Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách ta như thấy hiện lên bức tranh lịch sử đất nước qua những chặng thời gian, giống như một "biên niên sử" bằng hình tượng văn học về những năm tháng đã
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nói tới những sáng tác làm nên tên tuổi Nguyễn Phan Hách, ngay lập tức, người ta nói tới hương vị "Hoa sữa" ngọt ngào hoặc những ca từ da diết trong "Làng quan họ quê tôi" mà dường như quên rằng nhà thơ ấy cũng khá nặng lòng với văn xuôi Gia tài văn xuôi của thi sĩ không hề ít ỏi: 7 tập truyện ngắn, truyện vừa và 4 tiểu thuyết (Tan mây, Tam cung, Người đàn
bà buồn, Cuồng phong)
Đọc văn xuôi của Nguyễn Phan Hách, đặc biệt là Cuồng phong, tiểu thuyết gần đây nhất, tựa như ta tìm thấy một cá tính khác trong con người, một góc khác trong tâm hồn tác giả Thơ trữ tình của ông ngọt ngào, mê đắm bao nhiêu thì văn xuôi của ông dữ dội và bạo liệt bấy nhiêu "Dữ dội như một trận cuồng phong" Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách ta như thấy hiện lên bức tranh lịch sử đất nước qua những chặng thời gian, giống như một
"biên niên sử" bằng hình tượng văn học về những năm tháng đã qua
Ra mắt độc giả năm 2008, song có thể nói tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách vẫn nằm trong dòng chảy khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết sử thi hiện đại, một trong những tuyến vận động chủ đạo của văn học Việt Nam kể từ sau 1945 Bên cạnh đó, dù chịu ảnh hưởng của khuynh hướng
sử thi, Cuồng phong cùng với Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường), Dưới chín tầng trời (Dương Hướng) lại thấm đẫm bao nỗi niềm thế thái,
nhân tình thời hiện đại, mang đậm dấu ấn thế sự, đời tư Vì lẽ đó, nghiên cứu Cuồng phong từ phương diện nghệ thuật là một việc làm cần thiết để góp phần đánh giá về năng lực cây bút văn xuôi Nguyễn Phan Hách, từ đó góp phần tìm hiểu bước đi của tiểu thuyết đương đại Việt Nam
Trang 2* Về tổng quan nghiên cứu:
Có thể khẳng định rằng, luận văn của chúng tôi là nghiên cứu có qui
mô đầu tiên về tiểu thuyết Cuồng phong Tính đến thời điểm này, việc nghiên cứu tác phẩm Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách mới chỉ dừng lại
ở mức độ sơ lược với một số bài viết giới thiệu tác phẩm Đáng chú ý là:
- Hoàng Phương Liên với "Lời giới thiệu về tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách" (Nguồn do tác giả cung cấp) Tác giả bài viết cho rằng: Cuồng phong "ghi nhận khát vọng cháy bỏng của tác giả muốn làm một cái
gì đó giống như biên niên sử ở mức độ nhỏ bằng hình tượng văn học về những năm tháng đã qua" Bài viết sơ lược giới thiệu về thể loại, nội dung, đề tài nhưng chưa đi sâu tìm hiểu những vấn đề về lí luận
- Thiên Anh với "Nguyễn Phan Hách và Cuồng phong" (Nguồn do tác giả cung cấp) cho rằng: "Cuốn sách đọc chạy trang, các sự kiện đầy ắp, nhiều kiến thức cuộc sống và tri thức sách vở Ông có một giọng văn thanh thoát, hóm hỉnh làm người ta bật cười Câu văn mạch lạc, khúc triết" Bài viết đề cập đến kết cấu "rọi đèn pha", ngôn ngữ nhưng vẫn chưa đi sâu, làm rõ được hết các khía cạnh
- Tìm hiểu nguồn tư liệu trên báo trí có thể kể đến bài "Nguyễn Phan Hách hô phong hoán vũ trong Cuồng phong" trên Vtc.vn (12-2008), bài viết sơ lược giới thiệu về cốt truyện, nghệ thuật, ngôn ngữ trong tác phẩm Cuồng phong; bài "Nhà văn Nguyễn Phan Hách: Tôi nhát gan lắm" Anninhthudo.vn (12-2008) cũng đề cập đến nội dung của Cuồng phong và những vấn đề được coi
là thời sự cũng được đưa vào tác phẩm; bài "Nguyễn Phan Hách điều chỉnh lượng sex trong Cuồng phong" Hoanggiaanh.net (12-2008), người viết thấy được tài của nhà văn trong cách viết về sex, đó là lối viết giống sex dân gian
- Tác giả Phương Hoài với "Nhà văn của vùng quê Luy Lâu" (6-2010), với nhận xét: "Tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách dễ đọc, dễ cảm thụ, truyện tưởng
Trang 3dễ như không mà sâu sắc Cuốn Cuồng phong in ra có hiệu ứng tốt" Bài viết mới chỉ đưa ra những nhận định, đánh giá chưa đưa dẫn chứng cụ thể
Những bài viết, phỏng vấn đã được đăng trên các phương tiện đại chúng, đã đưa ra những vấn đề gợi mở quan trọng cho tác giả luận văn tiếp tục đi sâu nghiên cứu về tác phẩm Tuy nhiên qua khảo sát, chúng tôi thấy những bài viết nhìn chung nhỏ lẻ và mới dừng lại ở mức độ nhận xét đánh giá chung chưa mang tính hệ thống
Với đề tài "Nghệ thuật trong tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách" người viết luận văn với tư cách là người bước đầu nghiên cứu khoa học, mong muốn góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị của tác phẩm cũng như năng lực của cây bút văn xuôi Nguyễn Phan Hách qua một số khía cạnh hình thức nghệ thuật đáng chú ý trong tác phẩm
2 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài đã chọn, luận văn đánh giá giá trị đặc sắc của tác phẩm Cuồng phong, khả năng của cây bút tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách qua một
số đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm nghệ thuật đáng chú ý được Nguyễn Phan Hách thể hiện trong tác phẩm: cốt truyện, không gian nghệ thuật, nhân vật, khôn ngữ, giọng điệu …
- Đánh giá thành công của tác phẩm cũng như năng lực của cây bút văn xuôi Nguyễn Phan Hách
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê phân loại
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chúng tôi dự kiến phần nội dung gồm
3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung
Chương 2: Cốt truyện và Không gian nghệ thật
Chương 3: Nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu
Trang 5
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG 1.1 Về tác giả Nguyễn Phan Hách
1.1.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Phan Hách
Nguyễn Phan Hách sinh ngày 13/01/1944 tại Mão Điền, Thuận Thành, Bắc Ninh Xứ Kinh Bắc với câu ca dao đã đi vào lòng người:
"Một vùng phong cảnh trước sau Bức tranh thiên cổ đượm màu nước non"
Với lễ hội chùa Dâu, chùa Lim, chùa Bút Tháp và nhất là với giai điệu quan họ tha thiết, nồng nàn đã nuôi dưỡng tâm hồn con người qua bao thế hệ Sinh ra và lớn lên trong cái nôi văn hóa giầu đẹp của quê hương Kinh Bắc, thơ văn Nguyễn Phan Hách cũng phần nào mang hơi thở của miền quê quan họ Hình ảnh quê hương cùng những giá trị văn hóa khác đã đi vào thơ văn Nguyễn Phan Hách một cách tự nhiên, chân thực
Không những thế, Nguyễn Phan Hách còn được hưởng “gen” văn chương từ ông nội – một ông đồ nho có tiếng trong vùng, từng mở trường
"Lạc Giáo” ở Bắc Ninh Trường Lạc Giáo thời kỳ đầu dạy chữ nho theo lối khoa cử cũ sau đó chuyển sang dạy chữ quốc ngữ Thầy đồ hay chữ, để lại cho đời không chỉ nhiều thế hệ học trò thành đạt mà còn tặng cho con cháu những vần thơ ý vị sâu xa "Thày rằng: chức cả quyền to Càng giàu sang lắm càng lo vào mình"
Nguyễn Phan Hách, có thể nói, đã nối tiếp được "tài" và "tâm" của dòng họ, gia đình mình Ông là người có tâm hồn nhạy cảm, yêu cái đẹp và sớm đến với nghệ thuật Thuở nhỏ, thi sĩ của "Hoa sữa" học ở trường làng, trường huyện Tốt nghiệp Đại học Sư phạm, năm 1962 ông về dạy học ở
Trang 6huyện miền núi Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Sau 5 năm tham gia giảng dạy, niềm đam mê sáng tác đã thôi thúc Nguyễn Phan Hách trở thành cán bộ sáng tác – nghiên cứu của Ty Văn hóa Hà Bắc Kể từ đó đến nay, tình yêu văn hóa, lịch sử dân tộc đã khơi nguồn cho các sáng tác và trở thành một niềm ám ảnh trong nhiều trang viết của ông Năm 1973, Nguyễn Phan Hách làm biên tập thơ cho tuần báo Văn nghệ Năm 1978, ông làm biên tập văn xuôi cho Nhà xuất bản Tác phẩm mới (nay là Nhà Xuất bản Hội Nhà văn) Từ 1996 đến
2004, ông làm Phó Giám đốc rồi Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn Sau khi rời nhiệm sở, Nguyễn Phan Hách vẫn tiếp tục gắn bó với nghiệp văn chương bằng những sáng tác của mình: Một trong những tác phẩm được độc giả và giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm là tiểu thuyết Cuồng phong, xuất bản năm 2008
1.1.2 Con đường văn chương của Nguyễn Phan Hách
Nguyễn Phan Hách sớm đến với nghệ thuật Ông làm thơ, viết văn từ thuở nhỏ Truyện ngắn đầu tay “Khỏi ốm” được ông viết khi còn là một cậu
bé đang học lớp 5 và được in trên tuần báo Văn nghệ Tiếp đó, trên tuần báo Văn nghệ số tết Mậu Tuất (1958) Nguyễn Phan Hách có truyện ngắn “Sân tranh”, đây là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông Cùng với "Sân tranh", bài thơ “Làng quan họ” viết trong thời kì này được Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc đã khiến Nguyễn Phan Hách trở thành thi sĩ được nhiều độc giả mến mộ Đến thời điểm này có thể khẳng định "Làng quan họ quê tôi" là một trong những ca khúc hay nhất về vùng quê Kinh Bắc của ông
Từ thời điểm "Sân tranh" ra đời, không kể các bài phê binh nghiên cứu giành cho việc dạy, học văn chương trong nhà trường, tính đến nay, gia tài sáng tác của Nguyễn Phan Hách đã có 04 tập thơ: Người quen của em (1981),
Trang 7Hoa Sữa (2000), Ao thu thuyền lá (2000 – in chung), Vô tình (2007) Trong
đó, bài thơ “Người quen của em” và Nhìn sao” được giải thưởng của Báo Văn nghệ năm 1969 và năm 1974 Không chỉ có sở trường về thơ, Nguyễn Phan Hách còn gây ấn tượng với bạn đọc qua hàng loạt tác phẩm: truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết; 07 tập truyện vừa, truyện ngắn: Vườn hoa cổng ô (1974), Tổ chim sẻ (1978), Cây vĩ cầm cảm lạnh (1982), Quà tặng của thiên nhiên (1985), Khớp ngựa ô (1988), Tình đùa (1989), Cô gái đầm sen (2004);
04 tiểu thuyết: Tan mây (1989), Mê cung tình ái (1990), Người đàn bà buồn (1994), Cuồng phong (2008)
Hơn 60 năm cuộc đời, hơn 50 năm cầm bút, với tổng số 15 đầu sách thơ và văn xuôi, Nguyễn Phan Hách đã khẳng định được năng lực và niềm đam mê sáng tạo nghệ thuật của mình Số lượng các nhà thơ đồng thời là nhà văn thành công ở Việt Nam không phải là nhiều, Nguyễn Phan Hách nằm trong số ít đáng quý đó Đặc biệt, với tiểu thuyết Cuồng phong ra đời năm
2008 Nguyễn Phan Hách khiến độc giả, giới sáng tác và phê bình phải bất
ngờ Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Dưới chín tầng trời (Dương Hướng) … có thể nói, đã bắt đầu tạo nên cơn
gió mới trong làng tiểu thuyết lặng lẽ đầu thế kỷ XXI của chúng ta Đến nay, tuy đã trải qua hơn nửa thế kỉ cầm bút nhưng tình yêu văn chương của Nguyễn Phan Hách vẫn không hề thay đổi Ông vẫn miệt mài sáng tác, không ngừng trăn trở suy nghĩ về văn chương và cuộc sống
1.1.3 Quan niệm trong sáng tác tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách
Nguyễn Phan Hách cho rằng: thể loại tiểu thuyết khó, giống như một
“trận đánh lớn” nếu người chỉ huy chưa đủ tầm thì đành chịu Đó là cái khó của những nhà văn viết tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách thừa nhận tiểu thuyết chưa bao giờ là thế mạnh của ông, nhưng tiểu thuyết mới là thể loại ông thích
Trang 8nhất Trước Cuồng phong, Nguyễn Phan Hách đã có 3 tiểu thuyết được xuất bản: Tan mây, Mê cung tình ái và Người đàn bà buồn nhưng phải đến Cuồng phong – tiểu thuyết của ông mới thực sự thu hút, hấp dẫn người đọc
Nguyễn Phan Hách tâm sự: hình như cấu trúc của tiểu thuyết bây giờ
đã có thay đổi "Phải thú nhận cấu trúc cổ điển như “Chiến tranh và hòa bình” của L.Tônxtôi, “Con đường đau khổ” của A.Tônxtôi hay quá, nhưng bây giờ học theo thầy khó quá, vả lại bây giờ cũng ít ai xây lâu dài như mẫu các cung điện xưa Phải có “mẫu mã” khác Nhưng mẫu gì thì mẫu, lâu đài bên trong vẫn phải là những sảnh lớn, phòng rộng, những không gian để con người sử dụng Tiểu thuyết hiện đại cũng vậy Người ta có thể phải dùng lối kết cấu mới, nhưng nội dung vẫn phải là: phản ánh hiện thực của thời đại này Cuồng phong được và chưa được như thế nào để bạn đọc tự đánh giá Tôi cũng không có khả năng làm những cuốn sách mang tầm thời đại, tầng tầng lớp lớp những triết lý theo kiểu hậu hiện đại Tôi chỉ có tư duy truyền thống thôi Cuồng phong có thể hay, có thể không, nhưng tôi tin là người đọc vẫn thấy cuốn sách thực sự có ích vì có thể tìm thấy câu chuyện cả một thế kỷ đầy biến động, mà có thể nói là dữ dội nhất trong lịch sử Việt Nam – thế kỷ XX”
Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách ta thấy được khát vọng cháy bỏng của tác giả, đó là muốn làm một cái gì đó giống như “biên niên sử” ở mức độ nhỏ bằng hình tượng văn học về những năm tháng đã qua Tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách không dửng dưng với quá khứ Qua quá khứ tác giả muốn rút ra bài học cho hiện tại và tương lai Tiểu thuyết thường ghi lại “ảnh hình của thời gian đã mất” Cái đáng quý của tiểu thuyết chính là vì vậy Những ý tưởng, triết lý có thể đúng, phù hợp với ngày hôm nay nhưng ngày mai con người sẽ vượt qua, sẽ thay đổi, nhưng “hiện thực đời sống” được tái hiện sinh động trong tác phẩm nghệ thuật thì theo thời gian, ngày càng trở nên
Trang 9quý giá Hậu thế sẽ biết ơn các nhà văn nếu như tác phẩm của họ miêu tả được chân thực, sinh động, sâu sắc những gì thuộc về thế hệ trước, thuộc về lịch sử nhưng vẫn có ý nghĩa lớn lao đối với thế hệ hôm nay và ngày mai 1.2 Về tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách
Nhiều người đánh giá Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách tựa như thấy được bức tranh rõ nét, chân thực, sinh động về lịch sử Việt Nam thế kỷ
XX Một bức tranh lịch sử được tái hiện trong một không gian mang tính sử thi và thông qua thân phận con người
1.2.1 Mối quan hệ giữa hiện thực và sáng tạo trong tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử:
Văn học phản ánh hiện thực qua lăng kính sáng tạo của nhà văn Vì thế, M.Gorki đã có lần khẳng định “không có hư cấu thì không thể và cũng không tồn tại được tính nghệ thuật”, có nghĩa là tưởng tượng và hư cấu là yếu tố luôn luôn tồn tại trong quá trình sáng tác Bên cạnh đó nghệ thuật là sự biểu hiện tâm lý chủ quan của nghệ sĩ về các hiện tượng xã hội, đồng thời mà không thể tách rời hiện thực Bất kì một hình thức, thể loại văn học nào cũng cần cái gốc cơ bản là hiện thực Nhà văn có thể tích lũy những tri thức về hiện thực cuộc sống ngay trong quá trình sáng tác hoặc trước đó, khi mới hình thành ý đồ, cảm hứng Sự tích lũy càng phong phú thì trường sáng tạo của nhà văn càng được mở rộng Cơ sở sáng tạo của nhà văn thường là những quan sát của nhà văn về hiện thực, là những ấn tượng do những hiện tượng trong cuộc sống, những sự kiện lịch sử – xã hội tạo nên Lịch sử là bộ khung xương để nhà văn tạo ra da thịt bằng trí tưởng tượng, sự hư cấu để tạo nên tác phẩm hoàn thiện
Trang 10Tài năng của nhà tiểu thuyết thể hiện ở khả năng tái hiện những không gian, bối cảnh phù hợp với thời đại được phản ánh ở sự sống động, linh hoạt của các nhân vật với chiều sâu nội tâm cá tính Muốn đạt được như vậy thì người viết tiểu thuyết phải tích lũy một lượng phong phú những kiến thức sử học, kiến thức liên ngành về văn hóa, xã hội, ngôn ngữ Đặc biệt, nhà văn phải tìm ra những điểm tương đồng trong nếp nghĩ của nhân vật trong quá khứ với con người hiện đại, bởi chỗ đứng của người viết và người tiếp nhận tác phẩm đã cách đối tượng được phản ánh một khoảng thời gian khá dài
Tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử ra đời tương đối sớm ở cả văn học phương Đông và văn học phương Tây Ở mỗi nền văn học, luôn tồn tại những quan niệm rất khác nhau về mối quan hệ giữa hiện thực lịch sử và hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử Tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử lấy nội dung lịch sử làm đề tài và cảm hứng sáng tạo, dựa vào những điều kiện trong quá khứ để
hư cấu, tưởng tượng, để tạo nên cảm hứng mới lạ từ những điều vốn đã quen thuộc Sự khác biệt cơ bản giữa lịch sử và tiểu thuyết lịch sử là ở chỗ những nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết không xuất hiện trong tư thế duy nhất mà lịch sử đã đóng khung cho nó mà xuất hiện trong những hành động, suy nghĩ của cuộc sống ở cả tư cách xã hội và ở cả khía cạnh đời tư
Đối với nhà văn viết tiểu thuyết về đề tài lịch sử thì nguồn sử liệu được lựa chọn theo ý đồ sáng tác nghệ thuật Từ lịch sử, nhà văn phát huy tối đa khả năng hư cấu, sức tưởng tượng của bản thân trong quá trình sáng tác, nhưng không được phép hư cấu hoàn toàn mà phải dựa trên cơ sở nghiên cứu
kĩ lưỡng tài liệu lịch sử Từ đó, làm sống lại không khí lịch sử cũng như nhân vật lịch sử một cách chân thực và sống động Sự hư cấu nghệ thuật cũng thể hiện ra ở nhiều cấp độ: cấp độ chi tiết, cấp độ nhân vật, cấp độ sự kiện Với những nhân vật có thực trong lịch sử, nhà văn đã phải hư cấu rất nhiều từ lời
Trang 11ăn, tiếng nói đến hành động, từ nét sinh hoạt đời thường đến đời sống tâm lý, chiều sâu tâm hồn của họ sao cho người đọc khi thưởng thức tác phẩm như đang được nhìn thấy họ đi đứng, nói năng trong lịch sử thì phải hư cấu hoàn toàn để sao cho nhân vật “ăn khớp” với hoàn cảnh, sự kiện một cách hài hòa tạo nên một thế giới nhân vật trong tác phẩm thống nhất để từ đó làm sáng lên
tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
Nhà tiểu thuyết dùng ngôn ngữ văn chương làm sống lại quá khứ trong lòng hiện tại, để độc giả hôm nay và mai sau có thể tìm thấy sau những biến
cố thăng trầm của dân tộc là tình cảm của các cá nhân, số phận của các cá nhân, thân phận nói chung của con người Tiểu thuyết lấy đề tài cảm hứng lịch sử từ quá khứ để soi chiếu thực tại và tương lai Cảm hứng lịch sử không làm cho hệ thống hình tượng trong tiểu thuyết xuất hiện đơn thuần trong tư thế của những tượng đài lịch sử mà người viết tiểu thuyết phải biến những tượng đài sẵn có ấy thành những con người với cá tính đa dạng, phức tạp như chính họ trong cuộc sống Nếu như những trang lịch sử chỉ ghi lại một phần, một mặt nào đó của con người, sự kiện trong quá khứ thì tiểu thuyết có thể làm được điều kì diệu hơn là mô tả những phần khuất lấp sau những bề mặt
ấy Những chi tiết tưởng như rất đời thường và vụn vặt, có thể dễ dàng bắt gặp trong thực tại cuộc sống lại chính là những sinh khí tạo hồn cho nhân vật
Tóm lại, có thể hiểu cảm hứng lịch sử chính là ngọn nguồn say mê và nung nấu tâm can nhà văn, nó thôi thúc và dẫn đường để nhà văn có thể làm công việc tạo nên da thịt và sinh khí cho những xác ướp mà lịch sử cung cấp,
để lịch sử được tái hiện sinh động hơn, sâu sắc hơn trong những hình tượng văn học Trong tác phẩm, cảm hứng lịch sử lắng sâu trong ngôn ngữ, thấm đượm trong bối cảnh không gian và hiện hữu trong từng nhân vật
Trang 12Văn xuôi Việt Nam cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI phát triển theo khuynh hướng mới – táo bạo trong cách khai thác về đề tài lịch sử Nhân vật lịch sử được đặt trong nhiều mối quan hệ để độc giả có cái nhìn đa chiều về lịch sử Đó là mô típ huyền thoại hóa nhằm đưa ra góc nhìn mới từ điểm nhìn của con người hiện đại về quá khứ, nhà văn dựa vào nhân vật và sự kiện lịch
sử để thể hiện cảm hứng về thế sự, tôn giáo và về thân phận con người: Như
Giàn thiêu (Võ Thị Hảo); Kiếm sắc, Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp) nhà văn
dựa vào nhân vật và sự kiện lịch sử để thể hiện cảm hứng về thế sự, tôn giáo
và về bi kịch thân phận con người Đó là những tác phẩm tôn trọng tinh thần của lịch sử, nhân vật lịch sử được đặt trong sự soi chiếu nhiều chiều như: Hồ
Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh) Bên cạnh đó, những sáng tác như Cuồng
phong dù không xây dựng chân dung những nhân vật lịch sử, tinh thần chung vẫn là ngợi ca lịch sử, đề cao khí tiết của người anh hùng trong những biến thiên dữ dội của đất nước với những sự kiện lịch sử có thực hơn một thế kỷ qua
1.2.2 Về tiểu thuyết Cuồng phong
Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách là tiểu thuyết viết về đề tài lịch
sử Tác phẩm có bối cảnh là lịch sử hiện thực xã hội Việt Nam thế kỷ XX với những biến thiên bão táp Xoay quanh số phận một gia tộc họ Nguyễn trải qua bốn thế hệ (Thế hệ thứ nhất: cụ Cả Cố, người nông dân với lòng yêu nước bản năng, chống cường quyền, đã khởi nghĩa chống Pháp Thế hệ thứ hai: ông nghè Nguyễn Đức Nguyên thoát ly giáo lý Khổng Mạnh ngàn đời, khao khát Duy Tân, xây dựng đất nước độc lập Thế hệ thứ ba: gia tộc có sự phân chia trận tuyến, một bên vẫn bám vào ngoại bang, tiếp tục quyền lợi thống trị của mình (điển hình là Nguyễn Đức Vĩnh) và một bên là chiến sĩ cách mạng, kháng chiến để giành độc lập thống nhất đất nước (người em Nguyễn Đức
Trang 13Hàm, Vũ Hùng) Thế hệ thứ tư: vẫn ở hai trận tuyến đối lập giữa Lữ - con trai Nguyễn Đức Vĩnh và Nguyễn Đức Trung – con trai Nguyễn Đức Hàm (mở rộng ra có Viết Thiều) Cuồng phong phản ánh chân thực, sinh động
Chọn cách kết cấu “rọi đèn pha”, Cuồng phong được kể lấp loáng nhưng sinh động như một cuốn phim sử thi hoành tráng Những khoảng sáng cận cảnh xen giữa những vùng mờ nhòe mênh mông của lịch sử được tái hiện chân thực như cuộc sống qua những trường đoạn mang màu sắc điện ảnh,
“chuyển cảnh” nhanh Và trên hết sự thật lịch sử được tôn trọng một cách tuyệt đối
Nguyễn Phan Hách không tránh né bất kì một vấn đề nào, kể cả những vấn đề được xem là nhạy cảm: những hiện thực tăm tối và ánh sáng le lói của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ; những khoảng tối tiềm tàng ánh sáng của những thân phận; những sai sót của thời cải cách ruộng đất; số phận của những người bên kia chiến tuyến; những mầm mống manh nha của “cơ chế thị trường” trước đổi mới Tất cả những gì được xem là phức tạp hay nhạy cảm đều được soi “rọi đèn pha” vào đó để miêu tả và lý giải một cách thấu đáo
Hơn 700 trang sách với đầy ắp sự kiện, nhiều kiến thức cuộc sống và tri thức sách vở Đọc Cuồng phong, ta thấy mê hoặc và lôi cuốn bởi một văn phong trong sáng bay bổng Giọng văn sinh động, thanh thoát, hóm hỉnh
nhiều đoạn khiến ta không khỏi bật cười (đoạn tả Phó Cối – Gái Nhỡ, đoạn tả
tù binh đi lao động ) Câu văn mạch lạc, khúc triết
Cuồng phong mang dáng dấp tiểu thuyết lịch sử, phản ánh chiều dài lịch sử dân tộc thế kỷ XX với những biến động có thể được xem là dữ dội nhất trong lịch sử Việt Nam Tác phẩm đã tái hiện lại cuộc đấu tranh chống
Trang 14Pháp xâm lược của nhân dân ta đầu thế thế kỷ XX cũng như các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ sau này
Cảm hứng lịch sử là cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết Cuồng phong, xuất phát từ tình yêu, lòng đam mê đầy tự hào của nhà văn với lịch sử dân tộc Cảm hứng ấy gắn liền với lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của người công dân Nguyễn Phan Hách đồng thời cũng chứa đựng cả chất nhân văn cao
cả trong cái nhìn của nhà văn về cuộc đời Đọc Cuồng phong ta không chỉ hiểu sâu sắc hơn về những gì diễn ra trong trường kỳ lịch sử của dân tộc mà còn thấu hiểu về số phận những con người trong bão táp lịch sử
Bất chấp sự cạnh tranh khốc liệt của văn hóa nghe nhìn, bất chấp lời than vãn rằng xã hội hiện đại đang thờ ơ với văn chương, bất chấp sự trồi sụt của nền kinh tế những tác phẩm như Cuồng phong vẫn luôn có chỗ đứng trong lòng công chúng
Trang 15CHƯƠNG 2 CỐT TRUYỆN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
2.1 Cốt truyện
2.1.1 Kiểu cốt truyện
Như ta đã biết, nhà văn xây dựng cốt truyện là để phản ánh các quan hệ
và mâu thuẫn của đời sống Cốt truyện chính là hệ thống sự kiện làm nòng cốt cho sự diễn biến các mối quan hệ và sự phát triển của tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học tự sự Trong tiểu thuyết, các chi tiết, sự kiện là cái làm nên mạch truyện, duy trì sự phát triển của cốt truyện “Khái niệm cốt truyện có truyền thống lâu đời, bắt nguồn từ Arixtốt và được các nhà lý luận chủ nghĩa
cổ điểm minh định rõ” Theo đó “cốt truyện đúng hơn là truyện, là tiến trình các sự kiện xảy ra theo quy tắc nhân quả dấn đến một kết cục Truyện nào cũng có tính thống nhất, bắt đầu từ một trạng thái ổn định, thăng bằng, sau đó xảy ra hỗn loạn, mâu thuẫn xung đột, cuối cùng trở lại thăng bằng” [52, Tr 127)
Cốt truyện trong tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách là kiểu cốt truyện đa tuyến với những hệ thống sự kiện phức tạp nhằm tái hiện nhiều bình diện của đời sống ở những thời kỳ lịch sử khác nhau Cốt truyện
đa tuyến giúp tái hiện những con đường diễn biến phức tạp của nhiều nhân vật và hệ thống sự kiện trong cốt truyện có thể chia thành nhiều dòng, nhiều truyện gắn liền với số phận của các nhân vật trung tâm, nhân vật chính của tác phẩm Cốt truyện đa tuyến được xem là cốt truyện thuộc loại cổ điển, phát triển lô gíc, mọi biến cố, sự kiện trong tác phẩm đều gắn liền với nhân vật
Cuồng phong có bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XX, một thế kỷ đầy biến động của dân tộc Nguyễn Phan Hách quan niệm những biến thiên dữ dội
bi hùng của đất nước, cơn cuồng phong của chiến tranh và thân phận con
Trang 16người trong cơn bão táp đó là chất liệu vô giá của văn học Những tiểu thuyết kinh điển thế giới như: “Chiến tranh và hoà bình” của L.Tônxtôi, “Sông Đông
êm đềm” của Sôlôkhốp, “Con đường đau khổ ” của A.Tônxtôi … sẽ còn mãi với nhân loại, một phần quan trọng vì người ta tìm thấy ở đó hiện thực máu lửa khốc liệt một thời của loài người Đề tài, cốt truyện không phải là quan trọng nhất, nhưng thử hỏi với sự sàng lọc của thời gian, những cuốn sách chỉ
đi vào những chuyện vụn vặt, yêu đương … và những “triết lý một thời” dễ bị thời gian vượt qua, làm sao còn có thể gây ấn tượng, chú ý với thế hệ độc giả đời sau? Thời đại văn hoá nghe nhìn chiếm thế thượng phong, địa vị của văn chương muốn hay không muốn cũng không được như xưa nữa Nói quá đi, có khi người ta còn đặt ra câu hỏi: Rút cục thì giá trị lớn nhất của văn chương nói chung (tiểu thuyết nói riêng) là gì? Kể cả với những người đó, câu trả lời luôn là: Đó chính là hiện thực đời sống được miêu tả tài tình trong đó Chính hiện thực đời sống, hiện thực lịch sử đã và đang làm nên giá trị cho văn chương
Đã không dưới một lần khi được hỏi về Cuồng phong trong các bài báo, Nguyễn Phan Hách nói “Hiện thực xã hội Việt Nam thế kỷ XX là một hiện thực dữ dội Trang sử tột đỉnh đau thương và tột đỉnh kiêu hãnh tự hào Tôi nghĩ sứ mệnh của tiểu thuyết là ghi lại những ảnh hình đã qua Hiện thực Việt Nam là một nguyên liệu vô giá, bất tận cho tiểu thuyết Tôi muốn tác phẩm của mình miêu tả được những biến thiên bão táp của đất nước qua các góc độ đấy Qua câu chuyện một gia tộc với bốn thế hệ (và những người liên quan), qua số phận những con người vật vã trong cơn Cuồng phong, tôi mon men đến chủ đề mà tôi thích và tôi nghĩ là ít ra nó cũng có ích, không bị lạc hậu qua thời gian …”
Hơn 700 trang tiểu thuyết, Nguyễn Phan Hách đã dựng lên hàng loạt nhân vật với những cảnh đời, số phận, tâm trạng, tính cách khác nhau xuất hiện trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử dân tộc với những biến cố
Trang 17của nó Mỗi nhân vật đều có chân dung, diện mạo riêng, cá tính riêng Thế hệ thứ nhất: Cả Cồ – anh hùng nông dân nghĩa sĩ dựng cờ khởi nghĩa được miêu
tả là người dũng mãnh, ngang ngược “bất bưởng” cùng đội quân là những kẻ
“ngỗ ngược”, “thích đánh nhau” đã góp phần to lớn vào công cuộc chống phong kiến và bọn thực dân Pháp đầu thế kỷ XX Thế hệ thứ hai: Nguyễn Đức Nguyên với tư tưởng tiến bộ với mong muốn “canh tân đất nước” “mở mang dân trí” làm cơ sở tiến tới giành độc lập cho đất nước Từ thế hệ thứ ba: Đức Vĩnh, Đức Hàm (mở rộng ra nhân vật Vũ Hùng) đến các con của hai anh
em đã có sự phân chia trận tuyến, Đức Hàm và Đức Vĩnh lúc này tồn tại hai luồng tư tưởng khác nhau Đức Vĩnh lựa chọn con đường theo địch để được hưởng bổng lộc, làm quan Đức Hàm, Vũ Hùng sống theo lý tưởng cách mạng, chiến đấu vì Tổ quốc, không sợ hy sinh, gian khổ, với tấm gương sáng
là Cụ, Ông, Cha Diễn biến của tất cả các sự kiện, biến cố của các nhân vật đều lô gíc trong sự phát triển của cốt truyện
Nhiều sự kiện, nhiều nhân vật nhưng mỗi nhân vật đều có thể tách ra thành một câu chuyện với những tâm trạng, những số phận, những cảnh ngộ nhiều hình vẻ Kiểu cốt truyện đa tuyến với nhiều nhân vật chính có số phận hạnh phúc, xen lẫn đau khổ dù dưới bất cứ chế độ xã hội nào Các nhân vật của Cuồng phong cũng có các số phận “quằn quại giữa cuộc đời” bởi họ là những con người chân thực, có lý tưởng, dũng cảm kiên cường theo lý tưởng
Thời gian lịch sử được tái tạo trong thế giới nghệ thuật Cuồng phong bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ với những cuộc khởi nghĩa nông dân và kéo suốt chiều dài lịch sử đất nước trong thế kỷ XX với những tuyến nhân vật đan chéo nhau, những tâm trạng, những số phận, những cảnh ngộ nhiều hình vẻ
2.1.2 Cách thức xây dựng
Chọn kết cấu “rọi đèn pha”, Cuồng phong được kể lấp loáng nhưng sinh động như một cuốn phim sử thi hoành tráng Các điểm sáng liên kết lại
Trang 18với nhau tạo nên câu chuyện Còn các chỗ khác “chìm trong bóng tối”, bỏ qua, không nhất thiết phải kể có đầu có đuôi, các mắt xích liên tục với nhau Nguyễn Phan Hách không tránh né bất kỳ một vấn đề nào, kể cả những vấn
đề vẫn được xem là nhạy cảm trong lịch sử dân tộc thế kỷ XX (số phận con người trong thời kỳ cải cách ruộng đất; thân phận người lính bên kia chiến tuyến thời kỳ sau 1975 …) Tất cả đều được Nguyễn Phan Hách soi “rọi đèn pha” vào đó để miêu tả và lý giải nó một cách thấu đáo
Cuồng phong là một cuốn tiểu thuyết dễ đọc, chạy trang nhưng đầy ắp
sự kiện và lượng thông tin Nguyễn Phan Hách từng tâm sự "Tôi học tập phong cách của điện ảnh “chuyển cảnh” phải nhanh Tôi thích nhiều lượng thông tin" Câu chuyện trong tác phẩm trải dài trong nhiều thập kỷ nhưng không làm người đọc cảm thấy mệt mỏi bởi tác giả đã sử dụng kiểu lắp ghép liên văn bản Đây là một trong những đặc điểm của thi pháp tiểu thuyết hiện đại Nhờ kỹ thuật kết cấu này, tác phẩm được viết ra một cách tự nhiên, không
bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống Kết cấu tác phẩm không nhất thiết phải dựa vào sự phát triển theo tiến trình sự kiện, theo thời gian tuyến tính mà được ghép bởi từng cuộc đời, từng mảng tâm trạng của nhân vật, đảo lộn trật
tự truyền thống Những tình huống, cảnh ngộ biến cố, sự kiện, số phận nhân vật đặt cạnh nhau, kết nối với nhau tạo nên mạch cốt truyện lô gíc, hấp dẫn Nguyễn Phan Hách chọn cho mình một kết cấu riêng, miễn là diễn đạt được ý tưởng Với lối “Sổ tay ghi chép … ngày … tháng … năm” tác giả tự cho phép mình không phải bố trí đan cài khéo léo các tình tiết đuổi theo hệ thống nhân vật kịch tính, cao trào, thắt nút, mở nút … Đôi khi Nguyễn Phan Hách còn sử dụng cả bút pháp ký, chính luận để nén dung lượng, tránh được lối kể tả dài dòng nhưng ít lượng thông tin
Ngoài ra, Nguyễn Phan Hách còn sử dụng thủ pháp tương phản đối lập
để tạo cốt truyện Chính sự tương phản giữa nhận thức, lối sống, chọn đường
Trang 19của hai anh em Nguyễn Đức Vĩnh và Nguyễn Đức Hàm đã trở thành vấn đề mang tính thời đại Nguyễn Đức Vĩnh chọn con đường quan trường để hưởng bổng lộc, lo cho gia đình Anh chưa nhìn thấy điểm sáng của đấu tranh cách mạng, chưa tin vào đội ngũ cách mạng cùng khả năng của họ Vĩnh hoài nghi trước chiến thắng của cách mạng Ngược lại, Nguyễn Đức Hàm luôn sống có
lý tưởng, tin vào quần chúng cách mạng, sống và chiến đấu sát cánh cùng quần chúng Niềm tin với cách mạng ở anh là tuyệt đối Quan niệm về cuộc sống khác nhau, mục đính, lý tưởng sống khác nhau và mỗi người dường như sinh ra trên đời đều được phân một sứ mệnh khác nhau nên nhân vật của Nguyễn Phan Hách phải “làm tròn sứ mệnh của mình” Việc chọn lối sống, hướng đi khác nhau là điều không tránh khỏi ở hai anh em Vĩnh – Hàm
Hay như Lan Viên, tiểu thư con quan huyện, xinh đẹp, có học Nếu sống trong xã hội cũ, những người như Viên sẽ luôn được ưu ái nhưng khi cách mạng nổ ra, đặc biệt là cuộc cải cách ruộng đất đã biến những ưu, những lợi thế của Viên thành thứ vũ khí dìm cô và những người như cô xuống bùn đen Đến hiền lành, sống tốt như Ba Nghè – Vũ Thị Ngần mà còn bị đấu tố, bị bọn xấu “tố điêu” tố sai Suốt đời không làm điều ác với ai, nhưng những người được bà giúp trước kia để có miếng ăn nay quay ra nói bà bóc lột, áp bức họ Có kẻ còn coi cái đẹp, cái sang trọng của mẹ con Lan Viên là sự “bất công giai cấp”
Trong cuộc cải cách ruộng đất những năm giữa thế kỷ XX, cái đẹp, giàu sang là có tội, là phải trả giá Dẫu đã lường trước được những khủng khiếp và sự lạ lùng “đầu xuống đất chân lên trời”, “trắng thành đen” của công cuộc cải cách ruộng đất nhưng chính những người trong cuộc không nghĩ nó lại khốc liệt đến như thế Lý lịch nghèo giờ là quyền lực, dốt nát giờ có địa vị Đặt trong thế tương phản đối lập như vậy ta mới thấy được hết những bất công sai lầm của một thời “ấu trĩ” Sự tương phản đối lập được Nguyễn Phan
Trang 20Hách sử dụng triệt để để thể hiện sự thay đổi dữ dội của thân phận con người bởi hòn cảnh sống Chính sự nhất quán trong việc sử dụng phép tương phản đối lập khiến cho việc thể hiện nội dung tư tưởng trong Cuồng phong càng trở nên sâu sắc
2.2 Không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn cho thấy quan niệm nghệ thuật của tác giả Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian và không có nhân vật nào lại không có bối cảnh xuất hiện Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định của tác giả về cuộc sống Trong lý luận văn học, người ta xem không – thời gian nghệ thuật “như một quan niệm về thế giới và con người, như một phương thức chiếm lĩnh thực tại, một hình thức thể hiện cảm xúc và khái quát tư tưởng thẩm mỹ để từ
đó lý giải khả năng phản ánh hiện thực [51, Tr.146, 166] Theo nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng các yếu tố không gian trong tác phẩm chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành “các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng” [58]
Qua bàn tay của các nghệ sĩ tài năng, không gian nghệ thuật trở thành một hình tượng nghệ thuật đặc sắc, bên cạnh hình tượng nhân vật
Không gian nghệ thuật trước hết phản ánh hiện thực khách quan của cuộc sống (về tự nhiên và xã hội) Nó góp phần thể hiện tâm lý nhân vật và quan niệm nghệ thuật về thế giới, con người của tác giả Ngoài ra, không gian nghệ thuật còn đóng vai trò trung tâm trong việc tổ chức các sự kiện tác phẩm, góp phần quy định đặc trưng thể loại Trong tiểu thuyết Cuồng phong không gian nghệ thuật góp phần làm nổi bật tính cách nhân vật và thể hiện
Trang 21cảm quan của tác giả về chiến tranh, về số phận con người, xã hội Việt Nam thế kỷ XX
2.2.1 Không gian hoành tráng, dữ dội
Như trên đã nói: Cuồng phong có bối cảnh là lịch sử hiện thực xã hội Việt Nam thế kỷ XX với những biến thiên bão táp Qua câu chuyện một gia tộc bốn thế hệ (và những người liên quan) ta thấy lịch sử đất nước hiện lên đau thương nhưng hào hùng
Nguyễn Phan Hách đã dựng lên một không gian xã hội (không gian công cộng) hoành tráng trong tác phẩm đối lập với không gian đời tư chật hẹp trong tác phẩm phi sử thi
Trong văn học lãng mạn Việt Nam trước 1945, môi trường sống của nhân vật thường là chật hẹp, quẩn quanh trong tầng lớp, giai cấp mình Nhưng sau 1945, cuộc cách mạng tháng Tám vĩ đại như một cơn lốc mạnh đã kéo con người ra khỏi cái “ao đời” phẳng lặng và tù túng để hướng tới một không gian công cộng rộng lớn Từ đó, con người được trưởng thành trong môi trường tập thể, có số phận gắn bó với dân tộc và lịch sử Trong cái không gian
xã hội rộng lớn ấy “không có và không thể có cái gì là thầm kín, nội tại, không có gì là bí mật riêng tư, không có gì hướng vào bản thân, không có gì đáng gọi là cô đơn cả Con người ở đây mở ra mọi phía, nó hoàn toàn hiện ra
bề ngoài, trong con người đó không có gì là “dành riêng cho một mình mình”,
"không có gì là không chịu kiểm soát ở đây tất cả và toàn bộ là công cộng” [7, Tr.146] Nơi sinh hoạt chính của các nhân vật trong tiểu thuyết sử thi không phải là trong gia đình mà là ngoài xã hội, môi trường sống của các nhân vật trong sử thi là ở ngoài xã hội, ở đây các nhân vật mới khẳng định được chỗ đứng của mình trong trời đất bao la
Trang 22Nguyễn Phan Hách chỉ tả qua về nguồn gốc, nơi mà Cả sinh ra: “Cả Cồ
là đứa con hoang Mẹ Cả Cồ không chồng, đi làm thuê thấy bà trở về bụng chửa vượt mặt Bà “nằm ổ” một mình trong căn lều lợp lá chuối giữa vườn” [19, Tr.15] Khi 15 tuổi mẹ mất, “Cả bắt đầu lang thang trong rừng”, “lang thang theo thầy học võ hết năm này tháng khác” “Rừng nuôi Cả Cồ Hồn rừng, hồn núi nhập vào Cả Cồ” [19, Tr.16] Không gian rừng núi đã góp phần xây dựng nên hình ảnh Cả Cồ – người nông dân nghĩa sĩ sau này Chính không gian núi rừng rộng lớn là môi trường thuận lợi để người anh hùng vùng vẫy Tính chất anh hùng không cho phép họ tự giam mình trong một không gian chật hẹp, tù đọng Người có chí lớn thì phải làm việc lớn, muốn làm việc lớn thì phải từng trải nhiều Bởi vậy không gian ngày càng giãn nở kích thước theo bước chân nhân vật Cả Cồ trưởng thành từ làng với những lễ hội vật trâu “Hội làng, Cả xung phong ra vật trâu” Rồi đến những làng lân cận đánh nhau vì trai nơi khác dám đến “ghẹo gái phố Phủ” Không gian ngày càng mở rộng “vùng Nhà Sơn núi non rừng rậm Làng khuất nẻo bên suối, hang, cách nhau quả núi dãy đồi''[19, Tr.19] Dường như người anh hùng khó
có thể yên ổn với cuộc sống trong gia đình Cuộc sống bình yên, hạnh phúc đơn sơ trong mỗi mái nhà khó mà phù hợp với con người "tráng chí ngàn phương" Người có hoài bão thì phải có không gian lớn "chí làm trai nam bắc tây đông, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển" (Nguyễn Công Trứ) Thước
đo tầm vóc con người trong thời đại có chiến tranh là sự từng trải, là phẩm chất anh hùng, dũng cảm của người lính Không gian lý tưởng cho các chiến
sĩ anh hùng là ở ngoài tiền tuyến, còn ở hậu phương, không gian lý tưởng của các anh hùng lao động là ở những nơi khó khăn, nguy hiểm Đó là vùng đất hứa cho các thanh niên vừa rời ghế nhà trường vì thế, đại thế hệ thứ ba trong gia tộc họ Nguyễn, Nguyễn Đức Hàm rời bỏ ghế nhà trường để đi theo lý tưởng cách mạng Mặc dù chưa thật sự hiểu rõ về thời cuộc nhưng anh cũng
Trang 23đã cảm nhận được “một cuộc cách mạng sẽ đảo lộn tất cả rồi cũng sẽ xảy ra Anh viết báo, hoạt động xã hội, theo các chiến sĩ lên chiến khu, bám trụ Hà Nội những ngày máu lửa Không gian chiến trận, không gian xã hội rộng lớn giúp tôi luyện ý chí Hàm
Không gian xã hội rộng lớn có khả năng dung chứa toàn bộ cuộc sống
đa dạng của một dân tộc trong những thời khắc đáng nhớ của lịch sử Không gian xã hội hoành tráng trong Cuồng phong dường như đã dung chứa được hiện thực lịch sử trong suốt thế kỷ XX của dân tộc ta, một thế kỷ đầy đau thương mà không kém hào hùng
Khái niệm “hoành tráng” trong không gian sử thi còn là tầm khái quát
sử thi, sự phong phú của hiện thực miêu tả và khả năng tích hợp nhiều loại không gian khác nhau Cuồng phong phản ánh hiện thực phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống: sinh hoạt văn hóa, lao động, chiến đấu; những sự kiện lớn như liên kết toàn dân đánh giặc, cải cách ruộng đất đến những chuyện nhỏ như nấu ăn, gặt lúa, đập thóc Tác phẩm tích hợp nhiều loại không gian khác nhau: làng quê – chiến trường, địa bàn ta - địch, nơi tự do – ngục tù Do tầm khái quát và sự phong phú của hiện thực phản ánh, ta có thể nói không gian trong Cuồng phong có tính chất hoành tráng sử thi đồng thời cũng chứa đựng những yếu tố thế sự, đời tư Thông qua không gian hoành tráng người ta thấy hiện lên chân dung số phận không chỉ một dân tộc, không chỉ một dòng họ mà là chân dung số phận chung của con người
Bên cạnh đó, nhắc đến chất sử thi, người ta nghĩ ngay đến các cuộc chiến tranh dưới nhiều hình thức khác nhau Không gian chiến trường điển hình là nơi diễn ra những trận đánh có quy mô lớn giữa hai đội quân chính quy Các chiến trường Troie, Austerlits, Borodino, Sông Đông đều diễn ra
Trang 24trên đồng bằng rộng lớn, trống trải Quy mô của không gian của chiến trường cũng nói lên tầm quan trọng của trận đánh và mức độ khốc liệt, dữ dội của nó
Trong tiểu thuyết Cuồng phong, xây dựng không gian chiến trận, Nguyễn Phan Hách đã thành công trong việc làm toát lên khí thế chiến đấu rực lửa chống quân xâm lược của quân dân Việt Nam Kịch tính của tác phẩm căng thẳng, dữ dội bởi hai phe đều có thế mạnh riêng của mình Địch có hỏa lực mạnh và sau lưng có sự hậu thuẫn của Pháp, Mỹ Quân ta có thế mạnh là lòng yêu nước quả cảm và tinh thần chiến đấu đoàn kết Nguyễn Phan Hách còn giới thiệu được không gian chiến trận thế giới trong thế chiến thứ hai qua nhìn nhận của Nguyễn Đức Hàm “Chẳng có nhân dân nào muốn chiến tranh Chẳng có người thường dân Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật nào muốn chiến tranh Nhưng các tập “đoàn thống trị” đã đưa đất nước vào chiến tranh Để thống trị thiên hạ Để cướp bóc nhiều của cải Để biến xứ sở khác thành nô lệ cho mình Con sói mạnh ăn hiếp con sói yếu Người là chó sói của người Nhân loại nói lý thuyết thì rất hay nhưng hành động thì theo một quy luật thật đơn giản, bản năng, mạnh diệt yếu! Pháp là quê hương của cộng hòa, tự do, bình đẳng, bắc ái Mỹ là quê hương của tuyên ngôn nhân quyền “tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không ai
có thể chối cãi được, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do, và mưu cầu hạnh phúc” Vậy mà Pháp, Mỹ đem quân đi đánh khắp nơi, thiết lập ách
đô hộ khắp nơi Ai người ta chịu được Người ta phải đấu tranh Thế là có chiến tranh Chiến tranh dai dẳng đời này qua đời khác
Thế giới đã trải qua Đại chiến thứ nhất 1914 – 1918 và bây giờ là Đại chiến thứ hai Đức Hít – Le muốn thâu tóm cả Châu Âu vào tay mình Đã chiếm hết Pháp, Tiệp, Hung, Ba Lan, Belarut , tưởng mình sắp làm bá chủ thế giới đến nơi Nhưng sự đời đâu có dễ thế Hồng quân Liên Xô đã đấu xe
Trang 25tăng ở vòng cung Cuốc đã thắng ở Stalingrat, đã đẩy lùi quân Đức quay cổ chạy dài Đồng minh Mỹ, Anh, Pháp đã đổ bộ Noocmăngđi, đã mở mặt trận phía Tây làm gọng kìm thứ hai Đức vào con đường giẫy chết ở mặt trận phía Đông, quân Nhật đã thua ở Quan Đông, co cụm tuyệt vọng
Hàm sung sướng theo dõi cuộc đại chiến lớn nhất trong lịch sử loài người đã vào chung cục
"Ngày nối ngày, tin Đồng Minh thắng trận đem lại cho Hàm cảm giác tin tưởng vào chính nghĩa trên cõi đời này Lẽ nào bọn điên, bọn ngông cuồng, bọn chà đạp lên chân lý sơ đẳng của loài người lại không bị trừng trị Thượng đế cần lấy lại công bằng cho con người Bọn phát xít gây chiến phải
bị hủy diệt Mutxôlini đã bị treo cổ Hồng quân Liên Xô đã tiến vào Bec-lanh, Hit-le tự sát Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện sau hai quả bom nguyên tử kinh hoàng " [19, Tr.94-95]
Chiến trường trong Cuồng phong được miêu tả sinh động trên nhiều phương diện và có thể cảm nhận không khí của nó qua cái nhìn của các nhân vật Không gian chiến trường không chỉ rộng lớn mà còn hết sức dữ dội ở cả hai miền Nam – Bắc “Ngày 19 tháng 8 ngày khởi nghĩa chính thức của Hà Nội” “Những chiến sĩ Việt Minh, lực lượng ngầm, bí mật trà trộn, bảo vệ cuộc cướp diễn dàn của cuộc mít tinh” Hình ảnh những người chiến sĩ từ chiến trường Việt Bắc sau 9 năm toàn quốc kháng chiến nay về tiếp quản thủ
đô, “Bước chân bộ đội rầm rập ca khúc khải hoàn” Ở Hà Nội, Việt Bắc, không gian chiến trường chỉ được Nguyễn Phan Hách điểm qua thì ngược lại
ở Sài Gòn và các phòng tuyến lân cận lại được miêu tả cụ thể Tổng tiến công Mậu Thân 1968 chính là mũi dao thọc vào tim địch “Vũ Hùng nhớ lại những ngày ấy Đại bản doanh của ông đóng trong một khu rừng cách Sài Gòn không xa” Từ những trận đánh nhỏ ở những vùng, những khu vực để rồi thừa
Trang 26thắng xông lên giải phóng hoàn toàn đất nước năm 1975 Lịch sử đau thương với những cuộc chiến tranh đẫm máu đã khép lại, dân tộc Việt Nam bước sang một trang mới – giải phóng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn lãnh thổ
Không gian hoành tráng, dữ dội của chiến trường qua cái nhìn của Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Viết Thiều: “Bánh xích xe tăng của Đức Trung lăn bắn tung những vũng máu trên nẻo đường Xuân Lộc, như đi trên vũng lầy trời mưa Bánh xích xe tăng quay hết “tốc độ của lịch sử” Đức Trung ngắm nhìn cảnh tan hoang của phòng tuyến Xuân Lộc Không ngờ đời anh lại được chứng kiến những giây phút này”[19, Tr.411] Về phía Thiều
“đã bao nhiêu ngày nay, thần kinh anh căng ra như dây đàn Làm sao tìm kiếm lấy một phút giây thư dãn, để ngày mai bước vào cuộc sống mái quyết định Sau cả tháng trời tai chật cứng bom đạn” [19, Tr.339] Cái chết lúc nào cũng cận kề, đã khiến tình bạn giữa Trung và Thiều ngày càng trở nên thân thiết, họ kết nghĩa anh em để nếu một trong hai người hy sinh, người kia
sẽ làm nhiệm vụ chăm sóc người thân của họ
Không gian chiến trường không chỉ được nhìn nhận qua cái nhìn của quân ta – người phía bên này trận tuyến (Hàm, Hùng, Trung, Thiều .) mà còn được nhìn nhận qua cái nhìn của quân địch – người phía bên kia trận tuyến (Đức Vĩnh, Vũ San, Lữ )
Từ Bắc trốn vào Sài Gòn, Đức Vĩnh được Nhà nước Việt Nam cộng hòa đưa lên làm Phó Tỉnh trưởng Phan Rang Khi trận tuyến Xuân Lộc nổ ra, Đức Vĩnh được lệnh cấp trên ở lại cố thủ tại đó “Ruột gan Đức Vĩnh như lửa đốt Bộ máy hành chính mà Vĩnh cầm đầu nơi đây, đã tan rã Mặt trận chưa
vỡ Chưa có lệnh “tùy nghi di tản” nơi đây, nên chưa ai được đi lính canh chặn đường Tổng thống kêu gọi tử thủ chặn đứng Việt Cộng Đức Vĩnh
Trang 27chui xuống tầng hầm bê tông kiên cố dưới lòng đất tòa Tỉnh trưởng, ngủ gà, ngủ gật Đức Vĩnh giật thót khi tiếng nổ chát chúa gần ngay đâu đây Đại bác, Đại bác của Việt cộng dữ dội quá Vĩnh run lên cầm cập Trận đánh đã
mở màn Tiếng đại bác làm đất rơi tơi tả trên đầu Tiếng súng của hai bên giao chiến xé rách bầu trời Thân phận con người như con kiến, con gián lúc này Đức Vĩnh chúi đầu trong hầm như lạc đà chúi đầu trong sa mạc Hai ngón tay ấn vào lỗ tai để khỏi phải nghe những âm thanh chấn động thần kinh Tiếng đại bác làm Đức Vĩnh tê liệt, thất thần Chưa bao giờ cái chết gần kề đến như thế Tử thần đã giơ lưỡi hái quờ vào gáy” [19, Tr.391-393] Vũ San
là người có tâm hồn nghệ sĩ, mong muốn trở thành họa sĩ nhưng cuộc đời đưa đẩy đã đưa anh đến với nghiệp nhà binh Anh không thích làm lính thậm chí San “rất sợ Nhưng số phận lại bắt anh phải làm công việc này Là đồn trưởng, nhưng anh toàn “duôn” công việc đánh đấm cho bọn Tây, bọn cấp phó Anh cho bắn đại bác cầm canh, thay tiếng trống “thu không” ngày xưa
Có tiếng đại bác, anh thấy yên tâm” [19, Tr.157] Chiến tranh ác liệt vào giai đoạn cuối “Buôn Mê Thuột thất thủ Huế, Đà Nẵng thất thủ Dòng người chạy trốn đòn tấn công của Việt Cộng đang dồn xuống Nam Trung Bộ Lữ thấy hoang mang Chưa bao giờ “quân lực Việt Nam cộng hòa” lại rút chạy như nước lũ thế này Hơn mười năm làm phi công chiến đấu, Lữ đem bom đi mây
về gió, yểm trợ cho bộ binh trong các chiến dịch giằng cò được mất từng thước đất không chịu thua Huế Mậu Thân 1968, phi đội của lữ góp phần đánh bật Việt Cộng ra khỏi thành phố ở một số địa điểm Quảng Trị “mùa hè
đỏ lửa” 1972, phi đội Lữ phối hợp cùng các phi đội Hoa Kỳ trút bom lên đầu Việt Cộng trong thành cổ Nhưng lần này, Lữ không còn tin nữa Làm sao quân Việt Bắc dồn quân “Việt Nam Cộng Hòa” chạy như vịt về chuồng thế kia được Thế cờ đã đến hồi nước rút nguy kịch nhất Kết cục rồi sẽ sao đây nếu quân Bắc Việt dồn quân Cộng hòa về đến tận cái rốn Sài Gòn” [19,
Trang 28Tr.378-379] Điều Lữ nghĩ và đánh giá về Việt Cộng không sai Mùa xuân
1975, quân cách mạng với “lưới lửa cao xạ thiên la địa võng của đoàn quân đang tràn như vũ bão xuống phương Nam Thế chẻ tre” quân Cộng hòa thì chỉ còn những trận “oanh kích chặn lấy lệ của không lực” được ví như “gãi ghẻ” Chả ăn nhằm gì Những dòng người di tản theo Mỹ được ví như “một dòng sông khổng lồ đang chảy ra biển” để được đưa sang Mỹ “Mấy khi trong lịch
sử chiến tranh nhân loại lại có cảnh tháo chạy điển hình như thế này” [19, Tr.380] Quân địch không hiểu “làm sao mà Việt cộng có được thế trận kì diệu” để mà có được thắng lợi toàn diện như vậy
Chiến trường Miền Nam thời chống Mỹ được Nguyễn Phan Hách miêu
tả với đầy đủ sự khốc liệt “tiếng đại bác từng hồi cấp tập, vò nhàu trời đất, xé rách từng mảng mây, làm rạn nứt từng thớ đất tiếng các cỡ súng đạn dệt như mắt lưới, khói súng như “sương mù Luân Đôn che lấp trời đất Lửa nóng hầm hập bủa vây Mùi khét xộc cháy mũi Cuộc đọ sức diễn ra trên các ngả đường, góc phố, nẻo rừng Những luồng đạn bay xèo xèo, veo véo qua tai” “Hình ảnh những chiếc xe tăng bao giờ cũng là biểu tượng của cuộc
“tiến vào giải phóng” “Đoàn xe tăng đang đi vào “bài ca thế kỷ” Nó lăn bánh suốt cuộc trường chinh và bây giờ là những bước cuối cùng Lịch sử đất nước đã khép lại chương cũ, bắt đầu sang chương mới” [19, Tr.402-403] Chiếc xe tăng lịch sử đã húc tung cánh cổng đồ sộ của Dinh Độc lập, tổng thống quốc gia thua trận phải tuyên bố đầu hàng trước quốc gia dân tộc “Trời đất phương Nam tạnh cơn cuồng phong lửa đạn từ đây”
Tuy nhiên, thật thiếu sót nếu như ta chỉ thấy được không gian hoành tráng dữ dội ở chiến trường Nam – Bắc mà chưa thấy được sự hoành tráng và cũng không kém phần dữ dội của những trận đánh diễn ra ở trong mỗi xóm làng, khu phố Đây là loại không gian phức hợp, dung hợp cả hai phe đối lập
Trang 29nhau, chung sống với nhau nhưng khi cần thiết có thể giết nhau Ranh giới hai phe có thể chia theo nhiều cách: ban ngày "quốc gia" – ban đêm "cộng sản", trên mặt đất "quốc gia" – dưới lòng đất "cộng sản", hoạt động công khai
"quốc gia" – bí mật "cộng sản" Những loại chiến trường tiềm ẩn này vẫn phổ biến nhất là ở nông thôn Đây là chiến trường rất khó xác định ranh giới mỗi phe Nhiều ngôi nhà dung chứa cả hai phe Mỗi một làng xã đều tồn tại song song hai chế độ, với đủ các thể chế từ trung ương đến địa phương “Việt Minh thỏa thuận ngầm với “ngụy hương dũng” thành lập ở các làng “thể chế
ấm ớ hội tề” Lực lượng hai bên ngang nhau, chưa bên nào át được bên nào Dân tình đêm sống với Việt Minh, ngày sống với lính ngụy” Khi quân Việt Minh mạnh lên, đã liên tiếp đánh đồn, tiêu diệt ngụy, các trận đánh thường diễn ra vào đêm tối trời Toán quân “ma” của Vũ Hùng bổ vây dồn, gọi loa kêu gọi đầu hàng, không đầu hàng sẽ bị tiêu diệt “lính ngụy như ong vỡ tổ trong đình, máu người chết đã chảy lênh láng trên thềm đá xanh” Ở làng xã với sự chỉ huy tài tình của những người như Vũ Hùng đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung vẻ vang của đất nước Không gian phức tạp rất thích hợp
để triển khai kịch tính cho tác phẩm, trong tiểu thuyết Cuồng phong đường ranh giới các phe rất nhập nhằng, bởi vậy nó tạo ra nhiều tình huống bất ngờ, tăng thêm sự hấp dẫn của tác phẩm
Hình ảnh 60 ngày đêm bom đạn ác liệt để bảo vệ Hà Nội năm 1947 Hàm đã ghi lại được tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta Hà Nội những ngày này tập trung giao tranh ở liên khu I (Hoàn Kiếm) Hàm đã thấy hàng ngàn tự vệ, vốn là những người dân chưa biết súng đạn là gì, bây giờ tình nguyện chiến đấu trong tình thế hiểm nguy, cái chết cận kề Công nhân, dân nghèo, tư thương, học sinh, sinh viên, chị bán hàng hoa bây giờ tự nhiên sát cánh bên nhau thành đội ngũ “Chiến tranh khốc liệt, địch tấn công bằng máy bay, chúng bắn dữ dội, vòng vây địch thắt chặt, giao tranh ác liệt”
Trang 30Quân Pháp đã chiếm được Hà Nội và tính đánh ra những vùng phụ cận để mở rộng địa bàn Nhưng sự thắng lợi của Pháp chỉ là tạm thời bởi tinh thần yêu nước, lòng quả cảm, cùng sự mưu trí của quân dân ta đã và đang từng giờ, từng phút đòi lại quyền tự chủ cho mình
2.2.2 Không gian bi kịch
Cuồng phong hấp dẫn bởi không gian nghệ thuật của nó không chỉ là không gian hoành tráng dữ dội mang màu sắc sử thi mà còn bởi trong cái cuồng bạo của cơn gió tàn khốc chiến tranh người ta còn thấy chất chứa bao nỗi niềm bi phẫn cho thân phận con người Theo quan điểm của chúng tôi, chính số phận bi kịch của con người đã khiến người đọc có cảm nhận về một không gian bi kịch trong tác phẩm
Trước hết là bi kịch của Cả Cồ, người anh hùng nông dân, người khởi nguồn của dòng họ Nguyễn ở Cuồng phong Cả Cồ đã tế cờ khởi nghĩa tự xưng là “Đại thống tướng” làm vua một vùng Nhã Sơn và xung quanh Cả Cồ thề diệt hết quân Pháp lang sa, quân Nam triều Cờ hai mầu đỏ và xanh Đỏ là máu, xanh là mầu trời tự do Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa cũng chỉ tồn tại được hơn mười năm, do ngủ quên trên chiến thắng, do tướng lĩnh chỉ lo làm giàu thành chúa đất Đáng chú ý ở đây, người dẫn đường cho quân Pháp vào hang
Cả Cồ trú ấn không phải ai khác mà chính là ông Đồ Ngạn – cha của người con gái mà Cả Cồ cưỡng bức dưới suối năm nào “Cả Cồ bừng lên ý tưởng: Đời báo oán Đời quả báo Ta cưỡng hiếp con gái ông ta và bây giờ ông ta dẫn cái chết đến cho mình” [19, Tr.37] Đầu Cả Cồ và các tướng lãnh bị chặt, cắm cọc bêu giữa chợ chính vùng Nhã Sơn suốt mấy tháng Quạ, diều hâu bay lượn, khoét mắt rỉa thịt chí chóe inh ỏi một vùng Cả Cồ trong Cuồng phong
có cái uy dũng của những người anh hùng nông dân khởi nghĩa trong lịch sử dân tộc đầu thế kỷ XX (Hoàng Hoa Thám, Trương Định, Nguyễn Trung
Trang 31Trực) nhưng lại phạm phải sai lầm khủng khiếp trong cuộc sống Vừa là người sống chết vì nghĩa lớn, vừa là kẻ tiểu nhân hèn hạ, vừa cao cả - vừa tầm thường, Cả Cồ trong Cuồng phong, vì thế, chỉ có thể là người anh hùng được xây dựng bởi nhà văn Nguyễn Phan Hách của thế kỷ XXI
Nguyễn Đức Nguyên, người đại diện cho thế hệ thứ hai của dòng họ Nguyễn và các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX Ông huyện Nguyễn Đức Nguyên bỏ tâm huyết của mình mong muốn thay đổi xã hội, canh tân đất nước Ông cho mở cửa hàng treo biển “tân thành quốc thương” quảng bá cách thức buôn bán, để nhiều người cùng biết nghề này, cùng làm giầu” Ông mở trường “Tân thành học hiệu” dạy cho người học biết văn minh phương Tây, dạy viết chữ quốc ngữ “Ông Nghè Nguyên “ngông nghênh”, “dở người” tưởng chỉ làm toàn những chuyện vô hại, ấy vậy mà một hôm, mọi người kinh hoàng nhìn xe của “Nhà nước Đại Pháp” về thẳng huyện đường Thuận An, ông Nghè Nguyên đeo thẻ ngà, đang ngồi xử án trên công đường, bị bọn Tây lôi cổ xuống, trói gô bắt đem đi” [19, Tr.51] Ông Nghè Nguyên bị bắt đi tù bởi ông đã dám “tìm cách thức tỉnh dân chúng nhận ra những cái bất cập của
tư tưởng nho giáo, tìm đến một ý thức hệ mới lấy việc canh tân đất nước mở mang dân trí làm cơ sở tiến giới giành nền độc lập cho đất nước" [19, Tr.53] Thời kì đầu thế kỷ XX, những trí thức yêu nước như Nghè Nguyên là tấm gương cho nhiều người noi theo Hình ảnh Nghè Nguyên trong tác phẩm gợi nhớ tới những sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ: cụ Trần Quý Cáp, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng … những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử đấu tranh chống Pháp của dân tộc Các phong trào “Duy Tân”, “Đông kinh nghĩa thục” đều bị giải tán Cái chết của Nguyễn Đức Nguyên được miêu tả lại hết sức đau thương: bị tù đầy ở Côn Đảo, ông và một số người đã tìm đường vượt ngục bằng thuyền; thuyền nhỏ, quá tải vì nhiều người chen chúc, đoàn vượt ngục quyết định phải có một số người hy
Trang 32sinh, nhảy xuống biển, cho thuyền nhẹ bớt Ông Nghè là người đầu tiên tình nguyện chết Mấy người khác noi gương ông cùng nhẩy xuống giữa lúc sóng đang gào thét Nhưng giữa lúc ấy, “bản năng tự nhiên của sinh vật sống chỉ huy, ông và mọi người đã đưa tay bíu lấy mạn thuyền mái chèo Trên thuyền
có một tên bất nhân bị đi đầy vì tội giết người, lúc đó bộc lộ thú tính, hắn dùng mái chèo đập vào đầu các sĩ phu, lấy dao rựa chặt đứt những ngón tay của người chết đuối .” [19, Tr.60-61] Biển đã trở thành nấm mồ lớn chôn ông và các sĩ phu
Cái bi còn được thể hiện ở sự hy sinh vô bờ bến của các chiến sĩ cách mạng Tác phẩm đã lặp lại nhiều lần cảnh chết chóc dưới nhiều góc độ khác nhau Từ số lượng người chết, tư thế chết đều được miêu tả không tránh né:
“Xác người chết như ngả rạ Máu chảy lênh láng dưới ánh hỏa châu” Cái chết bởi bom đạn là cái chết “tan xương nát thịt” mà bất cứ người chiến sĩ nào cũng có thể gặp phải khi hành quân, chiến đấu Hình ảnh những đồng đội
“ngã gục trước mắt, máu tuôn như suối” "Phẩm chất cao quý nhất của người lính là dũng cảm Họ dám chết Họ đã chết Xác phơi đầy các ngả đường Xuân Lộc” Có những chiến sĩ hy sinh khi mà thắng lợi đã ngay ở trước mặt, cuộc đi 20 năm đã đến đích “như chiến sĩ trên chiếc xe tăng biệt danh sao đỏ”
Chính không gian chiến trường nguy hiểm và khắc nghiệt có chức năng thử thách con người Nhờ đó mà biết được ai dũng cảm – yếu hèn, ai trung thành, phản bội Nó là thước đo phẩm chất anh hùng cách mạng, là môi trường rèn luyện sức chịu đựng gian khổ, lòng dũng cảm và tinh thần đoàn kết của các chiến sĩ Đồng thời không gian chiến trường còn là nơi giải quyết những bi kịch xã hội và cá nhân
Trang 33Không gian bi kịch còn được nhìn ở “những khoảnh khắc tiềm tàng ánh sáng của những thân phận Những u uẩn của thời kì cải cách ruộng đất Số phận những người bên kia chiến tuyến
Bi kịch với Vũ San: không muốn đi lính đánh nhau chỉ thích làm họa sĩ, nhưng cuộc đời xô đẩy đã đưa San vào con đường binh nghiệp, bị bắt, đi tù, trốn trại vào Sài Gòn sinh sống Thời gian hạnh phúc cũng không nhiều, bởi
vợ anh - Hạ Trang đã theo tình nhân người Mỹ về nước bỏ lại gia đình, con cái
Bà Nghè Nguyên thì cả đời luôn hiền lành, sống tốt với mọi người thế
mà “ngọn gió cải cách ruộng đất” đã biến vùng Thuận An thành một thế giới khác Đúng như người ta vẫn nói “cuộc đời chả ở đâu có toàn hoa tươi, mật ngọt Có hoa thì có gai, có mật ngọt thì có mật đắng” Bà Nghè bị đem ra đấu
tố vì tội “quá giầu”, nhà vài chục mẫu ruộng, thóc lúa đầy nhà, tòa ngang dãy dọc Bà Nghè bị tịch thu hết ruộng, thóc lúa đầy nhà, tòa ngang dãy dọc Bà Nghè bị tịch thu hết ruộng đất, thóc lúa, nhà cửa chia cho bà con bần cố Ngoài ra còn bị quản chế không được ra khỏi Bút Nam Bà Nghè có công rất lớn trong việc ủng hộ cách mạng, cung cấp lương thực cho đội quân “Tam thiên Mẫu” của Hùng, có chồng chết vì nghĩa lớn, con làm cách mạng, vậy
mà đến cuối đời bà lại bị sự ấu trĩ sai sót của cải cách vùi dập Sau này cách mạng đã chính thức công nhận sự ấu trĩ, quá tả dẫn đến sai sót trong cải cách ruộng đất Vì thế mà có cuộc vận động sửa sai Bà Nghè và Lan Viên trong thời gian tịch thu của cải ruộng đất đã bị đối xử tàn tệ, bị coi giống như một con vật “cho ở chuồng bò”, bị mọi người xa lánh, những kẻ đầu đường xó chợ cũng ra mặt áp bức
Cách mạng sôi sục khí thế hôm nào, ngày thắng lợi bước vào xây dựng tái thiết đất nước, những cuộc cải cách đã làm cho không gian làng quê vốn
Trang 34ưa thanh bình đã trở nên xáo trộn “mọi sự đảo ngược lại, đầu xuống đất, chân chổng lên trời”
Làng xã tiêu điều xơ xác, cuộc cải cách đã làm tổn thương một bộ phận đội ngũ làm nên cách mạng và kháng chiến ở các cấp từ cơ sở đến trung ương “Nhiều địa chủ bị sỉ nhục thắt cổ tự tử chết lắm Cả xã quay cuồng trong các vụ án oan trái Người bị bắn như ngả rạ, làm không khí cuộc sống căng lên như trong lò lửa Con người như con kiến bò trong chảo gang, cuống cuồng, tuyệt vọng, điên loạn Ai cũng sợ xanh mắt, sợ đến mất trí Tất cả răm rắp theo tiếng ho của Đội, của bần cố cốt cán” Bi kịch ở làng quê thời cải cách là sự lầm đường lạc lối của một bộ phận lãnh đạo cách mạng bấy giờ Người dân vẫn luôn “tin vào sự sáng suốt của lãnh đạo tối cao Nhất định sẽ
có sự điều chỉnh”
Khung cảnh chiến tranh được miêu tả thật buồn bã “sương chiều hoàng hôn bảng lảng trong rừng cao su Bầu trời chòng chành Tán rừng chao nghiêng Một tiếng lá rơi lơ lửng” Đó là cảnh vật Viết Thiều cảm nhận thấy trên đường cùng đồng đội băng rừng, vượt núi tiến vào giải phóng Sài Gòn Tuy nhiên bức tranh phong cảnh buồn này không trưng bầy quá lâu mà nó mau chóng được tác giả đưa vào đó âm thanh sự sống “một tiếng chim hót Tiếng chim hót là lạ” Chỉ một “tiếng chim nhỏ nhoi, mà dám đối lập với cả bầu trời lửa sắt gào thét Thiều mỉm cười”
Cùng viết về chiến tranh lửa đạn, về số phận con người trong chiến tranh, có thể nói, với không gian hoành tráng dữ dội mà đầy bi kịch, Cuồng phong đã nối tiếp mạch nguồn từ: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Tướng
về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), … để người đọc hôm nay phải nghĩ suy ngậm ngùi về cuộc chiến đã qua
Trang 35CHƯƠNG 3 NHÂN VẬT, NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU 3.1 Hình tượng nhân vật
Nghiên cứu nhân vật chính là nghiên cứu cách nhà văn nhìn nhận, cắt nghĩa về con người như thế nào và bằng cách nào trong văn chương của mình Bởi lẽ nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định
Nhân vật chính là đứa con tinh thần của nhà văn, là máu thịt của nhà văn để thể hiện quan điểm thẩm mĩ và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về cuộc đời và con người Nhân vật văn học không hoàn toàn giống như con người thật ngoài đời vì chúng có những đặc trưng nghệ thuật và được thể hiện trong tác phẩm bằng các phương tiện văn học thông qua quan niệm và biện pháp nghệ thuật của nhà văn, nhưng không vì thế mà chúng kém phần chân thật
Đã là tác phẩm văn học thì không thể thiếu nhân vật văn học
Như vậy, nhân vật văn học là hình thức cơ bản để qua đó nhà văn miêu
tả đời sống một cách hình tượng Bản chất của văn học là có quan hệ mật thiết với đời sống, nó chỉ tái hiện đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò tấm gương phản chiếu cuộc sống Tác phẩm văn học nào cũng là một hệ thống chỉnh thể của những hệ thống nhỏ hơn Các nhân vật trong các tác phẩm cũng thực sự tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, chúng liên quan với nhau, móc nối với nhau không chỉ bằng tiến trình các sự kiện miêu tả, mà suy cho cùng còn bằng lôgic của nội dung nghệ thuật của nhà văn Hệ thống nhân vật đem lại cho hệ thống nghệ thuật của tác phẩm một sự thống nhất, đồng
Trang 36thời quan hệ giữa các nhân vật trong mỗi hệ thống ít hay nhiều đều phản ánh mối quan hệ xã hội hiện thực của con người
Hệ thống nhân vật trong tác phẩm là kết quả của sự sáng tạo con người của nhà văn Hệ thống nhân vật là thước đo tầm vóc nhà văn Nhân vật biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định và các đặc điểm mà nhà văn lựa chọn
Đọc Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách người ta nhận thấy rõ nét sự tồn tại của hai kiểu nhân vật: nhân vật "anh hùng" (nhân vật tiêu biểu thời chiến trận mang hình ảnh, tính cách của những người anh hùng) và kiểu nhân vật của cuộc sống bình thường với bao nhiêu trăn trở, suy tư, dằn vặt gắn với cuộc sống thời hậu chiến (nhân vật "đời tư")
3.1.1 Kiểu nhân vật "anh hùng"
Hiện thực xã hội Việt Nam thế kỷ XX là một hiện thực dữ dội với những trang sử bi thương và hào hùng đã trở thành “nguyên liệu” chính để Nguyễn Phan Hách sáng tác nên Cuồng phong Như đúng tên gọi của nó Cuồng phong là một “biên niên sử” về hiện thực xã hội Việt Nam suốt một thế kỷ đã qua với những biến thiên, bão táp được kể lại qua số phận một gia tộc bốn thế hệ điển hình, như tấm gương nhỏ phản ánh hiện thực xã hội
Do câu chuyện trải dài suốt chiều dài lịch sử nên mối quan hệ giữa nhân vật với lịch sử dân tộc được đặc biệt chú ý trong giai đoạn cách mạng Nguyễn Phan Hách viết Cuồng phong khi chiến tranh đã chấm dứt khá lâu nhưng tác phẩm của ông vẫn xây dựng kiểu nhân vật anh hùng theo mô hình con người quần chúng, con người của cộng đồng dân tộc mang tính sử thi Vận mệnh dân tộc, đất nước là điều quan trọng với mỗi cá nhân nhỏ bé nên mỗi nhân vật trong tiểu thuyết Cuồng phong đều lựa chọn con đường đi cho
Trang 37mình trong mối liên hệ với cộng đồng, với dân tộc Cuồng phong là câu chuyện một gia tộc bốn thế hệ: thế hệ thứ nhất, cụ Cả Cồ - người nông dân với lòng yêu nước bản năng, chống cường quyền đã khởi nghĩa chống phong kiến, thực dân Pháp Thế hệ thứ hai, ông Nghè Nguyễn Đức Nguyên thoát ly giáo lý Khổng Mạnh ngàn đời, khao khát duy tân xây dựng đất nước độc lập Thế hệ thứ ba có sự phân chia trận tuyến, một bên vẫn bám vào ngoại bang tiếp tục quyền lợi thống trị của mình (người anh cả Đức Vĩnh) và một bên là chiến sĩ cách mạng đấu tranh để dành độc lập thống nhất đất nước (người em Đức Hàm, Vũ Hùng) Thế hệ thứ tư (Lữ, Đức Trung, Viết Thiều) cùng tiếp nối trong dòng chảy lịch sử, ngày thắng lợi họ bước vào cuộc sống thường nhật với nhưng khát vọng đời thường của kỷ nguyên độc lập
Cả Cồ – hình ảnh người anh hùng nông dân nghĩa sĩ, mang dáng dấp của người anh hùng sử thi cổ đại Cồ ra đời đã khác những đứa trẻ khác về kích thước hình dáng “thằng bé ra đời, quá lớn, gấp đôi đứa trẻ bình thường” Lớn lên mang sức vóc khác thường “giọng nói Cả ồm ồm Cánh tay Cả rắn chắc cầm gốc tre có thể nhổ bật rễ”, “dao quắm dắt lưng, cung tên trên vai, tấm thân trần lừng lững đẫm ánh nắng, trông Cả y như tượng đá tạc” [19, Tr.13] Cả lại thích tập võ Với sức mạnh đánh được cả hổ và tính khí “bất thường” Thế nhưng sâu trong cá tính ấy là một tinh thần nghĩa hiệp, chống lại cường hào, áp bức, cướp giật Mặt khác, bộ máy chính quyền phong kiến ngày càng mục nát, đàn áp nhân dân, làm tay sai cho quân Pháp lang sa Cả
Cồ đã “tế cờ khởi nghĩa” tự xưng là “Đại thống tướng” làm vua một vùng Nhã Sơn và xung quanh Phủ Nhã Sơn bị san bằng, tri phủ bị giết, quân của
Cả Cồ cướp của nhà giầu chia cho nhà nghèo Cả Cồ thề giết hết quân Pháp lang sa, quân Nam triều Dưới sự chỉ huy của Cồ, các thống tướng đào hào đắp lũy, rào làng, chế tạo súng hỏa mai, rèn dáo mác, làm cung tên cắm chông, đặt bẫy Vùng núi rừng hiểm trở Nhã Sơn thành căn cứ nghĩa binh
Trang 38Đại bản doanh của Cả Cồ vững trãi như thạch bàn Tài chỉ huy của Cả Cồ được đánh giá là tài tình, quân Pháp, quân Nam triều nhiều lần đánh vào căn
cứ nhưng đều bị quân Cả Cồ “chặt từng khúc” quân Pháp ra mà đánh Cả Cồ vận dụng chiến thuật “nhử quân địch vào sâu, rồi khóa đuôi, đánh ập hai đầu” Khiến quân Pháp rút mà không được “Quan Pháp, Quan Nam triều không thể làm gì được đội quân xuất quỷ nhập thần ấy” nên đã phải xuống nước, cho người đi nghị hòa Lúc này “Cả đã thật sự là một lãnh tụ nghĩa quân có tầm vóc lớn Sự nghiệp mang dáng dấp ban đầu của bậc “khởi nghĩa đế vương” (ông Đồ Ngạn đã từng đánh giá Cả Cồ như vậy) Nhưng cuộc đời đâu có
“xuôi chèo mát mái” mãi Sau hơn 10 năm nghị hòa, tướng lĩnh quân Cả Cồ ngủ quên trên chiến thắng, chỉ lo vơ nét của cải cho bản thân, không lo xây dựng quân đội Lợi dụng tình thế đó quân Pháp và quân Nam triều đã giáng đòn làm nghĩa quân tan vỡ, trở tay không kịp Quân Cả Cồ thất bại, Cả Cồ tự bắn vào đầu," đầu Cả Cồ và các tướng lĩnh bị chặt, cắm cọc bêu giữa chợ chính vùng Nhã Sơn suốt mấy tháng” Trên đời không có gì toàn bích, hình ảnh người anh hùng tướng mạo hơn người, tài năng mà cái chết thật bi thương Âu cũng là do “đời báo oán”, cha cô gái đã dẫn đường cho Pháp tiêu diệt đội quân đã bắt đầu rệu rã của Cả Cồ, bởi Cả do không thoát khỏi thói thường, không thắng nổi dục vọng, Cả đã cưỡng hiếp một cô gái ngay tại suối khi đi vào rừng
Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là cuộc cách mạng của toàn dân tộc, song trong sự nghiệp chung của quần chúng nhân dân ấy vẫn cần phải có những ngọn cờ tiên phong, những người lãnh đạo thực sự đủ bản lĩnh, tài năng Nguyễn Đức Nguyên “đứa con bất ngờ và bí mật” của Cả Cồ, là người thông minh đi thi đỗ tiến sĩ, làm quan nhưng lại có tư tưởng tiến bộ, tìm mọi cách để thức tỉnh nhân dân nhận ra những cái bất cập của tư tưởng Nho giáo, tìm đến một ý thức hệ mới lấy việc canh tân đất nước, mở mang dân trí làm
Trang 39cơ sở tiến tới giành độc lập cho đất nước Ông Nghè muốn lấy chính mình làm gương để thức tỉnh các bậc sĩ phu, những người yêu nước đứng dậy chống lại bất công, hủ tục ngàn đời “trọng nông ức thương” cùng những chính sách “ngu dân” mà Pháp đặt ra nhằm cai trị dân ta Ông Nghè Nguyễn Đức Nguyên thoát ly giáo lý Khổng Mạnh ngàn đời, khao khát duy tân, nhưng thời cuộc chưa chín muồi nên ông và các sĩ phu yêu nước khác đều bị thất bại
Thế hệ thứ ba có sự phân chia trận tuyến Một bên vẫn bám vào ngoại bang, tiếp tục quyền lợi thống trị của mình (người anh cả Đức Vĩnh); và một bên là chiến sĩ cách mạng, kháng chiến để giành độc lập, thống nhất đất nước (người em Đức Hàm, Vũ Hùng)
Nguyễn Phan Hách xây dựng hình ảnh người chiến sĩ cách mạng với đầy đủ phẩm chất đáng quý, ý thức tập thể và lòng nhiệt tình cách mạng
Đức Hàm, Vũ Hùng, có lẽ là kiểu nhân vật anh hùng được yêu thích trong thời kì cách mạng Vũ Hùng không chỉ có ngoại hình đẹp, khí chất thông minh mà còn là người yêu lao động, lao động giỏi, chiến đấu thì gan dạ, dũng cảm Đức Hàm nổi bật trong phong trào chống Pháp từ khi còn là sinh viên, được đánh giá là học giỏi và có thể tốt nghiệp ra được bổ nhiệm làm quan như Đức Vĩnh Nhưng anh không chọn theo con đường Đức Vĩnh đã chọn để hưởng bổng lộc và an thân Hàm đã tình nguyện theo kháng chiến, lăn xả vào cuộc chiến cùng những chiến sĩ cảm tử ở những thời khắc quyết định vận mệnh dân tộc Đức Hàm là người luôn đặt lợi ích tập thể lên trên, gắn bó mật thiết với quần chúng Hàm ý thức được theo cách mạng “từ đây anh chỉ có quay theo vòng xoáy cơn lốc, theo cuộc chuyển vận vĩ đại, mà không thể chùn bước, tách ra được nữa Anh đã thành thành viên chính thức của cuộc cách mạng Việt Nam” [19, Tr.109] Và Hàm cũng nhận thức được vai trò của cá nhân mình trong cuộc cách mạng “Hàm biết vai trò của cá nhân
Trang 40mình là quá nhỏ bé trong cuộc công cán lần này Nhưng Hàm sung sướng thấy mình được làm cái việc phù hợp với lý tưởng của mình Hàm luôn đi sâu quan sát cuộc chiến, thậm chí anh còn chủ động sát cánh cùng mọi người chiến đấu quyết giữ Hà Nội năm 1946 Và chính sự có mặt của Hàm đã “làm phấn chấn các chiến sĩ Họ quây lấy anh Hàm hỏi chuyện họ và ghi chép” [19, Tr.131] Năm 1954, Hàm từ chiến khu trở về Hà Nội, sau 9 năm sát cánh chiến đấu cùng đồng đội, giây phút trở về gặp gỡ người thân thật xúc động, thiêng liêng Cơn Cuồng phong của lịch sử không trừ một ai “dẫu đã lường trước được những khủng khiếp và sự lạ lùng “đầu xuống đất chân lên trời”,
“trắng thành đen” của cải cách, nhưng Hàm không thể tưởng tượng được sự khốc liệt lại đến tột độ như thế Các chiến sĩ, các thủ trưởng cao cấp góp phần làm nên sự nghiệp cách mạng hôm nay cũng ngơ ngác không ngờ tình hình lại quái đản như vậy” Có những việc tưởng như không tưởng, nhưng trong cải cách đã xảy ra: con từ bố mẹ, vợ bỏ chồng, chồng bỏ vợ Hàm tuyên bố “từ nay cắt đứt với đại địa chỉ Vũ Thị Ngần không còn quan hệ mẹ con không liên quan gì ” Thật chua xót, sai lầm của lịch sử đã tạo ra những vết thương khó lành trong mỗi con người Từ đó vai trò của Hàm đã có sự thay đổi: từ người anh hùng trên mặt trận ngoại giao nay chuyển sang mặt trận sản xuất, từ chức vụ phó giám đốc cơ quan “Thông tấn xã Việt Nam” để sang Ban nông nghiệp trung ương Công việc mới, không phù hợp với chuyên môn nhưng vòng xoáy xã hội đã khiến anh trở thành nhân vật quan trọng trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp Dù ở trên mặt trận nào, Đức Hàm cũng luôn cố gắng để trở thành hình mẫu lý tưởng, không ngại gian khó, sẵn sàng
hy sinh lợi ích cá nhân vì tập thể Trên mỗi lĩnh vực đều có sự in dấu những đóng góp của anh
Vũ Hùng thì khác, xuất thân nghèo khó, được ông Nghè Nguyên thương tình nhận nuôi, được học hành coi như con cháu trong nhà Lớn lên