Dưới sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn, dưới sự hướng dẫn của cô Đinh Ngọc Lan, cùng sự quan tâm của chính quyền địa phương tôi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MAI THỊ LÝ
Tên đề tài:
§¸nh gi¸ c«ng t¸c khuyÕn n«ng trong chuyÓn giao tiÕn bé khoa häc
kü thuËt vÒ trång trät t¹i x· H÷u Vinh - huyÖn Yªn Minh - Hµ Giang
khãa luËn tèt nghiÖp §¹I HäC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khuyến nông Khoa : KT&PTNT Khoá học : 2010-2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MAI THỊ LÝ
Tên đề tài:
§¸nh gi¸ c«ng t¸c khuyÕn n«ng trong chuyÓn giao tiÕn bé khoa häc
kü thuËt vÒ trång trät t¹i x· H÷u Vinh - huyÖn Yªn Minh - Hµ Giang
khãa luËn tèt nghiÖp §¹I HäC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khuyến nông
Khoa : KT&PTNT Khoá học : 2010-2014 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Đinh Ngọc Lan
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với phương châm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội” Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên hàng năm tổ chức cho sinh viên năm cuối đi thực tập tốt nghiệp Đây
là cơ hội quý báu để các sinh viên tiếp cận và làm quen với công việc sẽ làm sau khi ra trường Được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn Từ
đó nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân
Dưới sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa kinh
tế và phát triển nông thôn, dưới sự hướng dẫn của cô Đinh Ngọc Lan, cùng sự quan tâm của chính quyền địa phương tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt
nghiệp với tên đề tài: “Đánh giá công tác khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về trồng trọt tại xã Hữu Vinh - huyện Yên Minh - Hà Giang”
Đây cũng là lần đầu tiên thực hiện một khóa luận Vì vậy khóa luận còn
có những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý liến và phê bình từ quý thầy cô giáo, các bạn sinh viên cũng như những người làm công tác khuyến nông để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn Đặc biệt cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Đinh Ngọc Lan giảng viên khoa kinh tế và phát triển nông thôn Là những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình thực tập thực hiện khóa luận
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên, các phòng ban xã Hữu Vinh và nhân dân trên địa bàn xã Hữu Vinh đã cung cấp những
số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tại địa bàn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014
Mai Thị Lý
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2011 - 2013 xã Hữu Vinh 30
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất của xã năm 2013 32
Bảng 4.3 Tình hình dân số và lao động của xã Hữu Vinh qua 3 năm (2011- 2013) 34
Bảng 4.4: Kết quả sản xuất trồng trọt qua 3 năm (2011 - 2013) 37
Bảng 4.5: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi qua 3 năm (2011 - 2013) 39
Bảng 4.6: Kết quả đào tạo, tập huấn cho nông dân qua 3 năm 44
2011 - 2013 44
Bảng 4.7 Tình hình đào tạo tập huấn kỹ thuật về lĩnh vực trồng trọt và lâm nghiệp cho nông dân trong 3 năm 2011 - 2013 47
Bảng 4.8 Số lượng các mô hình trình diễn đã được triển khai trong 3 năm 2011 - 2013 48
Bảng 4.9 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn về cây lương thực củatổ chức khuyến nông xã Hữu Vinh (2011 - 2013) 49
Bảng 4.10 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn về cây hoa màu củatổ chức khuyến nông xã Hữu Vinh (2011 - 2013) 49
Bảng 4.11 Tình hình tổ chức hội thảo đầu bờ do khuyến nông cơ sở xã Hữu Vinh triển khai trong 3 năm 2011 - 2013 53
Bảng 4.12 Đánh giá của CBKN về mức độ tham gia, mức độ phù hợp, nhu cầu, trình độ trong hoạt động KN 57
Bảng 4.13 Đánh giá của CBKN về số lượng các hoạt động khuyến nông trong xã 58
Bảng 4.14 Đánh giá của người dân trong xã về hoạt động khuyến nông lĩnh vực trồng trọt (n=60) 60
Bảng 4.15 Mức độ tham gia của nông dân vào hoạt động khuyến nông(n=60) 61
Bảng 4.16 Các kiến thức mà nông dân cần CBKN hỗ trợ về lĩnh vực trồng trọt (n=60) 62
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Nhiệt độ trung bình xã Hữu Vinh năm 2011 - 2013 30
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ các loại đất của xã năm 2013 32
Biểu đồ 4.3: Sơ đồ hệ thống tổ chức khuyến nông xã Hữu Vinh 42
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ các lớp học trong các ngành kinh tế của xã 45
Biểu đồ 4.5: Thể hiện số người tham dự đào tạo, tập huấn của KN xã trong 3 năm 2011 - 2013 46
Trang 6
PTNT : Phát triển nông thôn
FAO : Tổ chức nông lương liên hợp Quốc tế
FAOSTAT : Số liệu thống kê của Tổ chức nông lương liên hợp Quốc tế
DN : Doanh nghiệp
SX : Sản xuất
UBND : Ủy ban nhân dân
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
HTX : Hợp tác xã
ASEAN : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
USD : Đô la Mỹ
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
FFS : Đào tạo lớp học hiện trường
PRA : Đánh giá nông thôn có sự tham gia
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
2.1.1 Những kiến thức lý luận cơ bản của khuyến nông 5
2.1.2 Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật 11
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 13
2.2.1 Quá trình phát triển khuyến nông trên thế giới và khuyến nông ở Việt Nam 13
2.2.2 Khuyến nông huyện Yên Minh 22
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm tiến hành 24
3.2.1 Địa điểm 24
3.2.2 Thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Điều tra thu thập số liệu 24
3.4.2 Tổng hợp và phân tích số liệu 25
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
4.1.1 Tình hình khái quát huyện Yên Minh 26
4.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Hữu Vinh, Huyện Yên Minh, Tỉnh Hà Giang 28
4.2 Công tác khuyến nông về lĩnh vực trồng trọt tại xã Hữu Vinh 41
Trang 84.2.1 Tình hình công tác khuyến nông xã Hữu Vinh 41
4.2.2 Công tác khuyến nông trong chuyển giao KHKT về lĩnh vực trồng trọt tại xã Hữu Vinh 43
4.2.3 Hiệu quả các chương trình hoạt động khuyến nông tại xã Hữu Vinh 55
4.2.4 Kết quả thu thập trong quá trình điều tra 56
4.3 Một số thuận lợi, khó khăn trong công tác hoạt động khuyến nông của xã về lĩnh vực trồng trọt 63
4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ KHKT về lĩnh vực trồng trọt tại xã Hữu Vinh 65
4.4.1 Giải pháp về chính sách 65
4.4.2 Giải pháp về nâng cao năng lực cho cán bộ khuyến nông 65
4.4.3 Giải pháp về công tác khuyến nông, nội dung hoạt động 65
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Kiến nghị 69
Trang 9Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có 76% dân số sống ở nông thôn Trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thế kỷ qua, nông nghiệp luôn giữ vị trí quan trọng Nền nông nghiệp nước ta ngày càng phát triển vững mạnh và đạt được thành tích đáng khích lệ Nếu như trước đây chúng ta chỉ sản xuất đủ ăn thì hiện nay chúng ta trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan) Đạt được kết quả đó do nhiều yếu tố mang lại, trong đó có công rất lớn của ngành khuyến nông Từ khi Việt Nam ra nhập WTO(11/1/2007), thì việc sản xuất hàng hóa theo nhu cầu thị trường là việc phát triển kinh tế theo xu thế của thế giới, từ bỏ hoàn toàn kiểu sản xuất theo kiểu tự túc tự cấp Phát triển sản xuất theo nhu cầu của thị trường là sản xuất theo cơ chế cung -cầu, tức là lượng hàng hóa sản xuất phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường.Việc sản xuất theo cơ chế này sẽ giúp nền kimh tế của nước ta nhanh chóng chạy theo nền kinh tế của các nước phát triển trên thế giới, tuy nhiên tính rủi ro lại cao Vì vậy việc tính toán trong sản xuất là rất quan trọng
để vừa đảm bảo tăng trưởng nền kinh tế vĩ mô, vừa đảm bảo đem lại lợi nhuận cho người dân, nâng cao dần chất lượng cuộc sống của người dân
Theo mục tiêu của chính phủ thì sẽ giảm dần tỷ lệ sản xuất trong nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng trong công nghiệp, dịch vụ và phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, cho nên việc sản xuất nông nghiệp cần đặc biệt chú ý để vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa đảm bảo xuất khẩu mặt hàng nông sản là thế mạnh của Việt Nam.Đầu tư cho nông nghiệp là một trong những mục tiêu của đất nước trong thời gian tới, việc nghiên cứu các giống vật nuôi mang lại năng suất cao, phẩm chất tốt và chuyển giao cho các địa phương phù hợp với tiềm năng của mỗi vùng, tuy nhiên thì hiện nay việc chuyển giao công nghệ cho các địa phương còn ít, hiệu quả chưa cao, chưa phát huy được hết tiềm năng của vùng, muốn tìm được nguyên nhân cần phải có phương án đánh giá hiệu quả của hoạt động chuyển giao mang lại và đặc biệt đánh giá hiệu quả của hoạt động khuyến
Trang 10nông trong công tác chuyển giao các giống vật nuôi cây trồng là rất là rất quan trọng bởi vì khuyến nông có nhiệm vụ đi sâu vào cộng đồng dân cư, tìm hiểu được thông tin cần thiết cung cấp cho các nhà quản lý, hoạt động khuyến nông có hiệu quả thì công tác chuyển giao mới đem lại những thành công
Để thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển thì việc chuyển giao khoa học kỹ thuật tới người nông dân là việc làm cần thiết và cấp bách Ngày 2/3/1993, chính phủ ra Chỉ thị 13/CP kèm theo thông tư liên bộ số 02/LB/TT hướng dẫn thi hành nghị định 13/CP và các quy định, các hoạt động khác nhằm cải tiến một cách có hiệu quả công tác khuyến nông từ TW đến địa phương Nghị định 13/CP ra đời đã phát triển hệ thống khuyến nông mạnh mẽ
và đem lại hiệu quả to lớn cho nền nông nghiệp nước nhà Ngày 26/4/2005 nghị định 56/CP của chính phủ được ban hành thay cho nghị định 13/CP về công tác khuyến nông đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn Ngày 8/1/2010 Nghị định số 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ : Về khuyến nông được ban hành, Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2010 và thay thế Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về khuyến nông, khuyến ngư với những mục tiêu và hoạt động mới phù hợp với sự phát triển của đất nước
Sau những năm hoạt động hệ thống khuyến nông khuyến lâm ngày càng phát triển cả về tổ chức lẫn nội dung, khuyến nông đã góp phần đáng kể vào thành tựu sản xuất nông lâm nghiệp, nhiều tiến bộ khoa học công nghệ đã được chuyển giao áp dụng vào sản xuất góp phần tăng năng suất vật nuôi, cây trồng và chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hoá chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng thu nhập cho người lao động
Xã Hữu Vinh thuộc huyện Yên Minh là một trong những huyện vùng núi phía bắc của tỉnh Hà Giang và là xã có diện tích đất đai rộng lớn, địa hình hiểm trở, người dân cần cù chịu khó, đoàn kết thu nhập chủ yếu là nông nghiệp Vì vậy chương trình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật (TBKT) trồng trọt trong những năm qua được chú trọng tiến hành với nhiều nỗ lực nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; nâng cao năng suất chất lượng cây trồng; tạo nên những vùng sản xuất hàng hoá có quy
Trang 11mô, chất lượng tốt; tăng giá trị thu nhập trên mỗi héc ta đất Trên cơ sở đó để phân bổ lại lao động trong nông nghiệp, mở rộng ngành nghề
Để đánh giá hiệu quả của công tác khuyến nông trong chuyển giao TBKT vào sản xuất, một mặt phát huy thế mạnh, mặt khác khắc phục những tồn tại yếu kém nhằm phát triển các giống cây trồng, vật nuôi mới ra diện rộng Xuất phát từ thực tiễn, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự nhất chí của khoa kinh tế & phát triển nông thôn
và sự góp ý của cô giáo PGS.TS Đinh Ngọc Lan cùng với lòng nhiệt huyết
của mình tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về trồng trọt tại xã Hữu Vinh - huyện Yên Minh - tỉnh Hà Giang”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được công tác khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về trồng trọt tại xã Hữu Vinh - huyện Yên Minh, từ đó đề xuất một số giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông
trong trồng trọt
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra được điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Hữu Vinh
- Nghiên cứu được tình hình công tác khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ KHKT về trồng trọt tại xã
- Phân tích được thuận lợi, khó khăn trong hoạt động khuyến nông của xã
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ KHKT về lĩnh vực trồng trọt tại địa phương
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố lý thuyết cho sinh viên
- Giúp sinh viên tiếp xúc với thực tế, nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng
- Là tài liệu tham khảo sinh viên ngành khuyến nông
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài đánh giá một cách tổng quát thực trạng công tác khuyến nông ở
xã Hữu Vinh do vậy đây có thể là một tài liệu tham khảo góp phần củng cố
Trang 12thêm về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác khuyến nông cho xã trong việc triển khai thực hiện chương trình hoạt động khuyến nông về lĩnh vực trồng trọt
- Là tài liệu tham khảo cho các bạn đọc quan tâm
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Những kiến thức lý luận cơ bản của khuyến nông
2.1.1.1 Khái niệm và triết lý khuyến nông
* Khái niệm:
Khuyến nông là hệ thống các biện pháp giáp dục nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới
Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc đã đúc kết
và trên cơ sở hoạt động khuyến nông của Việt Nam ta có thể định nghĩa khuyến nông như sau: “Khuyến nông là cách đào tạo rèn luyện tay nghề cho nông dân Đồng thời giúp họ hiểu được các chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường để giúp họ có khả năng giải quyết những vấn đề của gia đình và cộng đồng, nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nâng cao trình độ dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới”
Như vậy khuyến nông là cách giáo dục ngoài học đường cho nông dân, khuyến nông là quá trình vận động, quảng bá, khuyến cáo kéo dài…cho nông dân theo nguyên tắc tự nguyện, chứ không áp đặt, mệnh lệnh Nó là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân
- Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng, là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn
- Khuyến nông theo nghĩa hẹp, là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là người nông dân Tiến trình này đem đến cho người nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ tự giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ sản xuất nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ [3]
Tiến trình sản xuất bao gồm các yếu tố kiến thức và kỹ năng, những khuyến cáo kỹ thuật, tổ chức của nông dân, động cơ và lòng tin Vì vậy, cán
Trang 14bộ khuyến nông cần đến với họ, giúp đỡ họ và khuyến khích họ tham gia các chương trình khuyến nông Nhưng điều quan trọng hơn cả là cần phải thuyết phục và động viên để họ tin tưởng họ hoàn toàn có thể tự giải quyết và hành động để cải thiện cuộc sống của chính mình
Khuyến nông là một quá trình trao đổi học hỏi kinh nghiệm, truyền bá kiến thức, đào tạo kỹ năng và trợ giúp những điều kiện cần thiết trong sản xuất nông lâm nghiệp cho nông dân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết được những công việc của chính mình, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình và cộng đồng
* Triết lý khuyến nông:
Khuyến nông dựa trên quan điểm cho rằng nông dân là những người thông minh, có năng lực rất mong muốn nhận được thông tin và kiến thức mới để phát triển sản xuất nhằm đem lại hạnh phúc ấm no cho gia đình, cho
cá nhân và cho cộng đồng của mình Khuyến nông được thực hiện ở mọi nơi (trong nhà, ngoài đồng, trong lớp học, ) cùng với nông dân thông qua những
cá nhân hay những nhóm hộ xuất phát từ những nhu cầu của họ, bắt đầu từ những gì họ có để giải quyết những vấn đề của họ trên cơ sở tự lực cánh sinh
2.1.1.2 Vai trò của khuyến nông
* Khuyến nông trong sự nghiệp phát triển nông thôn
Ngày nay công tác khuyến nông không thể thiếu được ở mỗi quốc gia, địa phương và đối với từng hộ nông dân Nước ta có trên 76% dân số sống ở các vùng nông thôn với 70% lao động xã hội để sản xuất ra những nông sản thiết yếu cung cấp cho toàn bộ xã hội như lương thực, thực phẩm… và sản xuất nông nghiệp chiếm 37% - 40% giá trị sản phẩm xã hội Vì vậy, công tác khuyến nông rất cần thiết, giúp cho nền nông nghiệp nước ta phát triển mạnh, nâng cao đời sống của nông dân
* Vai trò trong quá trình từ nghiên cứu đến phát triển nông nghiệp
- Khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong quá trình từ nghiên cứu đến phát triển nông nghiệp, những tiến bộ khoa học kỹ thuật đến được với người nông dân hay không, những kinh nghiệm và những đánh giá của nông
Trang 15dân về kỹ thuật mới có đến được với các nhà khoa học hay không, khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong đó
* Vai trò của khuyến nông đối với nhà nước
Khuyến nông khuyến lâm là một trong những tổ chức giúp nhà nước thực hiện các chính sách chiến lược và phát triển nông - lâm nghiệp, nông thôn và nông dân Trực tiếp hay góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước hoạch định, cải tiến đề ra được các chính sách phù hợp vận động nhân dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông - lâm nghiệp (Nguyễn Hữu Thọ, 2004) [10]
- Khuyến nông là cầu nối giữa nông dân với: Nhà nước; nghiên cứu; môi trường; thị trường; nông dân giỏi; các doanh nghiệp; các đoàn thể; các ngành có liên quan và quốc tế
- Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có điều tiết, trong nông nghiệp lấy hộ nông dân làm đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ: khuyến nông có nhiệm vụ hướng dẫn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, xây dựng nông thôn mới…cho
cá hộ nông dân
- Khuyến nông góp phần cho hộ nông dân “xóa đói, giảm nghèo, tiến lên khá và làm giàu hợp pháp” Khuyến nông có vai trò quan trọng là: Tạo điều kiện cho nông dân phát huy tính tự lực, tự chủ và vai trò trách nhiệm của mình trong quá trình phát triển của chính họ Nâng cao năng lực của người dân trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển cộng đồng bền vững Phát huy tiềm năng và trí tuệ, kinh nghiệm của nông dân trong phát triển cộng đồng Sự tham gia của nông dân xuyên suốt các hoạt động khuyến nông như xác định nhu cầu, lập kế hoạch kiểm tra giám sát và đánh giá…Nông dân tham gia chương trình khuyến nông qua các
Trang 16tổ chức và hoạt động như nhóm sở thích, làng khuyến nông tự quản, xây dựng
mô hình trình diễn, khuyến nông viên cơ sở, hội thảo đầu bờ, tham quan, tủ sách khuyến nông,…
- Huy động các lực lượng cán bộ khoa học - kỹ thuật từ Trung Ương đến cơ sở nhất là số cán bộ kỹ thuật đã được đào tạo về nông nghiệp, lâm nghiệp nhưng chưa có việc làm hoặc đã nghỉ hưu…
- Góp phần liên kết nông dân, thúc đẩy sự hợp tác của nông dân lại với nhau trong việc “Đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp”
2.1.1.3 Nhiệm vụ của khuyến nông
- Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật theo các chương trình dự án, trang bị kiến thức, kinh nghiệm cho người dân
- Cung cấp những thông tin đúng về khoa học kỹ thuật, cơ chế chính sách, thị trường liên quan đến sản xuất cho người dân, giúp họ lựa chọn phương pháp sản xuất, kinh doanh
- Xây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn khuyến cáo kỹ thuật cho nông dân trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp
- Tạo lòng tin và quyết tâm để nông dân mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
- Tổ chức thăm quan, tổng kết kinh nghiệm và ý kiến đánh giá nguyện vọng của bà con nông dân đối với các điển hình kinh tế tiên tiến và các cơ chế chính sách đang áp dụng
- Xây dựng mạng lưới khuyến nông cơ sở, bồi dưỡng nghiệp vụ, tập huấn, xây dựng câu lạc bộ khuyến nông, làng khuyến nông tự quản và các nhóm hộ nông dân cùng sở thích
2.1.1.4 Chức năng của khuyến nông
- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kinh tế mới
- Đào tạo tập huấn khuyến nông: Tổ chức tập huấn, xây dựng mô hình,
thăm quan, hội thảo đầu bờ,
- Tìm điều kiện hỗ trợ cho sản xuất; trợ giúp bảo quản, chế biến
- Hỗ trợ kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển sản xuất quy mô trang trại
Trang 17- Tìm và cung cấp thông tin thị trường, trao đổi truyền bá thông tin
- Thúc đẩy, tạo điều kiện cho người nông dân đề xuất các ý tưởng, sáng kiến và thực hiện thành công các ý tưởng sáng tạo của họ
- Hỗ trợ nông dân về quản lý kinh tế
- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Khuyến nông là cầu nối giữa sản xuất với nghiên cứu, khuyến nông mang thông tin và kỹ thuật mới của các Viện, Trường đến với Nông dân [7]
2.1.1.5 Mục tiêu của khuyến nông
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh
doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường
- Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến nông [7]
Mục tiêu của khuyến nông làm thay đổi cách đánh giá, cách nhận thức của nông dân trước những khó khăn trong cuộc sống Ngoài mục tiêu phát triển kinh tế khuyến nông còn hướng tới sự phát triển toàn diện của bản thân người nông dân và nâng cao chất lượng cuộc sống nông thôn.Muốn đạt được mục tiêu đó người cán bộ khuyến nông phải thỏa thuận với nông dân, giúp họ
có cách nhìn thực tế và lạc quan về mọi vấn đề
2.1.1.6 Các nguyên tắc khuyến nông
- Không áp dặt mệnh lệnh
- Không bao cấp
- Khuyến nông làm cùng với dân không làm thay cho dân
- Khuyến nông là một công việc đầy tinh thần trách nhiệm
Trang 18- Khuyến nông làm cùng với những nhóm đối tượng khác nhau
- Khuyến nông là nhịp cầu thông tin hai chiều
- Nguyên tắc “Vết dầu loang”
- Khuyến nông hoạt động độc lập và phải phối hợp chặt chẽ với các tổ chức khác
2.1.1.7 Nội dung hoạt động của khuyến nông
Ngày 08/01/2010, chính phủ ban hành nghị định 02/CP về Khuyến nông - Khuyến ngư, đây là văn bản pháp quy quan trọng đối với công tác khuyến nông với tổ chức khuyến nông nói riêng Khuyến nông Việt Nam hiện nay có các nội dung hoạt động như sau:
* Bồi dưỡng tập huấn và đào tạo:
- Bồi dưỡng, tập huấn cho người sản xuất về chính sách, pháp luật; tập huấn, truyền nghề cho nông dân về kỹ năng sản xuất, tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực khuyến nông
* Thông tin tuyên truyền:
- Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua hệ thống truyền thông đại chúng và các tổ chức chính trị xã hội
- Phổ biến tiến bộ khoa học và công nghệ, các điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, tạp chí khuyến nông, hội nghị, hội thảo, hội chợ… và các hình thức thông tin tuyên truyền khác; xuất bản và phát hành ấn phẩm khuyến nông
- Xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin của hệ thống thông tin khuyến nông
* Trình diễn và nhân rộng mô hình:
- Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất và định hướng của ngành, các mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản phẩm
- Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ cao, tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh hiệu quả và bền vững
- Chuyển giao kết quả khoa học công nghệ từ các mô hình trình diễn, điển hình sản xuất tiên tiến diện rộng
Trang 19* Tư vấn và dịch vụ khuyến nông:
- Chính sách và pháp luật liên quan đến phát triển nông thôn mới
- Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tổ chức, quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
- Khởi nghiệp cho chủ trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ để lập dự án đầu tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tuyển dụng và đào tạo lao động, lựa chọn công nghệ, tìm kiếm thị trường
- Cung ứng vật tư nông nghiệp
* Hợp tác quốc tế về khuyến nông:
- Tham gia thực hiện hoạt động khuyến nông trong các chương trình hợp tác quốc tế
- Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông với các tổ chức, cá nhân nước ngoài và tổ chức quốc tế theo quy định của luật pháp Việt Nam
- Nâng cao năng lực, trình độ ngoại ngữ cho người làm công tác khuyến nông thông qua các chương trình hợp tác quốc tế và chương trình học tập khảo sát trong và ngoài nước
2.1.2 Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
2.1.2.1 Khái niệm về chuyển giao tiến bộ KHKT
“Tiến bộ kỹ thuật là một quan điểm, phương pháp hay vật thể được coi là
mới Quan điểm hay phương pháp mới đó có tác dụng phát triển sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao hoặc mang lại hiệu quả tích cực về mặt xã hội” [8]
Trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, tiến bộ kỹ thuật là những
kỹ thuật, biện pháp tổ chức quản lý, quy trình công nghệ, giống cây trồng, vật nuôi,… góp phần phát triển kinh tế xã hội nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người Tiến bộ kỹ thuật có thể góp phần làm cho con người thay đổi quan điểm, tập quán suy nghĩ để từ đó có cách làm mới, tư
duy mới và làm việc hiệu quả cao hơn
2.1.2.2 Công tác khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ KHKT
Nông dân luôn gắn liền với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, là bộ phận
cốt lõi và cũng là chủ thể trong quá trình PTNT Tuy nhiên trong cuộc sống
Trang 20cộng đồng họ vẫn gặp nhiều khó khăn như đời sống vật chất và văn hóa của người dân còn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ sản xuất còn lạc hậu, trình độ dân trí thấp,… Đây là những trở ngại trong quá trình PTNT Vì thế công tác Khuyến nông - Khuyến lâm nói chung, chuyển giao tiến bộ KHKT nói riêng là một trong những con đường để giải quyết những khó khăn, đồng thời sẽ tạo cơ hội để học hỏi, chuyển giao thông tin, kiến thức, kinh nghiệm
lẫn nhau để phát triển sản xuất và phát triển xã hội kinh tế nông thôn
Để đời sống người dân nông thôn thực sự phát triển cả về chất và lượng thì hoạt động chuyển giao tiến bộ KHKT không chỉ có mục đích nhằm giúp người dân nâng cao hiệu quả kinh tế, thu nhập mà còn phải chú trọng đến việc nâng cao trình độ, dân trí, giúp người dân có kiến thức kinh nghiệm nhằm quản lý sản xuất sử dụng hợp lý nguồn lực của gia đình mình - cộng đồng mình và đảm bảo tính bền vững, ổn định lâu dài trong sản xuất Từ đó làm
tăng sức sản xuất cho toàn xã hội và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Từ thái độ và cách suy nghĩ, cách làm ăn, phong tục tập quán canh tác
còn lạc hậu chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân, là nguyên nhân chính dẫn đến sức sản xuất kém phát triển, bên cạnh đó việc sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi cũ kém phẩm chất và không đúng kỹ thuật, sâu bệnh, dịch hại phát triển nhiều chưa từng có cách phòng trừ, chưa có kinh nghiệm trong tổ chức quản lý sản xuất một cách khoa học Do đó hiệu quả sản xuất thấp, năng suất chất lượng không cao Kể từ khi có các hoạt động đào tạo tập huấn - chuyển giao tiến bộ KHKT, công tác khuyến nông đã tạo ra một bước đột phá mạnh mẽ và toàn diện trong đời sống sản xuất của nông dân, thông qua việc chuyển giao tiến bộ KHKT vào sản xuất nông - lâm - ngư từ các chương trình, các hoạt động chuyển giao tiến bộ KHKT đã và đang dần cải thiện được những kỹ năng, kỹ sảo trong hoạt động sản xuất, cải tiến được phương pháp canh tác cho người dân, thông qua các hoạt động tập huấn, xây dựng mô hình thăm quan, hội thảo,…việc chuyển giao tiến bộ KHKT đã căn bản giúp người dân thay đổi thái độ và tập quán canh tác của mình hiệu quả hơn, người dân được học hỏi KHKT, được thăm quan thực hành, trao đổi chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, giải quyết được nhu cầu - nguyện vọng với cán bộ khuyến nông
Trang 21cùng tìm ra giải pháp phát triển Từ đó giúp người dân dần thay đổi nhận thức, cách suy nghĩ và tin tưởng tiếp thu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất Chuyển giao tiến bộ KHKT mới mở ra cho nông dân một hướng đi mới trong sản xuất, tạo cho họ có cơ hội tiếp xúc với phương pháp mới, kỹ
thuật mới, cánh làm mới và đem lại hiệu quả cao
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Quá trình phát triển khuyến nông trên thế giới và khuyến nông ở Việt Nam
2.2.1.1 Quá trình phát triển khuyến nông trên thế giới
Khuyến nông trên thế giới được hình thành từ 4 tổ chức cơ bản: Các hiệp hội nông dân, các tổ chức khác ở nông thôn, các trường học, các tổ chức nông nghiệp của Chính phủ Phát triển khuyến nông các quốc gia trên thế giới (theo TS Tyzama Nhật Bản - chuyên gia khuyến nông của FAO): Đến năm
1993 có thêm Việt Nam tổng cộng là 200 nước chính thức có tổ chức khuyến nông quốc gia Nông nghiệp trên thế giới phát triển nhanh nhờ có sự chuyển hướng trong giáo dục, đào tạo kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành từ các Trường, các Viện nghiên cứu, các Hiệp hội… đặt cơ sở cho việc ra đời của tổ chức khuyến nông sau này [12]
* Hoạt động khuyến nông ở một số nước
1880 hoạt động này trở thành một phong trào [6]
- Nước Pháp
Thế kỷ 15 - 16 một số công trình khoa học ra đời như: “Ngôi nhà nông thôn” của Enstienne và Liebault nghiên cứu về kinh tế nông thôn và khoa học
Trang 22nông nghiệp Tác phẩm “ Diễn trường nông nghiệp” của Oliver de Serres đề cập tới nhiều vấn đề trong nông nghiệp như cải tiến giống cây trồng vật nuôi
Thế kỷ 18, Cụm từ phổ cập nông nghiệp (Vulgazigation Agricole), hoặc chuyển giao kỹ thuật đến nông dân (Transfert des technologes Agrcoles
au Payyan) được sử dụng phổ biến
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đến nay, trung tâm CETA (Centre d’Etuder Techniques Agricoles) nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp đầu tiên được tổ chức do sáng kiến của nông dân vùng Pari hoạt động với các nguyên tắc:
+ Người nông dân có trách nhiệm và chủ động trong công việc
+ Sáng kiến từ cơ sở
+ Hoạt động nhóm rất quan trọng
Đây là phương pháp hết sức độc đáo thời bấy giờ, người nông dân được quyền tham gia tích cực vào công việc của nông trại, họ chủ động tìm ra những giải pháp thích hợp với sự hỗ trợ của các kỹ sư nông nghiệp [6]
- Nước Mỹ
Năm 1845 tại Ohio, N.S.Townshned chủ nhiệm khoa nông học đề xuất việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận, huyện và sinh hoạt định
kỳ Đây là tiền thân của Khuyến nông Mỹ
Năm 1891 Bang New York dành 10.000 USD cho khuyến nông đại học Năm 1892 trường đại học Chicago, trường Wicosin bắt đầu tổ chức chương trình khuyến nông đại học
Năm 1907, có 42 giảng đường đại học đã có bộ môn khuyến nông Năm 1910, có 35 trường đại học có bộ môn khuyến nông
Năm 1914, tổ chức khuyến nông hình thành chính thức ở Mỹ, có 1.961 hội nông dân với 3.050.150 hội viên
Thuật ngữ Extension Education đã được sử dụng để chứng tỏ rằng đối tượng giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở những sinh viên
do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ở khắp nơi trên đất nước
Trang 23Cho tới nay nước Mỹ có nền nông nghiệp rất phát triển với chỉ 6% dân
số sống bằng sản xuất nông nghiệp nhưng năng suất và sản lượng nông nghiệp của Mỹ vẫn đạt mức cao Điển hình là sản lượng đậu tương năm 1985
là 55 triệu tấn, tới năm 2001 sản lượng đã tăng lên 70 triệu tấn Cho tới nay
Mỹ là nước xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới, hàng năm xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới, hàng năm xuất khẩu 16,9 triệu tấn chiếm 54% tổng khối lượng xuất khẩu đậu tương thế giới [6]
- Nước Thái Lan
Thái Lan có điều kiện tự nhiên và khí hậu tương tự miền Nam Việt Nam với nền nông nghiệp tiên tiến ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất Khoảng 60% lực lượng lao động phục vụ cho ngành nông nghiệp Lúa là cây trồng quan trọng nhất của Thái Lan Là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, mang lại cho quốc gia này hàng tỷ USD/năm Tốc độ tăng trưởng GDP 7,8% (2010) giúp Thái Lan trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở châu Á
Góp phần vào việc thúc đẩy nền công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, có vai trò của hệ thống Khuyến nông Thái Lan Cục Khuyến nông Thái Lan (Department of Agriculture Extension - DOAE) đã được thành lập 45 năm (từ năm 1967) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan
Cấp Khuyến nông Trung ương (16 phòng ban và 6 trung tâm khu vực vùng) có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, điều phối và hỗ trợ cho các đơn vị địa phương thực hiện các chương trình, dự án khuyến nông
Về cơ cấu tổ chức có 16 phòng, ban gồm Văn phòng thư ký, phòng Nhân sự, phòng Tài chính, phòng Kế hoạch, phòng Kiểm toán nội bộ, phòng Phát triển công lập và các phòng chuyên môn sau:
Trang 24- Phòng Phát triển nông nghiệp trọng điểm (cung cấp dịch vụ khuyến nông ở những lĩnh vực mà nhà nước ưu tiên);
- Phòng nghiên cứu và phát triển khuyến nông (tổ chức các cuộc khảo sát học tập, nghiên cứu, phát triển các cách tiếp cận khuyến nông, điều phối
và phối hợp với các cơ quan kỹ thuật để xây dựng tài liệu khuyến nông phù hợp với vùng, miền);
- Phòng phát triển chuyển giao công nghệ (xây dựng và phát triển các chương trình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ các Trung tâm chuyển giao công nghệ cấp xã);
- Phòng Phát triển nông dân (khuyến khích nông dân làm nghề nông, tổ chức nhóm nông dân và mạng lợi nhóm, quản lý trang trại hộ gia đình, và du lịch sinh thái);
- Phòng Phát triển chất lượng nông sản (phát triển, chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ về chất lượng nông sản và xây dựng các quy chuẩn về chất lượng sản phẩm, khuyến khích SX sản phẩm hữu cơ);
- Phòng Quản lý và xúc tiến nông sản: Xây dựng hướng dẫn, kế hoạch hành động liên quan đến SX, quản lý và xúc tiến thương mại nông sản
- Phòng Xúc tiến cơ khí nông nghiệp: Phát triển, ứng dụng các công nghệ, cơ giới hóa trong SX nông nghiệp
- Phòng Đổi mới kinh tế tự chủ: Nghiên cứu, trình bày và hình thành hệ thống kiến thức liên quan đến kinh tế nhằm phù hợp với điều kiện của nông dân những khu vực khác nhau
- Ban Xúc tiến DN cộng đồng: Quản lý toàn bộ các hoạt động xúc tiến
và hỗ trợ DN cộng đồng
- Trung tâm thông tin: Xây dựng hệ thống dữ liệu, hệ thống thông tin,
số hóa dữ liệu để phục vụ cho ngành nông nghiệp
Văn phòng phát triển và khuyến nông khu vực (Trung tâm Khuyến nông vùng) với 6 văn phòng tại các tỉnh: Chai Nat, Ratchaburi, Rayong, Khon Kaen, Songkhla và Chiang Mai
Nhiệm vụ của khối văn phòng này là quản lý 48 đơn vị trực thuộc (Trung tâm Phát triển và xúc tiến nghề nông) của Cục Khuyến nông Thái Lan
Trang 25đặt tại khu vực vùng Những đơn vị hoạt động này được sử dụng như những địa điểm học tập, trung tâm tập huấn nông nghiệp, biên soạn và phát triển các tài liệu khuyến nông, hỗ trợ nông dân, cung cấp các dịch vụ nông nghiệp và
Cấp Khuyến nông địa phương gồm cấp tỉnh và cấp huyện:
Cấp tỉnh: Văn phòng Khuyến nông tỉnh (tương đương Trung tâm Khuyến nông tỉnh của Việt Nam) có 77 Văn phòng, với nhiệm vụ xúc tiến, phát triển nông dân, tổ chức nông dân, DN cộng đồng trên địa bàn tỉnh quản
lý, điều phối các hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về nông nghiệp, thủy sản, chăn nuôi
Cấp huyện: Văn phòng Khuyến nông huyện (tương đương Trạm Khuyến nông huyện của Việt Nam), với 882 văn phòng khuyến nông huyện
có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, xúc tiến và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở huyện, khuyến khích và phát triển nông dân, tổ chức nông dân, DN cộng đồng
ở mỗi huyện và tiến hành các hoạt động hỗ trợ SX nông nghiệp khác
Cán bộ khuyến nông: Đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động khuyến nông và là người gần với dân nhất Hiện tại, mỗi xã có 1-2 cán bộ khuyến nông và được Bộ Nông nghiệp và HTX Thái Lan bổ nhiệm như những cán
bộ đại diện cho Bộ điều phối và hoạt động ở địa phương với các nhiệm vụ về tư vấn; cung cấp kiến thức; cung cấp dịch vụ; quản lý kiến thức và điều phối
Ngoài ra, mỗi xã đều có 1 hội đồng tư vấn khuyến nông, thành viên là các lãnh đạo chủ chốt của xã, có nhiệm vụ định hướng và xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp cho xã
Cơ chế hoạt động khuyến nông ở Thái Lan:
Cục Khuyến nông có mối liên hệ chặt chẽ với Cục Nông nghiệp Cục Nông nghiệp là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan
Trang 26Cục Nông nghiệp chủ yếu làm công tác quản lý và nghiên cứu, không trực tiếp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, kết quả nghiên cứu tới người nông dân, những công việc này được giao cho Cục Khuyến nông để thực hiện các hoạt động chuyển giao tới nông dân
Các hoạt động khuyến nông của Thái Lan chủ yếu tập trung vào hoạt động đào tạo huấn luyện và thông tin tuyên truyền, tư vấn dịch vụ Những hoạt động này hoàn toàn miễn phí đối với người nông dân
Điểm nổi bật trong hoạt động khuyến nông Thái Lan đó là Quỹ tín dụng nông thôn Cơ chế tín dụng tự nguyện của Thái Lan giúp người dân an tâm về nguồn vốn cho phát triển SX quy mô hộ gia đình
Quỹ tín dụng nông thôn do Văn phòng hợp tác xã của tỉnh quản lý Cán
bộ khuyến nông có trách nhiệm hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn tín dụng nông thôn để phát triển SX
Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn chỉ xây dựng trong phạm vi các Viện nghiên cứu, các Trung tâm phát triển xúc tiến nghề nông và Văn phòng Khuyến nông huyện để nông dân, những người quan tâm đến học tập, trao đổi kinh nghiệm về phương pháp SX, kỹ năng phương pháp khuyến nông (không giống ở Việt Nam) Kinh phí hỗ trợ của nhà nước dành cho hoạt động khuyến nông lớn, nên thuận lợi trong triển khai nhiều hoạt động Người nông dân không phải lo đóng góp kinh phí đối ứng nên việc triển khai nhân rộng các
mô hình ở nhiều địa bàn khác nhau rất thuận lợi
- Nước Indonexia
Cục Khuyến nông Indonesia trực thuộc Bộ Nông nghiệp Indonesia, được chia làm 5 cấp quản lý khuyến nông: cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp quận, cấp xã với các cán bộ khuyến nông chuyên trách, và bán chuyên trách, cán bộ khuyến nông làm việc theo hợp đồng và nhóm cộng tác viên khuyến nông
Định hướng phát triển khuyến nông của Indonesia nhằm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đào tạo kỹ thuật cho nông dân, hướng dẫn nong dân đăng ký
và làm theo GAP
Trang 27Cục Khuyến nông Indonesia có mối liên hệ chặt chẽ với Cục Trồng trọt và các Cục khác thuộc sự quản lý chung của Bộ Nông nghiệp Indonesia
- Malaysia
Cục Khuyến nông Malaysia thuộc Bộ Nông nghiệp và ngành nghề nông thôn Malaysia, với định hướng hoạt động chuyển giao công nghệ nông nghiệp và hướng dẫn nông dân thực hiện tiêu chuẩn hóa theo ISO 9001:2008
Hệ thống Khuyến nông Malaysia cũng có 5 cấp như Indonesia và còn trực tiếp tổ chức thực hiện các khóa đào tạo khuyến nông của ASEAN về khuyến nông, môi trường và công nghệ sau thu hoạch Cùng với Cục Khuyến nông, Cục Trồng trọt và Cục Quản lý chất lượng nông sản hoạt động dưới sự quản lý chung của Bộ Nông nghiệp và ngành nghề nông thôn Malaysia
- Myanmar
Cục Khuyến nông Myanmar thuộc Bộ Nông nghiệp & Thủy lợi Myanmar, phối hợp với các Cục Quản lý nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp & Thủy lợi Myanmar để thực hiện công tác chuyển giao công nghệ về SX nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch Cục Khuyến nông Myanmar tập trung định hướng xây dựng các mô hình trình diễn quy mô lớn, kỹ thuật về công nghệ hạt giống và đào tạo lớp học hiện trường (FFS) và hướng dẫn nông dân thực hiện, đăng ký nông sản theo các tiêu chuẩn của ASEAN GAP
2.2.1.2 Quá trình phát triển Khuyến nông ở Việt Nam
Khuyến nông Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã trực tiếp dạy dân cách làm nông nghiệp: Gieo hạt, cấy lúa, mở các cuộc thi để Hoàng Tử, Công Chúa có cơ hội trổ tài, chế biến món ăn từ nông sản tại chỗ Công chúa Thiều Hoa người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa
Để tỏ rõ sự quan tâm tới nông nghiệp, Vua Lê Đại Hành (979 - 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịnh điền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên, Nam Hà ngày nay [6]
Các vua Lý (1009 - 1056) rất coi trọng nghề nông và đã ban hành nhiều chính sách về phát triển nông nghiệp [6]
Trang 28Triều vua Lê Thái Tông (1942) Triều đình đặt chức Hà Đê Sứ và Khuyến nông Sứ đến cấp phủ huyện và đến năm 1942 mỗi xã có một xã trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều Triều đình ban bố chiếu Khuyến nông, chiếu Lập đồn điền, và lần đầu tiên sử dụng từ “khuyến nông” trong bộ luật Hồng Đức [6]
Thời vua Quang Trung (1807 - 1792): Từ năm 1979 sau khi thắng giặc ngoại xâm, Quang Trung ban bố ngay “Chiếu khuyến nông” nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, sau 3 năm đất đai hoang hóa đã được phục hồi, sản xuất phát triển [6]
Đến thời kỳ nhà Nguyễn (1807 - 1884) đã định ra chức Điền Sứ Nguyễn Công Trứ được giao chức vụ này Ông đã có công khai khẩn đất hoang để lập
ra 2 huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình) [6]
Như vậy trong thời kỳ phong kiến các Vua Hùng không những đã có công dựng nước giữ nước mà còn có đóng góp lớn cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp của đất nước, giúp dân có cuộc sống no ấm và đảm bảo hơn
Thời kỳ pháp thuộc (1884 - 1945) Phát triển nông nghiệp và khuyến nông chủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa phong kiến của thực dân pháp Người Pháp tổ chức các Sở canh nông ở Bắc Kỳ, các Ty khuyến nông ở các tỉnh [6]
Từ sau cách mạng tháng 8/1945 - 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, Người kêu gọi quốc dân “tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa! đó là những việc chúng ta phải làm lúc này” Nghe theo lời kêu gọi của Hồ chủ tịch toàn dân bắt tay vào khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất [6]
Từ năm 1958 - 1975 nông nghiệp miền bắc Việt Nam phát triển trong
sự tác động mạnh mẽ của mô hình hợp tác xã (HTX) nông nghiệp Từ đổi công năm (1956), đến HTX bậc thấp (1960), đến HTX cấp cao (1968), đến HTX toàn xã (1974) Thành lập các đoàn cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện chỉ đạo sản xuất ở cơ sở Giai đoạn 1976 - 1988 nông Nghiệp Việt Nam thống nhất thành một mối 2 miền cùng tăng gia phát triển sản xuất Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác động của sản xuất tập thể và
mô hình quản lý tập chung, kế hoạch hóa tập chung Nhiều thiếu sót đã nảy sinh trong quan hệ quản lý kinh tế và quản lý nông nghiệp Đã làm cho nông
Trang 29nghiệp phát triển chậm lại, đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh sống [6]
Trước tình trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầu năm
80 nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/01/1981 chỉ thị 100CT/TW của ban bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán 100) Khoán 100 chưa hẳn là mô hình mới về tổ chức và quản lý nông nghiệp, mà mới chỉ là hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội sang khoán hộ Đây được coi là đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lý tập chung, quan liêu, sản xuất tập thể Vì vậy, coi là “chìa khóa vàng” để
mở ra thời kỳ mới cho sản xuất nông nghiệp Việt Nam [6]
Tới tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế Nghị Quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về “đổi mới quản lý trong nông nghiệp” nhằm giải phóng quản lý trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn (gọi tắt là khoán 10) [12]
Ngày 02/03/1993 Chính phủ ra Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương Năm 1993 Cục khuyến nông khuyến lâm được thành lập: Vừa quản
lý nhà nước vừa làm công tác khuyến nông Năm 2001 Trung tâm khuyến nông Trung ương ra đời trực thuộc Cục khuyến nông khuyến lâm Tới năm
2003 trung tâm khuyến nông Quốc gia được thành lập [12]
Ngày 26/4/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2005/CP thay thế cho Nghị định 13/CP Trong Nghị định này quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức khuyến nông Bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông: mở rộng đối tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hóa công tác khuyến nông [12]
Ngày 8/1/2010 Nghị định số 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ : Về khuyến nông được ban hành, Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01 tháng 3 năm 2010 và thay thế Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng
Trang 304 năm 2005 của Chính phủ quy định về khuyến nông, khuyến ngư với những mục tiêu và hoạt động mới phù hợp với sự phát triển của đất nước
Ngày 26 tháng 02 năm 2013 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Thông tư Quy định thực hiện một số điều của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về khuyến nông Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 04 năm 2013
2.2.1.2.1 Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức khuyến nông
- Phải đánh giá đúng tầm quan trọng của những cán bộ khuyến nông làm việc và tiếp xúc trực tiếp với dân
- Tuyển lựa những cán bộ không những có năng lực mà còn phải có thái độ, tư cách thích hợp với công việc khuyến nông
- Phát triển mạng lưới khuyến nông cơ sở bằng cách tuyển lựa và đào tạo cộng tác viên là những nông dân nhiệt tình và có năng lực ở địa phương
- Cần có một đội ngũ chuyên gia thành thạo về kỹ thuật và phương pháp để luôn hỗ trợ cho các hoạt động khuyến nông
- Tổ chức bộ máy khuyến nông phải hết sức gọn nhẹ và năng động Khi thành lập bộ máy khuyến nông, các cấp có thẩm quyền tạo ra những điều kiện cần thiết cho cán bộ khuyến nông thực hiện Tổ chức khuyến nông năng động, có đủ điều kiện làm việc, có thể nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu của nông dân [6]
2.2.1.2.2 Đặc điểm khuyến nông Việt Nam
- Là một tổ chức mạnh từ Trung ương đến huyện, xã; cấu tạo theo hình tháp; lực lượng khuyến nông cơ sở ngày càng được tăng cường
- Công tác khuyến nông được xã hội hoá: Ngoài lực lượng khuyến nông Nhà nước còn có các tổ chức khuyến nông cơ sở tự nguyện, Viện, Trường, các đoàn thể, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ cũng tích
cực tham gia
2.2.2 Khuyến nông huyện Yên Minh
Trạm Khuyến nông huyện Yên Minh là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hà Giang, thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy,
Trang 31UBND huyện Yên Minh và chịu sự quản lý trực tiếp của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hà Giang
Trạm Khuyến nông huyện Yên Minh có chức năng thực hiện các chương trình khuyến nông của tỉnh Hà Giang và các chương trình khuyến nông quốc gia, các dự án khuyến nông được cấp có thẩm quyền phê duyệt Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án khuyến nông (gọi tắt
là khuyến nông) trên địa bàn huyện, phối hợp với các tổ chức, đơn vị và các đoàn thể, mặt trận trong huyện, để làm công tác khuyến nông; đồng thời, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân tự nguyện tham gia xây dựng và thực hiện các chương trình dự án Khuyến nông của các tổ chức trong và ngoài nước Phổ biến cho nông dân thực hiện các quy trình kỹ thuật sản xuất thâm canh cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo chủ trương của nhà nước và pháp luật.Tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về Nông - Công - Lâm - Ngư nghiệp và những kinh nghiệm hay trong sản xuất để nông dân học tập và nhân rộng.Triển khai, thực hiện các đề tài ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ cho công tác khuyến nông Tổng kết, đánh giá việc thực hiện các chương trình, dự án Khuyến nông, tổ chức cho nông dân đi tham quan, học hỏi các mô hình sản xuất giỏi trong và ngoài tỉnh Chịu trách nhiệm xây dựng mạng lưới khuyến nông cơ sở và hướng dẫn, chỉ đạo các khuyến nông viên cơ sở Xây dựng các mô hình trình diễn, thí nghiệm, thực nghiệm để phục vụ cho công tác khuyến nông Tư vấn và thực hiện nhiệm vụ khuyến nông cho nông dân và tổ chức khuyến nông tự nguyện Dịch vụ trong các lĩnh vực: Tập huấn, cung cấp thông tin, chuyển giao khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại, thị trường, cung ứng vật tư kỹ thuật nông nghiệp bao gồm giống, Bảo vệ thực vật, Thú y, công cụ nông nghiệp, thủy nông, thủy sản theo quy định của pháp luật
Trang 32Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ khuyến nông cấp xã, cộng tác viên khuyến nông thôn xóm và một số hộ tham gia phát triển lĩnh vực trồng trọt tại xã Hữu Vinh, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về trồng trọt tại xã Hữu Vinh, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
3.2 Địa điểm tiến hành
3.2.1 Địa điểm
- Tại UBND xã Hữu Vinh, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
3.2.2 Thời gian tiến hành
- Từ 01/2014 đến tháng 05/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Hữu Vinh
- Nghiên cứu tình hình công tác khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ KHKT về trồng trọt tại xã
- Phân tích thuận lợi, khó khăn trong hoạt động khuyến nông của xã
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông trong chuyển giao tiến bộ KHKT về lĩnh vực trồng trọt tại địa phương
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Điều tra thu thập số liệu
Địa bàn nghiên cứu:
- Dựa trên số liệu thứ cấp và kết quả đánh giá nhanh nông thôn (phương pháp RRA) lựa chọn 3 thôn trong xã làm đơn vị nghiên cứu đại diện cho xã về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và đặc trưng của xã về trồng trọt (Bản Vàng, Bản Trưởng, Tân Tiến)
Thu thập số liệu:
+ Số liệu thứ cấp
Trang 33- Số liệu thu thập từ tài liệu đã công bố của UBND xã Hữu Vinh, các báo cáo tổng kết của UBND xã về các lớp tập huấn, số lượng cán bộ tham gia chuyển giao, số liệu của cơ quan liên quan, tài liệu sách báo và internet
+ Số liệu sơ cấp:
Điều tra thu thập:
- Phương pháp chọn mẫu điều tra: chọn ngẫu nhiên 20 hộ nông dân trên một thôn điều tra, tổng số mẫu điều tra là 60 hộ/ 3 thôn, phỏng vấn 14 cán bộ khuyến nông đang thực hiện công tác chuyển giao TBKT
Phương pháp điều tra:
- Sử dụng phương pháp PRA, phỏng vấn nhóm và phỏng vấn những người cung cấp thông tin chủ chốt về cơ cấu tổ chức của hệ thống khuyến nông, những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động khuyến nông trong công tác chuyển giao
- Sử dụng bảng câu hỏi để điều tra thu thập thông tin về điều kiện kinh tế
xã hội, các hoạt động sản xuất về lĩnh vực trồng trọt và đánh giá của người dân
3.4.2 Tổng hợp và phân tích số liệu
- Từ các nguồn số liệu điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cứu, tôi tiến hành tổng hợp và phân tích
- Số liệu thu thập được trong các phiếu điều tra, tổng hợp theo từng nội dung
- Xử lý thông tin: Các số liệu được thu thập được biểu thị qua phương pháp phân tích tổng hợp nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu
Trang 34Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Tình hình khái quát huyện Yên Minh
Trên địa bàn huyện có Quốc lộ 4C chạy qua là tuyến giao thông quan trọng của tỉnh Hà Giang, trung tâm huyện cách thành phố Hà Giang 100km về phía Bắc Yên Minh vừa là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Hà Giang, vừa là một điểm trên trục trung chuyển giữa vùng cao Đồng Văn - Quản Bạ với Trung Quốc và thành phố Hà Giang Vị trí đó vừa là lợi thế, vừa là thách thức đối với huyện Yên Minh trong xu thế hội nhập nền kinh tế của cả huyện nói riêng
và cả tỉnh Hà Giang nói chung với nền kinh tế của cả nước
* Địa hình
Yên Minh nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung địa hình đồi núi đá vôi, chia cắt mạnh, hiểm trở, đỉnh nhọn và cao, trên 1.000 m, có nhiều hang động Trên địa bàn Yên Minh có 2 con sông chính chảy qua là sông Miện và sông Nhiệm cùng một hệ thống sông, suối nhỏ dày đặc
Tổng diện tích tự nhiên 783,65 Km2 Yên Minh là huyện nằm trên cấu trúc địa chất phức tạp, chia cắt mạch, độ dốc lớn, địa hình Yên Minh được chia thành các vùng:
- Địa hình núi cao: Phân bố ở các xã vùng cao như: Lao Và Chải, Ngam
La, Ngọc Long, Du Già với độ dốc phần lớn trên 250
- Địa hình núi thấp: Có độ cao thay đổi dưới 900m phân bố ở các xã Mậu Duệ, Na Khê, thị trấn Yên Minh, Bạch Đích, ở dạng địa hình này, độ dốc
Trang 35và mức độ chia cắt rất phức tạp, nhiều khu vực có độ dốc lớn trên 250, độ chia cắt yếu, tầng đất hình thành dày
- Địa hình thung lũng: Ở Yên Minh có các thung lũng kín xung quanh
là núi thấp như thung lũng thị trấn Yên Minh, Mậu Duệ, Bạch Đích Địa hình các thung lũng này khá bằng phẳng Đất trên địa hình này được cấu tạo từ các sản phẩm bồi đắp của Aluvi và Deluvi
- Địa hình castơ: Phân bố ở các xã Thắng Mố, Phú Lũng, Sủng Thài, Sủng Cháng, Lũng Hồ và Đường Thượng, chủ yếu là các dãy núi đá vôi Đất hình thành thường là đất đỏ vàng (Ferasols), tầng đất dày, kết cấu đất tốt Về mùa khô dạng địa hình khu vực này thường thiếu nước nghiêm trọng
Trên địa bàn huyện có 2 con sông lớn là sông Miện và sông Nhiệm Sông Miện bắt nguồn từ Trung Quốc qua Yên Minh đến thị xã Hà Giang, đổ
ra sông Lô có chiều dài là 48km, đi qua 6 xã của Yên Minh Sông Nhiệm chảy qua Yên Minh - Mèo Vạc và hợp lưu với sông Gâm, có chiều dài 22km Đây là 2 nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông lâm nghiệp của huyện Ngoài ra, hệ thống sông suối nhỏ khá dày đặc Do địa hình khá phức tạp, các sông suối đều ngắn và dốc nên vào mùa khô thường thiếu nước, vào
mùa mưa hay gây ra lũ quét
* Điều kiện thời tiết, khí hậu
Yên Minh nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Mùa hè cũng là mùa gió Đông Nam (từ tháng 5 đến tháng 10), thời tiết vào mùa này nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông có gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) thời tiết lạnh, khô và ít mưa, lượng mưa trung bình vào khoảng 1.200 mm/năm Nhiệt độ trung bình năm 15,70C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 20,90C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 8,80C (tháng 1)
* Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
Hiện nay, Yên Minh có 17 xã và 1 thị trấn, gồm: Thị trấn Yên Minh và các xã: Thắng Mố, Phú Lũng, Sủng Tráng, Bạch Đích, Na Khê, Sủng Thài, Hữu Vinh, Lao Và Chải, Mậu Duệ, Đông Minh, Mậu Long, Ngam La, Ngọc Long, Đường Thượng, Lũng Hồ, Du Tiến, Du Già
Trang 36Toàn huyện có 15.555 hộ = 80.473 khẩu, với 18 dân tộc cùng sinh sống; trong đó: dân tộc Mông chiếm 54 %, Dao 17 %, Tày 13 %, Giấy 6 %, Kinh 4
%, Nùng 5 %, còn lại là các dân tộc khác 1 % Mỗi dân tộc đều có những nét văn hoá đặc trưng riêng, bao gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể góp phần tạo nên một kho tàng văn hoá phong phú và hấp dẫn như: Hát cọi của dân tộc Tày; Hát phươn của dân tộc Nùng, Giấy; Hát giao duyên của dân tộc Mông, Dao…Bên cạnh các nét đẹp văn hóa, trên địa bàn huyện còn có các
lễ hội lớn như: Lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông (tháng 01 âm lịch); Lễ hội Lồng Tông của dân tộc Tày - Nùng (tháng 01 âm lịch); Lễ Gọi Trăng của dân tộc Tày (Rằm tháng 8 âm lịch);Lễ Cấp sắc của dân tộc Dao (tháng 10 - 12 âm lịch); Lễ thượng thọ; Lễ cưới
Các di tích lịch sử, danh thắng: Khu căn cứ Cách Mạng xã Đường Thượng; Cổng thành Lao Và Chải; Ruộng bậc thang Sa Lỳ (Ngam La); Hang động: Hang Nà Luông (Mậu Long), Hang “Nàng Leèng” (Bục Bản - thị trấn Yên Minh); Hang Du Già…Rừng nguyên sinh xã Du Già, núi Ba Tiên; Nằm trong quần thể Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn
* Điều kiện về đất đai
Đất đai ở Yên Minh gồm 5 nhóm: Phù sa, gley, đen, xám đỏ, thích hợp cho các loại cây trồng như: ngô, lúa, dược liệu, dưa hấu, xoài, rừng sa mộc
và chăn nuôi đại gia súc như: bò, dê, ngựa, gà, lợn,
4.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Hữu Vinh, Huyện Yên Minh, Tỉnh Hà Giang
4.1.2.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Xã Hữu Vinh, là một xã vùng cao của huyện Yên Minh, cách trung tâm huyện lỵ 3km về phía Đông Bắc Xã có vị trí:
- Phía Đông giáp với xã Vần Chải của Huyện Đồng Văn
- Phía Tây giáp với Thị Trấn Yên Minh
- Phía Nam giáp xã Đông Minh và xã Mậu Duệ
- Phía Bắc giáp với xã Sủng Thài của huyện Yên Minh và xã Lũng Thầu của huyện Đồng Văn
Trang 37Xã Hữu Vinh được chia thành 13 thôn bản: Tân Tiến, Bản Vàng, Khai Hoang Bản Vàng, Muôn Vải, Nà Tậu, Bản Trưởng, Bản Chang, Khai Hoang I, Khai Hoang II, Sủng Pảo I, Sủng Pảo II, Nà Ảm, Nà Hảo Có địa hình phức tạp trong đó một số thôn có địa hình đồi núi cao chia cắt mạnh, đường Xã đi lại khó khăn và một số thôn có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc đi lại Độ cao trung bình trên từ 1550m so với mặt nước biển Điều kiện địa hình khí hậu, đất đai, nguồn nước tương đối đa dạng, thích hợp phát triển Nông - Lâm nghiệp như cây Sa mộc, cây chè, cây ăn quả , lúa nước, cây ngô và phát triển rừng,
* Điều kiện khí hậu - thuỷ văn
+ Thủy văn:
Đối với các thôn có đồi núi cao về nước chủ yếu là dựa vào lượng nước mưa và các khe nước nhỏ, đối với các thôn có đồi núi tương đối thấp bằng phẳng có các khe suối nhỏ Về thuỷ văn xã Hữu Vinh không được thuận lợi vào mùa khô trong toàn xã thường bị khô hanh thiếu nước sinh hoạt cũng như sản xuất, về mùa mưa thì thường hay xảy ra báo lốc và mưa đá, mưa nhiều có nguy cơ bị ngập úng sạt lở đất và lũ quét
+Khí hậu
Xã Hữu Vinh, chịu ảnh hưởng của khí hậu miền núi phía Bắc, được chia làm 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm 23,40C, thấp nhất 16,20C, cao nhất 28,60C
Lượng mưa trung bình năm từ 135,2 mm phân bố không đồng đều giữa các mùa trong năm, Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 lượng mưa khá lớn, không đều thường tập trung vào tháng 6, 7, 8 chiếm tới 80 - 85% lượng mưa cả năm
Độ ẩm không khí bình quân trên năm 82,3%, tháng 7, 8, 9 có độ ẩm cao nhất là 87% , thấp nhất là 80%
Với thời tiết và địa hình như vậy đã tạo cho xã Hữu Vinh có những thảm thực vật phong phú cho nên đã tạo điều kiện để sản xuất nông lâm nghiệp với nhiều chủng loại cây trồng vật nuôi đa dạng
Để xác định thời vụ hợp lý và biện pháp kỹ thuật để thâm canh tăng năng suất cây trồng cần phải dựa vào diễn biến của thời tiết của từng năm Kết quả nghiên cứu diễn biến thời tiết khí hậu từ năm 2011 - 2013 của xã Hữu Vinh được thể hiện qua bảng 4.1:
Trang 38Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2011 - 2013 xã Hữu Vinh
Tháng
Nhiệt độ
Lượng mưa TB(mm)
Độ ẩm TB ( %)
T o Max ( o C )
T o TB ( o C)
T o Min ( o C)
T há
ng 1 1
T há
ng 1 2
Nhiệt độ trung bình
Tháng
Biểu đồ 4.1: Nhiệt độ trung bình xã Hữu Vinh năm 2011 - 2013
Trang 39Từ bảng số liệu 4.1 và biểu đồ cho thấy: Nhiệt độ trung bình hàng năm
là 23,40 C nhiệt độ cao nhất vào tháng 6, 7,8 (tháng 6 là 28,60C); nhiệt độ thấp nhất vào tháng 12, 1, 2 Độ ẩm trung bình hàng năm 82,3%; lượng mưa trung bình hàng năm là 135,2mm
+ Mùa mưa: Thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, những tháng mưa nhiều nhất là tháng 6, 7, 8 (tháng 8 đạt 456mm) Vào mùa mưa nhiệt độ cao (nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,40C) rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bên cạnh đó cũng gây khó khăn như lũ quét, ngập úng, sạt lở đất, gió lốc, mưa đá
+ Mùa khô: bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, đây cũng là thời gian có nhiệt độ thấp, lượng mưa trung bình dao động từ 45mm đến 50mm, ẩm độ trung bình từ 80% - 81%, nhiệt độ trung bình dao động từ 15,80C đến 23,40C
Tóm lại: Thời tiết khí hậu trong giai đoạn 2011-2013 tại xã Hữu Vinh, khá thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng chính lúa, ngô , thời kỳ gieo hạt với điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao hạt nảy mầm nhanh, trong quá trình sinh trưởng phát triển mặc dù lượng mưa thất thường không đồng đều nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu về độ ẩm của cây
* Điều kiện về đất đai thổ nhưỡng
Đất đai của xã Hữu Vinh được chia thành hai loại và hai vùng khác nhau đó là nhóm đất đỏ với đá vôi chiếm 50% nhóm này phù hợp với việc trồng ngô, đậu tương, trồng cỏ làm thức ăn cho gia súc trồng cây, nhóm đất thịt chiếm 50% diện tích có độ dốc tương đối bằng phẳng phù hợp với rồng lúa, ngô và các loại cây hoa mầu khác, trồng rừng
Nói chung xã Hữu Vinh, có tiềm năng và điều kiện thuận lợi về đất đai cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp như: Ngô, sắn, cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây ăn quả lâu năm và các loại cây khác