ thống tưới tiêu, khâu tiêu thụ sản phẩm và đặc biệt là xây dựng các nhà máy, các cơ sở hiện đại chế biến chè
Các vấn đề về nhân công lao động, các chính sách đâu tư khuyến khích phát triển, các chính sách vĩ mô của nhà nước cho cây chè đều có tác động
đến sự phát triển của cây chè Ngoài ra kinh nghiệm và truyền thống sản xuất
còn ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của sản phẩm chè Nếu các vấn đề trên
được giải quyết triệt để sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất chè phát triển
Thị trường
Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại của
cơ sở sản xuất kinh doanh chè, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị trường: Mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất và mỗi cá nhân đều phải trả lời
3 câu hỏi của kinh tế học đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản
Trang 24xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, mang tính định hướng Để trả lời được câu hỏi này người sản xuất phải tìm kiếm thị trường, tức là xác định nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hó
mà họ sẽ sản xuất ra Thị trường đóng vai trò là khâu trung gian nối giữa sản xuất và tiêu dùng
Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho có lợi nhuận thu được
là tối đa Còn việc giải quyết vấn đề sản xuất cho ai? đòi hỏi phải nghiên cứu
kỹ được thị trường, xác định rõ được khách hàng, giá cả và phương thức tiêu thụ
Muốn vậy phải xem xét quy luật cung cầu trên thị trường Ngành chè
có ưu thế hơn một số ngành khác, bởi sản phẩm nó được sử dụng khá phổ biến ở trong nước cũng như quốc tế Nhu cầu về mặt hàng này khá lớn và tương đối ổn định Hơn nữa chè không phải là sản phẩm tươi sống, sau khi chế biến có thể bảo quản lâu dài, chè mang tính thời vụ cũng ít gắt gao hơn các loại cây ăn quả Chính nhờ những ưu điểm trên dễ tạo ra thị trường khá ổn
định và vững chắc, là điều kiện, là nền tảng để kích thích, thúc đẩy sự phát
triển của ngành chè
Giá cả
Đối với sản xuất nông nghiệp nói chung, của người trồng chè nói riêng
thì sự quan tâm hàng đầu là giá chè (giá chè búp tươi và chè búp khô) trên thị trường, giá cả không ổn định ảnh hưởng đến tâm lý người trồng chè
Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người sản xuất nói chung, cũng như người làm chè, nghành chè nói riêng Do
đó việc ổn định giá cả, mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho
sự phái triển lâu dài của nghành chè
Yếu tố lao động
Theo quan điểm của Ricacdo: “ Lao động là cha, đất đai là mẹ sinh ra của cải vật chất” Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua công cụ lao động, tác động lên đối tương lao động nhằm biến đổi chúng thành của cải vật chất cần thiết cho nhu cầu của mình Nông hộ sử dụng
Trang 25lao động chủ yếu là lao động gia đình Tuy nhiên lao động trong nông hộ
đông đảo về số lượng nhưng cơ bản vẫn là lao động thủ công, năng suất
lao động thấp, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường còn hạn chế Phát triển sản xuất chè cũng vậy, nó vừa
có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa xã hội, bởi vì nhờ có phát triển sản xuất chè đã giải quyết được lượng lớn lao động Ngoài việc mang lại lợi nhuận kinh tế cao, tăng thu nhập cho người lao động, nó còn giải quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động lớn ở cả miền núi và miền xuôi, đặc biệt là lao
động nông thôn
Nhân tố lao động luôn là yếu tố quyết định trong việc sản xuất chè cũng vậy, yếu tố con người mang lại năng suất, sản lượng, chất lượng cho chè Để sản phẩm chè sản xuất ra có năng suất cao, chất lượng tốt ngoài việc ứng dụng khoa học kỹ thuật ra, cần phải có lao động có trình độ kỹ thật, tay nghề cao Trong hai khâu: Sản xuất và chế biến, nhân tố con người đều quyết định
đến sản lượng và chất lượng chè Trong khâu sản xuất từ việc chọn giống,
gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch tất cả đều thuộc vào nhân tố lao động Lao
động có tay nghề sẽ tạo ra năng suất và chất lượng cao
Hệ thống cở sở chế biến chè
Sau khi hái chè nguyên liệu (chè búp tươi) người ta sẽ tiến hành chế biến, từ chè búp tươi tạo ra chè thành phẩm, sau đó mới đem đi tiêu thụ trên thị trường
Ngoài yêu cầu về chất lượng chè nguyên liệu, thì công tác tổ chức, chế biến, quy trình chế biến cũng ảnh hưởng tới chất lượng chè thành phẩm Hoạch toán được giá thành từ đó quyết định được mức giá bán trên thị trường sao cho phù hợp Hiện nay nghành chè Việt Nam đang có những bước tiến
đáng kể trong khâu chế biến, nhiều công ty, doanh nghiệp được thành lập, hay
chuyển đổi thành các công ty cổ phần tham gia liên kết với nước ngoài đưa vào sử dụng những dây chuyền hiện đại, công suất lớn đã đáp ứng được phần nào yêu cầu của quá trình sản xuất chè
Một hình thức chế biến khác cũng đang được chú ý và áp dụng khá phổ biến là cách chế biến thủ công, nông hộ mà ở Thái Nguyên là một ví dụ tiêu biểu Ở các hộ trồng chè, việc sản xuất chè nguyên liệu và khâu chế biến luôn
Trang 26gắn liền với nhau Với hình thức này các hộ trồng chè cố gắng phát huy cao
độ những kỹ thuật cá nhân vừa co tính truyền thống, gia truyền vừa có tính
khoa học để chế biến ra sản phẩm tốt Thực tế cho thấy hầu hết các sản phẩm chè chế biến từ các hộ gia đình có chất lượng cao hơn hẳn so với chế biến tại các nhà máy Như vậy việc xây dựng các cơ sở chế biến chè, từ nhỏ tới lớn, từ chế biến thủ công tới chế biến công nghiệp là yêu cầu hết sức cấp bách và có
ý nghĩa rất lớn quyết định tới sự phát triển của ngành chè nói chung
Hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước
Thành tựu về kinh tế của Việt Nam hơn 10 năm qua là do nhiều nhân tố tác động, trong đó phải kể đến sự đóng góp tích cực của đổi mới quản lý kinh
tế vĩ mô Sự đổi mới này được diễn ra trong tất cả các ngành, các lĩnh vực sản xuất Ngành chè cũng như các ngành sản xuất khác, muốn mở rộng quy mô và chất lượng trong sản xuất kinh doanh, nhất thiết phải có hệ thống chính sách kinh tế thích hợp nhằm tạo dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố với nhau để tạo hiệu quả kinh doanh cao nhất Kết quả sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kinh tế, một chính sách kinh tế không phù hợp sẽ kìm hãm phát triển của ngành, ngược lại một chính sách thích hợp sẽ kích thích sản xuất phát triển Các chính sách này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển của ngành chè, tiêu biểu có thể kể đến là: Chính sách đất
đai, chính sách thuế, chính sách thị trường và sản phẩm
1.2.5 Các quan điểm và bản chất của hiệu quả kinh doanh trong sản xuất
* Các khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước hiện nay để thực hiện tốt chế độ hoạch toán kinh tế, bảo đảm lấy thu bù chi và có lãi trong hoạt
động sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ, là cơ sở để thị trường tồn tại
và phát triển của mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt Điều này đòi hỏi các thành phần kinh tế các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh phải có hiệu quả
* Hiệu quả
Là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô
lệ đến xã hội chủ nghĩa Hiệu quả được coi là khái niệm dùng để chỉ mối quan
hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí chủ
Trang 27thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo một mục đích nhất định [8]
Hiệu quả kinh tế có rất nhiều cách hiểu, có rất nhiều định nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích kinh doanh của từng doanh nghiệp theo nghĩa rộng hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Cụ thể là hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh với chi phí nhỏ nhất
- Quan điểm thứ nhất: Là của nhà kinh tế học người Anh Adamsimith
cho rằng “Hiệu quả kinh tế là kết quả trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá” Nhà kinh tế học người Pháp Ogiephri cũng có quan điểm như vậy Đây là hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh Rõ ràng quan điểm này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể dùng cho chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất, nếu cùng một mức kết quả với hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng đều có hiệu quả [7]
- Quan điểm thứ hai: Cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh giữa phần tăng thêm của chi phí” Quan điểm này biểu hiện quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó Quan điểm này có
ưu điểm là bám sát được mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không
ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân Nhưng khó khăn ở
đây là phương tiện để đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó [8]
- Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế được đo bằng kết quả hiệu số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó ưu điểm của quan điểm này là nó phản ảnh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh
tế Nó đã gắn được hiệu quả với toàn bộ chi phí, coi việc kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử sự các chi phí Tuy nhiên, nó vẫn chưa biểu hiện được tương quan về chất và lượng giữa kết quả và chi phí, chưa phản ánh hết mức
độ chặt chẽ của mối quan hệ này Để phản ảnh được tình hình sử dụng các
nguồn nhân lực thì cần phải cố định một trong 2 yếu tố hoặc là kết quả hoặc là
Trang 28chi phí bỏ ra Nhưng theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin thì các yếu tố này luôn biến động, vì vậy khi xem xét hiệu quả của một quá trình kinh tế nào
đó, phải xem xét trong trạng thái động [8]
- Quan điểm thứ tư: Là của các nhà kinh tế học của chủ nghĩa Lênin cho rằng: Hiệu quả kinh tế là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản xã hội chủ nghĩa Quỹ tiêu dùng với tư cách là chi tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Song khó khăn là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng
Mac-định hướng đó Khái niệm quỹ tiêu dùng được đề cập ở đây là một bộ phận
của thu nhập quốc dân, bộ phận còn lại là tích luỹ [8]
Từ các quan điểm trên cho thấy hiệu quả kinh doanh theo nghĩa rộng là một phạm trù kinh tế phản ảnh những lợi ích đạt được từ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Như vậy cần phải định sự khác nhau và mối liên
hệ giữa kết quả với hiệu quả
Bất kỳ một hoạt động của con người nào đó nói chung và trong kinh doanh nói riêng đều mong muốn đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên kết quả đó được tạo ra ở mức độ nào, với giá nào là vấn đề cần xem xét, vì nó phản ánh chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả Mặt khác nhu cầu tiêu dùng của con người bao giờ cũng lớn hơn khả năng tạo ra sản phẩm của mình Chính
vì vậy, người ta luôn quan tâm làm sao với khả năng hiện tại có thể tạo ra được nhiều sản phẩm nhất Vậy nên khi đánh giá hoạt động kinh doanh tức là đánh giá chất lượng của hoạt động kinh doanh tạo ra kết quả mà nó đạt được
Như vậy bản chất của hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả của lao động
xã hội, được xác định bằng cách so sánh giữa chất lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội Do vậy thước đo hiệu quả là
sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội Và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí dựa trên những điều kiện hiện có
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
Tình hình sản xuất
Trang 29Chè đã được trồng ở 58 nước, trong đó có 30 nước trồng chè chủ yếu, phân bố từ 330 vĩ Bắc đến 490 vĩ Nam, trong đó vùng thích hợp nhất là 160 vĩ Nam đến 200 vĩ Bắc, ở vùng này cây chè sinh trưởng quanh năm còn trên 200
vĩ Bắc cây chè có thời gian ngủ nghỉ và tính chất mùa rõ rệt [7]
Trong vài thập kỷ gần đây, sản lượng chè ở các nước tăng cao Sản lượng đạt trên 200 nghìn tấn gồm 4 nước: Trung Quốc, ấn Độ, Kenya, Srilanka Sản lượng đạt trên 100 nghìn tấn gồm 2 nước: Việt Nam
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới qua các thời kỳ
STT Năm Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tạ khô/ha) Sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: Theo FAO 2012)
Qua 1.1 Số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới
50 năm qua cho thấy:
Diện tích chè thế giới tăng mạnh trong 30 năm từ năm 1961-1990, trong 20 năm trở lại đây diện tích chè có chiều hướng nhanh năm 1990 diện tích là 2237,78 ha đến năm 2010 diện tích đã là 3213,56 nghìn ha Theo thống
kê năm 2010, diện tích chè thế giới tương đối cao đã đạt 3,11 triệu ha trong
đó diện tích chè của châu á chiếm 88,56%, châu Phi là 9,7%
Năng suất chè thế giới tăng nhanh qua các năm, từ 7,2 tạ khô/ha (năm 1961) đến 14,46 tạ khô/ha (năm 2010)
Sản lượng chè tăng nhanh qua các thập kỷ, năm 2010 đạt 4518,06 nghìn tấn, với nhịp độ tăng sau mỗi thập kỷ và tăng mạnh nhất vào giai đoạn
từ năm 1990 - 2010
Qua theo dõi sản lượng chè thế giới và các khu vực trồng chè từ năm
2007 đến năm 2011, diễn biến sản lượng chè đượcc thể hiện qua bảng 1.2
Trang 30Bảng 1.2: Sản lượng chè thế giới qua các năm
(Nguồn: Theo FAO 2012)
Mặc dù có tới 58 quốc gia trồng chè trên thế giới với quy mô khác nhau, phân bố khắp 5 châu: Châu á (20 nước), Châu Phi (21 nước), Châu Mỹ (12 nước), Châu đại Dương (3 nước), Châu âu (Liên Xô (cũ) và Bồ Đào Nha)
Tuy nhiên sản xuất chè của thế giới chỉ tập trung ở một số nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Sri Lanka, Nhật Bản, chiếm trên 60% tổng sản lượng chè thế giới Cuối thế kỷ XX, nước chè là một loại nước uống bảo vệ sức khỏe lý tưởng của 50% dân số thế giới, tiêu dùng rất phổ biến chỉ xếp sau nước lọc
Năm 2011, sản lượng chè thế giới giảm hơn 150 nghìn tấn bất chấp nguồn cung từ Trung Quốc tăng 155 nghìn tấn Sản xuất chè tại Trung Quốc trong năm 2011 rất thuận lợi nhờ mưa tốt tại các khu vực trồng chè lớn Trong khi đó, khuynh hướng tại các thị trường khác trên thế giới lại rất khác Thời
Trang 31tiết bất lợi tại Kenya, Uganda, Malawi, Indonesia là nguyên nhân chính khiến sản lượng chè thế giới giảm
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng chè của một số nước trên thế
giới năm 2012
STT Tên nước Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tạ khô/ha)
Sản lượng khô (1000 tấn)
Trang 32(Nguồn: indexmundi[4])
Hình 1.1: Giá chè bình quân theo tháng trên thế giới
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam
1.3.2.1 Sản xuất và tiêu thụ
Việt Nam năm trong vùng nguyên sản của cây chè thế giới, có điều kiện
địa hình, đất đai, khí hậu phù hợp cho cây chè phát triển và cho chất lượng cao
Hiện sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu "CheViet" đã được đăng ký và bảo hộ tại 70 thị trường quốc gia và khu vực Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè [12]
Hiện Việt Nam có 6 triệu người sống trong vùng chè, có thu nhập từ trồng, chế biến và kinh doanh chè Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & PTNT, hiện cả nước có 35 tỉnh trồng chè, với tổng diện tích hơn 131.500 ha Bình quân năng suất đạt 6,5 tấn búp tươi/ha, cung cấp nguyên liệu cho khoảng 700 cơ sở sản xuất chè khô Hiện có khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến 10 tấn nguyên liệu chè búp tươi/ngày) và hàng ngàn
hộ dân lập xưởng để chế biến chè tại gia đình Đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng số dân sống trong vùng chè [12] Việt Nam đã chế biến khoảng 15 loại chè khác nhau, trong đó chè ô Long, chè đen và chè nhài
được thị trường thế giới ưa chuộng
Theo số liệu thống kê, trong năm 2013 xuất khẩu chè của cả nước đạt 141.434 tấn, trị giá 229.719.055 USD, giảm 3,59% về lượng nhưng tăng 2,28% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
Trang 33Pakistan vẫn là thị trường lớn nhất nhập khẩu chè của Việt Nam, với lượng nhập 22.909 tấn, trị giá 45.949.795 USD, giảm 4,72% về lượng nhưng tăng 1,42% về trị giá so với cùng kỳ năm trước (Việt Nam chủ yếu xuất khẩu chè đen PD, PF sang thị trường Pakistan qua cảng Hải phòng, FOB)
Đài Loan là thị trường lớn thứ hai, với lượng nhập 22.477 tấn, trị giá
30.916.744 USD, tăng 0,11% về lượng và tăng 4,49% về trị giá (chủ yếu xuất chè đen OPA, BPS qua cảng Cát lái, Hồ chí minh, FOB); Đứng thứ ba là thị trường Nga với 11.748 tấn, trị giá 19.251.300 USD, giảm 15,46% về lượng và giảm 10,93% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
Một số thị trường có mức tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2013: Hoa
kỳ tăng 21,29% về lượng và tăng 30,91% về trị giá; Ba lan tăng 1,37% về lượng và tăng 14,86% về trị giá Bên cạnh đó một số thị trường sụt giảm xuất khẩu: Trung quốc giảm 4,24% về lượng và giảm 1,64% về trị giá; Indonêsia giảm 24,06% về lượng và giảm 15,71% về trị giá; Arậpxêút giảm 17,94% về lượng và giảm 16,9% về trị giá; Đức giảm 16,87% về lượng và giảm 12,35% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
Trong năm 2013 giá xuất khẩu chè của Việt Nam tăng 4% so với năm
2012 Tuy nhiên so với giá xuất khẩu chè của thế giới thì giá chè của Việt Nam vẫn ở mức thấp Số liệu của Tổng cục hải quan về xuất khẩu chè năm 2013
Trang 34Bảng 1.4: Tình hình xuất khẩu chè Việt Nam năm 2013
Nước
Năm 2012 Năm 2013
Năm 2013 so với cùng kỳ năm trước(%) Lượng
(tấn)
Trị giá (USD)
Lượng (tấn)
Trị giá (USD) Lượng Trị giá Tổng 146.708 224.589.666 141.434 229.719.055 -3,59 +2,28
- Lợi thế đầu tiên phải kể đến là tiềm năng về đất đai và sự phân bố
đất đai trên nhiều miền khí hậu khác nhau Với gần 10 triệu ha đất nông
nghiệp với các vùng đất cấu tạo khác nhau, các vùng khí hậu khác nhau đã hình thành các vùng sản xuất sản phẩm hàng hoá đa dạng khác nhau
Trang 35+ Với khí hậu nhiệt đới chúng ta đã hình thành 2 vùng đồng bằng lớn sản xuất lúa nước, có thể sản xuất từ 2 - 3 vụ lúa và cây vụ đông, cây ăn quả
+ Vùng đất đỏ Bazan ở Tây Nguyên và dải miền Trung đã hình thành vùng trồng cafe, cao su, hồ tiêu, điều, hoa quả
+ Vùng núi phía Bắc trồng chè, cây ăn quả Vì vậy, chúng ta có thể đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp hàng hoá và lại hình thành các vùng chuyên canh với quy trình sản xuất có thể diễn ra quanh năm, đáp ứng được yêu cầu của thị trường
- Nước ta là một nước có nguồn lao động nông nghiệp dồi dào, 70% lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp, hiện nay đang thiếu việc làm, công lao động lại rất thấp Giá trị công lao động trong nghành nông ngiệp của nước ta thấp hơn các nước trên thế giới
- Nước ta có hệ thống cảng biển, cảng sông, giao thông đường sắt,
đường bộ và hàng không có thể giao lưu thuận lợi với các Châu lục và
các nước trong khu vực tạo điều kiện cho việc vận chuyển thuận lợi Từ khi thay đổi cơ chế, hệ thống giao, thông giao thông của nước ta đã được đầu
tư nâng cấp bước đầu đáp ứng được yêu cầu giao lưu thuận tiện trong cả nước
và Quốc tế
- Đường lối chính sách sách đổi mới kinh tế của nước ta đã được
mở rộng, tự do hoá thương mại, hoà nhập thị trường Quốc tế Các chính sách, luật đã tạo hành lang thông thoáng cho các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh Đã có nhiều chính sách khuyến khích mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước có điều kiện thuận lợi để tham gia liên doanh liên kết đầu tư phát triển sản xuất
- Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ cũng ngày càng được Nhà nước quan tâm và ngày càng được nâng cao, thông qua nhiều kênh để đến với người sản xuất nhằm năng cao chất lượng sản phẩm và công nghệ sản xuất
Những khó khăn
Là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất chủ yếu là công cụ thủ công nên quá trình sản xuất của các hộ nông dân tạo ra nguyên liệu ban đầu chất lượng chưa cao, công nghệ sau thu hoạch chủ yếu còn lạc hậu nên thất thoát
Trang 36về lượng cũng chiếm khoảng từ 10 - 15%, sự thất thoát về chất lượng bị giảm
đi còn chưa tính được Đây là vấn đề còn khó khăn nhất đòi hỏi phải có một
cố gắng lớn và thời gian dài, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ sinh học, việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và cho yêu cầu của công nghiệp chế biến
Để làm được điều này không chỉ người sản xuất mà còn là chiến
lược phát triển chung của đất nước cần được sự hỗ trợ của Nhà nước, sự quan tâm khuyến khích các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
- Phát triển công nghiệp nặng để chế tạo ra máy móc phục vụ công nghiệp chế biến Hiện nay nền công nghiệp của nước ta chưa đủ sức để
đảm nhiệm việc đó, vì vậy hầu như các loại máy móc phục vụ cho công
nghiệp chế biến và bảo quản chúng ta phải nhập ở nước ngoài, giá của các công nghệ này còn quá cao
Cụ thể là là công nghiệp chế biến chè của nước ta chủ yếu nhập từ Liên
Xô cũ, công nghệ lạc hậu, cũ kỹ cho nên sản phẩm làm ra khó cạnh tranh, việc thay đổi lại công nghệ này không phải ngày một ngày hai đã làm được Cho nên hiện nay Việt Nam phần lớn còn xuất khẩu sản phẩm thô, chưa đủ công nghệ để chế biến ra sản phẩm cuối cùng, điều chắc chắn là một bất lợi cho người sản xuất
- Hệ thống cơ sở hạ tầng như thuỷ lợi, giao thông, bến cảng, kho tàng tuy đã được nâng cấp nhưng chưa đủ đáp ứng cho yêu cầu của sản xuất và lưu thông Sản xuất vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên, gây nên hạn úng mất mùa Chính sự yếu kém của các cơ sở hạ tầng đã gây nên sự chậm trễ cho việc thu gom sản phẩm và đáp ứng yêu cầu sản phẩm của thị trường
- Cơ chế chính sách: Chưa được hoàn thiện cho việc tạo ra hệ thống tổ chức loại hình doanh nghiệp, đầu tư tài chính, chính sách đầu ra, thuế nhằm tạo ra sự hoà nhập với khu vực và thế giới là cần thiết
1.3.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Thái nguyên
Vị trí, vai trò của cây chè ở tỉnh Thái Nguyên
Giống chè Trung du (Camellia sinensis var Macrophylla) được đưa về trồng ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1922 đến nay Sản xuất chè là một trong
Trang 37những ngành có thế mạnh ở Trung du và Miền núi nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng Cây chè ít tranh chấp đất với cây lương thực, thích hợp trên
đất dốc Trồng chè có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hạn chế xói
mòn, rửa trôi Chè là cây trồng sử dụng có hiệu quả đất đai, khí hậu vùng đồi núi Phát triển chè sẽ thu hút được lượng lao động đáng kể, không những chỉ trong khâu sản xuất nguyên liệu mà cả khâu chế biến và tiêu thụ
Do vậy phát triển chè ngoài ý nghĩa kinh tế, còn ổn định đời sống và
định cư cho người dân do sử dụng nhiều lao động tại chỗ để chăm sóc, thu
hái, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ chè Ưu điểm tương đối của chè là hệ số chi phí nội nguồn thấp (DRC – Domestic Resource Cost) do nguồn lực tự nhiên dồi dào và chi phí lao động thấp Cây chè thực sự được coi là người bạn
“chung thủy” của nông Cây chè tỉnh Thái Nguyên đã từng là “cây xoá đói giảm nghèo” và hiện đang là “cây làm giàu” của của nhiều hộ nông dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên
Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có diện tích chè lớn thứ 2 trong cả nước (17.660 ha), cả 9 huyện, thành thị đều có sản xuất chè Do thiên nhiên ưu đãi
về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè
Vì vậy nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp, chất lượng rất cao Theo phân tích của Viện Khoa học Kỹ thuật NLN miền Núi phía Bắc, chất lượng nguyên liệu chè Thái Nguyên có ưu điểm khác biệt với chất lượng nguyên liệu của các vùng chè khác Từ những đặc điểm phẩm chất trên, nguyên liệu chè Thái Nguyên có nội chất đáp ứng được yêu cầu của nguyên liệu để sản xuất chè xanh chất lượng cao
Bên cạnh thế mạnh được thiên nhiên ưu đãi về đất đai, khí hậu thích hợp với sản xuất chè Người làm nghề chè tỉnh Thái Nguyên có kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nghề chè, bằng những công cụ chế biến thủ công, truyền thống, đã tạo nên những sản phẩm chè cánh đẹp, thơm hương chè, hương cốm, uống
“có hậu” với vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng của chè Thái Nguyên, với chất lượng và giá trị cao; 100% sản phẩm của làng nghề chè là sản phẩm chè xanh, chè xanh cao cấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa và có xuất khẩu
Trang 38Tình hình sản xuất
Sản xuất chè ở Thái Nguyên còn chủ yếu là sản xuất quy mô hộ Tuy vậy, do đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, tăng đầu tư thâm canh chè mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong những năm vừa qua, diện tích, năng suất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên không ngừng tăng:
Bảng 1.5 : Diện tích, sản lượng chè búp tươi theo huyện, thành phố, thị xã
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
D
tích (ha)
S lượng búp tươi (tấn)
D
tích (ha)
S lượng búp tươi (tấn)
D
tích (ha)
S lượng búp tươi (tấn) Tổng số 16.994 149.255 17.309 158.702 17.660 171.900
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010)
Năm 2008, diện tích chè toàn tỉnh có 16.994 ha, năng suất 8,78 tấn chè búp tươi/ ha, sản lượng 149.255 tấn;
Năm 2009: 17.309 ha, năng suất 9,17 tấn/ha, sản lượng 158.702 tấn;
Đến năm 2010, diện tích chè toàn tỉnh có 17.660 ha Năng suất chè búp
tươi năm 2010 đạt 107 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi 171.900 tấn;
Trang 39Tỉnh Thái Nguyên đang đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu giống chè theo hướng giảm giống chè Trung du tăng các giống chè nhập nội và các giống chè trong nước chọn tạo, lai tạo có năng suất và sản lượng cao
Xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè búp tươi:
Bảng 1.6: Cơ cấu vùng sản xuất chè nguyên liệu của các huyện
Giá trị (1.000 USD)
Lượng (tấn)
Giá trị (1.000 USD)
Lượng (tấn)
Giá trị (1.000 USD)
Trong đó, chủ yếu:
1 Công ty Chè Quân Chu, Đại Từ - - - -
2 Công ty TNHH Trung Nguyên 1.434 2.460 1.461 2.334 940 1.930
10 Công ty CP Quang Lan - - 405 517 372 487
11 Doanh nghiệp chè YJIN 1.527 1.483 1.622 1.476 1.668 1.566
12 Công ty XNK Thái Nguyên - - 577 463 - -
13 Trà Phú Lương
14 Công ty CP chè Quân Chu - - 222 154 - -
15 Công ty chè Bắc Sông Cầu - - 185 154 321 423
16 Nhà máy chè Đại Từ - - - - 606 1.241
17 Công ty Chè Hà Tuyên - - - - 1.411 1.576 Trong đó:
* Mặt hàng chè xanh 3.680 5.197 3.826 5.834
* Mặt hàng chè đen 1.374 1.662 2.093 3.359
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010)
- Xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè búp tươi:
Vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất chè xanh, chè xanh cao cấp gồm các giống: Trung du, LDP1, TRI 777, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Bát tiên, Keo Am
Trang 40tích, phân bố chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, Định Hoá, Phổ Yên, chiếm tỷ lê 80 - 85% nguyên liệu chè chè búp tươi
Vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất chè đen gồm các giống: Trung du, LDP2, TRI 777, chủ yếu phân bố ở các huyện Định Hoá, một phần ở huyện
Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, chiếm tỷ lệ 10 - 15% lượng nguyên liệu chè
búp tươi
- Một số tiến bộ khoa học công nghệ ứng dụng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm chè Thái Nguyên: Tập trung vào việc chuyển đổi giống mới, biện pháp canh tác hữu cơ, sử dụng phân bón cân đối, hiệu quả; tưới tiết kiệm; áp dụng quản lý phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM)
- Sản xuất chè an toàn ở tỉnh Thái Nguyên: Hiện nay tỉnh Thái Nguyên
đang triển khai quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn toàn tỉnh
làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư sản xuất chè hàng hóa chất lượng, giá trị cao; xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè an toàn theo hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu; áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP, từ khâu sản xuất đến khâu chế biến thành phẩm cuối cùng gắn quy trình sản xuất với việc ược chứng nhận bởi các tổ chức chứng nhận trong nước và quốc tế (VietGAP, GlobalGAP, Uzt Certified…)
Chương trình chuyển đổi giống mới và ứng dụng các biện pháp canh tác tiên tiến sản xuất chè theo hướng an toàn, đã nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên Năm 2005, giá trị sản xuất bình quân đạt 36,5 triệu đồng/ha đối với chè búp khô; năm 2010 là 68 triệu đồng/ha, có nơi đạt
90 - 100 triệu đồng/ha (ở thành phố Thái Nguyên)
Chế biến
Chế biến chè ở Thái Nguyên theo 2 phương thức chủ yếu:
- Chủ yếu là chế biến theo phương pháp thủ công, truyền thống theo quy mô hộ Sản xuất chế biến chè từ lâu đã gắn liền với đời sống xã hội và bản sắc văn hoá các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Phương pháp chế biến này chiếm khoảng trên 80% sản phẩm chè Thái Nguyên Chế biến chè theo phương pháp truyền thống hiện đang mang lại giá trị, hiệu quả kinh tế rất cao