1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ký Vũ Bằng về văn hoá ẩm thực (Qua Món ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai)

142 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu điểm qua những nét chính về cuộc đời của Vũ Bằng ta có thể thấy cuộc đời ông là một trong những trường hợp đặc biệt của các nhà văn Việt Nam hiện đại.. Vì thế, như một nhu cầu tự th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ MINH HOA

KÝ VŨ BẰNG VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC

(Qua Món ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai)

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số : 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đăng Điệp

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp, người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn trong suốt thời gian qua

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Tổ Lý luận văn học, Phòng Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Xin cảm ơn thầy cô, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, tháng 6 năm 2012

Học viên

Nguyễn Thị Minh Hoa

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung tôi trình bày trong luận văn là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi

Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tìm hiểu, tham khảo thành quả khoa học của các tác giả khác với sự trân trọng và biết ơn, nhưng những nội dung tôi nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Hà Nội, tháng 6 năm 2012

Học viên

Nguyễn Thị Minh Hoa

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 Ẩm thực trong ký Vũ Bằng như một phương diện văn hóa 9

1.2.1 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng 23 1.2.2 Ẩm thực như một phương diện văn hóa 28 1.2.3 Ẩm thực kết tinh tình yêu về đất nước, con người Việt Nam 32

Chương 2 Văn hóa ẩm thực qua hai tác phẩm ký: Miếng ngon Hà Nội

2.1 Nét đẹp của văn hóa ẩm thực qua các món ăn dân dã 34 2.1.1 Nét đẹp của văn hóa ẩm thực qua sự phong phú của các món ăn 35 2.1.2 Nét đẹp của văn hóa ẩm thực qua sự kết hợp hài hòa của chất liệu

và sự chế biến, bày biện khéo léo của những con người bình dị 44

Trang 5

2.1.3 Nét đẹp của văn hóa ẩm thực thể hiện qua sự tinh tế trong cách

2.2 Nét đẹp văn hóa ẩm thực thấp thoáng trong bóng dáng của cố

2.2.1 Bóng hình cố nhân - nơi in dấu kỷ niệm ẩm thực của hai vợ chồng 68 2.2.2 Hình bóng cố nhân - người suốt đời chăm lo cho miếng ăn

2.2.3 Hình bóng cố nhân - song hành với nỗi nhớ về những tinh

2.3 Vẻ đẹp của văn hóa ẩm thực qua cái nhìn "đậm" nỗi sầu của Vũ Bằng 78

Chương 3 Một số đặc sắc trong nghệ thuật ký Vũ Bằng tạo nên vẻ

đẹp của văn hóa ẩm thực qua hai tác phẩm ký: Miếng ngon Hà Nội và

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nếu điểm qua những nét chính về cuộc đời của Vũ Bằng ta có thể

thấy cuộc đời ông là một trong những trường hợp đặc biệt của các nhà văn Việt Nam hiện đại Có một thời người ta thường gắn nhân vật Hoàng trong

tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao với Vũ Bằng ngoài đời Sau đó, tên tuổi của

ông lại được gắn với những lời đồn thổi khuất tất về chính trị Chỉ cần hai dẫn chứng đó cũng đủ thấy sự trắc trở, thăng trầm đã bám riết suốt cuộc đời của một nghệ sĩ tài hoa như Vũ Bằng Vì thế, như một nhu cầu tự thân - nhu cầu được giải thoát tâm hồn, cộng với những năng lực sáng tạo vốn có đã thúc đẩy ông tìm đến và ký thác tất cả nỗi lòng, tâm sự, trăn trở của mình vào việc sáng tác văn học Và như một lẽ đương nhiên ông tìm đến với thể loại ký, đặc biệt

là hồi ký - thể loại phù hợp nhất với nhu cầu bộc lộ tinh thần chủ quan và nhu cầu tự thú của bản thân người viết Mặt khác, nói như Ilia Êrenbua: “Bất kì quyển sách nào cũng là lời tự thú, và quyển sách hồi ức thì chính là lời tự thú

mà tác giả không cố ý dấu mình dưới cái bóng của các nhân vật hư cấu”, trong ký, Vũ Bằng đã không ngần ngại bộc lộ hết cái tôi với bao suy tư, sâu thẳm, những cảm xúc mãnh liệt và chân thật đến từng tế bào tâm hồn

1.2 Trong gia tài ký đồ sộ của Vũ Bằng chúng tôi đặc biệt có ấn tượng

sâu sắc với hai tập Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai Nếu như

Cai và Bốn mươi năm nói láo chính là sự tự “thanh minh” cho “thân phận”,

“danh tiết” và “nghề nghiệp” của mình rằng: “Tôi không bao giờ phản bội Tổ

quốc phản bội nhân dân” thì sau khi Thương nhớ mười hai và Miếng ngon Hà

Nội hoàn thành chính là lời xác minh chân xác và xúc động nhất về sự thật

con người, tâm hồn nhạy cảm, tràn đầy tình yêu thương của nhà tình báo này

Thương nhớ mười hai và Miếng ngon Hà Nội là tâm sự, là nỗi lòng của con

Trang 7

người xa quê hương, xứ sở “Nỗi sầu xứ” đó luôn vọng về qua từng con chữ, qua cảnh sắc thiên nhiên, con người, lễ tết… và đặc biệt là qua “văn hoá ẩm thực” rất tinh tế trong trang văn của Vũ Bằng

1.3 Trong lịch sử văn học dân tộc, nhà văn Vũ Bằng không phải là

người đầu tiên và duy nhất viết về các món ăn ngon của người Việt nhưng có thể nói một cách rất khách quan rằng, viết về “văn hoá ẩm thực” đằm thắm nhất, say mê nhất và cũng dung dị nhất vẫn là Vũ Bằng, bởi vì “phải là một con người chất chứa một niềm đau không thể giãi bày cùng ai, gánh chịu nỗi

cô đơn khủng khiếp lắm mới tuôn ra được ngòi bút mình những câu văn như

có ma ám, từng dòng, từng dòng như bị một thế lực siêu nhiên vừa hành hạ, vừa chắp cánh cho tâm hồn, cho cõi lòng để bao nhiêu tài hoa biến thành niềm thương nhớ thấu trời thấu đất” (Triệu Xuân) Cảm hứng của Vũ Bằng trong hai cuốn sách tài hoa ấy là nỗi nhớ niềm yêu dường như là tuyệt vọng, dường như thuộc về “một tiền kiếp xa xôi” của một người khách thiên lý tương tư cố quán vời vợi nghìn trùng không có cơ hội trở lại, gặp lại Và hình như trong mỗi món ăn thấm đẫm tình quê đó được “đượm sắc, thơm hương” hơn bởi tình yêu da diết Hà Nội, rộng hơn là tình yêu miền đất giàu truyền thống văn hoá - Bắc Việt

1.4 Qua việc tìm hiểu văn hoá ẩm thực trong hai tác phẩm ký Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai chúng tôi hy vọng rằng sẽ đóng góp

thêm một cái nhìn toàn diện hơn về cuộc đời, tài năng, tư tưởng phong cách của một nhà văn mà suốt cuộc đời ông chữ “tài” và chữ “tai” luôn đeo bám nhau đến khắc nghiệt

2 Lịch sử vấn đề

Vũ Bằng là một cây bút viết ký rất tài hoa của nền văn học Việt Nam

hiện đại Ông có sáng tác đầu tay khá sớm, đó là truyện ngắn Con ngựa già đăng trên mục Bút mới của báo Đông Tây năm 1930 Từ đó cho đến cuối đời

Trang 8

Vũ Bằng viết đều đặn, liên tục cho ra đời các tác phẩm với khối lượng lớn và trên nhiều lĩnh vực Nhưng đến nay số lượng tìm được theo Văn Giá là mới được hơn một nửa Vì lí do này việc nghiên cứu Vũ Bằng chưa thật sự tương xứng với sáng tác của ông để lại

Người đầu tiên viết về Vũ Bằng là Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện

đại, Vũ Bằng được Vũ Ngọc Phan xếp vào các “tiểu thuyết gia tả chân” Nhận

xét về lối văn tiểu thuyết của Vũ Bằng, Vũ Ngọc Phan viết: “Tiểu thuyết của

Vũ Bằng rất gần tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan về lối tả cảnh và nhân vật Khi tả nhân vật, dù là họ ở cảnh nghèo khổ hay cảnh giàu sang, bao giờ

Vũ Bằng cũng tả bằng ngọn bút dí dỏm, nhạo đời hơi đá hoạt kê một chút còn

về cảnh ông chỉ tả sơ sơ; ông chú trọng cả vào hành vi của các nhân vật, vì những hành vi ấy là động tác của cuốn tiểu thuyết và gây nên những cảnh riêng biệt cho các nhân vật” [38]

Đến năm 1969 mới có thêm một bài giới thiệu về Vũ Bằng của Thượng

Sỹ, đó là lời nói đầu cho cuốn Bốn mươi năm nói láo khi cuốn sách được xuất

bản lần đầu tiên (do cơ sở xuất bản Phạm Quang Khải ấn hành tại Sài Gòn năm 1969)

Năm 1970, Tạ Tỵ trong cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ xuất bản đã

giới thiệu Vũ Bằng là một trong mười khuôn mặt văn nghệ nổi bật lúc bấy giờ

với bài viết Vũ Bằng - Người trở về từ cõi đam mê Từ năm 1991 đến năm

1999 cũng có rất nhiều bài viết đăng trên các báo: Văn nghệ, Sài Gòn, Phụ nữ thứ bảy Thành phố Hồ Chí Minh về Vũ Bằng Nhưng các bài viết này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số khía cạnh trong tác phẩm của ông hoặc kể lại những ấn tượng về Vũ Bằng để minh oan, chiêu tuyết cho ông

Năm 2000, nhà văn Triệu Xuân là người có công sưu tầm các tác phẩm

của Vũ Bằng thành ba tập Tuyển tập Vũ Bằng khá dầy dặn với bài giới thiệu

Nhà văn Vũ Bằng - Người lữ hành đơn côi Vào năm 2005, cũng chính Triệu

Trang 9

Xuân cho biên tập lại thành Vũ Bằng toàn tập trọn bộ bốn tập trong đó tập

một: Những tác phẩm thuộc thể ký, tập hai và tập ba: Truyện ngắn, truyện dài: tập bốn: Tạp văn, biên khảo

Đặc biệt công trình Vũ Bằng - Bên trời thương nhớ của Văn Giá [16] là

một công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về Vũ Bằng Trong công trình này ngoài bài giới thiệu khá kỹ về cuộc đời, tác phẩm của

Vũ Bằng, Văn Giá còn in những bài viết có giá trị về Vũ Bằng và các tác

phẩm của ông (chủ yếu là về Thương nhớ mười hai), sau đó là phần sưu tầm

các truyện ngắn của Vũ Bằng trước và sau cách mạng, số ít trang cuối dành để giới thiệu thư mục tác phẩm, thư mục nghiên cứu Vũ Bằng Tuy là một công trình nghiên cứu khá hệ thống và toàn diện, song Văn Giá vẫn cho rằng đó mới chỉ là “nét phác thảo bước đầu” về Vũ Bằng Trong một tương lai gần, chắc chắn sẽ có những công trình nghiên cứu toàn diện, đầy đủ và chi tiết hơn

của Vũ Bằng

Vì các tác phẩm ký của Vũ Bằng có một số phận rất đặc biệt nên các công trình nghiên cứu về ký của Vũ Bằng vẫn còn khá hạn chế về cả số lượng

và quy mô chưa thật sự tương xứng với tài năng và vị trí của tác giả trên văn

đàn Có lẽ may mắn hơn tất cả là tác phẩm Thương nhớ mười hai có số lượng

bài viết khá nhiều vì nó được coi là tác phẩm ký xuất sắc nhất của ông Còn

Miếng ngon Hà Nội mặc dù là những cảm nhận rất tinh tế của Vũ Bằng về

văn hóa ẩm thực, song tác phẩm cũng chỉ được nhắc đến bên cạnh những tác phẩm ký, tùy bút viết về văn hóa - ẩm thực khá tiêu biểu của Việt Nam như:

Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam), Phở, Cốm (Nguyễn Tuân), Những nẻo đường Hà Nội (Băng Sơn) như một sự khẳng định giá trị của nó

chứ chưa hề đi vào tìm hiểu sâu

Điểm nhấn của các công trình nghiên cứu là tác phẩm Thương nhớ

mười hai

Trang 10

Nhà văn Tô Hoài trong bài viết Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai đã

đánh giá rất cao tác giả này, coi đó là “một nét tinh hoa của tấm lòng với cuộc đời”, “Từng câu tha thiết đã làm cho đến cả người đương ở giữa Hà Nội cũng phải yêu lây Những sành sỏi và sâu sắc toát ra ngòi bút sao mà nhớ đến não nùng”

Nhưng dường như GS Hoàng Như Mai là người đầu tiên đã phát hiện lên tiếng khẳng định, ngợi ca sức hấp dẫn của tác phẩm là ở “tấm lòng” và

“ngòi bút tài hoa”: “dù phải thích nghi với hoàn cảnh chính trị như thế nào đấy, cuốn sách vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương bên kia giới tuyến Chính tấm lòng ấy đã cùng với ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương cho tác phẩm này Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng, từng trang” [4; 6]

Sức hấp dẫn, vẻ đẹp của tác phẩm được GS Nguyễn Đăng Mạnh khái quát: “Tình yêu quê hương, đất nước ấy là linh hồn của những trang viết hay

nhất trong Thương nhớ mười hai, Bao hàm trong đó còn có tình cảm truyền

thống của người dân Việt” [32, tr.430]

Bằng cảm thụ tinh tế của một nhà thơ, Vũ Quần Phương nêu lên lòng yêu nước của tác giả “Đọc Vũ Bằng thấy được lòng yêu nước của con người giăng mắc từ muôn nghìn sự việc”, Vũ Bằng “soi mình vào trời đất quê hương để viết lên văn” [41]

Như thế là từ Tô Hoài đến Hoàng Như Mai, Vũ Quần Phương, Nguyễn

Đăng Mạnh đều thống nhất khẳng định Thương nhớ mười hai là một tác phẩm

có giá trị văn chương “Linh hồn” của các trang văn thương nhớ là tình yêu quê hương đất nước của tác giả Có thể nói đây là những ý kiến hết sức quý

báu và đầy lòng trân trọng về Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng

Năm 1994 đoạn trích Tháng ba rét nàng Bân của tác phẩm Thương nhớ

mười hai đã được đưa vào chương trình Văn 12 Ban KHXH, phần đọc thêm

Tạp chí Kiến thức ngày nay đã mở một cuộc thi bình một trong năm tác phẩm: Trịnh Tông lên ngôi Chúa - trích Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô

Trang 11

Gia Văn Phái; Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân; Lão Hạc của Nam Cao; Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu và Tháng ba rét nàng

Bân của Vũ Bằng Điều đó có nghĩa là Thương nhớ mười hai đã được thừa

nhận là một trong số những tác phẩm có giá trị của văn học Việt Nam hiện đại

Người dành nhiều công sức nhất, đồng thời cũng là người đầu tiên đã hoàn thành công trình nghiên cứu về Vũ Bằng là Văn Giá Ông đã có bảy bài

viết và một cuốn sách có nhan đề Vũ Bằng - Bên trời thương nhớ dành viết về

Vũ Bằng Văn Giá khẳng định Vũ Bằng là nhà văn tài năng và xuất sắc về nhiều phương diện “Ngòi bút của ông tựa như một con dao pha sắc nước, vừa thạo nghề, vừa cần mẫn” [16; 22] Tác giả đã dành khá nhiều trang ca ngợi vẻ

đẹp của Thương nhớ mười hai như: Vũ Bằng đã “trải gấm hoa” lên những

trang văn và “trang văn dành để nhớ về loài hoa sầu đâu xứ Bắc phải nói là tuyệt bút” Văn Giá khẳng định: “Với những tác phẩm hồi ký trữ tình này ông

đã có một vị trí chắc chắn trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Lịch sử thể loại hồi ký nằm trong lịch sử văn học Việt Nam sẽ phải nhắc đến ông như một

sự đóng góp quan trọng không thể thiếu được” [16; 85]

Với luận văn thạc sĩ “Cái đẹp trong Thương nhớ mười hai” Nguyễn Thị Thu Hòa đã áp dụng phạm trù cái đẹp để khám phá trong Thương nhớ mười

hai là một không gian nghệ thuật rộng lớn, phong phú, một cố hương hội tụ

những vẻ đẹp mộc mạc, thần tiên; cái đẹp của chủ thể thẩm mĩ là một tâm hồn yêu thiết tha quê hương, một con người có kiến thức văn hóa sâu rộng, một cây bút độc đáo trong thể ký” [25, tr15-16]

Điểm lại một cách có hệ thống các công trình bài viết nghiên cứu về ký

Vũ Bằng nói chung, về hai tác phẩm Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ

mười hai nói riêng, chúng tôi thấy hầu như các tác giả mới dừng lại ở việc

khẳng định tài năng, vị trí về tình yêu quê hương, đất nước của Vũ Bằng chứ chưa ai đi sâu vào nghiên cứu một vấn đề rất độc đáo trong ký của ông, đó là:

Trang 12

Văn hóa ẩm thực thể hiện rõ nhất qua hai tác phẩm Miếng ngon Hà Nội và

Thương nhớ mười hai

Chính vì “khoảng trống” lí thú đó chưa được chú ý lấp đầy là lí do, điều kiện để chúng tôi thực hiện đề tài: Ký Vũ Bằng về văn hoá ẩm thực (qua

Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai) Hy vọng đề tài sẽ góp một

tiếng nói khẳng định tài năng, tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp và nỗi sầu xa sứ của văn sĩ tài hoa Vũ Bằng

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những đặc điểm nổi bật nhất

về văn hoá ẩm thực qua hai tác phẩm ký: Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ

mười hai của Vũ Bằng Từ đó có thể đánh giá một cách chân xác hơn về tài

năng và tình yêu quê hương, đất nước tha thiết của ông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi đề ra một số nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu những nét chung nhất về “Văn hoá ẩm thực”

- Chỉ ra được đặc điểm tiêu biểu của văn hoá ẩm thực trong hai tác

phẩm ký Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai

- Trong quá trình tìm hiểu văn hoá ẩm thực qua hai tác phẩm ký đó phải tái hiện được thế giới tâm hồn của Vũ Bằng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Văn hoá ẩm thực qua hai tác phẩm ký Miếng ngon Hà Nội và Thương

nhớ mười hai của Vũ Bằng

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát hai tác phẩm:

- Vũ Bằng, Miếng ngon Hà Nội, Nxb Văn hoá Thông tin, H.2001

- Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai, Nxb Văn hoá Thông tin, H.2001

Trang 13

Ngoài ra luận văn còn tìm hiểu thêm một số tác phẩm ký khác của

Vũ Bằng: Cai, Bốn mươi năm nói láo, Món lạ miền Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu văn học chính như:

- Phương pháp thống kê - phân loại

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

7 Đóng góp mới của luận văn

- Thấy được nét riêng trong văn hoá ẩm thực của Vũ Bằng so với những nhà văn khác: Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài

- Chỉ ra được điểm nhấn tâm hồn của Vũ Bằng trong từng món ăn mà

ông tái hiện

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Ẩm thực trong ký Vũ Bằng như một phương diện văn hóa

Chương 2: Văn hoá ẩm thực qua hai tác phẩm ký: Miếng ngon Hà

Nội và Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng

Chương 3: Một số đặc sắc trong nghệ thuật ký Vũ Bằng tạo nên vẻ đẹp

của văn hoá ẩm thực qua hai tác phẩm ký: Miếng ngon Hà Nội và Thương

nhớ mười hai

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1

ẨM THỰC TRONG KÝ VŨ BẰNG NHƯ MỘT PHƯƠNG DIỆN VĂN HOÁ

1.1 Khái quát chung về thể loại ký

1.1.1 Giới thuyết khái niệm

Ký là một thể loại văn học ra đời khá sớm trong lịch sử văn học nhân loại Xung quanh khái niệm về ký có rất nhiều ý kiến khác nhau

Theo Từ điển Văn học, ký là một loại hình văn học bên cạnh thơ, tiểu

thuyết và kịch, bao gồm nhiều thể loại như bút ký, hồi ký, du ký, nhật ký, phóng sự, tuỳ bút, tạp văn, tự truyện ký phản ánh sự việc và con người

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Ký là một thể văn tự sự viết về người

thật việc thật có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất"

Từ điển thuật ngữ văn học xác định: "Ký là một loại hình văn học trung

gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể văn xuôi tự sự Khác với truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, ký có quan điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống Người viết ký luôn phải chú ý bảo đảm tính xác thực của hiện thực đời sống phản ánh trong tác phẩm So với truyện ngắn, tiểu thuyết, ký phản ánh nhanh chóng và linh hoạt cuộc sống"[37] Nếu như trong truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết không thể không có yếu tố tưởng tượng,

hư cấu nghệ thuật thì trong thể loại ký tưởng tượng hư cấu ít xuất hiện hơn vì

sự thực là vấn đề cốt lõi của ký Hư cấu chỉ xuất hiện khi nhà văn không trực tiếp chứng kiến sự việc mà ghi lại qua dòng hồi tưởng, lời kể của người khác Thế nhưng, hư cấu của ký cũng khác hẳn với hư cấu của truyện và tiểu thuyết Nếu như trong truyện và tiểu thuyết hư cấu tạo ra “hiện thực thứ hai” cao hơn hiện thực có thật ngoài đời sống thì hư cấu của ký thể hiện ở vai trò sáng tạo chủ quan thông qua liên tưởng, ước đoán, trong công việc lựa chọn, tổ chức, sắp xếp, bình giá những hiện tượng được miêu tả để chúng nổi bật những nết

Trang 15

tiêu biểu, điển hình Nhờ tính xác thực mà ký luôn có tính thời sự nóng bỏng,

có giá trị nhận thức sâu sắc, tác động trực tiếp tới người tiếp nhận

Trong Cơ sở lí luận văn học, tập 3 do Hà Minh Đức chủ biên, quan

niệm rằng: " Ký là một thể loại linh hoạt, cơ động, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thể trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và đổi mới nhất" [13, tr.123]

Trong một quyển sách khác cũng do Hà Minh Đức chủ biên, đưa ra khái niệm: "ký văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi về những sự kiện, về con người có thật trong cuộc sống với nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính chất thời sự của đối tượng miêu tả" [12, tr.18]

Nhìn chung, các ý kiến dẫu khác nhau ở điểm này, điểm khác song đều nhất quán ở một quan niệm cho rằng: Sự thật là vấn đề cốt lõi, bản chất của

ký - ký viết về những cái có thực trong đời sống, có ý nghĩa thời sự hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp Người viết ký phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thực, đời thực, việc thực, cảm xúc thực

1.1.2 Đặc trưng của ký

Khẳng định ký là một thể loại văn học có nghĩa là thừa nhận ký mang trong nó những quy luật đặc thù của thể loại làm nên diện mạo riêng Mặc dù

có nhiều quan điểm khác nhau về đặc trưng của thể loại ký, song có thể quy

về một số đặc trưng bản sau đây:

1.1.2.1 Sự thật là vấn đề cốt lõi, bản chất của ký

Ngay từ thời trung đại, dù chưa có ý thức rõ ràng về thể loại do văn học chưa thoát khỏi tình trạng văn - sử - triết bất phân và quan niệm "văn dĩ tải đạo" thì các tác giả ký trung đại đã thừa nhận các thể ký, lục, chí là các thể loại ghi chép những sự việc có thực trong đời sống Chẳng hạn như trong lời

tựa cho tập Lam Sơn thực lục (1431) Vũ Phương Đề trong bài tựa Công dư

tiệp ký viết: "Phủ bình nhật thích nói chuyện nên khi việc quan rảnh rỗi

Trang 16

thường ghi chép lại những điểm bấy lâu nay mình nghe được, cùng những truyện biết được từ các nhà bác học đương thời Tất cả đều căn cứ vào sự thực

mà viết thành bài, đặt tên sách là Công dư tiệp ký

Điểm lại những quan niệm và nghiên cứu của nhiều tác giả như Vũ

Ngọc Phan [40], Tô Hoài (trong Nghệ thuật và phương pháp viết văn), Hà

Minh Đức, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Hoàng Ngọc Hiến về ký ta đều thấy

có sự nhất quán cho rằng: Sự thật là bản chất, là cốt lõi của ký, là nguyên tắc

tổ chức hình tượng nghệ thuật và nội dung thông tin cơ bản trong ký Chính đặc trưng ấy làm cho ký có một sức sống riêng, trở thành một lĩnh vực văn học đặc thù, không thể nhập chung vào các thể loại khác

Quả vậy, ký lấy sự thực làm mục đích và nội dung thông tin cơ bản, còn những bình luận, đánh giá, xúc cảm của nhà văn là nhằm mài sắc sức mạnh của sự thực Trong khi đó, truyện chỉ lấy sự thực làm nguyên liệu, sự thực được nhào nặn, tái tạo, hư cấu để biểu hiện một nhận thức, một quan

niệm nghệ thuật của nhà văn Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, chí Phèo và Lão

Hạc của Nam Cao, ta tuy biết những nguyên mẫu nhân vật, hoàn cảnh thực

tế song nó hoàn toàn không trùng khít với hiện thực, nhà văn sẽ hư cấu, thêm bớt các tình tiết nhằm bộc lộ những dụng ý tư tưởng của nhà văn về hiện thực,

về con người thời đó

Đọc những lá thư trong Từ tuyến đầu Tổ quốc chúng ta được biết bao

sự thực đau lòng như: "ở Điện Bàn, chị Th có mang bảy tháng, bị chúng bắt tra tấn suốt mấy ngày cuối cùng bị một cú đá giày vào bụng, đứa con chưa đủ tháng bị phọt ra ngoài Chị cầm cái thai vừa rú lên vừa chạy ra đường Một loạt tiểu liên bắn theo" Rồi, "ở thằng Bình, chị T bị chúng cột chặt đầu ống quần lại bỏ vào trong năm con rắn Chị ngã ra chết ngất Đến nay, đêm đến là chị rùng mình, đang ngủ cùng dậy kêu la: "Nó nhiều quá, nó nhiều quá " [54, tr.112] Tiến sĩ nông nghiệp Lương Đình Của khi đọc xong những sự thực như thế đã

Trang 17

phải thốt lên: "Trong đời tôi, chưa có một cuốn sách nào gây cho tôi một cảm

động mạnh mẽ và những xúc động liên tục như tập Từ tuyến đầu Tổ quốc "

[12, tr.145] Tất cả những gì được thể hiện trong ký đều là có thật, đều rất rõ ràng, cụ thể đến từng thời gian, địa điểm, tên người"

Sự thực là nguyên tắc xây dựng hình tượng ký Sáng tạo hình tượng ký, bao giờ tác giả cũng cố gắng cung cấp những thông tin xác thực về hình tượng: ngày tháng đối với sự kiện, số liệu đối với hiện tượng, địa chỉ đối với nhân vật Kể về người nữ anh hùng, Nguyễn Thi viết: "Tại xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có một người đàn bà có sáu con tên là Nguyễn

Thị Út " (Người mẹ cầm súng) Trong tuỳ bút "Người lái đò sông Đà", bên

cạnh những trang viết cực kì phóng túng, tài hoa, Nguyễn Tuân còn cho ta biết những số liệu rất cụ thể, tỉ mỉ: "Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông,

tỉnh Vân Nam, lấy tên là Lý Tiên (theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tên

Trung Quốc của sông Đà lại là Bả Biên Giang) tính toàn thân sông Đà thì

chiều dài là 883 nghìn thước mét" Trong Tờ hoa, Nguyễn Tuân giống như

một nhà sinh vật học tài ba, tỉ mỉ trong từng chi tiết tạo ra cảm giác bất ngờ, lí thú cho người đọc: "Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến đi, đi từ tổ nó đến các nơi có hoa quanh vùng Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số"

Ngược lại với ký, hình tượng trong truyện chỉ là một Chí Phèo, một Nguyệt, một Lãm không rõ gốc tích, quê quán Nói cách khác, thông tin về nhân vật chỉ là một ước lệ mà thôi Quan trọng là tác giả phải hư cấu, sắp xếp các tình tiết sao cho từ hình tượng nhân vật đó mà có thể bộc lộ được tư tưởng

và mang một thông điệp nghệ thuật gì đó tới bạn đọc

Trang 18

Rõ ràng, sự thực là thước đo giá trị của ký Đó là giá trị cung cấp tri thức về cuộc sống và giá trị tư liệu lịch sử quý giá Hoàng Ngọc Hiến đã khẳng định: "Ngoài gây hiệu quả khoái cảm mĩ học, thể ký gây ở người đọc những khoái thú thuần trí tuệ bằng việc cung cấp những tri thức người đọc quan tâm" [23, tr.14] Hoàng Phủ Ngọc Tường - tác giả viết ký rất nổi tiếng cũng có ý kiến tương tự: "Cùng với cảm xúc văn học, bút ký còn chứa đựng cõi thực vốn là bản gốc của tác phẩm Sức nặng ấy được chuyển đi không giống một cảm giác mỹ học nào mà như một quả táo Niutơn rơi xuống tâm hồn người đọc" [55, tr.83] Đặc biệt, trong ký mỗi con số, mỗi sự kiện, mỗi nhân vật, mỗi chi tiết, bản thân nó đã mang giá trị thẩm mĩ bởi nó đã qua sự chọn lọc của nhà văn, đã tươi rói sắc màu của sự sống Đọc đoạn ký sau đây

ta sẽ cảm nhận được một hình ảnh Trường Sơn đầy thi vị rộn rịp trong bước chân đi: "Tiếng lá ngụy trang rào rào Nước đựng trong chiếc bi tông đã rơi đập vào thành bình róc rách Những bao gạo dài vắt trên vai vỗ vào ba lô Tiếng những chiếc đế giày mới ót ét Hơi thở gấp của những lá phổi khỏe mạnh, làm ấm cả núi rừng Đoàn quân trải trên những quả núi phân biệt với màu xanh của cây rừng bằng sự chuyển động Trường Sơn trầm mặc bỗng xốn xang với mùa xuân với những bước đi êm nhẹ của đoàn quân Những búi cây vông vang nở đầy hoa như có hàng ngàn con bướm trắng đang từ đó bay lên " [12, tr.168]

Để người đọc tin vào sự thực, mô hình tự sự trong ký thường là mô hình tự sự ngôi thứ nhất, tình thái khách quan với tiêu điểm tự sự bên ngoài

và sự thống nhất của các điểm nhìn trần thuật Trong ký, người kể chuyện thường lộ diện trực tiếp trong hình thức người kể chuyện xưng tôi, ít đi sâu vào diễn biến nội tâm nhân vật, luôn giữ khoảng cách với đối tượng miêu tả bằng cách xen vào những lời nghị luận, thẩm bình, mọi sự kiện trong ký nằm trong tầm quan sát của một nhân vật duy nhất Đọc những thiên phóng sự của

Vũ Trọng Phụng người ta biết những sự kiện, nhân vật được tác giả nói đến

Trang 19

chưa hẳn là có thực song tất cả vẫn thuyết phục hấp dẫn người đọc và tin là thật bởi sự xuất hiện của người kể chuyện xưng tôi trùng với tác giả, bởi sự thống nhất xuyên suốt một điểm nhìn bên ngoài tình thái khách quan

Như vậy, trần thuật người thật việc thật là đặc trưng cơ bản của ký Khi

đó, sự thật trở thành nguyên tắc tối cao trong ký, bởi nó chi phối cả người sáng tác trong quá trình chọn lọc đời sống, xây dựng hình tượng, tổ chức mô hình trần thuật, chi phối cả người đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm; là bản giao ước ngầm giữa tác giả và độc giả

Nếu phá vỡ nguyên tắc này, tác phẩm ký mất đi giá trị hoặc chuyển thành thể loại khác: trữ tình, chính luận hoặc truyện ngắn Tôn trọng tính xác thực, tác phẩm ký không những có được tính thời sự, giá trị nhận thức mà còn mang giá trị thẩm mĩ, gây ấn tượng sâu sắc với người đọc Đặc trưng nói trên

là cơ sở chính tạo nên sức lôi cuốn và hấp dẫn của tác phẩm ký

Chúng ta phải thừa nhận một vấn đề lí thuyết không thể chối cãi: bản chất của ký là sự thật, xác thực là nguyên tắc tối cao trong ký Song một vấn

đề được đặt ra: Quan niệm thế nào là sự thật trong ký? Qua quá trình khảo sát thực tiễn sáng tác và những công trình nghiên cứu về ký trung đại vẫn đầy ắp những chi tiết kỳ ảo, hoang đường

Trong Vũ trung tùy bút, mặc dù tác giả bày tỏ sự hoài nghi với những

chuyện thần kỳ ma quái trong các đền chùa miếu mạo, song thực tế tác giả vẫn chép lại những sự kiện bí ẩn hoang đường mà tác giả tin là "điềm trời",

"điềm quái gở": ngọn lửa trên bãi cát làng Bát Tràng, mặt trời tách làm hai ở phố Hàng khẩu

Ngay cả trong những tác phẩm ký lịch sử như: Đại Việt thông sử của

Lê Quý Đôn, Đại Việt sử ký toàn thư của Lê Văn Hưu, ta vẫn thấy những yếu

tố kỳ ảo: "Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đỏ chiếu sáng rực rỡ

và mùi thơm ngào ngạt khắp làng" (Đại Việt thông sử - Lê Quý Đôn - Chép

về sự ra đời của Vua Lê Thái Tổ)

Trang 20

Vậy là, sự thật trong ký trung đại thực chất không phân biệt sự thật nghệ thuật và sự thật lịch sử, trộn lẫn với các yếu tố kỳ ảo hoang đường Điều

ấy dường như mâu thuẫn với quan niệm của các tác giả trung đại về ký

Trong văn học 1930 - 1945, người ta thường nhìn nhận sự thực là sự bất công, đen tối, xấu xa Những nhà văn tả chân là những nhà văn bóc trần những bất công, thối nát, ung nhọt trong xã hội đương thời Những tác phẩm

tả chân thường là những tác phẩm phản ánh cuộc sống của những con người bần cùng, những hạng người dưới đáy của xã hội, phơi bày những tệ nạn xã hội Điểm qua tên gọi của các phóng sự trong giai đoạn này ra sẽ thấy rõ điều

đó: Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Lục xì, Cơm thầy cơm cô (Vũ Trọng Phụng); Thanh niên trụy lạc, Ngoại ô, Ngõ hẻm (Nguyễn Đình Lạp); Tôi kéo

xe, Long cụt cán (Tam Lang) Tất cả đều vẽ lên bức tranh đầy đủ của một xã

hội xấu xa, bát nháo, thực - giả lẫn lộn

Văn học giai đoạn 1945 - 1975, sự thật được coi trọng là những gì tốt đẹp, cao cả của hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc: là chiến công vĩ đại, là những tấm gương anh hùng, là gương người tốt việc tốt Vì thế, nguồn cảm hứng phê phán không có chỗ tồn tại, nhường chỗ cho cảm hứng ngợi ca, biểu dương, ngay cả cái đau thương cũng phải biến thành cái quật khởi, nỗi buồn phải biến thành tinh thần anh dũng Tất cả những gì đi chệch khỏi quỹ đạo của cuộc kháng chiến, đi chệch khỏi cảm hứng ngợi ca đều bị coi là bóp méo, là sai lệch lịch sử Rõ ràng, đó là điểm hạn chế của một thời

kì vĩ hiện thực cuộc sống như chúng ta thấy không hề đơn giản, xuôi chiều và

lí tưởng như vậy

Như vậy trong thực tiễn, sáng tác ký ta thấy nổi lên một mâu thuẫn: bản chất của ký là mô tả sự thật, song ở mỗi giai đoạn của thực tiễn sáng tác, sự thật lại mang dáng vẻ, màu sắc khác nhau Vậy, phải quan niệm thế nào là sự thực và đâu là thước đo sự thật chính là vấn đề mà ký cần giải quyết

Trang 21

Để giải quyết dứt điểm mâu thuẫn trên chúng tôi nghĩ cần phân biệt sự thật lịch sử vì không phải bất cứ sự thật lịch sử nào cũng trở thành sự thật nghệ thuật

Sự thật nghệ thuật có nguồn gốc từ sự thực lịch sử song chúng nằm trong hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau: Sự thật lịch sử thường nằm trong thế giới vật chất khách quan, trong khi sự thật nghệ thuật thuộc lĩnh vực tinh thần chủ quan, nằm trong tác phẩm nghệ thuật Hai sự thật đó được chuyển hóa lẫn nhau qua tư duy và hoạt động sáng tạo của con người, đồng thời vẫn giữ được mối liên hệ và ràng buộc chặt chẽ không thể tách rời Sự thật lịch sử vô cùng rộng lớn, phong phú, phức tạp, trong khi đó, sự thực nghệ thuật chính là cố gắng, sự sáng tạo của nhà văn để mô hình hóa thế giới theo quan niệm nghệ thuật của bản thân họ Sự kiện B52 bị bắn rơi ở làng Ngọc Hà đi vào ký của Nguyễn Tuân trở thành "Cánh B52 rụng xuống một thôn hoa" Sự diễn đạt ấy mang đậm nét cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân - nhà văn có tài khám phá những mối tương đồng, đối lập bất ngờ trong những việc bình thường nhất, nhà văn nhìn thế giới qua lăng kýnh của cái đẹp, tôn vinh sự chiến thắng của cái đẹp Sự kiện ở đây bất ngờ có ý nghĩa kép: không những cùng một lúc phản ánh hai đối tượng, mà còn vừa miêu tả hiện thực, vừa thể hiện quan niệm về cái đẹp: cái đẹp có trong ở cả cái gì dữ dội nhất

Có thể nói, miêu tả sự thật lịch sử chủ yếu là công việc của báo chí, sử học, địa lí còn miêu tả sự thật nghệ thuật là nhiệm vụ cơ bản của văn học Sự thật lịch sử là sự phản ánh nguyên vẹn, sao chép cuộc sống đơn thuần, nó hoàn toàn khách quan không mang theo quan niệm và cái nhìn của cá nhân người viết Còn sự thật nghệ thuật là sự thật đã được nhà văn thổi hồn vào, biến cái quen thuộc của đời sống thành cái sáng tạo, thành cái lạ trong văn chương, mở rộng thêm nhiều tầng nghĩa của nó Công việc ấy đòi hỏi sự từng trải của cuộc sống, tâm huyết với sáng tạo, giác quan nghệ thuật tinh tế vào tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà văn

Trang 22

Hiểu được sự không đồng nhất giữa sự thật nghệ thuật và sự thật lịch sử chúng ta sẽ thấy sự thật trong ký là sự thực mang tính quan niệm Quan niệm

đó tùy thuộc vào thế giới quan và quan niệm văn học của nhà văn Và để giải quyết sự mâu thuẫn giữa quan niệm về thể loại của tác giả và thực tiễn sáng tác thì cần phải đi tìm hiểu sâu quan niệm nghệ thuật của thời đại đã quy định tính chất, đặc trưng của sự thật trong từng giai đoạn lịch sử

Cần khẳng định bản chất cốt lõi của ký là xác thực nhưng một vấn đề nữa đặt ra là sự thật trong ký có loại trừ hư cấu hay không?

Xung quanh vấn đề này có rất nhiều cuộc tranh luận với các ý kiến khác nhau Người thì cho rằng ký không được phép hư cấu bởi quan niệm hư cấu là sự xuyên tạc, bịa đặt, thêm thắt làm sai sự thực Có người lại cho rằng

ký có thể hư cấu trong phạm vi và mức độ cho phép bởi hư cấu là một biện pháp bổ sung cho sự thật khiến cho hình tượng nghệ thuật trở nên sống động hơn Lại có người khẳng định là ký tất yếu phải hư cấu, bởi hư cấu là bản chất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật

Để giải quyết vấn đề này, trước tiên cần thống nhất khái niệm "hư cấu" Theo "Hêghen, đó là một hoạt động có tính chất sáng tạo" Hoạt động sáng tạo này trước hết đòi hỏi phải có một biệt tài và một mẫn cảm nắm được hiện thực và hình thức của nó, nhờ đó mà con người có hư cấu trong khi lắng nghe, quan sát, ghi lại trong tâm hồn mình những hình ảnh đa dạng nhất của cái tồn tại, đồng thời có được một trí nhớ chắc chắn giữ được cái bức tranh sặc sỡ của những hình thức đa dạng Về mặt này ( ) nghệ sĩ cần gạt bỏ cái gọi là lí tưởng về thực chất tẻ nhạt và bước vào lĩnh vực của hiện thực" [22, tr.455] Nhưng "hư cấu không chỉ dừng lại ở việc tri giác hiện thực bên ngoài và bên trong" [22, tr.456] Với quan niệm của Hêghen, hư cấu không chỉ bắt nguồn

từ hiện thực mà còn là sự chiếm lĩnh hiện thực từ chiều sâu

Thống nhất với ý kiến của Heghen, M.Arnaudop trong "Tâm lý học sáng tạo" cũng khẳng định: "một sự thể hiện trung thực nhất các sự kiện vẫn

Trang 23

còn chứa đựng một hư cấu nào đó và mọi hồi ức tiểu sử tự thuật cũng như các tài liệu khác được suy nghĩ với tính chính xác lịch sử, đều là, theo cách nói cổ điển của Gothe, một sự kết hợp khăng khít của thơ và sự thật" [1, tr.159]

Tóm lại, trong sáng tạo nghệ thuật không có sự phân biệt tuyệt đối giữa

sự thật và hư cấu Hư cấu nào cũng dựa trên cái tồn tại và một sự thật nghệ thuật trung thực nhất vẫn chứa đựng hư cấu, bởi sự thật nghệ thuật bao giờ cũng được chuyển hóa vào tác phẩm qua quá trình ghi nhớ, chọn lọc, sắp xếp của nhà văn mà bất cứ một hoạt động phản ánh ý thức nào cũng có phần bộc

lộ chủ thể Dẫu chủ trương một đường lối nghệ thuật tả chân, chỉ "toàn một giống sự thật" thì chúng ta vẫn nhận ra dấu vết hư cấu trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng, của Ngô Tất Tố Hư cấu bộc lộ ở việc ghi nhớ và chọn lọc sự kiện Tại sao trong muôn vàn sự kiện và hiện tượng đời sống, Vũ Trọng Phụng chỉ "săm soi" những tệ nạn ung nhọt của xã hội? Hư cấu còn bộc lộ trong lối viết tạt ngang mang đầy vẻ khiêu khích, giễu cợt: "cái phất trần do chính bà Ách Nhoáng cầm để thỉnh thoảng giơ tay vụt xuống một cái cũng khá tàn ác nhưng mà thong thả từ tốn như một vị quan viên già tờ mờ điểm

những tiếng trống chầu xinh" (Kỹ nghệ lấy Tây) Hay: "Một thằng nhỏ không

biết thêu dệt như một nhà văn thì câu chuyện của thằng nhỏ kể có thể tin được

là đến chín mươi phần trăm sự thật" (Cơm thầy cơm cô) Tất cả những hình

thức hư cấu ấy đều chịu sự chi phối của nhãn quan hiện thực của nhà văn: một cái nhìn hằn học, phẫn uất, phản kháng trước một xã hội "chó đẻ" nhố nhăng, hỗn tạp và hết sức vô nghĩa lí Trường hợp phóng sự của Ngô Tất Tố cũng thế, trong vô số những hiện tượng đáng lên án trong xã hội nhưng ông chỉ tập trung vào những hủ tục, những điều rất nhức nhối ở nông thôn Việt Nam thời

kì phong kiến Có phải đó là một vùng hiện thực rất nhạy cảm ở trong cảm quan sáng tạo của ông không?

Qua sự phân tích trên, ta thấy hư cấu không thủ tiêu sự xác thực mà chỉ làm cho sự thật đời sống trong tác phẩm sinh động hơn và bộc lộ sâu sắc quan

Trang 24

niệm nghệ thuật của nhà văn Đành rằng không có gì thay thế được sự thật trong đời sống tự nó mang giá trị, nhưng nếu không có hư cấu, nó sẽ không trở thành sự thật nghệ thuật

Như vậy, theo cách xác định vấn đề hư cấu và những lập luận chúng tôi

đã nói như ở trên, có thể khẳng định lại một lần nữa là ký văn học luôn luôn tồn tại hư cấu, bởi hư cấu vốn có trong tất cả các sự thật nghệ thuật được nói đến trong tác phẩm ký Ngoài ra còn bởi hư cấu cũng là một nét bản chất của sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn học Còn phạm vi, mức độ của việc hư cấu trong ký như thế nào, chúng tôi nghĩ đây còn là một vấn đề để ngỏ cần phải tìm hiểu thêm

1.1.2.2 Nhân vật trần thuật trong ký

1.1.2.2.1 Vai trò của nhân vật trần thuật xưng “tôi”

Không nên phân biệt nhân vật trần thuật là “tôi” ở ngôi thứ nhất trong

ký, còn phải là ngôi thứ ba trong tiểu thuyết Thật ra, trong tiểu thuyết cũng như trong ký, nhân vật trần thuật đều có đầy đủ hai ngôn ngữ trên Cũng không nên tuyệt đối hoá cho rằng nhân vật trần thuật trong ký phải chính là tác giả còn trong truyện lại là một nhân vật khác Có những trường hợp ngược lại Nhân vật trần thuật trong tiểu thuyết cũng có khi chính là tác giả, còn trong ký có khi lại là một nhân vật khác trong cuộc, như chị Quyên trong

Sống như Anh chẳng hạn Nhưng đa phần trường hợp trong ký nhân vật trần

thuật chính là tác giả Đúng như nhà phê bình Xô-viết Priliut đã nói: “Thông thường, tôi trong ký là tác giả, mặc dù không trừ hình thức người trần thuật ước lệ [36, tr.432] Tác giả trong ký đóng một vai trò rất quan trọng và đa chức năng: “vừa là nhân vật - nhân chứng cho các sự kiện đời sống và là nhân

tố tổ chức, xâu chuỗi các chi tiết, sự kiện vừa là tác giả bàn bạc, đánh giá về đối tượng phản ánh và bộc lộ lập trường, quan điểm, cảm xúc của bản thân” [33, tr.51]

Trang 25

Trong ký, nhân vật trần thuật là một nhân vật đặc biệt đóng vai trò là nhân chứng của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm Với vai trò này, nhân vật trần thuật dẫn dắt người đọc đến mọi ngóc ngách của cuộc sống, đến với từng mảnh đời, những góc khuất của tâm hồn con người, rồi từ đó trò chuyện với nhân vật khác để tìm hiểu, bóc trần, lật tẩy những mặt trái của cuộc sống Theo chân người kể chuyện, người đọc được khám phá hết vùng hiện thực này đến vùng hiện thực khác một cách sinh động và đáng tin cậy nhất Như vậy, sự xuất hiện của nhân chứng "tôi" này tạo nên niềm tin nơi người đọc một cái nhìn xác thực về hiện thực cuộc sống Hoặc khi lăn lộn vào thực tế, khoác áo phu xe, Cam Lang không ngoài mục đích thuyết phục người đọc cũng thấm thía như mình nỗi cơ cực của hạng "người ngựa ngựa người"

bị đánh đập, bắt bớ, lừa gạt, coi khinh Có lẽ, người đọc phải ngỡ ngàng vì những mánh khoé nghề nghiệp và phẫn nộ trước tình trạng bất bình đẳng trong xã hội

Nhân vật trần thuật xưng tôi trong ký còn là nhân tố tổ chức, xâu chuỗi các chi tiết, sự kiện vào một điểm nhìn thống nhất để kết cấu nên tác phẩm Tất cả những sự kiện, số liệu về hiện thực tưởng chừng như rời rạc giờ được xâu chuỗi, liên kết với nhau trong tầm nhìn của một cái tôi duy nhất Không phải ngẫu nhiên mà có người gọi tác phẩm ký văn học là một dạng "văn tư liệu" Điều này có lí do riêng của nó Có những tác phẩm ký xuất hiện dày đặc những số liệu, chi tiết mà khi đọc lên cho ta cảm giác rời rạc, khô cứng, không liền mạch Nhưng nếu người đọc tinh ý sẽ nhận ra dụng ý và sự sắp xếp của tác giả Chẳng hạn, ở những bút ký đậm màu sắc trữ tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường thường không được tổ chức thông qua hành động của "tôi" trong không gian mà thường qua sự suy luận, liên tưởng, xúc cảm trong chiều sâu thời gian Trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường thường xuất hiện nhiều những "tôi cảm thấy hình như có một cái gì đang lắng xuống thêm một chút nữa trong thành phố vốn hàng ngày rất yên tĩnh này", tôi chợt cảm thấy bỡ

Trang 26

ngỡ như vừa bắt gặp một điều mới lạ", "tôi cảm thấy điều đó một cách tự nhiên " (Rất nhiều ánh lửa) Với phương thức nối kết sự kiện bằng một cái tôi đượm cảm xúc, cảm giác suy tư ấy khiến cho ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường thường man mác, da diết một chất trữ tình riêng, trầm tư, sâu lắng, tạo được ấn tượng sâu sắc cho người đọc

Vai trò của nhân vật trần thuật xưng "tôi" còn thể hiện qua việc bộc lộ trực tiếp những lập trường quan điểm, tư tưởng, cảm xúc của nhà văn Đây chính là tiêu chí phân biệt khá rõ ràng giữa truyện và ký Bởi trong ký, tác giả

có thể phát biểu trực tiếp quan điểm và lập trường, thái độ của mình một cách công khai Còn trong truyện, tác giả chỉ có thể bộc lộ mình trong các đoạn trữ tình ngoại đề, song sự bộc lộ này còn rất hạn chế và không phải bao giờ cũng đáng tin cậy Theo tác giả Nguyễn Đăng Na, trong văn học trung đại, khi người cầm bút tách mình khỏi các sự kiện, các nhân vật mình miêu tả như người ngoài cuộc thì đấy là truyện, còn tác giả hoà mình vào sự kiện, các nhân vật với tư cách là người trong cuộc thì đấy là ký" [34, tr.37]

1.1.2.2.2 Lập trường, thái độ của người viết

Ở bất cứ một tác phẩm văn học và thể loại văn học nào cũng có lập trường và thái độ của người viết nhưng nó đặc biệt đậm nét trong ký Vấn đề lập trường, thái độ của người viết có quan hệ mật thiết đến vấn đề sự thật trong ký và được biểu hiện trực tiếp qua nhân vật trần thuật xưng tôi Khác với các thể loại văn học khác, trong ký luôn đòi hỏi sự có mặt trực tiếp của người viết với tính chất là chứng nhân của hiện thực để quan sát, nhận xét, thẩm bình Nguyên tắc ấy góp phần bảo đảm cho tác phẩm ký giữ được tính xác thực lịch sử, tạo niềm tin nơi người đọc về giá trị của tác phẩm Và chính lập trường, thái độ ấy là hạt nhân làm nên giọng điệu nghệ thuật trong ký Chẳng hạn, văn học trung đại sở dĩ có giọng triết lí trong các bài bút ký, minh

ký là do tác giả đứng ở lập trường tôn giáo Văn học 30 - 45 nổi bật lập

Trang 27

trường phê phán làm nên giọng điệu mỉa mai, châm biếm hoặc đả kých thẳng thừng, cay độc như trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng chẳng hạn Văn học

45 - 75 các tác giả đứng trên lập trường cộng đồng làm nên giọng điều biểu dương ca ngợi trong ký cách mạng Giai đoạn đổi mới, lập trường công dân làm nên giọng điệu trần, chất vấn trong phóng sự, bút ký - Giọng điệu nghệ thuật lại làm nên diện mạo riêng, sức hấp dẫn riêng của mỗi tác phẩm ký

Dù chịu sự chi phối của hiện thực đời sống song lập trường thái độ của người viết lại quyết định nội dung sự thật trong tác phẩm Bởi đứng trên mỗi góc độ, mỗi quan điểm nhất định, hiện thực cuộc sống lại hiện hình trong những dáng vẻ khác nhau Hiện thực ngột ngạt, bế tắc, tăm tối, khủng hoảng những năm trước cách mạng cùng với sự ảnh hưởng chủ nghĩa hiện thực phương Tây quyết định lập trường phê phán của các nhà văn hiện thực, lập trường này chi phối nội dung sự thật trong ký hiện thực, khiến cho nó nhuốm màu sắc bi quan Cũng vậy, tính chất vĩ đại của cuộc chiến tranh nhân dân quyết định lập trường cộng đồng trong văn học kháng chiến nói chung và ký nói riêng Lập trường này lại ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghệ thuật trong tác phẩm ký thời đó Mối quan hệ chặt chẽ giữa hiện thực và lập trường của người viết tạo nên nét riêng, sự vận động của mỗi loại hình ký

Lập trường thái độ của người viết còn chịu ảnh hưởng bởi phương pháp sáng tác của nhà văn Cùng một hiện thực những năm trước Cách mạng tháng Tám nhưng bởi phương pháp khác nhau nên nhà văn có tư tưởng, thái độ khác nhau Phương pháp sáng tác lãng mạn khiến mọi hiện tượng đời sống được cảm nhận trong ký Thạch Lam, Vũ Bằng theo lập trường hoài cổ Cụ thể hơn

là họ có ý thức truy tìm vẻ đẹp văn hoá truyền thống để phần nào vượt thoát khỏi những ngột ngạt, tăm tối, bất công của xã hội đương thời Trong khi đó, phương pháp sáng tác hiện thực lại hướng ngòi bút vào khám phá những vấn

đề mang tính chất "thời sự" của xã hội với đủ màu, đủ vẻ những hỗn tạp, thối

Trang 28

nát, suy đồi trong một giai đoạn đen tối của lịch sử dân tộc Một điểm cần chú ý nữa là vì bị chi phối bởi phương pháp sáng tác, lập trường thái độ của người viết, ký cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc thế giới quan của nhà văn

Tóm lại, vấn đề xác định lập trường người viết ký là vấn đề hết sức

quan trọng khi tìm hiểu đặc trưng mỗi loại hình ký Song bởi nó nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với những yếu tố xung quanh: thế giới quan, phương pháp sáng tác, hiện thực đời sống, mà những yếu tố này đều vận động không ngừng nên lập trường người viết ký cũng là một phạm trù lịch sử mang tính

cụ thể

1.2 Đề tài ẩm thực trong ký Vũ Bằng

1.2.1 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng

1.2.1.1 Cuộc đời Vũ Bằng trước cơn sóng gió của lịch sử

Vũ Bằng tên thật là Vũ Đăng Bằng, quê gốc ở huyện Lương Ngọc, tỉnh Hải Dương Ông sinh ngày 3 tháng 6 năm 1914 tại Hà Nội Cha mất sớm, Vũ Bằng ở với mẹ và được mẹ dạy dỗ rất cẩn thận Mẹ ông gửi ông vào trường Albert Sarraut - một trường trung học Pháp rất nổi tiếng thời đó với mong muốn sau này sẽ cho Vũ Bằng sang Pháp du học và trở thành thầy thuốc Nhưng Vũ Bằng đã không thực hiện được nguyện ước của mẹ Ông sớm ném thân mình vào làng báo với một niềm đam mê, nhiệt thành và năng khiếu thiên bẩm Nhưng có lẽ sự lựa chọn nghề báo cũng là đầu mối cho biết bao biến động phức tạp mà Vũ Bằng phải trải qua sau này

Bối cảnh xã hội trước 1945 được Vũ Bằng tái hiện rất cụ thể: "nước ta đang trải qua một thời kỳ hỗn độn Tôi cũng như số đông bạn trẻ không có tinh thần mạnh, cả ngày chỉ nằm đọc những sách chán đời Dần dần mình cũng đâm ra chán cả mình, tôi tìm những cuộc dật dục vọng nhân để tiêu ma sức khoẻ Tinh thần ngày càng bạc nhược thêm [3; tr.32] Cũng chính trong thời điểm đó, Vũ Bằng đã sống bằng nghề viết văn, làm báo như một cách

Trang 29

mưu sinh Hơn thế, ông còn viết bằng tất cả niềm say mê, viết như một nghiệp chướng: "Bao nhiêu sung sướng, bao nhiêu bất hạnh, cả cái vinh nhục từ đó

mà ra cả" [16, tr.13]

Khoảng vào những năm 1933 - 1934, Vũ Bằng kết hôn với bà Nguyễn Thị Quỳ, người phụ nữ đã có một đời chồng và bốn đứa con, hơn ông bảy tuổi Người vợ tần tảo, đảm đang ấy sau này trở đi trở lại trong tác phẩm của

Vũ Bằng như một điểm sáng của tâm hồn

Từ sau mốc lịch sử toàn quốc kháng chiến (12/1946), Vũ Bằng cùng gia đình tản cư về Đàn Đông - chợ kẹp, vùng giáp ranh giữa Hà Nam và hoà Bình Sự thiếu thốn về vật chất đã tác động rất lớn đến tinh thần của mỗi người dân tản cư trong đó có cả một số văn nghệ sĩ Trong hoàn cảnh ấy, Vũ Bằng đã đưa cả gia đình về Hà Nội Hành động này của ông đồng nghĩa với bản án: "Phản bội nhân dân, phản bội cách mạng Những Vũ Bằng đã chấp nhận tất cả những lời đồn đại, những tai tiếng và áp lực khủng khiếp của dư luận xoay quanh việc hồi cư để tạo vỏ bọc an toàn cho cuộc đời hoạt động tình báo của mình

Khó khăn nối tiếp khó khăn Năm 1948, truyện ngắn Đôi mắt của Nam

Cao ra đời Dư luận xấu về Vũ Bằng một lần nữa lại rộ lên khi người ta cho rằng ông chính là nguyên mẫu của nhân vật Hoàng trong tác phẩm này Vậy

là cùng một lúc bao tai tiếng dồn dập đổ vào đầu Vũ Bằng: từ việc hồi cư phản bội cách mạng, phản bội nhân dân đến tai tiếng là một nhà văn xa rời quần chúng, sống ích kỷ theo lối hưởng thụ cá nhân

Trong hoàn cảnh ấy, với một tấm lòng yêu nước, một nghị lực lớn lao

Vũ Bằng đã chấp nhận tất cả Ông đã dứt khoát lựa chọn cho mình cách nhập cuộc thầm lặng và hết sức đẹp đẽ

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954) tình hình đất nước có nhiều thay đổi Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa Mỹ nhanh chóng thế chân Pháp ở miền Nam Mỹ và bọn phản cách

Trang 30

mạng ráo riết tuyên truyền, dụ dỗ, lôi kéo đồng bào, trí thức văn nghệ sĩ, đặc biệt là đồng bào công giáo rời Bắc vào Nam Vũ Bằng đã nhập theo đoàn người này và từ đó nhận thêm một cái án nữa: theo bọn phản động vào Nam Trong hồi ký "Bốn mươi năm nói láo", Vũ Bằng có viết về sự kiện này:

"Nhưng Bắc, Nam cũng là đất nước, sao phải coi chuyến đi này là một cuộc

di cư mà không phải là một vụ chơi bậy bạ để tiêu sầu khiển hứng?" Nói vậy thôi nhưng thực chất bên trong con người đa cảm ấy luôn âm ỉ một nỗi đau tê tái mà nỗi đau lớn nhất là phải xa vợ con và Bắc Việt thân yêu Chia tay với

vợ con, quê hương vào Nam, Vũ Bằng luôn tin rằng, sau hai năm nữa sẽ có hiệp thương thống nhất, Bắc Nam sum họp, ông sẽ được về đoàn tụ cùng gia đình và sống trong lòng Bắc Việt thân yêu Song niềm tin ấy cứ mờ dần bởi hiện thực lịch sử đất nước diễn biến quá phức tạp, hy vọng bây giờ trở thành nỗi sầu xứ lao xao, nỗi mong chờ khắc khoải bây giờ thành sự bất lực Thực

tế của dự kiến hai năm sau để đất nước thống nhất đã kéo dài thành hai mươi mốt năm Ngày 30-4-1975, đất nước hoàn toàn giải phóng song nguyện ước của Vũ Bằng vẫn không thực hiện được Cái án di cư của ông vẫn chưa được xóa bỏ Người vợ mà ông rất mực thương yêu, nhớ nhung ấy đã bị mất nơi quê nhà Tổ ấm gia đình và miền Bắc yêu thương trở thành một hình ảnh đẹp trong ký ức và một giấc mơ không bao giờ có thể thực hiện được của văn sĩ tài hoa gặp nhiều bất hạnh - Vũ Bằng

Khi tất cả còn đang dang dở thì bốn giờ chiều ngày 18-4-1984, Vũ Bằng đã mái mãi ra đi âm thầm, lặng lẽ như chính cuộc đời phục vụ cách mạng của mình Ông ra đi khi lịch sử lúc bấy giờ chưa kịp làm công việc mà

lẽ ra đã phải làm từ lâu đó là xác minh sự thực về cuộc đời Vũ Bằng Cái án oan bất thành văn về con người và cuộc đời của Vũ Bằng vẫn đeo đuổi ông cả khi ông đã nằm xuống Phải đến ngày 01-3-2000, Cục Tình báo chiến lược quân sự - Bộ Quốc phòng mới xác minh được sự thật về cuộc đời ông, khôi phục lại danh dự, nhân phẩm và công lao cho Vũ Bằng

Trang 31

Tìm hiểu Vũ Bằng trong mối quan hệ lịch sử - con người đó sẽ lí giải được vì sao trong nhiều năm qua tên tuổi của Vũ Bằng còn khá xa lạ với bạn

đọc Việt Nam trong khi ông đã có những tư liệu để đời như: Thương nhớ

mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Bốn mươi năm nói láo

1.2.1.2 Sự nghiệp của Vũ Bằng

Trong suốt cuộc đời làm báo, viết văn của mình, Vũ Bằng đã để lại một

sự nghiệp văn học khá lớn trên các thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, nghiên cứu phê bình văn học Ở thể loại nào ông cũng đạt được một số thành công nhất định

Về tiểu thuyết, ông đã cho ra đời một số tác phẩm như: Một mình trong

đêm tối, Truyện hai người, Tội ác và hối hận, Để cho chàng khỏi khổ, Ba truyện mổ bụng, Chớp bể mưa nguồn Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan,

tiểu thuyết Vũ Bằng "có thế mạnh" về tả chân và nhân vật nhưng có lẽ vì chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết Tây nhiều quá, nên giữa những cái dí dỏm, những cái ngộ nghĩnh là những cái ông có tài, người ta thấy ông pha vào những giọng cũng như cử chỉ ngây ngô, làm cho nhiều nhân vật do ông sáng tạo có những cử chỉ xa lạ, những tâm lí phức tạp" [16; tr.105]

Bên cạnh tiểu thuyết, ông còn có các truyện ngắn đăng trên Tiểu thuyết

thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san và một số tờ báo khác với các tác phẩm

khá ấn tượng: Một người bưng mặt khóc, Chàng Kim người Bắc, cô Kiều

người Kinh, Gặp nhau lại xa nhau, Một người rơi xuống hố, Một mình trong đêm tối, Ngày mai tôi sẽ chết, Ở đây bán sách cũ, Cây hoa hiên bên bờ sông

Na, Tất cả để chiến thắng

Truyện ngắn của Vũ Bằng thể hiện quan niệm về "một cõi đời có tội ác,

có nhục nhã và nhát hèn ngự trị", "con người trở thành tôi tớ cho sự lựa chọn của chính mình" Vì thế các nhân vật trong truyện ngắn của ông thường là những nhân vật đa diện có đời sống nội tâm phức tạp Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Vũ Bằng là cảm hứng phê phán bất mãn và cảm hứng

Trang 32

hoài niệm Do đó, giọng chủ đạo trong truyện ngắn của ông là giọng giễu nhại chua chát hoặc trầm mặc, hồi tưởng Có thể nói, với truyện ngắn, Vũ Bằng

có những đổi mới tích cực về cốt truyện, kết cấu, cách xây dựng nhân vật, giọng điệu trần thuật

Ngoài truyện ngắn, ông còn cho in các tập truyện ký: Mê chữ, Bảy đêm

huyền thoại, Rát cơm, Bóng ma nhà mệ Hoát

Ngoài ra, Vũ Bằng còn có một số công trình phê bình nghiên cứu văn

học như cuốn: Khảo cứu về tiểu thuyết (1955) Trong cuốn sách này, ông đã

đưa ra một số quan niệm về tiểu thuyết và cách viết tiểu thuyết như: thuật tả chân tư tưởng trong tiểu thuyết, tả chân ngôn ngữ, nhân vật sống, ngôi kể, giọng điệu trong tiểu thuyết Nhìn chung, Vũ Bằng đề cao thuật tả chân trong tiểu thuyết mới Có thể khẳng định đây là một công trình nghiên cứu có giá trị về tiểu thuyết

Mỗi thể loại có những thành công ở những mặt khác nhau, song mảng tác phẩm làm nên sức hấp dẫn, tên tuổi của Vũ Bằng phải kể đến ký với các

tác phẩm in dấu phong cách của ông như: Cai (viết năm 1940 - xuất bản 1942)

Miếng ngon Hà Nội (1952 - 1960)

Thương nhớ mười hai (1960 - 1971)

Bốn mươi năm nói láo (1969)

Món lạ miền Nam (1969)

Nhìn chung, ký của Vũ Bằng mượt mà, sâu lắng, đậm chất trữ tình, gợi dậy linh hồn dân tộc

Có thể nhận định rằng, trong suốt năm mươi năm cầm bút, Vũ Bằng đã

để lại một sự nghiệp văn chương khá lớn Bất chấp những dư luận xã hội, những tai tiếng, những sóng gió của lịch sử ập đến cuộc đời song tác phẩm của Vũ Bằng vẫn khẳng định được chỗ đứng vững chắc của mình trong lịch

sử văn học nước nhà và trong trái tim bạn đọc

Trang 33

1.2.2 Ẩm thực như một phương diện văn hóa

Văn hóa là "đẳng cấp" cao nhất để phân biệt con người với động vật

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa vì mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình nghiên cứu

Thuật ngữ "văn hóa" là từ Việt, gốc Hán, "văn" nghĩa là đẹp, "hóa" có nghĩa là sự vận động, phát triển và toàn diện

Tổ chức văn hóa thế giới UNESCO định nghĩa về văn hóa: "Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán

và dấn thân một cách có đạo lí " [57, tr.51]

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, kỹ thuật, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ các sáng tạo

và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [49, T.184)

Theo Trần Ngọc Thêm: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội và chính bản thân mình" [50, tr.10]

Như vậy, văn hóa là một khái niệm rộng, nó bao gồm hai phạm trù ý nghĩa, đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Trang 34

Nghĩa rộng: Văn hóa chỉ toàn bộ các giá trị sản phẩm vật chất, tinh thần

do con người sáng tạo ra

Nghĩa hẹp: Văn hóa thiên về các giá trị văn hóa tinh thần hoặc chỉ mối quan hệ ứng xử giữa con người và con người

Vậy nên, văn hóa được coi là cốt lõi, bản linh, bản sắc và những truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc

Theo Từ điển tiếng Việt: "Ẩm thực" chính là ăn uống - là hoạt động để

cung cấp năng lượng cho con người và hoạt động

"Ăn uống" liên quan hầu hết mọi lĩnh vực, hoạt động của đời sống xã hội con người Nó vừa mang những giá trị vật chất, vừa mang những giá trị về mặt tinh thần, nó không chỉ gắn liền với môi trường sinh thái mà còn mang những bản sắc riêng của từng vùng, miền địa phương hay trong từng gia đình với những phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo thói quen, khẩu vị, hết sức

đa dạng, tinh tế và nhạy cảm

Từ lâu ông cha ta đã có một nhận thức rất sâu sắc về vị trí và vai trò của ăn uống đối với cuộc sống của con người, coi ăn như trời, lấy ăn làm trời

"dân dĩ thực vi thiên" Mặc dù biết rõ "có thực mới vực được đạo" nhưng không phải vì thế mà nhân dân ta tuyệt đối hóa ăn uống, coi ăn uống là tất cả,

là trên hét Ngoài những giá trị về dinh dưỡng mà ăn uống đưa lại, cha ông ta còn tìm thấy trong đó một ý nghĩa rất sâu xa, đó là nhân cách là phẩm chất, là đạo lí của con người trong ăn uống: "miếng ăn miếng nhục", "ăn trong nồi, ngồi trông hướng"

Thế nhưng vấn đề "ẩm thực" không chỉ là một nhu cầu cần thiết của con người mà còn là cả một "nghệ thuật", hơn thế còn là cả "một nền văn hóa": "Ai đã bảo ăn uống là một nghệ thuật? Hơn thế, ăn uống là cả một nền văn hóa đấy chứ!" [5] Nét văn hóa trong ăn uống làm cho con người trở nên thanh lịch, biết cách ứng xử và giao tiếp hơn Nếu như trước kia, trong thời kỳ

Trang 35

quá khó khăn các món ăn chỉ để đáp ứng nhu cầu ăn cho no bụng thì khi kinh

tế đã vững vàng hơn, con người quan tâm đến các giác quan Người ta ăn bằng thính giác, thị giác, vị giác, thính giác và cả cảm giác nữa Vì thế các món ăn, đồ uống được chế biến và bày biện một cách đặc sắc hơn, cầu kỳ hơn, nấu ăn cũng như thưởng thức món ăn trở thành một nghệ thuật kết tinh

từ sự đam mê và tinh thần sáng tạo của con người Ẩm thực từ đó không chỉ được tiếp cận ở góc độ văn hóa vật chất mà chứa đựng trong đó văn hóa tinh thần

Chẳng hạn, tiết canh, cháo lòng là một món ăn cực kỳ bình dân, mọi lớp người trong xã hội đều có thể ăn được Nhưng, với Vũ Bằng đó còn là một thức ăn thanh lịch vào bậc nhất Vì thế, khi thưởng thức món ăn nay ta cũng phải có một "kiểu" riêng rất lịch thiệp, từ tốn chứ không thể nhồm nhoàm, nóng vội, hồ đồ được: "không có ai lại nhồm nhoàm tống luôn 3 miếng gan hay cổ hũ vào miệng một lúc bao giờ Dù bận rộn hay háu ăn đến thế nào đi nữa, người ta cũng nhởn nhơ gắp từng bộ phận của con heo Ăn nhiều kém ngon đi Nhưng muốn thưởng thức lòng cho ra trò, phải đưa tí cay,

tí rượu Có tí rượu, lòng tự nhiên nổi hẳn vị lên, cái bùi dường như bùi hơn, cái béo dường như cũng béo hơn lên một chút Gắp một miếng lòng tràng, chấm đến mắm tôm chanh, ớt mà ăn, rồi thong thả lấy ngón tay cái và ngón tay trỏ nhón một cánh mũi hay là rau thơm điểm vị, anh sẽ cảm thông hết cả cái tốt đẹp của buổi thanh bình ăn uống nhởn nha, đồng thời lại thấu hiểu cái đặc biệt của miếng ngon đất nước" [5, tr.156] Cách ăn đó chắc chắn không chỉ đơn thuần là ăn cho no mà cao hơn đó còn là một "nền văn hóa ẩm thực" chứa đựng đầy đủ sự tinh tế, khéo léo của người thưởng thức

Ngay trong cách phối hợp các chất liệu để chế biến món ăn đặc biệt trên ta cũng thấy có cả một nghệ thuật, chứng tỏ con mắt thẩm mĩ của người Việt đạt tới đỉnh cao: "Gan thì ngòn ngọt mà lại đăng đắng, ăn vào với rau mùi lại thấy thơm thơm; tim nhai vào miệng cứ lừ đi; cổ hũ dòn tanh tách;

Trang 36

lòng tràng sậm sựt; còn ruột non thì quả là đáo để, mới cắn tưởng là dai nhưng kỳ thực lại mềm, ăn vào cứ lo nó đắng, thành thử đến lúc thấy nó ngọt

và bùi thì cái bùi và cái ngọt ấy lại càng có giá trị Tất cả những thứ đó, cùng một vài miếng phổi và mấy miếng dồi mỡ thái bằng con dao thật bén và xếp đặt lớp lang như một bản tuồng diễm tuyệt Điểm vào đó, còn ớt màu đỏ, thơm mùi và húng màu ngọc thạch, thiên thanh, mắm tôm chanh màu hoa cà

ba thứ đó tươi cười ngự trị ở bên màu trắng ngà của lòng tràng, màu trắng xanh của ruột non, màu trắng phơn phớt lòng tôm của cổ hũ, tạo thành một cuộc "chơi màu sắc" hoa dịu làm cho tâm hồn người ăn tự nhiên thơ thới" [5, tr.156 - 157] Rõ ràng miếng ăn không hề mang màu sắc tục tằn mà trái lại nó hết sức thanh nhã khi được lọc qua tâm hồn ưa hài hòa, dịu mát của người chế biến

Văn hóa ẩm thực bao hàm nhiều tầng nghĩa khác nhau, có thể hiểu khái niệm này ở hai góc độ

Theo nghĩa rộng: Văn hóa ẩm thực là một phần văn hóa nằm trong tổng thể, phức thể, các đặc trưng diện mạo về vật chất, tinh thần, trí thức, tình cảm, khắc họa một số nét cơ bản, đặc sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia Nó chi phối một phần không nhỏ trong cách ứng xử và giao tiếp của một cộng đồng, tạo nên đặc thù của cộng đồng ấy Trên bình diện văn hóa tinh thần, văn hóa ẩm thực là cách ứng xử, giao tiếp trong ăn uống và nghệ thuật chế biến thức ăn, ý nghĩa biểu tượng, tâm linh trong món

ăn đó Và nếu tinh ý thì qua ăn uống ta có thể thấy được con người đối đãi với nhau như thế nào

Theo nghĩa hẹp: Văn hóa ẩm thực là những tập quán và khẩu vị của con người, những ứng xử của con người trong ăn uống, những phương thức chế biến, bày biện trong ăn uống và cách thưởng thức món ăn Hiểu và sử dụng đúng các món ăn sao cho có lợi cho sức khỏe nhất của gia đình và bản thân, cũng như là thẩm mĩ và mục tiêu hướng tới của mỗi con người

Trang 37

1.2.3 Ẩm thực kết tinh tình yêu về đất nước, con người Việt Nam

Trong Miếng ngon Hà Nội, Vũ Bằng khẳng định: "Ôi là miếng ngon Hà

Nội! Cái ngon thiên hình vạn trạng làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn; cái ngon làm cho người ta thương mến nước non, thương mến từ cái cây ngọn cỏ thương đi, thương mến từ con cá, miếng thịt của đồng bào mà thương lại; cái ngon làm cho người ta tự bắt buộc phải quý hóa từ mấy lá thìa

là, cải cúc, từ một xóc cua đồng, từ mấy ngọn hùng láng của những người thôn ổ đã chăm chút trồng nên" [5, tr.181] Khẳng định như vậy tức là Vũ Bằng đã gián tiếp kết luận rằng: ẩm thực kết tinh tình yêu về đất nước, con người Việt Nam Nghe có vẻ hơi mơ hồ, diệu vợi song nó lại hoàn toàn chính xác nếu ta đi vào phân tích từng khía cạnh của vấn đề

Ẩm thực không phải tự nhiên có mà có được do sự vất vả một nắng hai sương của những người nông dân ngày đêm cần mẫn trên đồng ruộng, bờ bãi,

ao hồ chăm chút vun trồng từng ngọn rau, cây lúa, dây khoai Ẩm thực có được là do bàn tay khéo léo và tâm hồn tinh tế của biết bao người bà, người

mẹ, người chị của biết bao người nấu ăn giỏi ở mọi vùng quê của đất nước

Ẩm thực ẩn chứa trong đó sự tài hoa, trái tim nhân hậu và biết bao niềm yêu nỗi nhớ của mỗi cá thể con người Ẩm thực đôi khi đóng vai trò là bức thông điệp của tấm lòng mà con người trao gửi cho nhau Vậy nên ẩm thực đơn thuần không phải chỉ là ăn uống mà sâu hơn nó là sự kết tinh tình yêu về đất nước và con người Việt Nam Những con người luôn bao la một trái tim nhân

ái, khát khao tìm đến sự đồng điệu về tâm hồn từ món ăn, đồ uống

Mặt khác, ẩm thực hoàn toàn không mang tính chất đồng bộ mà nó mang đậm dấu ấn của mỗi địa phương Mỗi vùng miền, mỗi tỉnh thành có một đặc sản khác nhau và có thể nói nó gần như đã trở thành thương hiệu của vùng miền đó, tỉnh thành đó Chẳng hạn nói đến cốm người ta nghĩ ngay đến Cốm làng Vòng Hà Nội, nghĩ ngay đến những ruộng lúa bát ngát hương

Trang 38

thơm, đến ngọn gió vàng heo hắt trở về vào mùa thu ở Bắc Việt, nghĩ ngay đến những đòn gánh cong hai đầu như chiếc thuyền rồng của các cô gái bán cốm thật duyên dáng, đáng yêu của làng Vòng đưa cốm đến mọi ngả đường ở phố phường Hà Nội Nói đến chuối ngự người ta nghĩ ngay đến vùng quê Hải Hậu, Hà Nam với những vườn chuối thẳng đều tăm tắp, những quả chuối vàng tươi căng tràn nhựa sống, ngọt đằm thắm và thơm dịu dàng Nói đến Hưng Yên người ta sẽ tưởng tượng ngay ra những khu vườn xanh tốt với không biết bao nhiêu là nhãn lồng cùi dày, hạt nhỏ, hương thơm ngào ngạt Nói đến Huế người ta không thể quên bánh bột lọc, đến mè xửng, đến bún bò Huế và kéo theo đó là cả một kinh thành Huế lộng lẫy xa xưa trở về trong tâm trí người thưởng thức, rồi các cô gái Huế dịu dàng, sông Hương thơ mộng Nói đến miền Tây Nam Bộ người ta chợt ngất ngây với vùng sông nước bao la, với miệt vườn đủ các loại trái cây thơm ngon: sầu riêng, chôm chôm, vú sữa, bơ xoài và người ta thấy vang vọng đâu đây những giai điệu cải lương da diết, mê hồn

Đâu đâu trên khắp đất nước Việt Nam cũng có hoa thơm trái ngọt, có miếng ngon làm rộn ràng lòng người, làm người ta ăn mà nhớ mãi Và mỗi khi được thưởng thức miếng ngon đó ta lại thêm yêu, thêm quý một đất nước nhỏ bé mà tươi đẹp, thanh bình và thêm yêu, thêm mến đồng bào ta ở mọi miền - những con người đang góp sức mình làm nên một quê hương phồn vinh, một đất nước vững mạnh và gần gũi nhất, họ chính là chủ nhân của những món ngon làm nên dáng vẻ riêng của mỗi vùng cho đồng bào, đồng chí, anh em trong cả nước thưởng thức

Trang 39

Chương 2 VĂN HÓA ẨM THỰC

QUA HAI TÁC PHẨM KÝ: MIẾNG NGON HÀ NỘI

VÀ THƯƠNG NHỚ MƯỜI HAI CỦA VŨ BẰNG

Khảo sát hai tác phẩm ký Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai

của Vũ Bằng, chúng tôi thấy văn hóa ẩm thực nổi bật qua ba phương diện: qua các món ăn dân dã, thấp thoáng trong hình bóng cố nhân - người vợ yêu của Vũ Bằng, sâu đằm qua tâm hồn đậm "nỗi sầu xứ" của văn sĩ tài hoa

2.1 Nét đẹp của văn hóa ẩm thực qua các món ăn dân dã

Trong con mắt của người xứ Bắc xa quê, đặc biệt là với người có hoàn cảnh đặc biệt như Vũ Bằng thì các món ăn dân dã, bình dị cũng trở thành nỗi

ám ảnh khôn nguôi, trở thành niềm thương nỗi nhớ và thực chất nó cũng là một nét đẹp rất riêng của nền văn hóa Bắc Việt Vậy nên, thật dễ hiểu khi

trong Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng đã rất trân trọng

nâng chúng lên thành cả một nền văn hóa ẩm thực rất đặc sắc và độc đáo

Trần Đăng Khoa trong Chân dung và đối thoại thật có lí khi cho rằng: "Đây là

những tập sách có thể được coi là những kiệt tác về ăn uống Ở đó, những món ăn không thuần túy là chuyện thực phẩm nhằm đáp ứng cho việc co bóp của cái dạ dày, mà cao hơn, nó là hồn vía cả một vùng đất”

Cũng giống như các cây bút khác viết về ẩm thực như Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Tô Hoài Vũ Bằng quan tâm nhiều hơn tới các món ăn bình dân phổ biến trong đời sống chứ không phải là những "cao lương mĩ vị" ít gặp hiếm thấy Tất cả những nhà văn rất "sành ăn" và tinh tế trong thưởng thức đó đều gặp nhau ở tư tưởng tôn trọng các giá trị văn hóa kết tinh sự bình dị của các món ăn Các món ăn rất đỗi bình thường, gần gũi song thật sự nó không tầm thường Đó là sản phẩm của cả một quá trình lịch sử đời sống cộng đồng sáng tạo và hoàn thiện, là sự chưng cất tất cả tinh túy của một vùng đất, là tinh hoa của những tấm lòng, những tâm hồn yêu thiên nhiên, đất nước, con người

Trang 40

Thạch Lam viết về bánh cuốn, xôi cháo, cơm nắm, tiết canh và lòng lợn, phở bò, cốm, bánh dẻo Tô Hoài viết về cháo bột lọc, bún ốc, phở gánh Nguyễn Tuân viết về phở, giò lụa bánh dẻo Cũng viết về các món

ăn đó song Vũ Bằng có cách tiếp cận và thể hiện món ăn theo cách riêng của mình Vũ Bằng viết về các món ăn không phải bằng cách dạo quanh các phố phường Hà Nội rồi chiêm nghiệm như Thạch Lam, cũng không phải bằng cách vừa thưởng thức, vừa viết như Nguyễn Tuân Vũ Bằng viết về món ăn bằng dòng hồi ức về quê hương Đó là cả một vấn đề khó khăn do việc gián cách về thời gian và không gian vời vợi Nhưng thật tuyệt vời khi Vũ Bằng đã san lấp mọi sự bất lợi mang tính chất khách quan đó bằng sự tinh tế, tài hoa của người nghệ sĩ, đặc biệt là bằng tình yêu, sự gắn bó sâu nặng với Bắc Việt, với Hà Nội, với từng góc phố, con đường và đặc biệt là sự cảm tạ chân thành với những con người bình dị đã sáng tạo ra những món ăn tuyệt hảo như thế Bởi vậy, trong hồi ức của người xa xứ, cả một nền văn hóa ẩm thực của Hà Nội của Bắc Việt được hiện lên một cách rõ ràng, sinh động và ấn tượng nhất Nỗi nhớ quê hương hình như bao giờ cũng bắt đầu từ những hình ảnh bình dị

ấy - cái bình dị dễ đi vào lòng người và dễ làm cho người ta say mê, khao khát đến không ngờ

Đọc xong Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai, người đọc dễ

hình dung được đời sống của người dân xứ Bắc qua các món ăn của họ Trong

ẩm thực, người Bắc không quá cầu kỳ, song cũng không quá dễ dãi, cẩu thả trong việc nấu ăn Cái quan trọng nhất của một món ăn theo Vũ Bằng là sự kết hợp của bốn yếu tố: sự phong phú của các món ăn, sự kết hợp hài hòa của chất liệu, sự tinh tế trong thưởng thức món ăn, sự chế biến khéo léo của những con người bình dị

2.1.1 Nét đẹp của văn hóa ẩm thực qua sự phong phú của các món ăn

Trong dòng hồi ức Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai của

Vũ Bằng không đâu lại nhiều món ăn như Hà Nội, như Bắc Việt, bởi vì theo

Ngày đăng: 23/07/2015, 17:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w