1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.

81 566 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 871,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cần phải hình thành và phát triển những hình thức sản xuất phù hợp hơn, mà trong đó, kinh tế trang trại là một mô hình tốt có thể áp dụng để đáp ứng yêu cầu này.Đã manh nha từ rất lâu, n

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠI THỊ TRẤN SÔNG CẦU, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠI THỊ TRẤN SÔNG CẦU, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn : TS Bùi Đình Hòa

Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Đặc biệt,

tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo TS.Bùi Đình Hòa

người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận này

Để hoàn thành được khóa luận này, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Trang trại nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu Trong suốt quá trình nghiên cứu, tôi nhận được sự quan tâm, sự động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi về cả vật chất và tinh thần của gia đình và bạn bè Thông qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến những tấm lòng

và sự giúp đỡ quý báu đó

Trong quá trình hoàn thành khóa luận, tôi đã có nhiều cố gắng Tuy nhiên, khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót vì vậy, tôi kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các quý thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lê Tùng Anh

Trang 4

KTTT : Kinh tế trang trại

NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TB : Tây Bắc

TSCĐ : Tài sản cố định

TT : Trang trại

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa đối với học tập và nghiên cứu khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

4 Bố cục 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.1 Một số khái niệm về trang trại 4

1.1.2 Tiêu chí xác định trang trại ở Việt Nam 5

1.1.3 Vai trò, vị trí của kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn nuôi 6

1.1.4 Đặc trưng của kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn nuôi 7

1.1.5 Điều kiện cơ bản để phát triển trang trại và kinh doanh có hiệu quả 8

1.1.6 Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế - xã hội 9

1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất mô hình trang trại 12

1.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế 12

1.2.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế 14

1.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế 16

1.3 Cơ sở thực tiễn về phát triển trang trại 17

1.3.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại của các nước trên thế giới 17

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở trong nước 20

1.3.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở Thái Nguyên 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26

2.2 Nội dung nghiên cứu 26

2.3 Câu hỏi nghiên cứu 26

2.4 Các phương pháp nghiên cứu 27

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 27

Trang 6

2.4.2 Công cụ xử lý số liệu 27

2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 27

2.5 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 29

2.5.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất của trang trại 29

2.5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của trang trại 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên xã hội của thị trấn Sông Cầu, Huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 31

3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 31

3.1.2 Khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng 31

3.2 Hiện trạng trang trại chăn nuôi của công ty CP thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 32

3.2.1 Đặc điểm chung trang trại chăn nuôi của công ty CP 32

3.2.2 Thông tin chung về trang trại chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 34

3.2.3 Cơ cấu tổ chức 34

3.2.4 Chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng trong trang trại 35

3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của trang trại chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu năm 2010 – 2013 35

3.4 Phân tích - đánh giá tình hình sử dụng các yếu tố nguồn lực của trang trại chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P thị trấn Sông Cầu 38

3.4.1 Đất đai 38

3.4.2 Vốn 39

3.4.3 Nguồn nước 39

3.4.4 Nguồn điện 39

3.4.5 Chuồng trại 39

3.4.6 Lao động 40

3.5 Kết quả và hiệu quả sản xuất theo mô hình chăn nuôi lợn gia công của công ty C.P thị trấn Sông Cầu giai đoạn 2011 – 2013 43

3.5.1 Chi phí sản xuất của trang trại chăn nuôi lợn nái gia công giai đoạn 2010 -2013 43

3.5.2 Tổng doanh thu của trang trại chăn nuôi lợn nái gia công giai đoạn 2010 – 2013 49

3.5.3 Đánh giá kết quả và hiệu quả chăn nuôi lợn nái gia công theo mô hình trang trại cho công ty C.P 51

Trang 7

3.5.4 Kết quả sản xuất hoạt động trồng trọt của trang trại 55

3.5.5 Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội của trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản của trang trại chăn nuôi gia công cho công ty C.P thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái Nguyên 56

3.5.6 Đánh giá hiệu quả về về mặt môi trường của trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản của trang trại chăn nuôi gia công cho công ty C.P thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái Nguyên 59

3.6 Đánh giá chung và những vấn đề cần đặt ra trong phát triển suất sản xuất theo mô hình chăn nuôi lợn gia công cho công ty C.P thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái Nguyên 61

3.6.1 Về thuận lợi và khó khăn trong quá trình chăn nuôi lợn theo mô hình trang trại gia công 61

3.6.2 Những cơ hội và thách thức trong quá trình chăn nuôi lợn theo mô hình trang trại 62

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HIỆU QUẢ SẢN XUẤT THEO MÔ HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI GIA CÔNG CHO CÔNG TY C.P THỊ TRẤN SÔNG CẦU, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN 63

4.1 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu phát triển trang trại chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái Nguyên 63

4.1.1 Quan điểm phát triển 63

4.1.2 Định hướng 64

4.1.3 Mục tiêu 64

4.2 Một số giải pháp cụ thể 64

4.2.1 Đối với trang trại 64

4.2.2 Đối với nhà nước và chính quyền địa phương 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Kiến nghị 69

2.1 Đối với trang trại69 2.2 Đối với chính quyền địa phương, 69

2.3 Đối với cơ quan thú y của huyện 69

2.4 Đối với các tổ chức tín dụng 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Trang

Bảng 1.1 Số trang trại phân theo ngành hoạt động và phân theo địa phương

trong cả nước 21

Bảng 1.2 Các loại hình trang trại của Thái nguyên năm 2013 24

Bảng 1.3 Thu nhập của các trang trại Thái Nguyên năm 2013 24

Bảng 3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của trang trại qua 4 năm (2010 -

2013) 37

Bảng 3.2 Cơ cấu trình độ, kinh nghiệm lao động trong trang trại năm 2013 41

Bảng 3.3 Cơ cấu giới tính, độ tuổi của lao động trong trang trại năm 2013 42

Bảng 3.4 Chi phí bảo dường, sửa chữa, thay mới máy móc giai đoạn 2010 -2013 44

Bảng 3.5 Bảng chi phí khấu hao tài sản cố định khác giai đoạn 2010-2013 45

Bảng 3.6 Chi phí nhân công của trang trại giai đoạn 2010 – 2013 45

Bảng 3.7 Chi phí điện nước của trang trại giai đoạn 2010 – 2013 46

Bảng 3.8 Bảng phân tích biến động chi phí của trang trại giai đoạn 2010 -2013 48

Bảng 3.9 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lợn con giống của trang trại giai đoạn 2010 -2013 50

Bảng 3.10 Kết quả và hiệu quả chăn nuôi của trang trại giai đoạn 2010 -2013 52 Bảng 3.11 Thu nhập bình quân 1 năm từ trồng trọt của trang trại giai đoạn (2010 - 2013) 56

Bảng 3.12 Tình hình lao động và thu nhập của trang trại qua 4 năm (2010 -2013) 57

Bảng 3.13 Bảng thu nhập theo vị trí công tác qua 4 năm (2010-2013) 58

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trang trại 35

Biểu đồ 3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của trang trại giai đoạn (2010-2013) 38

Biểu đồ 3.2 Cơ cấu trình độ lao động của trang trại 41

Biểu đồ 3.3: Cơ cấu kinh nghiệm lao động của trang trại 42

Biểu đồ 3.4: Cơ cấu lao động của trang trại 43

Biểu đồ 3.5 Các khoản chi phí của trang trại giai đoạn (2010-2013) 49

Biểu đồ 3.6 Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của trang trại 2010 -2013 53

Biểu đồ 3.7 Hiệu quả sản xuất của trang trại giai đoạn 2010 – 2013 54

Hình 3.1 Mô phỏng mô hình trang trại chăn nuôi lợn nái gia công 60

Trang 10

MỞ ĐẦU

2 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong số những thành tích đạt được của công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, trong thời gian qua có thể nói nông nghiệp là một ngành đã có những bước đột phá ngoạn mục Thu nhập của nông dân không ngừng tăng lên, bộ mặt nông thôn được cải thiện đáng kể Sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo an toàn lương thực cho đời sống xã hội

Thế nhưng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé Cho đến bây giờ, nông nghiệp Việt Nam vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả và thiếu tính hợp lý Cần phải hình thành và phát triển những hình thức sản xuất phù hợp hơn, mà trong đó, kinh tế trang trại là một mô hình tốt có thể áp dụng để đáp ứng yêu cầu này.Đã manh nha từ rất lâu, nhưng chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây, vai trò của kinh tế trang trại mới thực sự được công nhận và được quan tâm chú ý, đặc biệt là sau khi Nghị quyết số 03/2000/NQ- CP của Chính phủ ngày 2/2/2000 về kinh tế trang trại ra đời thì kinh tế trang trại mới thực sự được một sự trợ giúp của Nhà nước về cơ chế, chính sách như là hỗ trợ cho các doanh nghiệp thông thường của nền kinh tế thị trường Sự tăng nhanh về số lượng, gia tăng về giá trị sản lượng đã chứng tỏ đây là một mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta, giúp nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và cho xã hội

Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy mô đất đai lớn như ở vùng đồng bằng Sông Hồng hay vùng đồng bằng phía nam, nhưng tỉnh Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc là nơi có nhiều điều kiện

ưu đãi về điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu…đặc biệt là vùng có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh của người dân tương đối cao Huyện Đồng Hỷ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua sản xuất nông nghiệp của huyện đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng nhưng để ngành nông nghiệp của huyện đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới thì phải hợp lý hoá, hiệu quả hoá sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác một cách triệt để tiềm năng về đất đai cũng như khả năng lao động của con người vùng miền núi này và mô hình kinh tế trang trại

Trang 11

là phù hợp hơn cả Những năm qua kinh tế trang trại của huyện đã có nhiều thành tích đáng khích lệ, nhưng thật sự vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của nó Câu hỏi đặt ra là: Khả năng phát triển kinh tế trang trại của vùng đến đâu? làm sao để mô hình được áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất? Trả lời cho câu hỏi này chính là mục đích của đề tài tôi đi vào nghiên cứu sâu về hiệu quả sản xuất của một doanh nghiệp trên địa bàn huyện

Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng kết quả sản xuất mô hình trang trại chăn nuôi lợn nái gia gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế trang trại, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất mô hình trang trại chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên để vừa nâng cao thu nhập cho người lao động vừa giải quyết các vấn đề về xã hội và môi trường

- Đưa ra một số giả pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất mô hình trang trại chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa đối với học tập và nghiên cứu khoa học

- Củng cố kiến thức đã học với thực tiễn trong quá trình đi thực tập tại cơ sở

- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin kỹ năng nghề nghiệp

Trang 12

- Nâng cao khả năng giao tiếp và xử lí tình huống

- Giúp hiểu thêm về tình hình sản xuất của trang trại chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái Nguyên

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các giải pháp của đề tài có thể là những cơ sở cho những định hướng cho tăng cường kinh doanh sản xuất trang trại chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái Nguyên

- Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng nghiên cứu

4 Bố cục

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được chia thành 4 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4: Một giải pháp hiệu quả sản xuất theo mô hình trang trại chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P thuộc thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng

Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm về trang trại

Trong những năm gần đây ở nước ta có rất nhiều cơ quan nghiên cứu như

cơ quan quản lý Nhà nước và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã quan tâm nghiên cứu về kinh tế trang trại Một trong những vấn đề được đề cập nhiều là khái niệm kinh tế trang trại Về thực chất trang trại và kinh tế trang trại là hai khái niệm khác nhau, không đồng nhất với nhau, có rất nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế trang trại như:

Xuất phát từ quan điểm của Lê nin “Ấp trại tuy vẫn là nhỏ nếu tính

theo diện tích, nhưng lại hoá thành ấp trại lớn nếu xét về quy mô sản xuất” Ở

đây ta có thể hiểu khái niệm trang trại thể hiện quy mô tính theo diện tích nhưng cũng có thể đó là quy mô sản xuất thể hiện bằng thu nhập [3]

Theo GS.TS Nguyễn Thế Nhã “Trang trại là một loại hình tổ chức sản

xuất cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá,

có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến

bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ luôn gắn với thị trường” [4]

Còn theo Th.s Nguyễn Phượng Vỹ “Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh

tế nông hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hoá” [4]

Theo Nghị Quyết TW số 06/NQ – TW ngày 10/11/1998, đã xác định:

“trang trại gia đình thực chất là kinh tế hộ sản xuất hang hoá với quy mô lớn

hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả” [7]

Cũng như khái niệm về trang trại, trong thời gian qua cũng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại như:

- Theo PGS.TS Lê Trọng: ” Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh

tế cơ sở, là doanh nghiệp tổ chức sản xuất trực tiếp ra nông sản phẩm hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang thiết bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, được nhà nước bảo

hộ theo luật định” [4]

Trang 14

- Theo tác giả Trần Trác: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản

xuất và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản của một nông hộ theo cơ chế thị trường” [4]

- Theo quan điểm của Nghị Quyết 03/2000 NQ – CP về việc “khuyến

khích phát triển kinh tế trang trại” cho rằng: “Bản chất của kinh tế trang trại

là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn chủ yếu dựa vào kinh tế hộ gia đình” [7]

Như vậy, nói kinh tế trang trại là nói mặt kinh tế của trang trại Bởi ngoài ra còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã hội và môi trường Điều này

có nghĩa rằng khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố sản xuất kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động của trang trại Còn trang trại

là nơi diễn ra các hoạt động và mối quan hệ đó, nhìn chung trang trại gồm những đặc điểm cơ bản sau:

- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất hàng hoá Đây là đặc điểm

cơ bản của trang trại trong điều kiện kinh tế thị trường

- Là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá

- Các yếu tố vật chất của sản xuất, trước hết là ruộng đất và tiền vốn trong trang trại được tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá

- Trang trại tự chủ hoàn toàn trong sản xuất kinh doanh

- Chủ trang trại là người có trình độ, năng lực tổ chức quản lí, có kinh nghiệm và kiến thức nhất định về sản xuất, kinh doanh

- Phần lớn các trang trại đều có thuê mướn lao động

- Các chủ trang trại đều có thu nhập vượt trội so với mức bình quân của nông dân trong vùng

1.1.2 Tiêu chí xác định trang trại ở Việt Nam

Theo thông tư 27 ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ NN&PTNN về việc

về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại, tiêu chí xác định trang trại như sau:

Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:

1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:

Trang 15

a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;

- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;

3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

1.1.3 Vai trò, vị trí của kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn nuôi

Chăn nuôi là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp Ở nước ta chăn nuôi cung cấp khoảng 30% tổng sản phẩm nông nghiệp Việc nâng cao đời sống vật chất của các tầng lớp nhân dân, cải thiện điều kiện dinh dưỡng và chất lượng bữa ăn phụ thuộc đáng kể vào sự phát triển của ngành chăn nuôi Ngành chăn nuôi cung cấp cho con người các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng Hiện nay, ngành chăn nuôi nước ta cung cấp khoảng trên 1,6 triệu tấn thịt các loại, trên 40 nghìn tấn sữa và trên 3 tỷ quả trứng Ngành chăn nuôi thúc đẩy các ngành công nghiệp chế biến phát triển Các cơ sở công nghiệp chế biến được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở phát triển của ngành chăn nuôi Ngành chăn nuôi cung cấp các nguyên liệu cho công nghiệp để sản xuất ra các mặt hàng tiêu dung và xuất khẩu có giá trị Các sản phẩm phụ lò mổ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: bào chế thuốc, sản xuất bột máu, bột xương dùng trong chăn nuôi [2]

Ngày nay trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nông nghiệp các nước Loại hình trang trại gia đình ở các nước phát triển có vai trò to lớn và quyết định trong sản xuất nông nghiệp, đại bộ phận nông sản phẩm cung cấp cho xã hội được sản xuất ra trong các trang trại gia đình Kinh tế trang trại ở nước ta cũng có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp đất nước Mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây, song vai trò của nó đã thể hiện rõ nét cả về kinh tế, xã hội và môi trường

Về mặt kinh tế các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún và thâm canh cao

Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại góp phần

Trang 16

thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi

có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác, sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế nông hộ Do vậy phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn

Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng

số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho lao động Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn, tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh Phát triển kinh tế trang trại góp phần giải quyết các ván đề xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn nước ta

Về mặt môi trường, do sản xuất kinh doanh tự chủ, vì lợi ích thiết thực, lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái trang trại và sau đó nữa là phạm vi từng vùng Các trang trại ở trung du, miền núi

đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng và bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai Những việc làm này đã tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng đất nước

1.1.4 Đặc trưng của kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn nuôi

Việc nghiên cứu đặc trưng của kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn quản lý Bởi vậy khi nghiên cứu các loại hình trang trại chúng ta cần nắm vững những đặc trưng của chúng Kinh tế trang trại có 5 đặc trưng cơ bản sau đây:

Chuyên môn hóa, tập trung hóa sản xuất hàng hóa dịch vụ theo nhu cầu của thị trường, có lợi nhuận cao So với kinh tế nông hộ thì đây là một đặc trưng

cơ bản của kinh tế trang trại Giá trị tổng sản phẩm và sản phẩm hàng hóa của

nó là chỉ tiêu trực tiếp đánh giá về quy mô trang trại là nhỏ, vừa hay lớn Quy

mô của trang trại thường lớn hơn nhiều lần so với quy mô của kinh tế nông hộ và

có tỷ suất nông sản hàng hóa trên 85% [1] Riêng về quy mô ruộng đất chẳng những nhiều hơn nhiều lần mà còn rất tập trung, liền vùng, liền khoảng

Kinh tế trang trại đã sản xuất hàng hóa thì hàng hóa luôn gắn với thị trường, do đó thị trường bán sản phẩm và mua vật tư là nhân tố có tính quyết định chiến lược sản xuất sản phẩm hàng hóa cả về số lượng, chất lượng và hiệu

Trang 17

quả kinh doanh của trang trại

Kinh tế trang trại có nhiều khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hơn, tốt hơn kinh tế nông hộ vì trang trại có vốn, có lãi nhiều hơn Nói chung các trang trại không những sử dụng công cụ lao động thô sơ mà đã trang bị nhiều loại máy móc và áp dụng nhiều quy trình công nghệ mới vào các ngành sản xuất dịch vụ theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp Đây chính là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh Các trang trại có thể sử dụng nguồn lao động vốn có của gia đình, nhưng chủ yếu là thuê mướn lao động làm thường xuyên quanh năm hoặc làm theo thời vụ với số lượng nhiều ít khác nhau theo quy mô của trang trại Số lượng lao động làm thuê bao giờ cũng lớn hơn số lượng lao động tự có của gia đình trang trại

Các chủ trang trại là người có ý chí làm giàu, có phương pháp và nghệ thuật làm giàu cũng như có nhưng điều kiện nhất định để tạo lập trang trại

1.1.5 Điều kiện cơ bản để phát triển trang trại và kinh doanh có hiệu quả

+ Về ruộng đất và quy mô ruộng đất: Tư liệu sản xuất chủ yếu và điều

kiện cơ bản để thành lập và phát triển trang trại chính là ruộng đất Nếu không

có ruộng đất thì không thể tiến hành sản xuất ra nông sản và nông sản hàng hóa Tuy nhiên, để thành lập một trang trại theo đúng nghĩa của nó thì quy mô ruộng đất phải phù hợp với yêu cầu tổ chức kinh tế và tổ chức kỹ thuật của từng trang trại nhất định mới đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả

Điều kiện ruộng đất nông nghiệp của nước ta không lớn Mức ruộng đất

sử dụng bình quân là thấp, khoảng 0,59 ha/hộ và phân bố không đều Những nơi có bình quân ruộng đất cao hơn (trong đó ở trung du và miền núi còn có nhiều đồi gò, đất lâm nghiệp) và những nơi có truyền thống sản xuất hàng hóa (chẳng hạn như ĐBSCL) có số diện tích đất canh tác bình quân một nông hộ cao hơn khoảng 0,94 ha/hộ thì nhịp độ phát triển kinh tế trang trai sẽ nhanh hơn Ngược lại ở ĐBSH chỉ có khoảng 0,3 ha/hộ thì chậm hơn rất nhiều

Nói chung, ở nước ta tùy thuộc vào phương hướng kinh doanh mà có thể hình thành quy mô điện tích trang trại hiện nay, diện tích của các trang trại từ trên dưới 5 ha canh tác có thể lên đến trên dưới 30, 40, 50 ha hay hàng trăm ha ở nơi có thể là trang trại hợp tác của hai hay một nhóm ông chủ

+ Về kỹ thuật: có khả năng trang bị và áp dụng những kỹ thuật mới từ ít

đến nhiều, từ thấp đến cao

Trang 18

+ Những điều kiện cơ bản để trang trại kinh doanh có hiệu quả:

− Nhà nước cần có hệ thống chính sách đúng đắn, đồng bộ và ổn định

− Người chủ trang trại phải có ý đồ kinh doanh (sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Lợi ích ra sao?) và phải có năng lực tổ chức sản xuất, dịch vụ và quản lý các hoạt động kinh doanh

− Có thị trường ổn định, có vốn, phải huy động được một lượng vốn tương ứng với yêu cầu mở rộng kinh doanh bằng nhiều cách và nhiều nguồn

1.1.6 Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế - xã hội

Bất kỳ một hình thức sản xuất nào cũng gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nói chung Là một thực thể kinh tế, các trang trại hình thành và phát triển đã có những đóng góp không nhỏ cả về mặt tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông thôn

Kinh tế trang trại đã có từ lâu và trải qua nhiều bước thăng trầm khác nhau Được sự cổ vũ, động viên quan tâm của Đảng và Nhà nước, các cấp các ngành thông qua các Nghị Định, Chỉ thị, Quyết định v.v của Nhà nước, các luật như: Luật Đất đai (1993, 2003) [9], Luật Lao động v.v mô hình kinh tế trang trại hình thành và phát triển Sự phát triển của kinh tế trang trại đã đáp ứng được yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường Kinh tế trang trại đã đóng góp vai trò quan trọng trên các lĩnh vực:

- Kinh tế trang trại đang góp phần chuyển nhanh nền kinh tế sang sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện cho công nghiệp và dịch vụ phát triển, chuyển dịch cơ cấu ngành (nhất là cây, con trong nông nghiệp) và vùng lãnh thổ theo hướng khai thác sử dụng đất, tiềm năng và thế mạnh ngày càng có hiệu quả

Kết quả kinh tế rõ nét nhất là các chủ trang trại đã biến những vùng đất hoang hóa, khô cằn hoặc ngập úng quanh năm thành những vùng kinh tế trù phú, mang đậm tính chất sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đầu tư cao

- Tạo ra nhiều việc làm, có điều kiện tích tụ vốn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghiệp vào sản xuất kinh doanh Góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng Trang trại phát triển, đã thu hút một lượng lao động đáng kể vào làm việc, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi

Nếu như năm 2001, các trang trại đã thu hút được 374.701 lao động vào làm việc, thì đến năm 2007 số lượng này tăng lên là 488.277; và đầu năm 2009 đạt con số trên 510.000 lao động, trong đó lao động của chủ trang trại chiếm khoảng 40%, còn lại là lao động thuê ngoài Với nhiều địa phương khi đất sản xuất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, thì các trang trại đã góp phần

Trang 19

tạo thêm nhiều công ăn, việc làm cho người dân, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ Lao động làm thuê được trả công trung bình là 50.000 đồng/ngày Ở những trang trại cao su, hồ tiêu,

cà phê hay nuôi trồng thủy sản còn được trả cao hơn và được thưởng thêm

- Tăng thêm của cải vật chất cho xã hội, tăng thu nhập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho các hộ nông dân trong vùng Góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ học vấn, văn hóa, dân trí và đào tạo tay nghề cho nông dân, từng bước rút ngắn khoảng cách về thu nhập, trình độ nhận thức về mọi mặt giữa nông thôn và thành thị

- Tạo nhu cầu phát triển các hình thức hợp tác và có sự liên kết với kinh tế hợp tác, sự liên kết với kinh tế Nhà nước, tăng cường khối liên minh công - nông

Theo Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp - Nông thôn (IPSARD) (2009), [16] cho rằng, kinh tế trang trại

là bước phát triển mới của kinh tế hộ chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá với quy mô lớn gắn với thị trường vì vậy đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn sang sản xuất hàng hoá mũi nhọn, tập trung quy mô lớn

Phát triển kinh tế trang trại chính là tiền đề cho việc phát triển ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, thực phẩm và là động lực thúc đẩy các loại hình dịch vụ cùng phát triển Thực tế cho thấy, phần lớn các trang trại

đã khai thác triệt để, có hiệu quả rất nhiều diện tích đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển đưa vào sản xuất kinh doanh Do đó đất đai được sử dụng hợp lý hơn, nhiều vườn tạp đất trống, đồi trọc hoang hoá được chuyển đổi thành vườn rừng, vườn quả trù phú; nhiều ao hồ đầm lầy, bãi bồi được đầu tư cải tạo thành khu nuôi trồng thuỷ sản đạt giá trị cao

Ngoài ra mô hình trang trại các loại cũng đã thu hút và tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động tại chỗ, đồng thời huy động được nguồn vốn nhàn rỗi

ít sinh lời để đầu tư cho phát triển trang trại mang lại hiệu quả cao

Sự phát triển của kinh tế trang trại thời gian qua đã tạo động lực thúc đẩy các ngành nghề nông thôn cùng phát triển, việc đưa tiến bộ mới vào sản xuất như lai tạo giống, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi được hình thành và có xu thế phát triển mạnh Các loại hình dịch vụ như cung ứng thuốc trừ sâu, phân bón, các cơ sở chế biến nông - lâm sản vừa và nhỏ đã bước đầu hình thành

Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cách tổ chức quản

lý phát triển kinh tế trang trại đã góp phần làm thay đổi phương thức sản xuất

Trang 20

cũ của người dân Sự xuất hiện của các ngành nghề theo phát triển kinh tế trang trại đã góp phần phân bố lại lao động ở nông thôn, thu nhập người nông dân có xu hướng tăng trưởng theo cơ cấu tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Phát triển kinh tế trang trại (KTTT) là chủ trương nhất quán và lâu dài của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Kể từ khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 2-2-2000 của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại, nước ta đã xuất hiện ngày càng nhiều mô hình trang trại mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, tận dụng tốt diện tích mặt nước và đất đai, góp phần tích cực vào quá trình hội nhập của đất nước

Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế trang trại là 13,8% Năm 2007, tổng vốn sản xuất của hệ thống trang trại đạt 29.320,1 tỉ đồng, vốn sản xuất bình quân của một trang trại là 257,8 triệu đồng Nhiều trang trại ở các tỉnh phía Nam như: Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu có quy mô vốn bình quân hơn 500 triệu đồng Lợi nhuận bình quân từ KTTT đạt gần 120 triệu đồng/trang trại, cao gấp 15 lần so với lợi nhuận bình quân của nông hộ Giá trị sản phẩm hàng hóa của các trang trại cao hơn mức bình quân chung của cả nước từ 7-10% Tỉ lệ hàng hóa của nhiều trang trại đạt hơn 90% như cà phê, cao su… Một số trang trại đã kết hợp sản xuất và chế biến, nên đạt hiệu quả kinh tế cao

Hơn nữa phát triển kinh tế trang trại cũng góp phần rất lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái Chính sự phát triển tập trung, có quy hoạch làm cho các nguồn lực sản xuất được khai thác hiệu quả, tránh tình trạng ô nhiễm môi trường Đặc biệt đối với những trang trại trồng trọt và trồng cây lâu năm thì vai trò này càng phát huy hết tác dụng của nó Bởi hệ thống canh tác của trang trại ngoài mục tiêu mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, nó còn là “lá phổi xanh” thanh lọc không khí cho môi trường xung quanh, điều tiết nguồn nước và khí hậu của môi trường xung quanh một cách hiệu quả Hơn nữa, do sản xuất kinh doanh tự chủ, vì lợi ích thiết thực, lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái trang trại và sau đó nữa là phạm vi từng vùng Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng và bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai Những việc làm này đã tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng đất nước

Trang 21

1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất mô hình trang trại

1.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng nhìn chung chúng ta có thể nói hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa dịch vụ và với tất cả các phạm trù, quy luật kinh tế khác Mặt khác hiệu quả kinh tế cũng là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế, nó phản ánh trình độ các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh Trong khi các nguồn lực rất có hạn,nhu cầu hàng hóa của xã hội ngày càng tăng và đa dạng, nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách quan của sản xuất

Cụ thể đối với ngành nông nghiệp, hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh với lượng hiệu quả thu gom được và lượng chi phí bỏ ra trong một thời gian nhất định của một phương án sản xuất nhất định, hay một cây trồng, một con gia súc nào đó đạt được trong tương quan so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra trong điều kiện sản xuất khác nhau, như điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của ngành sản xuất nào đó Khi xác định hiệu quả kinh tế chúng ta cần xem xét và kết hợp chặt chẽ giữa lượng tuyệt đối với tương đối, qua đó biết được tốc độ và quy mô sản xuất đó Tuy nhiên trong điều kiện thị trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu của người sản xuất kinh doanh là thu nhập và lợi nhuận cao, do vậy hiệu quả kinh tế trong sản xuất thiên hướng về mặt kinh tế nhiều hơn so với mặt xã hội

Có nhiều quan điểm về khái niệm hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế ở mỗi nơi, mỗi vùng thì khác nhau Nhưng hầu hết các quan điểm đều phản ánh mối quan hệ giữa kết quả hoạt động sản xuất với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Theo quan niệm của LN CARIMÔP – Kinh tế chính trị Mác Lê Nin,

cho rằng: “Hiệu quả của sản xuất xã hội được tính toán và kế hoạch hoá trên cơ

sở những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc doanh, bằng cách so sánh hiệu quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn dự trữ sử dụng” [3]

Ngày nay người ta đồng nhất giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả sản xuất mà hiệu quả sản xuất là một hiện tượng bao gồm nhiều mặt như hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường và trên các cơ sở đó người ta đưa ra một số quan điểm về hiệu quả kinh tế

Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa

Trang 22

kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Theo quan điểm này cho phép chúng ta xác định được các chỉ tiêu tương đối của hiệu quả kinh tế bằng cách so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt được hiệu quả đó [13]

H =

K Q

Trong đó: H là hiệu quả kinh tế

Q là kết quả sản xuất

K là tổng chi phí sản xuất

Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi hoạt động sản xuất kinh doanh mà chúng ta tính toán và nghiên cứu các chỉ tiêu khác nhau Khi nghiên cứu về vốn, chúng ta có hiệu suất vốn bằng cách lấy tổng số sản phẩm chia cho vốn sản xuất Bằng cách đó sẽ xác định được hiệu suất lao động, với quan điểm này sẽ không xác định được quy mô sản xuất các đơn vị kinh tế Trên thực tế hai cơ sở có quy

mô sản xuất rất khác nhau, nhưng lại có hiệu suất sử dụng vốn như nhau, nghĩa là

có hiệu quả kinh tế về sử dụng vốn như nhau

Quan điểm thứ 2: Hiệu quả kinh tế đo bằng hiệu số những giá trị sản

xuất đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

HQKT = KQSX – CPSX (H = Q – K) Quan điểm này cho phép xác định được các chỉ tiêu tuyệt đối của hiệu quả kinh tế Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế theo quan điểm này thì phản ánh rõ nét

về qui mô sản xuất của các đơn vị kinh tế, cơ sở sản xuất nào có qui mô sản xuất lớn sẽ đạt được tác động của từng yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh đến hiệu qủa sản xuất Như vậy, các chỉ tiêu này sẽ không giúp cho người sản xuất có những tác động cụ thể để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh [13]

Quan điểm thứ 3: Xem xét hiệu quả kinh tế trong phần biến động giữa chi

phí và kết quả sản xuất Như vậy, hiệu quả kinh tế biểu hiện ở tỷ lệ giữa phần tăng thêm của chi phí để đạt được kết quả đỳ hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung

Trang 23

ưu nhất [13]

Còn trong kinh tế học vĩ mô chú ý tới quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng lên của kết quả sản xuất xã hội và chi phí sản xuất xã hội tăng lên

Ta có: H = ∆K/ ∆C

Trong đó: ∆K là phần tăng trưởng của kết quả sản xuất xã hội

∆C là phần tăng lên của chi phí lao động xã hội

Theo quan điểm này, các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế đã phản ánh được chất lượng của quá trình sản xuất kinh doanh và nhờ đó người sản xuất sẽ có biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất Nhưng trong thực tế kết quả sản xuất đạt được luôn là hệ quả của chi phí sẵn có (chi phí nền) và chi phí bổ sung Tại các mức chi phí nền khác nhau thì hiệu quả của chi phí bổ sung khác nhau [13]

Ngoài ra còn một số quan điểm tương đồng về hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất kinh doanh Theo tác giả Lê Thị Thụ (Vũ khí cạnh tranh thị trường

– tạp chí thống kê Hà Nội năm 1992) cho rằng “Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu tổng

hợp nhất về chất lượng của sản xuất kinh doanh Nội dung của nó so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra”

Bên cạnh đó còn có những quan điểm nhìn nhận hiệu quả kinh tế trong

tổng thể xã hội Quan điểm này cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của sản xuất xã

hội được tính toán và kế hoạch hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh tế được xác định bằng so sánh kết quả của nền sản xuất chung với chi phí hoặc nguồn dự trữ đã sử dụng Quan

điểm này được đưa ra khi đánh giá sự tiến bộ của nền sản xuất xã hội Từ đó

người ta xác định các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong tương lai” [4]

Nhìn chung quan điểm của các nhà khoa học về hiệu quả kinh tế tuy có những khía cạnh phân biệt, nhưng đều thống nhất với nhau Hiệu quả kinh tế

là lợi ích tối ưu mang lại của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh

1.2.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế

Mục đích yêu cầu đặt ra đối với quá trình sản xuất ở các thành phần kinh

tế là khác nhau Do vậy, việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế cũng rất đa dạng Các hộ nông dân, công nhân trong nông nghiệp họ tiến hành sản xuất trước tiên là để đáp ứng nhu cầu việc làm có thu nhập đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt thường ngày sau đó mới tính đến lợi nhuận và tích luỹ Còn đối với các doanh nghiệp tư nhân tiến hành sản xuất nhằm tìm kiếm cơ hội đầu tư tiền vốn để có thêm lợi nhuận.Đối với một quốc gia thì hiệu quả nó còn thể hiện

Trang 24

trên nhiều mặt: kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng

Ngoài ra, hiệu quả kinh tế còn có tính chất về mặt thời gian Nó luôn luôn có xu hướng thay đổi một hoạt động kinh tế diễn ra ở hôm nay có hiệu quả kinh tế cao song trong tương lai thì chưa chắc đã có hiệu quả và ngược lại, bởi vì giá trị sức lao động ngày một tăng Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh tế không chỉ là nhiệm vụ của một cá nhân, một đơn vị kinh tế mà còn là nhiệm vụ của tất cả các ngành, các cấp và mỗi quốc gia Việc nỗ lực tìm cách

để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất hàng hoá là một hoạt động được coi là quyết định cho mọi nền kinh tế, chỉ có nâng cao hiệu quả sản xuất thì mới có cơ hội đưa nền kinh tế tồn tại và phát triển

Nội dung của việc xác định và nâng cao hiệu quả xuất phát từ những nội dung chủ yếu sau [4]:

+ Mọi quá trình sản xuất liên quan mật thiết đến hai yếu tố cơ bản đó là chi phí sản xuất và kết quả sản xuất thu được từ chi phí đó Mối quan hệ của hai yếu tố này là nội dung cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế trong sản xuất

+ Việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất, xuất phát từ nhu cầu phát triển sản xuất và tái sản xuất mở rộng Đây là một trong những quy luật

cơ bản của quá trình tái sản xuất xã hội

+ Mức độ hiệu quả đạt được nó phản ánh trình độ phát triển lực lượng sản xuất và trình độ phát triển của xã hội Hiệu quả kinh tế đi liền với nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên cho sản xuất trên một đơn vị sảm phẩm tạo

ra Bản chất của hiệu quả kinh tế có nội dung là tương quan so sánh cả về tuyệt đối và tương đối gữa lượng kết quả thu được và lượng chi phí bỏ ra

Đối với nước ta, xuất phát từ một nền kinh tế thị trường, có nhiều vấn đề kinh tế được đánh giá và xem xét lại Trong đó, vấn đề hiệu quả được coi là một nội dung quan trọng nhất, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi một doanh nghiệp Việc xem xét hiệu quả trên tất cả các khâu sản xuất, phân phối và lưu thông sản phẩm có nội dung phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có

để đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong kinh doanh [4]

Để làm rõ bản chất của hiệu quả cần phải phân định sự khác nhau giữa hiệu quả, kết quả và mối quan hệ giữa chúng Trong đó, kết quả là phần vật chất thu được từ mục đích hoạt động của con người, nó được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tuỳ thuộc vào những trường hợp cụ thể Do tính mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài nguyên với nhu cầu không ngừng tăng lên của con người, mà yêu cầu người ta phải xem xét kết quả đạt được tạo ra như thế nào, chi

Trang 25

phí bỏ ra là bao nhiêu Chính vì vậy, khi đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh người ta không chỉ dừng lại ở việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra kết quả đó Việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là một nội dung đánh giá hiệu quả kinh tế

Trên phạm vi toàn xã hội các chi phí bỏ ra để thu được kết quả là chi phí lao động xã hội Vì vậy, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của lao động xã hội Từ đó ta có thể kết luận rằng: Thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội cùng tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả

và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn lực nhất định [4]

1.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế

a Phân loại hiệu quả kinh tế theo nội dung và bản chất [13]

+ Hiệu quả kinh tế nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả đạt được

về mặt kinh tế với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó bao gồm: Bảo vệ môi trường, lợi ích công cộng, trật tự an toàn xã hội,…

+ Hiệu quả kinh tế nó thể hiện sự phát triển của công ty, của vùng lãnh thổ, của một quốc gia,… đây là kết quả của nhiều yếu tố tổng hợp lại như tình hình đời sống, trình độ dân trí, vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng, sự phát triển sản xuất của cả vùng…

b Phân loại hiệu quả kinh tế theo phạm vi và đối tường xem xét [13]

Phạm trù này được đề cập đến mọi đối tượng của nền sản xuất xã hội như các địa phương, các ngành sản xuất, từng cơ sở, đơn vị sản xuất hay một quyết định quản lý,… có thể phân loại phạm trù này như sau:

+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là hiệu quả kinh tế chung trong toàn bộ nền sản xuất xã hội

+ Hiệu quả kinh tế ngành: Là hiệu quả tính riêng từng ngành sản xuất vật chất như ở ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ,… Trong nông nghiệp được chia thành hiệu quả kinh tế của cây nông nghiệp, hiệu quả kinh

tế của cây lương thực, hiệu quả kinh tế chăn nuôi gia súc, gia cầm,…

+ Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: Là tính riêng đối với từng vùng, khu vực và địa phương,…

+ Hiệu quả kinh tế của từng quy mô sản xuất – kinh doanh như: Hộ gia đình, hợp tác xã, nông trường quốc doanh, công ty, tập đoàn sản xuất

+ Hiệu quả kinh tế của từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố chi phí đầu

tư với sản xuất như: biện pháp về giống, chi phí thức ăn

c Phân loại hiệu quả kinh tế theo từng yếu tố tham gia vào quá trình sản

Trang 26

xuất [13]

+ Hiệu quả sử dụng đất

+ Hiệu quả sử dụng lao động

+ Hiệu quả sử dụng vốn

+ Hiệu quả ứng dụng công nghệ mới

+ Hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật

1.4 Cơ sở thực tiễn về phát triển trang trại

1.4.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại của các nước trên thế giới

Kinh tế trang trại phát triển lần đầu tiên ở Tây Âu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, tiếp đó là ở các nước châu Âu, Bắc Mỹ, châu Đại Dương ở châu Á kinh tế trang trại được hình thành và phát triển muộn hơn, chủ yếu ở những nước công nghiệp đầu tiên vào những năm 50

Các nước châu Á bước vào công nghiệp hoá muộn hơn các nước Âu Mỹ hàng trăm năm Vì vậy, kinh tế trang trại sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá cũng xuất hiện muộn hơn Kinh tế trang trại ở châu Á hiện nay

có sự khác biệt giữa hai nhóm nước: các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển [12]

1.3.1.1 Kinh tế trang trại ở một số nước công nghiệp phát triển

Các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là những nước ở Đông Bắc Á đi lên công nghiệp hoá sớm nhất ở châu Á Do yêu cầu nguồn nguyên liệu cho chế biến nông sản ngày càng cao, kinh tế trang trại ở các nước này ngày càng phát triển mạnh để thay thế kinh tế tiểu nông Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đã chú trọng đến công tác cải cách ruộng đất Theo đó, kinh tế hộ nông dân tiểu nông được giao quyền sử dụng đất lâu dài và trở thành đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ trong nông, lâm, ngư nghiệp Nhờ vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao, các nông hộ phát triển ngày càng nhiều lên kinh tế trang trại [12]

Xét về quy mô, các trang trại ở Đông Bắc Á có quy mô diện tích rất nhỏ, nhỏ hơn ở Tây Âu từ 20 – 30 lần, nhỏ hơn ở Mỹ từ 150 – 180 lần Bình quân diện tích đất đai của trang trại ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc chỉ trên dưới 1 ha [6]

Ở Nhật Bản, từ những năm 50 trở lại đây, kinh tế trang trại phát triển mạnh ở các ngành sản xuất nông, lâm và ngư nghiệp trên tất cả các vùng sản xuất ra khối lượng nông sản hàng hoá lớn về lúa gạo, rau quả, thịt, hình thành

Trang 27

các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung quy mô lớn

Cũng giống như các nước châu Mỹ, kinh tế trang trại ở Nhật Bản cũng phát triển theo hướng giảm số lượng, tăng quy mô trên cơ sở tích tụ ruộng đất Năm 1950, Nhật Bản cứ 6.176 nghìn trang trại thì đến năm 1995 con số này là 5.382 trang trại (giảm 794 nghìn trang trại trong 45 năm) Mặc dù số lượng trang trại giảm đáng kể nhưng quy mô diện tích bình quân 1 trang trại tăng chậm do quỹ đất nông nghiệp của Nhật Bản bị hạn chế Năm 1995, trong tổng số gần 2,5 triệu trang trại trồng trọt cứ gần 60% trang trại có quy mô từ 0,5 – 1 ha; 31% có quy mô lớn hơn: khoảng 30% số trang trại chăn nuôi lợn thịt có quy mô dưới

100 con, 32% có quy mô 100 – 500 con, 28% có quy mô 500 – 2.000 con và 5%

có quy mô trên 2.000 con Đối với chăn nuôi gà thịt, cứ trang trại nào quy mô dưới 300 con, chỉ có trang trại gà thịt quy mô từ 300 – 100.000 con [12]

Về lao động, phần lớn các trang trại trồng trọt đều sử dụng lao động gia đình là chính, ít sử dụng lao động làm thuê do quy mô diện tích nhỏ Trang trại lâm nghiệp và chăn nuôi quy mô vừa và lớn có sử dụng lao động làm thuê với mức độ khác nhau tuỳ trình độ cơ giới hoá Đến nay, bình quân 1 trang trại với 1 ha đất nông nghiệp có từ 1 - 1,1 lao động nông nghiệp, còn những lao động khác của trang trại hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp ở trong và ngoài trang trại [12]

Trong quá trình phát triển, các trang trại ở Nhật Bản có sự chuyển dịch từ thuần nông sang đến các hình thức sản xuất kiêm luôn chế biến sản phẩm trực tiếp thu được tại trang trại Như vậy không phải lo lắng vấn đề tiêu thụ nông sản

mà còn có thể tạo được thương hiệu sản phẩm của trang trại mình một cách rễ ràng Bởi vậy thu nhập ngoài nông nghiệp và ngoài trang trại ngày càng tăng Trong 40 năm gần đây các trang trại thuần nông của Nhật Bản giảm khoảng 3 lần, từ 45% xuống 15% trong tổng số trang trại Các trang trại có quy trình sản xuất tiêu thụ khép kín tăng lên đến 85% trong tổng số trang trại và đã có thu nhập từ ngoài nông nghiệp là chính [6], [12]

Về ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, các trang trại ở Nhật Bản tuy

có quy mô nhỏ nhưng trong quá trình công nghiệp hoá đã ứng dụng rộng rãi các công nghệ hiện đại về giống cây trồng, vật nuôi, các loại vật tư kỹ thuật nông nghiệp, phân bón cho cây trồng, thức ăn công nghiệp cho gia súc, năng lượng có điện, nước, gió, các máy móc thiết bị nông nghiệp và ứng dụng đồng bộ vào các

Trang 28

chu trình sản xuất và chế biến, bảo quản nông lâm thuỷ sản tạo ra năng suất cây trồng vật nuôi cao (như năng suất lúa từ 5 - 6 tấn/ha) và năng suất lao động nông nghiệp cao Từ năm 1950 đến năm 1990, chi phí lao động làm lúa nước giảm dần từ 2.000 giờ công xuống dưới 500 giờ công (giảm 5 lần) Nhiều trang trại trồng rau, chăn nuôi gia cầm bắt đầu ứng dụng công nghệ tin học và tự động hoá trong sản xuất Nhờ vậy, tỷ suất hàng hoá của các trang trại rất cao, đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm cho 125 triệu dân: 100% nhu cầu về gạo, 81% nhu cầu thịt, trên 90% nhu cầu về trứng, sữa; 76% nhu cầu về rau, quả [12]

Đài Loan và Hàn Quốc tiến hành công nghiệp hoá sau Nhật Bản nên kinh

tế trang trại cũng phát triển sau Quy mô diện tích các trang trại ở Hàn Quốc và Đài Loan cũng nhỏ trên dưới 1 ha và quá trình hình thành và phát triển cũng giống Nhật Bản Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá (1952 - 1970) số lượng trang trại tăng từ 679.750 lên 880.274 và quy mô trang trại bình quân giảm từ 1,29 xuống 1,03 ha Thời kỳ công nghiệp hoá đạt trình độ cao (1970 - 1996) số lượng trang trại giảm xuống 779.000 và quy mô bình quân tăng lên 1,2 ha [12]

Số lượng và quy mô trang trại chăn nuôi ở Đài Loan tăng đều trong suất thời kỳ công nghiệp hoá Năm 1974 số trang trại chăn nuôi lợn dưới 100 con lợn chiếm 99,5% trong tổng số trang trại và 68,63% tổng sống đàn lợn Đến năm

1994 số trang trại nuôi dưới 100 con lợn giảm xuống còn 53,52% trong tổng số trang trại và tổng đàn lợn Số trang trại chăn nuôi lợn quy mô từ 100 – 5.000 con trở lên, năm 1994 chiếm 45% tổng số trang trại và 78% tổng số đàn lợn [12]

Cơ cấu sản xuất kinh doanh của trang trại ở Đài Loan cũng có sự chuyển dịch từ thuần nông sang hình thức sản xuất, tiêu thụ kinh doanh khép kín như Nhật Bản Thời gian 1955 – 1990, số trang trại thuần nông giảm từ 39,67% xuống còn 8,98% và số trang trại theo hình thức trên tăng từ 60,13% lên 91,02%.Các trang trại ở Đài Loan đã tạo ra khối lượng nông sản hàng hoá cao, đảm bảo nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu [12]

Ở Hàn Quốc, công nghiệp hoá cũng như kinh tế trang trại phát triển sau Nhật Bản và Đài Loan Đặc điểm của trang trại ở Hàn Quốc cũng là quy mô nhỏ Từ thời kỳ 1953 – 1965 số lượng trang trại tăng từ 2.249 cơ sở lên 2.507

cơ sở, với quy mô bình quân 0,9 ha Thời kỳ 1970 – 1990 số lượng trang trại giảm xuống 1.700 cơ sở và quy mô tăng đến 1,2 ha Trang trại Hàn Quốc cũng nhanh chóng tiến lên công nghiệp hoá sản xuất, tạo ra khối lượng nông

Trang 29

sản hàng hoá nhiều tỷ suất cao [6], [12]

1.3.1.2 Kinh tế trang trại ở một số nước đang phát triển

Ở các nước đang phát triển châu Á, công nghiệp hoá mới bắt đầu và kinh tế trang trại cũng mới hình thành và phát triển Công nghiệp hoá phát triển đã nảy sinh nhu cầu ngày càng lớn về nông sản hàng hoá và tất yếu phải hình thành kinh tế trang trại thay thế kinh tế tiểu nông Kinh tế trang trại ở các nước đang phát triển châu Á được hình thành từ các hộ nông dân tiểu nông tiến lên sản xuất hàng hoá và các hộ công nhân lao động ở đồn điền cũ chuyển sang hoạt động theo mô hình trang trại

Thái Lan trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới là nhờ sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế trang trại Các trang trại ở vùng đồng bằng hàng năm sản xuất ra lượng gạo xuất khẩu khoảng 5 – 6 triệu tấn Các trang trại vùng đồi núi sản xuất ra hàng chục triệu tấn sắn và dưa xuất khẩu cho Liên minh châu

Âu Các trang trại vùng ven biển đã sản xuất hàng vạn tấn tôm xuất khẩu Các trang trại vùng chung quanh các đô thị đã sản xuất ra khối lượng lớn thịt gà, thịt lợn xuất khẩu và sữa bò [12]

Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá ở trình độ thấp, các nước đang phát triển ở châu Á có số lượng hộ nông dân rất lớn với quy mô đất đai nhỏ, thời

kỳ 1960 – 1990 số hộ nông dân ở Trung Quốc tăng từ 115 triệu hộ lên 232 triệu hộ, Ấn Độ tăng từ 45 triệu hộ lên 97 triệu hộ, Thái Lan tăng từ 1,2 triệu

hộ lên 3,4 triệu hộ v.v Quy mô bình quân đất đai mỗi hộ giảm [6]

Cuối thế kỷ XX, số lượng trang trại ở các nước đang phát triển ở châu

Á chưa nhiều và tỷ trọng trang trại trong tổng số hộ nông dân còn thấp nhưng đang có xu hướng phát triển với tốc độ nhanh hơn cùng với nhịp độ phát triển công nghiệp hoá, củng cố vai trò lực lượng xung kích trong sản xuất nông sản hàng hoá và tiến dần lên vị trí lực lượng chủ lực sản xuất nông sản hàng hoá như các nước công nghiệp phát triển ở Đông Bắc Á hiện nay [12]

1.4.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở trong nước

Mặc dù đã xuất hiện từ rất lâu,nhưng kinh tế trang trại ở Việt Nam chỉ phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây,có thể xem thực hiện chỉ thị

100 Ban bí thư TW khóa IV, NQ 10 của bộ chính trị về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân và đặc biệt sau khi luật đất đai ra đời năm 1993 thì kinh tế trang trại thực sự có bước phát triển khá nhanh và đa dạng

Trang 30

Bảng 1.1 Số trang trại phân theo ngành hoạt động

và phân theo địa phương trong cả nước

Tiêu chí

TT trồng cây hàng năm

TT trồng cây lâu năm

TT chăn nuôi

TT nuôi trồng thủy sản

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2013

Nếu theo quy định của cục thống kê về tiêu chuẩn trang trại (Quyết định số 359/1998/QĐ- TCTK ngày 01/07/1989) thì năm 2013 cả nước có 45.372 trang trại Trong đó chia theo hướng sản xuất có 37.949 trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm và cây hàng năm, chiếm 83,6%; 1306 trang trại nuôi trồng thủy sản, chiếm 3,8%; 2559 trang trại kinh doanh tổng hợp đa ngành, chiếm 5,6%

Chia theo vùng kinh tế: vùng Đông Bắc có 3.491 trang trại, chiếm 7,7%; vùng Tây Bắc có 238 trang trại, chiếm 0,5%; vùng Đồng Bằng Sông Hồng có

1394 trang trại , chiếm 9,2%; vùng Duyên Hải Miền Trung có 2.706 trang trại, chiếm 4,6%;vùng Tây Nguyên có 6.333 trang trại,chiếm 13,6%; vùng Đông Nam Bộ có 8402 trang trại, chiếm 18,4%; vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có19.259 trang trại, chiếm 42,4% [4]

Trang 31

Số lao động bình quân/ trang trại là 2,8 người, lao động thuê ngoài theo thời vụ là 11,5 người Bình quân một trang trại trồng trọt có 5,3 ha đất nông nghiệp, lâm nghiệp có 26,8 ha, nuôi trồng thủy sản có 10,7 ha Vốn sản xuất bình quân của một trang trại là 60,2 triệu đồng, thu nhập bình quân một trang trại là 22,6 triệu đồng (thu nhập đã trừ chi phí) [4]

Về quy mô diện tích của mỗi trang trại ở nước ta theo điều tra của cục thống kê cho thấy: trang trại dưới 1ha chiếm 15%; từ 1-5 ha chiếm 28%,từ 5-

10 ha chiếm 34%, từ 10-20 ha chiếm 4% và trên 50ha chiếm 3% [4]

Ngoài việc góp phần làm giàu cho các chủ trang trại, phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam trong những năm qua đã giải quyết việc lam tại chỗ cho hơn 50.000 lao động làm thuê thường xuyên và 520.000 lao động làm thuê theo thời vụ tạm thời ở nông thôn Tổng số vốn huy động đầu tư phát triển kinh tế trang trại ước tính là 2.730,8 tỷ đồng, thu nhập hầng năm của từ các hoạt động kinh tế trang trại là 1.032,6 tỷ đồng Ngoài ra các trang trại còn đóng góp đáng

kể vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao độ che phủ của rừng từ 22% lên 28% Kinh tế trang trại đã tự khẳng đinh vai trò của mình trên hầu khắp các vùng kinh tế: đồi núi, đồng bằng, ven biển [4]

Trong giai đoạn 2010-2013, tốc độ tăng trưởng sản phẩm chăn nuôi ở nước ta đạt bình quân 12,4%/ năm Trong đó sản lượng thịt lợn tăng 13,3%, thịt bò tăng 10,4%, thịt trâu tăng 4,9%, thịt và trứng gia cầm trước dịch cúm tăng bình quân 12,5% và 10,8%,sản lượng sữa tăng trên 32%/ năm, năm 2013 giá trị chăn nuôi tăng trưởng 12,3 % so vơi 2010 giá trị sản xuất chăn nuôi chiếm 25,2% (theo báo cáo của các địa phương năm 2013) trong GDP nông nghiệp Công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi phát triển mạnh Sản lượng thức ăn công nghiệp ước tính năm 2013 đạt 10,2 triệu tấn, tăng 16% so với năm 2010 và tỷ trọng thức ăn công nghiệp chiếm gần 42,8% so với tổng lượng thức ăn tinh sử dụng cho chăn nuôi [5]

Đặc điểm nổi bật nhất trong thời gian qua của ngành chăn nuôi nước ta

là bên cạnh phương thức chăn nuôi truyền thống, chăn nuôi trang trại, tập trung đã hình thành và có xu hướng ngày càng phát triển, nhất là từ khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại Đây là xu thế phổ biến trên toàn thế giới và là hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nước ta

Để nâng cao hiệu quả sản xuất trên một diện tích đất canh tác, những năm qua, nhiều địa phương đồng thời với việc bố trí lại cơ cấu cây trồng đã tập trung

Trang 32

các nguồn lực nhằm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, coi đó là hướng chuyển dịch

cơ cấu kinh tế quan trọng trong nông nghiệp với mục tiêu tăng dần tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi từ 25,2% hiện nay lên 30% (có tỉnh đặt mục tiêu là 50%) đến năm 2014 [5]

Những năm gần đây, trang trại chăn nuôi phát triển nhanh cả về số lượng, chủng loại và quy mô Theo báo cáo của 64 tỉnh, thành phố (vào cuối năm 2013), toàn quốc có 17.721 trang trai (TT) chăn nuôi, trong đó miền Bắc là 6.313

TT, chiếm 35,6%; miền Nam là 11.408 TT, chiếm 64,4% Theo báo cáo của Tông cục Thống kê năm 2010 toàn quốc có 1.761 TT chăn nuôi, như vậy, sau 5 năm số lượng trang trại chăn nuôi tăng hơn 15.960 TT, bình quân mỗi năm tăng 3.192 TT, tăng 58,7%/năm [5]

Theo tổng cục thống kê cả nước có 113.730 TT, trong đó 16.708 TT chăn nuôi, 55.529 TT cây hàng nam và cây lâu năm, 2.661 TT lâm nghiệp, 34.202 TT nuôi trồng thủy sản và 4.630 TT kinh doanh tổng hợp Do điều kiện quỹ đất, thức ăn phong phú ,công nghiệp chế biến thức ăn phát triển và thị trường tiêu thụ lớn, nên các trang trại chăn nuôi phân bố chủ yếu ở ĐNB với 6.366 TT, chiếm 35,9%; tiếp theo là ĐBSH với 3.157 TT, chiếm 17,,8%; ĐBSCL với 2.171 TT,chiếm 12,3%; BTB với 1.758 TT, chiếm 9,9%; Tây Nguyên có 1.480 TT, chiếm 8,4% Các vùng Đông Bắc,Tây Bắc với đất đai rộng lớn, nhưng số lượng trang trại chỉ chiếm 4,8% và 3,1%, trong đó chủ yếu

là trang trại chăn nuôi đại gia súc [5]

Tuy vậy, nếu tính theo cơ cấu các loại hình trang trại nông, lâm, ngư nghiệp, thì ĐBSH là vùng có tỷ lệ trang trại chăn nuôi lớn nhất, chiếm 54,6%; tiếp đến là vùng TB 38,5%; ĐNB 22,8%;ĐB 21,3%, BTB 15,5%; NTB 7,4%; ĐBSCL 3.6% tại các vùng miền sự phân bố trang trại đối với từng loại vật nuôi

có sự khác biệt lớn Trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm tập trung chủ yếu ở ĐNB, ĐBSH, trong khi đó trang trại chăn nuôi bò thịt phân bố phần lớn ở Tây Nguyên, BNB, trang trại bò sữa phần lớn ở ĐNB [5]

Như vậy, do nhu cầu sản xuất hàng hóa, tập trung và các tác động của các chính sách hỗ trợ của trung ương và địa phương, nên loại hình kinh tế trang trại chăn nuôi đã phat triển nhanh chóng trong thời gian qua và có xu hướng ngày càng phát triển trong thời gian tới

1.4.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở Thái Nguyên

Trang 33

Theo số liệu báo cáo của cục thống kê Thái Nguyên, tổng số trang trại trên địa bàn Thái Nguyên là 616 trang trại Những địa phương có số lượng trang trại lớn như Thành phố Thái Nguyên, Phổ Yên, Đồng Hỷ được trình bày

cụ thể ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Các loại hình trang trại của Thái nguyên năm 2013

Địa phương Tổng

TT cây hàng năm

TT Cây lâu năm

TT cây

ăn

quả

TT cây lâm nghiệp

TT chăn nuôi

TT nuôi trồng thủy sản

TT

SX tổng hợp

Nguồn: Cục thống kê Thái Nguyên

Mô hình trang trại ở Thái Nguyên được phân bố rộng khắp trên toàn tỉnh Tuy nhiên số lượng lớn tập trung ở khu vực miền núi, vùng sâu, xa (các trang trại trồng trọt và lâm nghiệp) Ở vùng trung du tập trung nhiều trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và các trang trại đặc thù như trồng nấm, nuôi ong, cây cảnh Khối lượng sản phẩm từ các trang trại tạo ra tương đối lớn, giải quyết được 2502 lao động

Bảng 1.3 Thu nhập của các trang trại Thái Nguyên năm 2013

Trang 34

b Thu từ chăn nuôi 93.101.364 79,79

Nguồn: Sở NN&PTNT Thái Nguyên

Như vậy, kinh tế trang trại đang ngày càng trở nên phổ biến rộng khắp mọi vùng kinh tế của đất nước từ đồng bằng, trung du, miền núi đến ven biển

và ngày càng chứng tỏ là loại hình tổ chức kinh tế có hiệu quả trong nông nghiệp, nông thôn Kinh tế trang trại khá đa dạng về quy mô, loại hình sản xuất, cơ cấu ngành nghề, thành phần của chủ trang trại, nhƣng đều đã đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái rõ rệt nhờ phát huy tốt nội lực, khai thác mọi nguồn tiềm năng và cơ hội để phát triển Kinh tế trang trại

đã biến những vùng đất hoang, khô cằn hoặc ngập úng quanh năm thành những vùng kinh tế trù phú, đầu tư cao, tạo việc làm, tăng của cải vật chất cho mình, cộng đồng và cho xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, thực tế phát triển kinh

tế trang trại ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi Nhà nước, các cấp, các ngành và các chủ trang trại phải quan tâm giải quyết như những mặt yếu kém của quá trình này Đó là vấn đề việc làm ở nông thôn do tích tụ ruộng đất, tranh chấp đất đai, phá rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái bền vững và lợi ích của các đối tượng trong

xã hội trước mắt và tương lai

Trang 35

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sản xuất của mô hình trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái Nguyên

Thời gian: giai đoạn 2010 – 2013

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn của trang trại trong giai đoạn 2010 - 2013 Nghiên cứu kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại chăn nuôi

Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của trang trại chăn nuôi ngoài ra nghiên cứu hiệu quả xã hội và môi trường mà trang trại chăn nuôi mang lại

Đưa ra một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả kinh tế của trang trại chăn nuôi heo gia công

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Những lý luận, lý thuyết nào liên quan đến hiệu quả sản xuất chăn nuôi lợn gia công?

- Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi trang trại gia công? Ảnh hưởng của những yếu tố đó nhiều hay ít?

- Có những nhận định đánh giá gì về hiệu quả sản xuất chăn nuôi mô hình trang trại gia công?

- Để hiệu quả sản xuất tốt hơn cần có những giải pháp nào?

- Những khuyến nghị nào có thể đưa ra sau khi có kết quả nghiên cứu?

Trang 36

2.4 Các phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

a Số liệu thứ cấp:

Được thu thập từ các sách, báo, các văn kiện Nghị quyết, các báo cáo về tình hình phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại của một số nước trên thế giới, Việt Nam và về tình hình chăn nuôi theo quy mô trang trại của địa phương cũng như số lượng trang trại, loại hình trang trại,… của địa phương Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thông tin của cục thống kê, cục chăn nuôi, sở nông nghiệp tỉnh thông qua mạng intenet

Ngoài ra để đánh giá hiệu quả sản xuất của trang trại chúng ta tiến hành thu thập số liệu về tình hình hoạt động, tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản của trang trại chăn nuôi gia công cho công ty C.P thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái Nguyên từ các bảng kết toán chi phí, doanh thu, lợi nhuận cuối năm của chủ trang trại

b Phương pháp thu thập sơ cấp:

Phỏng vấn và tham khảo ý kiến của chủ trạng trại trưởng trại, công nhân Quan sát trực tiếp cách thức chăn nuôi hoạt dộng sản xuất của trại

Phân tích SWOT các thuận lợi khó khăn của trang trại

2.4.2 Công cụ xử lý số liệu

a Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu, tài liệu đã thu thập được hệ thống hóa và phân tích thành những nhóm dữ liệu để phân tích và được xử lý bằng phần mềm Excel để dễ tính toán và tổng hợp phân tích các chỉ tiêu phục vụ cho mục đích nghiên cứu

b Phương pháp thống kê phân tổ:

Số liệu thu thập được sẽ xử lý, phân tích mô tả số tuyệt đối, tương đối

để xác định sự biến động của các hiện tượng kinh tế trong một thời gian và không gian xác định, qua đó đánh giá thực trạng tình hình hoạt động sản xuất của trang trại chăn nuôi mà cụ thể là hiệu quả sản xuất chăn nuôi gia công

2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu

Mục tiêu 1: Phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của trang trại

chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu

- Sử dụng phương pháp so sánh cụ thể là phương pháp số tương đối, số

Trang 37

tuyệt đối để đánh giá tình hình hoạt động chung của trang trại

Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc)

+ Phương pháp số tuyệt đối: Là hiệu số của hai chỉ tiêu: chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu kỳ cơ sở Ví dụ so sánh giữa kết quả thực hiện và kế hoạch hoặc kết quả thực hiện kỳ này và kỳ trước

+ Phương pháp số tương đối: Là tỉ lệ phần trăm của chỉ tiêu kỳ phân tích so với kỳ gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỉ lệ của số chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng

Mục tiêu 2: Phân tích hiệu quả chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty

C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái Nguyên

Các phương pháp phân tích số liệu sau:

- Phương pháp tỷ trọng: Phương pháp này dùng để nghiên cứu kết cấu những chỉ tiêu phân tích như các chỉ tiêu về chi phí chăn nuôi

- Phương pháp tỉ số: Phương pháp này nhằm xem xét các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả hoạt động như các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận, các tỷ số phản ánh hiệu quả hoạt động chăn nuôi lợn nái của trang trại

- Phương pháp thay thế liên hoàn: Phương pháp này dùng để phân tích lợi nhuận của việc chăn nuôi lợn nái thông qua việc phân tích các nhân

tố ảnh hưởng đến đến lợi nhuận của trang trại

Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp mà ở đó các nhân tố lần lượt được thay thế theo một trình tự nhất định để xác định chính xác mức

độ ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu cần phân tích bằng cách cố định các nhân tố khác trong mỗi lần phân tích

Xét các nhân tố quan hệ dạng tích số

Gọi Q là chỉ tiêu phân tích

Gọi a, b, c là trình tự các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích Thể hiện bằng phương trình: Q = a.b.c

Trang 38

- Thay thế bước 1 (cho nhân tố a) a0.b0.c0 được thay thế bằng a1.b0.c0 Mức độ ảnh hưởng của nhân tố “a” sẽ là: ∆a = a1.b0.c0 - a0.b0.c0

- Thay thế bước 2 (cho nhân tố b) a1.b0.c0 được thay thế bằng a1.b1.c0Mức độ ảnh hưởng của nhân tố “b” sẽ là: ∆b = a1.b1.c0 - a1.b0.c0

- Thay thế bước 3 (cho nhân tố c) a1.b1.c0 được thay thế bằng a1.b1.c1Mức độ ảnh hưởng của nhân tố “c” sẽ là: ∆c = a1.b1.c1 - a1.b1.c0

Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, ta có:

∆a+∆b+∆c = (a1.b0.c0 - a0.b0.c0) + (a1.b1.c0 - a1.b0.c0) + (a1.b1.c1 - a1.b1.c0)

= a1.b1.c1 - a0.b0.c0 = ∆Q: đối tượng phân tích

Trong đó: Nhân tố đã thay ở bước trước phải được giữ nguyên cho các

bước thay thế sau

Mục tiêu 3: Quan sát thực tế mô hình chăn nuôi, tham khảo ý kiến của chủ

trang trại và những người trực tiếp lao động tại trang trại kết hợp với phân tích những thuận lợi, khó khăn của trang trại trong quá trình sản xuất; phân tích cơ hội và mối đe dọa của việc chăn nuôi lợn nái từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, phát huy thuận lợi, nắm bắt cơ hội và hạn chế những nguy cơ

2.5 Hệ thống chỉ tiêu phân tích

2.5.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất của trang trại

Để đánh giá hiệu quả sản xuất của trang trại chúng ta thường đánh giá ở các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên thông thường các chỉ tiêu đánh giá môi trường và xã hội khó lượng hóa được trong phạm vi của 1 trang trại nên đề tài chỉ sử dụng các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất như sau:

Chi phí gồm có hai loại đó là định phí và biến phí Sự thay đổi của tổng chi phí là do sự thay đổi của biến phí Khi sản lượng bằng không đồng nghĩa với việc không sản xuất lúc này chi phí bằng định phí

Chi phí = Biến phí + Định phí

Trang 39

+ Biến phí: Là những mục chi phí thay đổi theo mức độ hoạt động của đơn vị Mức độ hoạt động có thể là sản lượng sản phẩm sản xuất ra, sản lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành, có thể là tỷ lệ thuận trong một phạm vi hoạt động

Đối với chăn nuôi lợn nái biến phí bao gồm: chi phí thức ăn, chi phí thú

y, chi phí tiền điện, chi phí tiền nước, chi phí lao động thuê, chi phí lao động nhà, được quy ra tiền và những khoản chi phí khác

+ Định phí: Là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi Tuy nhiên nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động thì chi phí cố định thay đổi

Định phí trong chăn nuôi lợn: Chi phí con nái giống, chi phí chuồng trại, chi phí mua máy móc thiết bị như máy bơm nước, hệ thống điện, máy trộn thức ăn, chi phí mùng…và định phí khác

2.5.1.2 Giá thành

Giá thành sản phẩm heo là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí

về lao động sống và lao động vật hóa được tính trên một con heo từ lúc mua con giống đến lúc xuất chuồng

2.5.1.3 Doanh thu

Doanh thu là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm tức là tất

cả số tiền mà người chăn nuôi nhận được khi bán sản phẩm lợn con giống và

số tiền tiết kiệm được từ sản phẩm phụ

2.5.1.4 Lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động chăn nuôi lợn nên có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến nó bao gồm cả nhân tố chủ quan và khách quan

Lợi nhuận = Doanh thu – chi phí

2.5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của trang trại

Hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi thì hiệu quả sản xuất được hiểu là việc so sánh giữa các yếu tố đầu vào và khối lượng đầu ra trong quá trình sản xuất chăn nuôi lợn nái mà thông thường người ta nói tới tỷ suất lợi nhuận

- Tỷ suất lợi nhuận: là tỷ suất nhằm đánh giá hiệu quả lợi nhuận của chi

phí Tỷ suất này cho biết một đồng chi phí đầu tư vào sản xuất thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận (%) = Lợi nhuận / chi phí * 100

- Hiệu quả về chi phí sản xuất: thể hiện một đồng chi phí bỏ ra thu

được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất hay bao nhiêu đồng thu nhập

Tỷ suất chi phí (%) = chi phí / thu nhập * 100

Trang 40

- Hiệu quả kỹ thuật: là việc sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực,

tài lực) đầu vào ít nhất để tạo ra một sản lượng nhất định

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1.  Số trang trại phân theo ngành hoạt động - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 1.1. Số trang trại phân theo ngành hoạt động (Trang 30)
Bảng 1.2. Các loại hình trang trại của Thái nguyên năm 2013 - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 1.2. Các loại hình trang trại của Thái nguyên năm 2013 (Trang 33)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trang trại - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trang trại (Trang 45)
Bảng 3.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của trang trại qua 4 năm  (2010 - 2013) - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của trang trại qua 4 năm (2010 - 2013) (Trang 47)
Bảng 3.2.  Cơ cấu trình độ, kinh nghiệm lao động trong trang trại năm 2013  Chỉ tiêu  Phân loại  Số lượng  Cơ cấu (%) - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.2. Cơ cấu trình độ, kinh nghiệm lao động trong trang trại năm 2013 Chỉ tiêu Phân loại Số lượng Cơ cấu (%) (Trang 51)
Bảng 3.3. Cơ cấu giới tính, độ tuổi của lao động trong trang trại năm 2013  Đặc điểm  Chỉ tiêu  Số lượng  Cơ cấu (%) - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.3. Cơ cấu giới tính, độ tuổi của lao động trong trang trại năm 2013 Đặc điểm Chỉ tiêu Số lượng Cơ cấu (%) (Trang 52)
Bảng 3.5. Bảng chi phí khấu hao tài sản cố định khác - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.5. Bảng chi phí khấu hao tài sản cố định khác (Trang 55)
Bảng 3.7. Chi phí điện nước của trang trại giai đoạn 2010 – 2013 - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.7. Chi phí điện nước của trang trại giai đoạn 2010 – 2013 (Trang 56)
Bảng 3.8. Bảng phân tích biến động chi phí của trang trại giai đoạn 2010 -2013 - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.8. Bảng phân tích biến động chi phí của trang trại giai đoạn 2010 -2013 (Trang 58)
Bảng 3.9. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lợn con giống của trang trại giai đoạn 2010 -2013 - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.9. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lợn con giống của trang trại giai đoạn 2010 -2013 (Trang 60)
Bảng 3.10. Kết quả và hiệu quả chăn nuôi của trang trại giai đoạn 2010 -2013 - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.10. Kết quả và hiệu quả chăn nuôi của trang trại giai đoạn 2010 -2013 (Trang 62)
Bảng 3.11. Thu nhập bình quân 1 năm từ trồng trọt của trang trại giai - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.11. Thu nhập bình quân 1 năm từ trồng trọt của trang trại giai (Trang 66)
Bảng 3.12. Tình hình lao động và thu nhập của trang trại qua 4 năm - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.12. Tình hình lao động và thu nhập của trang trại qua 4 năm (Trang 67)
Bảng 3.13. Bảng thu nhập theo vị trí công tác qua 4 năm (2010-2013) - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Bảng 3.13. Bảng thu nhập theo vị trí công tác qua 4 năm (2010-2013) (Trang 68)
Hình 3.1. Mô phỏng mô hình trang trại chăn nuôi lợn nái gia công - Đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trang trai chăn nuôi lợn nái gia công cho công ty C.P tại thị trấn Sông Cầu, Đồng Hỷ, Thái nguyên.
Hình 3.1. Mô phỏng mô hình trang trại chăn nuôi lợn nái gia công (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w