Cũng viết về đề tài nông thôn nhưng phong cách sáng tác trong các tác phẩm của Ngô Ngọc Bội mang những sắc thái riêng, khác biệt với các nhà văn cùng thời.. Cùng với nhiều nhà văn xuất s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phan Trọng Thưởng
HÀ NỘI, 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới quý thầy cô giáo trong Tổ Lí luận văn học - Khoa Ngữ văn và Phòng Sau đại học - Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian tôi học tập tại đây để hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến PGS TS Phan Trọng Thưởng đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin tỏ lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Yên Bái, Ban Giám hiệu Trường THPT Văn Chấn - Yên Bái đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp luôn bên tôi, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa học
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2012
Tác giả luận văn
Vũ Thị Toan
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phan Trọng Thưởng Kết quả nghiên cứu này không trùng lặp với các đề tài khác
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với nội dung công trình khoa học này
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2012
Tác giả luận văn
Vũ Thị Toan
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nông nghiệp và nông thôn luôn là mảnh đất màu mỡ phì nhiêu, nuôi dưỡng vun đắp cho bao thế hệ nhà văn trưởng thành và phát triển Với các tên tuổi như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân trong văn học giai đoạn 1930-1945 thì đến những năm 1960 trở về sau chủ đề ấy lại đựợc khẳng định ở các tên tuổi như: Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy, Chu Lai, Nguyễn Quang Thiều, Hồ Anh Thái, Hoàng Minh Tường, Nhật Tấn, Phan Tứ, Nguyễn Ngọc Tư… và nhà văn Ngô Ngọc Bội
Đề tài nông thôn luôn là cảm hứng vô tận của các nhà văn trong những thời điểm lịch sử khác nhau và mang những dấu ấn đặc biệt khác nhau Nó có sức mạnh cổ vũ lớn lao cho người nghệ sĩ nung nấu, nuôi dưỡng đứa con tinh thần của mình ra đời Nếu như đề tài nông thôn trong văn học giai đoạn trước (1930-1945) chủ yếu đề cập đến vấn đề giai cấp, địa chủ với nông dân và sự
áp bức bóc lột của chế độ thực dân phong kiến làm cho đời sống của người nông dân vô cùng cực khổ, thì văn học từ những năm 1960 trở lại đây, đặc biệt là những năm 1960-1986 mảng đề tài này gắn với hợp tác hóa nông nghiệp, với cải cách ruộng đất Diện mạo nông thôn có nhiều biến đổi và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người nông dân Số phận của người nông dân được miêu tả một cách chân thực và sinh động trong mối quan hệ đa chiều, phức tạp Bộ máy quản lí của Nhà nước từ cấp thôn, xã đến cấp huyện và cao hơn nữa ngoài những mặt tích cực thì vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế, tiêu cực có tác động trực tiếp đến cuộc sống và tinh thần của người nông dân trong thời kì đổi mới
Trong số những nhà văn tiêu biểu viết về đề tài nông thôn, Ngô Ngọc Bội là một nhà văn thuộc thế hệ trưởng thành gắn bó với làng quê miền Trung
Trang 5du Bắc Bộ Với sự đa dạng về mặt thể loại như: kí, truyện ngắn, tiểu thuyết nhưng chỉ viết về một đề tài tam nông, nên sáng tác của nhà văn đạt được
nhiều thành tựu Gần đây nhất là giải thưởng: Tác phẩm văn học xuất sắc về
Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn do Bộ Nông Nghiệp và Nông thôn và
Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 3/6/2011 với tiểu thuyết Lá Non được
bạn đọc đón nhận nồng nhiệt
Cũng viết về đề tài nông thôn nhưng phong cách sáng tác trong các tác phẩm của Ngô Ngọc Bội mang những sắc thái riêng, khác biệt với các nhà văn cùng thời Tác phẩm của ông đã phản ánh mọi chính sách có liên quan đến nông nghiệp trong thời kì đổi mới Nội dung bao trùm trong các sáng tác của ông là hướng về số phận người nông dân và đời sống nông thôn, những hoạt động đời sống tình cảm và sản xuất trong nông thôn, nông nghiệp Không gian và thời gian nghệ thuật trong các tác phẩm của nhà văn có sự cách điệu từ không gian và thời gian thường nhật của chính miền Trung du
Phú Thọ Ông được mệnh danh là “người lấy nước ao làng làm mực viết”
(Nguyễn Anh Đào)
Đây là đề tài không mới nhưng nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt của văn học Việt Nam từ xưa cho đến nay Nếu chỉ nhìn ở bề ngoài, bề nổi thì Ngô Ngọc Bội không thuộc số nhà văn nổi cồn, danh tiếng Nhưng có những điều nhà văn phát hiện, phản ánh, tiên đoán về con người và xã hội trong một thời kì lịch sử thì không phải nhà văn nào cũng hiểu hết và mạnh dạn bộc lộ Vì lẽ đó mà những thành tựu về sáng tác của nhà văn được bạn đọc biết đến còn khiêm tốn và dè dặt Hơn thế đây cũng là niềm yêu thích và đam mê tìm hiểu của người viết luận văn
về đề tài nông thôn trong tiểu thuyết của nhà văn, muốn góp phần nhỏ bé của mình qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài này trong văn học nước nhà
Vì thế luận văn có tên là: “Đề tài nông thôn trong tiểu thuyết
của Ngô Ngọc Bội”
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn là mảnh đất nuôi dưỡng những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Song song với đề tài viết về chiến tranh thì đề tài nông thôn cũng làm nên những thành tựu lớn của văn học Việt Nam Cùng với nhiều nhà văn xuất sắc khác viết về đề tài này, nhà văn Ngô Ngọc Bội đã đóng góp phần nào tài năng của mình trong sự nghiệp phát triển văn học dân tộc thời
kì đổi mới Trong quá trình tìm hiểu và thu thập tài liệu, chúng tôi sưu tập được một số bài viết phê bình, bình luận, nghiên cứu về các sáng tác của nhà văn như sau:
Trong buổi Lễ trao giải thưởng cho các tác phẩm văn học, ca khúc sáng
tác về đề tài Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn do Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức vào ngày 3/6/2011
nhà văn Văn Chinh phát biểu về nhà văn Ngô Ngọc Bội: “Trong các lão nông
văn học giờ chỉ có Ngô Ngọc Bội còn son sắt với nông thôn Nhà văn hơn 80 tuổi này có niềm tự hào lạ lùng Từ Phú Thọ về Hà Nội nhưng chỉ viết về một đề tài tam nông, chỉ in một báo Văn nghệ và chỉ đi một xe đạp”
Ngô Kim Đỉnh trong bài “Phong cách Ngô Ngọc Bội”[10] có đoạn nhận xét về nhà văn:“chỉ viết về nông thôn về người nông dân và cũng chỉ
dành ngòi bút mình cho một vùng quê đồi Trung du”[10, tr.5]
Nói về “Tính Đảng trong các tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội”[40], tác
giả bài viết đã chỉ ra giá trị trong các tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội là tính
Đảng: “tính Đảng thể hiện ở nhà văn Ngô Ngọc Bội là ý thức hướng về phục
vụ hàng triệu nông dân lao động sản xuất nông nghiệp với tinh thần khoa học sâu sắc nhất, tinh thần cách mạng triệt để nhẩt nên nó không thể hiện một động cơ cá nhân nào, không có tư lợi về tiền tài, địa vị Tính chiến đấu ấy nhằm vào tất cả những cái lạc hậu, bảo thủ, lười biếng của nông dân cá thể, nhằm vào cái sai lầm do ấu trĩ, nôn nóng, bồng bột, tuỳ tiện, phe cánh, quan liêu, bảo thủ, tham ô, hủ hoá, lũng đoạn, vô trách nhiệm, thiếu tính khoa học,
Trang 7xa rời nhân dân của cán bộ, đảng viên ở các cấp thôn, xã, huyện, tỉnh Nó cũng không né tránh cả việc phản ánh phê phán những sai lầm do chính đường lối của Đảng trong chính sách cải cách ruộng đất, chính sách tập thể hoá sản xuất nông nghiệp trong quá trình xây dựng hợp tác xã cấp thấp và cấp cao”[40, tr.17] Nói như tác giả bài viết thì tính Đảng trong tiểu thuyết
của Ngô Ngọc Bội gắn liền với nhân dân, với quần chung lao động, và nhà văn đã chỉ ra phần nào cái gốc rễ sự thất bại của các chủ trương sản xuất lớn trong nông nghiệp
Dương Huy Thiện trên trang “Trang đời trang sách” đã nhận xét về tác phẩm Mênh mang cổng trời của Ngô Ngọc Bội như sau: “Mênh mang
cổng trời mang tính tổng hợp với độ chín về bút pháp, thể hiện rõ style Ngô Ngọc Bội Con người trong tác phẩm là con người có xương, có thịt hệt như người ngoài đời”
Nhà văn Văn Chinh đã dành khá nhiều bài viết của mình về nhà văn
Ngô Ngọc Bội Trong bài viết “Ngô Ngọc Bội - nhà văn của chiếc áo mới
mặc buổi đêm” trên mục Chân dung nghệ sĩ văn học nghệ thuật Phú Thọ có
đoạn: “Ngô Ngọc Bội, ngoài cái thiên bẩm mạnh mẽ, ông còn một phông văn
hoá vững vàng học hỏi và tích tụ từ trí tuệ dân gian Ông là người tiên khởi
về vấn đề dòng họ, tinh thần bè phái phe giáp trong nội bộ ở tiểu thuyết Lá non, hơn mười năm trước cái Mảnh đất lắm người nhiều ma xuất hiện” Để
khẳng định tài năng, chất văn chương nông thôn của Ngô Ngọc Bội như một
điểm sáng làm nên vệt sáng của sao chổi văn xuôi, Văn Chinh còn nhận xét:
“Người sinh ra chỉ chuyên viết về nông dân, nông thôn, học hành không nhiều nhưng như một ông Phêrô gác cửa thiên đàng văn học, ông đã mở cửa
để làm nên vệt sáng của sao chổi văn xuôi gần hai thập kỉ trên báo Văn nghệ
Ấy là thiên lương vậy”
Trang 8Cũng viết về nhà văn Ngô Ngọc Bội, trên trang Vietbao.vn ngày 14/10/2007 nhà văn - nhà giáo Nguyễn Anh Đào có viết: “Thế mạnh của Ngô
Ngọc Bội ham mê và kiên gan với văn chương nhiều hơn là bản năng văn chương Đọc văn ông như thấy ông đang trèo cọ hom tàn, đang cuốc nương đồi sỏi, hoang dại, giản đơn nhưng không phải ai cũng có thể viết như ông Một tấm gương nông dân viết văn thành nhà văn”
Trong Hội thảo khoa học nhà văn Ngô Ngọc Bội - Nguyễn Hữu
Nhàn với đề tài Nông nghiệp - Nông thôn - Nông dân do Hội Nhà văn Việt
Nam và Hội văn học nghệ thuật Phú Thọ phối hợp tổ chức ngày 28/11/2009 tại thành phố Việt Trì - Phú Thọ Cuộc hội thảo đã đánh giá cao vị trí của nhà văn qua những sáng tác viết về đề tài Nông nghiệp - Nông thôn - Nông dân
Các tác phẩm như Chị Cả Phây, Ao Làng, Ác mộng, Lá non… đã phác họa
những bức tranh nông thôn và những người nông dân khi chưa có đường lối đổi mới của Đảng, quẩn quanh tù túng cùng với những “Nỗi riêng khép mở”
Trong cuốn Nhà văn hiện đại Vĩnh Phú do nhóm tác giả biên soạn của
Viện văn học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội TW, gồm 30 nhà văn, nhà thơ quê ở Vĩnh Phú Về nhà văn Ngô Ngọc Bội do PGS TS Mai Hương biên soạn Chị Mai Hương đã tự đọc và tự ghi âm tặng riêng anh Bội bài chị viết tháng 7/1993
Trong bài viết của mình, PGS TS Mai Hương đã đánh rất cao về con
người cũng như quá trình sáng tác của nhà văn: “Phải nói ít người có ưu điểm
mọi bề như Ngô Ngọc Bội, sinh ra ở nông thôn, đã từng lặn lội trong cải cách ruộng đất, đã qua mười năm liên tục ở cơ sở, cùng vật lộn với người nông dân trong mọi việc: chống úng, chống lụt, chống hạn, chống đói, chống rét, tổ chức hợp tác xã vòng I, vòng II Và dẫu cho rằng xa rời Trung du về sống giữa đô thành anh vẫn là người trong cuộc Vẫn da diết, trăn trở, chia từng niềm vui, nỗi buồn cùng người nông dân, cùng xót xa với những thất bại, nổi
Trang 9chìm của quê nghèo”[18, tr.183]. Về nghệ thuật, PGS TS Mai Hương cũng rất công bằng, phân minh khi đưa ra lời nhận xét đánh giá về nhà văn như sau:
"Đọc anh có người nhận xét: Kết cấu tác phẩm cổ điển, chất phóng sự khá rõ,
nhiều chỗ dàn trải, dài dòng Những nhận xét có thể ít nhiều có lí, nhưng đọc anh, điều ai cũng phải khẳng định: anh đã lao động công phu biết bao trong từng trang sách Không kể đến những ưu điểm nổi trội anh tiếp nhận được từ quần chúng"[18, tr.188] Song song với tiểu thuyết thì truyện ngắn và bút kí
của Ngô Ngọc Bội cũng đạt được những thành tựu với nhiều tác phẩm xuất
sắc như: Đồng lực, Đồi vàng, Tình cát sỏi, Nỗi riêng khép mở, Bộ quần áo
mới, Chị cả Phây… Trong bài viết của mình PGS TS Mai Hương nói về khả
năng sáng tác cũng như tâm tư, tình cảm đầy nhiệt huyết của nhà văn thông
qua tác phẩm:“Thực ra Ngô Ngọc Bội không viết nhiều truyện ngắn, nhưng
truyện của anh cứ chất chứa một tâm sự, một trăn trở đầy trách nhiệm tâm huyết mà anh đã phát hiện được”[18, tr.186] Còn bút kí của nhà văn có lẽ
không chỉ đạt về chất mà còn cả về khối, hàng loạt các bài bút kí của tác giả
như lời nhận xét, đánh giá của PGS TS Mai Hương thì đã: “phát hiện, đề
cập đến những vấn đề cấp thiết có ý nghĩa tác động trực tiếp đến đời sống…
ai đã từng đọc khó có thể bàng quan, không nghĩ, không băn khoăn trăn trở
và không thấy một nhu cầu: Phải góp phần giải quyết, tháo gỡ”[18, tr.186]
Trên báo Văn nghệ số 50 (11-12-2010), Nguyễn Văn Chương ở thành
phố Vinh - Nghệ An cũng có bài viết “Đọc Hoa Ngọc Bút” của Ngô Ngọc
Bội Bài viết ngoài việc ca ngợi nội dung tác phẩm, khẳng định tài năng viết sáng tạo, hấp dẫn lôi cuốn thì theo Nguyễn Viết Chương, thành công của tác
phẩm Hoa Ngọc Bút của nhà văn là: “Đằng sau những câu chữ bình dị, ngôn
ngữ mộc mạc, câu văn ngắn gọn đại chúng còn có những lớp ngữ nghĩa tiềm
ẩn (vô ngôn) như những lớp quặng trầm tích nằm sâu trong lòng đất có giá trị thông điệp được nhiều điều dành cho người đọc suy ngẫm”[25, tr.22]
Trang 10Trên đây là một số trong nhiều bài viết chúng tôi sưu tầm được làm minh chứng cho sự quan tâm, yêu thích và cả sự ngưỡng mộ, trân trọng tài năng nhà văn Ngô Ngọc Bội của độc giả với nhiều ý kiến khen, chê khác nhau Có thể nhận thấy, các bài viết trên mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, cảm nhận, phê bình, phân tích, lí giải một cách khái quát về đề tài nông nghiệp, nông thôn trong các sáng tác của nhà văn, chứ chưa đi sâu nghiên cứu, lí giải
nó một cách cụ thể, có hệ thống vào nhân vật, tác phẩm để thấy được vị trí cũng như giá trị văn chương của Ngô Ngọc Bội trong văn học nước nhà Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng các bài viết ngợi ca, phân tích, khái quát giá trị nội dung cũng như nghệ thuật tác phẩm có giá trị tham khảo, là tư liệu cần thiết và bổ ích đối với các thế hệ quan tâm đến chuyên đề này
Thứ ba, chúng tôi tìm ra những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật, thấy được những sáng tạo và đóng góp của nhà văn viết về đề tài nông thôn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, luận văn thực hiện những nhiệm
vụ sau:
Trước hết, luận văn cố gắng tìm hiểu, tái hiện diện mạo nông thôn trong lịch sử văn học từ văn học dân gian đến văn học hiện đại và sự hình thành đội ngũ nhà văn viết về nông thôn Đó là cơ sở xác lập cảm hứng sáng tác về đề tài nông thôn của nhà văn
Trang 11Thứ hai, để chứng minh cho tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội đạt được những giá trị nổi bật về nội dung và nghệ thuật, thấy được những điểm riêng
và sự cống hiến của nhà văn, luận văn sẽ tập trung tìm hiểu, phân tích, lí giải những vấn đề của nông thôn trong thời kì đổi mới với bản sắc văn hóa, hiện thực xã hội, số phận người nông dân để thấy được tầm nhìn, những dự báo của nhà văn về vấn đề này
Cuối cùng, luận văn đi sâu vào phân tích một số đặc điểm cơ bản về phương diện nghệ thuật thể hiện bức tranh nông thôn trong tiểu thuyết của nhà văn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung khảo sát bức tranh nông thôn ở vùng Trung du miền Bắc Việt Nam qua tiểu thuyết của nhà văn Ngô Ngọc Bội Những vấn đề đó tập trung trong một số tiểu thuyết của
nhà văn như: Ao Làng (1975), Lá non (1987), Ác mộng (1990), Gió đưa cành
trúc (1992), Mênh mang cổng trời (1996), Tơ vương (2000), Đường trường khuất khúc (2003)
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Văn học thời kì đổi mới phần lớn phản ánh những vấn đề xã hội như: vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề chiến tranh, hậu chiến tranh, vấn đề con người và quan niệm về giá trị con người trong môi trường xã hội mới…
Ở đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi tìm hiểu, khai thác vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội
6 Phương pháp nghiên cứu
Với yêu cầu và mục đích hướng tới của đề tài, chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp phân tích tổng
Trang 127 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên khảo sát một cách cụ thể về đề tài nông thôn trong tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội Với một nhà văn suốt đời lặng lẽ góp nhặt những chữ của đời để viết nên trang, phải chăng sự lặng lẽ, âm thầm
ấy khiến cho bạn đọc chưa thực sự hiểu hết được giá trị văn chương của tác giả có ý nghĩa to lớn trong quá trình phát triển của văn học dân tộc Vì thế tác giả luận văn cố gắng tìm hiểu và lí giải về giá trị nội dung cũng như đặc sắc
về nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn để bạn đọc quan tâm hơn, có cái nhìn khách quan và thiện chí hơn về sự nghiệp văn chương của tác giả
Luận văn cũng đóng góp thêm tiếng nói cá nhân của người nghiên cứu vào việc khẳng định giá trị tác phẩm và tài năng của nhà văn trên văn đàn văn học về đề tài nông thôn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có cấu trúc gồm 3 phần: Chương 1: Đề tài nông thôn trong lịch sử văn học
Chương 2: Những vấn đề của nông thôn Việt Nam trong tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện bức tranh nông thôn trong tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội
Trang 13
NỘI DUNG
Chương 1
ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC
1.1 Khái quát chung về đề tài nông thôn trong văn học
1.1.1 Đề tài nông thôn trong văn học dân gian
Điểm xuất phát và truyền thống của người Việt bắt nguồn từ nền văn minh sông Hồng gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước Từ xa xưa, bao đời nay, ông cha ta, những người dân đất Việt sinh ra, lớn lên và trưởng thành từ cái nôi của nền văn minh nông nghiệp ấy Văn học dân gian là chiếc cầu nối chuyển tải những tâm tư, tình cảm của con người, là ngợi ca cuộc sống nông nghiệp của nhân dân ta Văn học dân gian ngày được nhân dân lao động nhận thức và đón nhận như một hoạt động nghệ thuật (không chuyên nghiệp) trong lao động sản xuất và người nông dân trở thành đối tượng phản ánh chủ đạo trong các bài ca dao, dân ca, tục ngữ Tên của mỗi thể loại gắn liền với tên của mỗi hình thái lao động cụ thể Nó được hình thành và được trình diễn kèm theo với hoạt động lao động, gắn bó và quen thuộc với nhiều dân tộc anh em, nhất là các dân tộc Tây Nguyên Chẳng hạn, dấu hiệu khiến người ta rủ nhau lên rừng phát nương để bắt đầu một vụ sản xuất mới là lời ca lao động hòa cùng tiếng dao rựa chặt cây ồn ã, khẩn trương, nhộn nhịp:
Hô… hô… hô… hô…
Anh đốn cây to Chị chặt cây nhỏ
Cỏ rạp cây ngã
Đã bạt bao đời
Cuộc sống của người nông dân vất vả một năng hai sương, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, bao cơ cực, nghèo khó, nhọc nhằn ấy được nhân dân
Trang 14lao động gửi gắm trong những bài ca dao, những lời hát ru như thấm sâu vào tâm hồn mỗi con người, nuôi nấng bao thế hệ trưởng thành Để rồi mỗi khi đi
xa, khi nghĩ về quê hương, về cái nôi đã nuôi dưỡng sinh thành ấy lại bồi hồi, xúc động Chính cuộc sống bần hàn ấy đã giúp con người có nghị lực vượt lên những khó khăn, chông gai, trở ngại trong cuộc sống:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Rẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần Hay cuộc sống nông nghiệp của người nông dân còn gắn với tình nghĩa
vợ chồng, sẻ chia những lúc buồn, vui, đem đến cho họ niềm lạc quan vào cuộc sống nghèo nhưng hạnh phúc, yên bình:
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa Bằng những câu nói ngắn gọn, súc tích, tục ngữ “diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ đời sống, kinh nghiệm xã hội - lịch sử của nhân dân lao động” (M.Gorki) Tục ngữ vừa tổng kết những kinh nghiệm sống, vừa thể hiện lí tưởng sống của nhân dân trong một hình thức đặc thù mang tính nghệ thuật của ngôn ngữ dân gian Trong loại tục ngữ về kinh nghiệm và kĩ thuật trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, thì tục ngữ nói về làm ruộng chiếm đa số Chẳng hạn, kinh nghiệm chăm bón cây trồng được nhân dân đúc kết:
- Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân
- Một lượt tát, một bát cơm Trong thể loại truyện, thần thoại, sử thi đều phản ánh đến cuộc đời, số phận của con người, đặc biệt là người nông dân lao động Hình ảnh các nhân vật: cô Tấm (Tấm Cám), Lang Liêu (Bánh Chưng, bánh Dày), Đam Săn (Sử thi Đam Săn), Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương)… đều mang dấu ấn và
Trang 15thấm nhuần chất nông dân từ con người, tính cách, suy nghĩ đến hành động để cuối cùng dù có chết thì lòng họ vẫn hướng về nhân dân, sự bình yên no ấm của nhân dân và họ cũng bất tử trong lòng nhân dân
Đây là thời kì mà những thể loại như tiểu thuyết, thơ mới… chưa xuất hiện thì các thể loại của văn học dân gian chiếm vị trí độc tôn và đề tài nông thôn vẫn chiếm một vị trí quan trọng, chi phối nhiều trong các sáng tác văn học làm nên diện mạo của văn học dân gian
1.1.2 Đề tài nông thôn trong văn học trung đại
Tiếp nối quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, bên cạnh mảng văn học dân gian thì văn học giai đoạn này có những bước ngoặt lớn, đó là sự ra đời của văn học viết, sự xuất hiện của văn học chữ Nôm Những bước ngoặt này mở ra sự phát triển toàn diện, mạnh mẽ của văn học dân tộc Bên cạnh văn học dân gian đã có văn học thành văn, bên cạnh văn học chữ Hán đã có văn học chữ Nôm, các thể loại văn học cũng rất phong phú và đa dạng như: văn chính luận, thơ, phú, cáo, chiếu, biểu, văn xuôi, văn vần, hịch, truyện truyền kì, kí Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo là hai cảm hứng lớn, xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển của văn học trung đại Việt Nam Do ảnh hưởng của mĩ học Trung Hoa mà văn học thời kì trung đại còn hướng tới
đề tài cao quý như: tùng, cúc, trúc, mai, trăng, hoa, tuyết, nguyệt Trong dòng văn chương bác học truyền thống, người sáng tạo chủ yếu là tầng lớp trí thức nho sĩ phong kiến Quan niệm văn chương của họ không tách rời đạo lí (văn
dĩ tải đạo) Họ viết văn, làm thơ để bộc bạch Tâm - Chí - Đạo theo lí tưởng nho gia, đề cao khí phách của người quân tử Thước đo giá trị văn chương là
ở sự thấm nhuần đạo lí, cương thường, nghĩa vua tôi, văn chương nhà nho chỉ say sưa hướng tới cái đẹp: tùng, cúc, trúc, mai, cái uyên thâm của điển tích, điển cố, cái thiện của cái Tâm Bên cạnh đó thì mảng đề tài viết về nông thôn vẫn có một vị trí quan trọng, là nguồn cảm hứng sáng tác của các nhà văn,
Trang 16nhà thơ xưa Nhưng, nếu trong văn học dân gian, đề tài nông thôn là tiếng nói phản ánh cuộc sống của người dân lao động: nghèo, thuần nông, lạc quan, yêu đời thì đến với văn học trung đại, đề tài nông thôn tập trung thể hiện cuộc sống thanh nhàn, thú điền viên, ẩn dật nơi thôn quê dân dã với tất cả những gì rất đỗi gần gũi, quen thuộc của cuộc sống và con người thôn quê Điều đó được thể hiện trong một số tác phẩm của tác gia Nguyễn Trãi:
Một cày một cuốc thú nhà quê
Áng cúc lan xen vãi đậu kê
(Thuật hứng-Bài 3) Nông thôn trong thơ Nguyễn Trãi với công việc đồng áng của nhà nông
về rau cỏ, sản vật thường ngày của quê hương, đất nước mình với vẻ đẹp giàu
“chất thơ” trong những cảnh vật rất bình thường, đơn sơ, mộc mạc Nông thôn trong mối quan hệ giữa thiên nhiên với đời sống lao động sản xuất của con người:
Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh cỏ ương sen
(Thuật hứng - Bài 24)
Cũng giống như thơ Nôm Nguyễn Trãi, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm phản ánh cuộc sống nông thôn với vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, tự nhiên:
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao
(Thơ chữ Nôm - Bài 79)
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn nhất và cuối cùng của văn học trung đại Ông được coi là nhà thơ số 1 viết về nông thôn của văn học dân tộc Làm nên cái độc đáo của riêng nhà thơ thì chủ yếu là những vần thơ
Trang 17Nguyễn Khuyến viết về nông thôn, với con người, cảnh vật thiên nhiên và phong tục tập quán Điều kì lạ là nông thôn Việt Nam đã tồn tại hàng ngàn năm và đã xuất hiện nhiều trong thơ ca, nhưng đến với Nguyễn Khuyến, văn học mới thực sự bước xuống ruộng đồng, đến với người dân nơi thôn dã và cuộc sống lam lũ của người nông dân lao động Tất cả được hiện ra một cách
cụ thể và sinh động Thơ của ông cũng vượt qua được những sáo mòn “tuyết, nguyệt, phong, hoa” của thi ca cổ để miêu tả cảnh thực, tình thực với những hình ảnh cụ thể của cảnh sắc Việt Nam như: ao cá, bờ tre, ngõ trúc, vườn cà, vườn vải Nội dung chủ yếu trong thơ Nguyễn Khuyến là bức tranh phong cảnh đồng quê, cuộc sống sinh hoạt nông thôn, cảnh làm ăn thất bát, cảnh vỡ
đê lụt lội, cảnh sống bần hàn, đạm bạc của người nông dân phải chạy ăn từng bữa, đong đếm, cân đo từng xu:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò
Sớm trưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua
(Chốn quê)
Ông còn được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam với chùm thơ thu: Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm Chùm thơ thu là bức tranh nông thôn về đồng bằng Bắc Bộ, là khung cảnh thiên nhiên đẹp của mùa thu thanh bình, yên ả sống động chứ không ước lệ như trong văn chương, sách vở
Hay trong thơ Tú Xương, cuộc sống của người nông dân cũng hiện lên
cụ thể, sinh động với bao nỗi vất vả, cơ cực, cuộc sống mưu sinh đầy khó khăn, khốn khó:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Trang 18Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
(Thương vợ)
Có thể thấy trong văn học trung đại, đề tài nông thôn nhìn chung phản ánh đời sống sinh hoạt của người nông dân nghèo, khó nhọc, nhưng cuộc sống làng quê cơ bản thanh bình, yên ả, lạc quan, yêu đời
1.1.3 Đề tài nông thôn trong văn học hiện đại
1.1.3.1 Giai đoạn 1930 - 1945
Cùng với quá trình vận động của lịch sử, đến đầu thế kỉ XX, trước những biến động chính trị và xã hội sâu sắc, trước xu thế tư sản hóa đa dạng diễn ra như một tất yếu, nhà nho mất dần vị trí của mình trên vũ đài lịch sử
Do sự ngoại nhập của văn hóa Phương Tây, sự ra đời của các thể loại văn học: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ đã làm thay đổi căn bản quan niệm và diện mạo văn học truyền thống, từ văn học giáo huấn sang văn học hiện thực Văn học thời kì này phản ánh sự xâm nhập sâu sắc của chế độ thực dân tới đời sống nông thôn Việt Nam Một trong những vấn đề nóng được nhiều tác giả quan tâm và phản ánh là đề tài nông thôn và cuộc sống của người nông dân trước những biến chuyển, đổi thay của xã hội Với các tên tuổi được khẳng định trên văn đàn như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân, Thạch Lam đặc biệt là Nam Cao, một cây bút của nền văn học hiện thực phê phán Văn học giai đoạn này chủ yếu phản ánh cuộc sống tối tăm, bần cùng của người nông dân trong xã hội cũ Thành công của những trang viết về đề tài nông thôn trong giai đoạn này là các nhà văn đã phản ánh được một cách chân thực, sâu sắc hiện thực bức tranh nông thôn trước Cách mạng tháng Tám Đó
là nông thôn của sưu cao thuế nặng, vô lí và bất công, của những thủ đoạn bóc lột tàn nhẫn, trắng trợn Đặc biệt là hiện tượng người nông dân bị tha hóa, biến chất cả nhân hình lẫn nhân tính, đồng thời là vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng
Trang 19và sức sống mãnh liệt của họ: Chí Phèo (Nam Cao), Tắt đèn (Ngô Tất Tố),
Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan)
Văn xuôi viết về nông thôn còn mang đậm chất phong tục từ cách cảm, cách nghĩ đến cách thể hiện Đó là đời sống làm lụng cơ cực, những ước mơ giản dị, những phong tục thuần phác cùng với khung cảnh nông thôn khá êm
đềm, yên tĩnh: Chồng con, Sau lũy tre, Con trâu (Trần Tiêu) Còn những
sáng tác của Thạch Lam, có nhiều truyện ngắn tuy không trực tiếp miêu tả người nông dân lao động nhưng đã thể hiện rất rõ cuộc sống phẳng lặng, tù đọng, bế tắc, mòn mỏi, ước mơ mong manh, mơ hồ, tội nghiệp của người
nông dân trước cách mạng: Hai đứa trẻ, Cô hàng xén
1.1.3.2 Giai đoạn 1945-1985
Cuộc cách mạng tháng Tám thành công đã đem đến cho người nông dân cuộc sống mới, sinh mệnh mới Đó là sự giải phóng khỏi kiếp sống nô lệ, tôi tớ Đây là giai đoạn văn học của công nông binh giảm tô, cải cách Bao trùm không khí cả nước là nông dân làm chủ cuộc sống tự do cá nhân, làm chủ ruộng đất, nông dân tham gia kháng chiến giải phóng đất nước Các chiến
sĩ cách mạng xuất thân từ nông thôn, từ các làng quê sau lũy tre làng, chân lấm tay bùn, lam lũ, cơ cực nhưng khi có được tiếng gọi thiêng liêng của non sông đất nước thì họ từ anh nông dân trở thành chiến sĩ cách mạng, anh bộ đội
cụ Hồ sẵn sàng tiên phong lên đường bảo vệ Tổ quốc Người nông dân đã trở thành hậu phương vững mạnh, nền tảng vững chắc cho tiền tuyến cả về mặt vật chất lẫn tinh thần
Ý thức được đây là giai đoạn văn học phục vụ kháng chiến, cái tôi hòa chung với cái ta, mỗi cá nhân, mỗi con người luôn luôn vận động theo chiều hướng tích cực và lạc quan của quan điểm cách mạng, mỗi con người sẽ được đánh giá tùy theo những tiêu chuẩn của hành động và lẽ sống của bản thân Những bà mẹ nghèo nơi hậu phương đã trở thành người Mẹ của tất cả những
Trang 20đứa con nơi chiến trận: chở che, nuôi giấu bộ đội, những người phụ nữ, người
vợ đảm đang vừa lo tăng gia sản xuất, vừa lo phục vụ cho hậu phương tiền tuyến, những lớp thanh niên trai trẻ hừng hực khí thế lên đường Tất cả đều hướng về một mục đích chung to lớn, thiêng liêng lúc bấy giờ là đánh đuổi thực dân Pháp, bảo vệ và giữ vững bờ cõi độc lập của đất nước Vì thế, đề tài nông thôn giai đoạn này không tách rời thậm chí hòa quyện trong văn học
kháng chiến với cái tên: Văn xuôi kháng chiến Những kí sự: Truyện và kí (Hiền Đăng), Nhật kí ở rừng (Nam Cao), Kí sự Cao Lạng (Nguyễn Huy Tưởng)… Các truyện ngắn, tiểu thuyết: Thư nhà (Hồ Phương), Làng (Kim Lân), Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) đều thể hiện những quan điểm chung về
con người như thế Với đặc điểm của văn xuôi thời kì này là khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn nhưng nội dung bao trùm vẫn là hình ảnh người nông dân trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với cách mạng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Từ sau Cách mạng tháng Tám, diện mạo nông thôn Việt Nam có nhiều thay đổi lớn Vấn đề nông thôn giai đoạn này với hai sự kiện lớn là: Cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hóa nông nghiệp Các tác phẩm thể hiện rõ
điều này như: Bếp lửa đỏ (Tiểu thuyết-Nguyễn Văn Bổng), Nông dân với địa
chủ (Tập truyện ngắn - Nguyễn Công Hoan), Truyện anh Lục (Tiểu
thuyết-Nguyễn Huy Tưởng), Ông lão hàng xóm (Tập truyện ngắn-Kim Lân), Cái
sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Bão biển (Chu Văn), Hãy đi xa hơn nữa, Tầm nhìn xa, Chủ tịch huyện (Tập truyện ngắn-Nguyễn Khải), Gánh vác
(Vũ Thị Thường), Đồng tháng năm (Nguyễn Kiên), Trai làng quyền (Nguyễn Địch Dũng), Anh Keng (Nguyễn Kiên) Cái sân gạch, Vụ lúa
chiêm thời bấy giờ được xem như một sự kiện văn hóa đặc biệt Cái sân gạch
đã tái hiện được bức tranh nông thôn trong những ngày đầu xây dựng hợp tác
xã Qua những toan tính của lão Am xung quanh việc vào hợp tác, tác giả đã
Trang 21dựng được một bộ mặt nông dân tương đối rõ nét, cụ thể Truyện ngắn Tầm
nhìn xa của Nguyễn Khải, qua nhân vật Kiên tác giả cho thấy phần nào đó
bản chất tư hữu của người nông dân trong hoàn cảnh mới Viết về đề tài nông thôn giai đoạn này, quan niệm về con người còn thể hiện trong sự thống nhất riêng chung, biết đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, không so đo tính
toán cho riêng mình Cái hom giỏ của Vũ Thị Thường, Cái sân gạch, Vụ lúa
chiêm của Đào Vũ nói về hai thái độ đối cực của một là lớp người già “sống
lâu lên lão làng” với những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, trì trệ và lớp thanh niên nhạy bén tiến bộ với việc ra - vào hợp tác xã
Bên cạnh những phẩm chất đẹp đẽ của người nông dân được văn học phản ánh nhiều, thì giai đoạn này một số tác phẩm viết về nông thôn đã có những phát hiện mới về số phận con người cá nhân và khát vọng sống, khát
vọng hạnh phúc của họ Mùa lạc, Chủ tịch huyện, Tầm nhìn xa (Nguyễn Khải), Bão biển (Chu Văn) là minh chứng rất rõ cho điều đó Trong Mùa lạc,
Nguyễn Khải đã đề cập đến một vấn đề số phận con người có sự thay đổi lớn lao tích cực trong môi trường tập thể, môi trường tốt đẹp Điều đó cho thấy con người có sự hòa hợp giữa cái riêng và cái chung, giữa cái cá nhân và cộng đồng Dù thế, đến đây dấu hiệu quan niệm về con người đã có những đổi thay khác trước Cuộc sống của họ ngoài sự hi sinh, cống hiến là khát vọng hạnh phúc riêng tư cho riêng mình Vấn đề quan trọng là sự thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ của nhà văn trước những cuộc đời, số phận bất hạnh đó Giai đoạn này vấn đề con người gắn với số phận cá nhân, với hạnh phúc riêng tư đã được đặt
ra nhưng nó chỉ thực sự đề cập đến nhiều một cách nghiêm túc, sâu sắc hơn,
cụ thể hơn từ sau thời kì đổi mới Những tác phẩm này là tiền đề cho quá trình phát triển sau này của văn xuôi Việt Nam
Ngoài những giá trị nêu trên thì còn nhiều trang viết sinh động về nông thôn với khung cảnh lao động sản xuất sinh động với những phong tục tập
Trang 22quán cùng quan hệ hàng xóm, họ hàng Những “phong trào” lao động sản xuất nhộn nhịp, rộn rã, tấp nập như: phá bờ, cấy cày, thủy lợi, đón máy cày Các huyện, thị ra quân sản xuất mặc dù còn những hạn chế nhất định nhưng vẫn mang những dấu ấn của một thời đã qua
Trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp lâu dài gian khổ ở miền Bắc, từ năm 1964 đến 1975 cả nước lại bước vào công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Cũng giống như xu hướng phát triển chung của lịch sử văn học, đề tài nông thôn trong giai đoạn này mang âm điệu sử thi anh hùng do tác động của tình hình lịch sử đất nước là vừa sản xuất vừa chiến đấu, vừa là hậu phương vững chắc chi viện cho tiền tuyến lớn Nhiều tác giả, tác phẩm tiêu
biểu viết về đề tài này như: Đất mặn (Chu Văn), Đất làng, Buổi sáng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Vùng quê yên tĩnh (Nguyễn Kiên), Cửa sông (Nguyễn Minh Châu), Bông hoa súng (Vũ Thị Thường) Thời kì này Ngô Ngọc Bội bắt đầu xuất hiện với tiểu thuyết Ao Làng đã gây được sự chú ý với
bạn đọc Điều mà Ngô Ngọc Bội nói riêng cũng như các tác giả trên nói chung muốn gửi gắm là vấn đề con người trong mối quan hệ làng xã, quan hệ sản xuất, việc xây dựng hợp tác xã và sự đan cài của những tình huống chiến tranh
Trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước, số lượng tác phẩm viết về nông thôn nhiều hơn trước Nguyễn Kiên, Bùi Hiển, Vũ Thị Thường, Mai Ngữ, Chu Văn vẫn kiên trì bám sát phong trào hợp tác xã Nhiều cây bút trẻ viết về nông thôn đã ra đời Nhìn chung cuộc sống nông thôn không phải phẳng lặng, yên ả như cái vốn có của nó mà đằng sau ấy là sự đấu tranh gay gắt giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu Đó là anh Năm, chủ
nhiệm hợp tác xã, chị Hòe, đội trưởng sản xuất trong Gia đình lớn của
Nguyễn Khải là những người anh hùng trong sản xuất, họ mang trong mình tư tưởng mới, tình cảm mới, đạo đức mới và cả lẽ sống mới Đây cũng là thời kì nông thôn miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu Chủ
Trang 23nghĩa anh hùng cách mạng trong sản xuất và chiến đấu hòa quyện vào nhau
“Những con người mới, với vẻ đẹp rực rỡ trọn vẹn, đẹp trong sản xuất và đẹp trong chiến đấu xuất hiện ngày một nhiều”[31, tr.5] Cho nên thời kì này cũng xuất hiện những tấm gương mới, những con người mới vừa sản xuất giỏi, vừa
chiến đấu anh dũng ở ngay trong lòng hợp tác xã Tập tre xanh (Vũ Lê Mai)
đã ghi lại được một số gương mặt điển hình mới có thành tích trong chiến đấu
và sản xuất như: Bảo (Bảo), Vân (Khắp nơi là mặt trận), Hoạch (Ông chủ
nhiệm và chàng rể tương lai) Hay trong một số tác phẩm của Nguyễn Kiên
như: Một ông chủ nhiệm đã xây dựng hình tượng nhân vật Triệu là xã viên
hợp tác xã, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh Triệu trở thành anh pháo thủ
bắn máy bay Mĩ Còn Nhội trong Ngày và đêm hậu phương lại từ mặt trận
chống Mĩ trở về làm Bí thư kiêm Chủ nhiệm hợp tác xã Vân Cầu, chiến đấu trên mặt trận sản xuất rất tích cực Rõ ràng từ một xã viên có thể trở thành người chiến sĩ dũng cảm, người chiến sĩ lại về làm nhiệm vụ của anh xã viên, hai nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất gắn bó với nhau
Đề tài nông thôn trong những năm 1975-1985 diễn ra trong bối cảnh chung của đất nước: Đất nước dành độc lập, những mất mát sau chiến tranh, nền kinh tế đất nước lâm vào tình trạng tự cung, tự cấp, chế độ quản lí quan liêu bao cấp ngày càng bộc lộ nhiều yếu kém tồn tại Lúc này, khi phải đối mặt trước những khó khăn thử thách của cuộc sống thực tại, con người phải lo đến những chuyện thiết thực có tác động trực tiếp đến cuộc sống của họ hơn
là sự nhìn nhận lại chiến tranh Cũng vì lẽ đó mà văn xuôi viết về nông thôn
giai đoạn này cũng có nhiều dấu hiệu chuyển mình Với các tiểu thuyết: Nhìn
dưới mặt trời (Nguyễn Kiên), Bí thư cấp huyện (Đào Vũ) phản ánh hiện
tượng ô dù, nỗi cực khổ của người nông dân do cung cách làm ăn “hợp tác”
cũ Cù Lao Tràm (Nguyễn Minh Tuấn) xuất hiện như một lời tuyên cáo đối
với cung cách làm ăn và quản lí nông thôn kiểu cũ, đồng thời cũng đề cập đến lề
Trang 24lối làm ăn và quản lí nông thôn kiểu mới đang ra đời Vì thế, giai đoạn này quan niệm về đề tài nông thôn trong văn học đã có những đổi khác về hiện thực và con người, nhưng nó chỉ thực sự đổi mới từ sau Đại hội Đảng lần VI (1986)
1.1.3.3 Giai đoạn 1985 đến nay
Từ sau năm 1975, nhất là trong thời kì đổi mới, thực tiễn văn học đã theo sự chi phối chung của quy luật thời bình, nghiêng về cảm hứng thế sự đời tư Lịch sử bước sang trang mới, mục tiêu và yêu cầu cấp bách của đất nước lúc bấy giờ là phải đổi mới toàn dân từ yếu tố xã hội cho đến nhân tố con người Văn học cũng thực sự đổi mới từ năm 1986 sau Đại hội Đảng lần
VI và VII Với tư tưởng quán triệt: “con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 - Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, tháng 3/1993) Trước tư tưởng cởi trói của văn học, đây là dịp, là cơ hội của các nhà văn được tự do phóng tác theo cảm hứng, cách nhìn nhận và đánh giá riêng của mình Đứng trước những yêu cầu đổi mới của lịch
sử đất nước, của hiện thực cuộc sống con người, văn xuôi lúc này phát huy hết khả năng khám phá con người trong mối quan hệ đa chiều, con người là đối tượng và trung tâm phản ánh Đứng trước tình hình đổi mới của đất nước,
đề tài nông thôn trong văn học giai đoạn này nghiêng về hiện thực cuộc sống, các nhà văn đứng ở góc độ con người để nhìn con người Nhân vật và các kiểu nhân vật không còn được bao bọc bởi một không khí vô trùng, trong sạch như pha lê nữa mà được nhà văn cảm nhận, khám phá trong mối quan hệ nhiều chiều, phức tạp, con người luôn có sự đan cài giữa phần “con” và phần
“người”, giữa cái thiện và cái ác Con người được bộc lộ đầy đủ nhất những cảm xúc, những trăn trở suy nghĩ riêng tư và cả những cảm xúc kìm nén, khát khao hạnh phúc rất người của con người
Trang 25Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) tác giả
đã xây dựng được một loạt hình tượng nhân vật có những suy nghĩ, hành động quái gở, thâm độc chỉ vì mâu thuẫn giữa hai dòng họ đã thuộc về quá khứ Vì sự cố chấp, nhỏ nhen mà ông Hàm đang tâm đào mộ người mới chết với ý nghĩ đen tối đến ngông cuồng là lấy bộ áo quan đóng bộ bàn ghế đem bán lại cho chính cháu con dòng họ của thù địch Thật nực cười và ngớ ngẩn Lòng hận thù dẫn con người ta đến hành động mù quáng, phạm cả đến những điều cấm kị và linh thiêng của người chết Còn Thủ thì bất chấp tất cả, dùng mọi thủ đoạn bỉ ổi, xấu xa, đê hèn để giữ được cái ghế chủ tịch huyện của mình Hệ quả tất yếu là những cuộc đời, số phận như lão Quềnh, bà Son bị chết oan uổng trong tay những kẻ có tiền, có quyền, những kẻ sẵn lòng tham
và lòng ác Hiện thực được phản ánh và phơi bày ở một góc nhỏ của làng quê nhỏ bé, thực hư, trắng đen, tốt xấu lẫn lộn Tác phẩm làm cho người thấy sợ người hơn Làng quê vốn chứa đựng bao nét êm ả, thanh bình thì thay vào đó
là đủ mọi mưu kế sát phạt, hãm hại lẫn nhau Có được bức tranh nông thôn này phải chăng là có tinh thần dân chủ sau Đại hội VI của Đảng cởi trói cho văn học nghệ thuật Nét đổi mới của văn học viết về nông thôn thời kì này là nhà văn đã dám đối mặt với sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh tất cả những mặt còn tồn tại trong cuộc sống và trong con người Đây không phải là cái nhìn thiên chiều, tiêu cực, hạn chế mà chính những cái hiện thực ấy giúp cho bạn đọc có cái nhìn đầy đủ hơn, chân thực hơn về con người và cuộc sống
trong thời đại không còn chiến tranh Còn Ác mộng của Ngô Ngọc Bội được
xem là một cuốn tiểu thuyết xuất sắc viết về đề tài nông thôn trong cải cách ruộng đất Tác giả đã dựng lên một bức tranh nông thôn trong một thời điểm lịch sử còn bức bách, ngột ngạt Không khí làng quê luôn sôi sục, nhốn nháo khi có sự xuất hiện của đội cải cách, người nông dân luôn sống trong tâm trạng phấp phỏng, lo sợ rồi lại đến lượt mình phải đấu tố Cái phi lí, ngược
Trang 26đời là “Đã có nước là phải có cá, có nhân dân là phải có địa chủ” (Phong Lê), nên người người, nhà nhà thấp thỏm rằng mình sẽ phải “nộp mạng” cho cái
“chân lí” bất di, bất dịch kia Cảnh con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng…và những lời đấu tố, buộc tội đã được mớm sẵn ấy không đúng sự thật mà vẫn phải lạnh lùng tố giác Cả huyện sôi sục lên không khí đấu tranh Dân đông, đất nhiều, họ không lo làm ăn mà chỉ lo việc “Cải cách ruộng đất” để rồi cuộc sống của người nông dân đói nghèo, xơ xác
Trong xu hướng đòi hỏi tất yếu của lịch sử xã hội, một đổi mới đáng chú ý nữa của văn xuôi viết về nông thôn giai đoạn này là các nhà văn đã thực
sự quan tâm nhiều hơn, cụ thể hơn đến số phận con người, hạnh phúc riêng tư của con người cá nhân Con người được văn học khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc, ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và
cả đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường Nguyễn Minh Châu trong một lần trả lời phỏng vấn báo văn nghệ đầu năm
1986 đã phát biểu “văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con người” Nếu như văn học trước 1975, con người cá nhân nhạt nhòa, hòa tan trong cộng đồng, mọi tiêu chí đánh giá con người dựa trên quan điểm lập trường giai cấp thì văn học thời kì đổi mới là nhà văn đứng từ phương diện con người để đánh giá, để nhìn nhận con người với tấm lòng cảm thông, chia sẻ Nhà văn có lúc dường như nhập vào nhân vật, nói hộ nỗi lòng tâm sự của nhân vật, bởi thế giai đoạn này trong văn học mới xuất hiện nhiều những cuộc đời, số phận với biết bao bi kịch, khổ đau trong xã hội Từ quan niệm con người cộng đồng lúc này đã chuyển sang con người thế sự đời
tư, con người số phận
Cuộc đời của Giang Minh Sài trong Thời xa vắng của Lê Lựu là một
tấn bi kịch Bi kịch của một người mà “nửa đời nhìn lại” trong tâm thế của một người đã đánh mất tình yêu, hạnh phúc của thời trai trẻ Một con người
Trang 27mà cả cuộc đời phải sống theo suy nghĩ, hành động, sự sắp đặt và ý muốn của người khác Bản chất, đạo lí muôn đời của người nông dân là hi sinh, nhẫn nhịn, chịu đựng đã khiến cho Sài không chủ động được cuộc sống cho riêng mình, không dám làm điều mình muốn, người mình yêu cũng không dám tự quyết định “phải yêu cái người khác yêu Nửa đời còn lại đi yêu cái mình không có” Tác phẩm phản ánh hết sức chân thực nhưng không hề bôi bác, chê bai những người nông dân mà nhà văn đưa đến người đọc cái nhìn đúng đắn về quá khứ, về những nhận thức còn cũ kĩ lạc hậu, ấu trĩ một thời mà con người phải chịu đựng, phải sống trong sự kìm kẹp của lễ giáo, của những ràng buộc, định kiến xưa cũ Vẫn còn nhiều cuộc đời, số phận lệch pha với lịch sử,
với cộng đồng, có nhiều bi kịch giống Giang Minh Sài như trong Chuyện
làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Bến không chồng (Dương Hướng)
Cuộc chiến tranh đã đi qua, dưới ánh sáng dân chủ của Đại hội Đảng lần VI, các nhà văn được “cởi trói” thì vấn đề hạnh phúc riêng tư của mỗi cá nhân mới được đề cập đến một cách phổ biến Trong tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì đổi mới, số phận người phụ nữ được các nhà văn dành nhiều trang viết với sự quan tâm về bi kịch, nỗi bất hạnh và cả nỗi đau, sự hi sinh,
mất mát của họ: Hạnh, Thủy, chị Nhân, Dâu trong Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) Hay như Quí Hương, Quí Anh trong Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh) Điều đáng
nói là ở chỗ, những người phụ nữ này càng ngoan hiền, tháo vát bao nhiêu thì
họ lại phải nhận sự thiệt thòi, bất hạnh bấy nhiều Họ càng khát khao hạnh phúc bao nhiêu thì cuộc đời họ lại càng gặp phải sự phũ phàng bấy nhiêu Chính cuộc đời đã làm cho họ mất niềm tin vào cuộc sống, để rồi từ thất vọng đến tuyệt vọng, thậm chí họ phải lấy cả mạng sống của mình để minh chứng
cho khát vọng và phẩm chất đẹp đẽ, cao quý của họ: Bà Son trong Mảnh đất
lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường)
Trang 28Hiện thực xã hội nông thôn thời kì đổi mới không thể xem nhẹ, không
hề đơn giản một chiều, hay bình yên, phẳng lặng như bờ tre, gốc lúa như ở giai đoạn trước đó Nắm bắt tình hình lịch sử, nhận thức lại hiện thực xã hội,
đi sâu vào đời sống cả những mặt tốt và xấu, cả những mặt mạnh và mặt yếu
để chúng ta có cách lí giải, nhìn nhận tốt hơn, đúng hơn về cuộc sống và con người nông thôn Đây cũng là điều kiện thuận lợi mở rộng không gian để đón những nhà văn đầy tâm huyết và tài năng sáng tạo được bộc lộ tư tưởng và tình cảm của mình
Vào những năm gần đây, vấn đề nông thôn vẫn được Đảng và nhà nước chú trọng, quan tâm Cụ thể là, không chỉ quan tâm đến vấn đề đời sống tinh thần, vật chất với những chính sách cụ thể của Nhà nước mà còn là sự phối hợp của các cơ quan đoàn thể, khích lệ, tuyên truyền tổ chức các cuộc thi viết
và lựa chọn những tác phẩm xuất sắc về đề tài Nông nghiệp - Nông thôn - Nông dân trong thời kì đổi mới
1.2 Sự hình thành đội ngũ nhà văn viết về nông thôn
Nông thôn Việt Nam từ lâu vốn là đề tài lớn trong văn học Năm 1964, trong bài nói chuyện với văn nghệ sĩ tại Hội nghị Ban chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật, đồng chí Tố Hữu nói: “Miếng đất sống chính của chúng
ta hiện nay và lâu nữa vẫn còn là hiện thực nông thôn đang xây dựng chủ nghĩa xã hội Chúng ta bàn đến cuộc sống, con người, bàn đến tính dân tộc, phương pháp hiện thực chủ nghĩa, tất cả những vấn đề ấy làm sao có thể hiểu được, giải phóng được nếu thoát ly thực tế lớn nhất của nước ta là nông nghiệp và nông thôn” Đó cũng là minh chứng từ lâu nông thôn đã là nguồn
đề tài phong phú và quen thuộc và là cảm hứng sáng tạo của nhiều tác giả
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, diện mạo văn học nói chung, diện mạo nông thôn nói riêng có nhiều thay đổi lớn Cách mạng và kháng chiến đã đặt nhà văn trước một thử thách hiện thực lớn lao và đòi hỏi
Trang 29các nhà văn phải phát huy hết khả năng sáng tạo và cái tâm trong sáng của
mình để hòa vào trong cái không khí tưng bừng, hào hùng ấy: Nhật kí ở rừng,
Đôi mắt (Nam Cao), Lúa mới, Trong rừng Yên Thế (Trần Đăng), Làng (Kim
Lân)… với tư tưởng: “Quần chúng công nông binh là nhân vật trung tâm của nền văn học kháng chiến Quần chúng trở thành nguyên tắc xây dựng nghệ thuật và chuẩn mực đánh giá tác phẩm”[24, tr.19] Hơn thế, con người cũng còn được chú ý thể hiện và khám phá ở con người chính trị, con người công dân, con người tập thể Hiện thực lịch sử đã đưa ra những tiêu chí để đánh giá phẩm chất con người Vì thế trong các tác phẩm của mình nhà văn tập trung thể hiện những nét tâm lí, tính cách, hành động của nhân vật mang nét chung của thời đại như lòng yêu nước, tình nghĩa đồng bào, tình cảm tiền tuyến, hậu phương, ý thức giai cấp, sinh hoạt tập thể, cộng đồng Dù con người quần chúng của văn học thời kì này chưa có được những tính cách riêng nổi bật, chưa có cá tính sắc nét, chưa đạt đến sự phong phú và những chiều sâu mới, chưa được khám phá ở phương diện đời tư nhưng lại mang được những nét nổi bật của tâm lí và tính cách dân tộc, tính cách quần chúng và dấu ấn thời đại
Những năm hòa bình sau cuộc kháng chiến chống Pháp, văn xuôi phát triển phong phú, đa dạng, đặc biệt là những năm trước và sau thời điểm 1960 được coi là thời kì của truyện ngắn Nhiều cây bút truyện ngắn xuất hiện và
được khẳng định: Nguyễn Khải với tập Mùa lạc, Vũ Thị Thường với tập Cái
hom giỏ, Hai chị em, Gánh vác, Nguyễn Kiên với tập Trong làng, Đồng tháng năm, Mùa vụ chưa gặt, Kim Lân với tập Con chó xấu xí Bùi Hiển
với tập Ánh mắt, Nguyên Ngọc với Rẻo cao, Nguyễn Đình Thi với tập Bên
bờ sông Lô, Hồ Phương với Cỏ non và Xóm mới Nếu truyện ngắn đa dạng
hơn về kết cấu, cốt truyện, bút pháp và phong cách thì tiểu thuyết trong những năm này cũng phát triển mạnh, đa dạng hóa về đề tài, chủng loại và phong
Trang 30cách Xu hướng chung trong tiểu thuyết giai đoạn này là sự phối hợp đề tài lịch sử dân tộc với đề tài thế sự đời tư Ngoài thể tài lịch sử có vị trí chủ đạo, thì đề tài viết về nông thôn trong cuộc cải cách ruộng đất, trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp cũng chiếm một vị trí quan trọng, như tiểu thuyết
Xung đột, các truyện ngắn Tầm nhìn xa, Người trở về, Chủ tịch huyện của
Nguyễn Khải, Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm của Đào Vũ, Bão biển của Chu
Văn Các tác phẩm xoay quanh vấn đề vào-ra hợp tác xã Việc lựa chọn con đường làm ăn tập thể được xem như tiêu chuẩn hàng đầu của cái mới, cái tiên tiến Đặc biệt là ngợi ca, biểu dương những tấm gương tiêu biểu, điển hình của lớp trẻ đi tiên phong trong vấn đề hợp tác xã ở nông thôn Tuy nhiên có thể thấy quan niệm xã hội và thẩm mĩ về cơ bản không có gì thay đổi đặc biệt
Hai tập Hãy đi xa hơn nữa và Người trở về của Nguyễn Khải đã thu
hút sự chú ý của bạn đọc, đó là vấn đề đấu tranh giữa cái mới và cái cũ Qua
đó nhà văn phát hiện ra những cái “chồi” rất mới đằng sau cái vẻ bề ngoài
dường như chưa có sự thay đổi là bao nhiêu Còn trong Bão biển của Chu
Văn, vấn đề mâu thuẫn trong đấu tranh cách mạng ở nông thôn lại được nhà văn nhìn nhận và soi chiếu ở khía cạnh khác Cuộc đấu tranh, mâu thuẫn gay gắt quyết liệt ấy có cả bàn tay của kẻ địch phá hoại: “Cái mới và con người mới trong tác phẩm của Chu Văn chỉ được bộc lộ qua những cuộc đấu tranh đầy gian khổ, do đó phẩm chất con người mới nổi lên khá rõ nét”[31, tr.4]
Trong Tập tiểu luận: Công việc của người viết tiểu thuyết, Nguyễn
Đình Thi cho rằng “Nhân vật là vấn đề trung tâm của mọi cuốn tiểu thuyết Người viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn đề đều phải thông qua nhân vật bằng nhân vật” Đó là ngòi bút của một số nhà văn hướng tới những cuộc đời, số phận bất hạnh, khổ đau và sự đổi đời của họ trong môi trường tập thể, có sự gắn bó sẻ chia của tình người Tập thể được nhà văn nhìn nhận và miêu tả như
Trang 31một môi trường lành mạnh, bình yên, chở che, là cái nôi nuôi dưỡng những tình cảm tư tưởng mới, con người mới Qua đó tác giả cũng cho thấy khát vọng hạnh phúc của con người là thật lớn dù trong mọi hoàn cảnh, thể hiện
tính nhân văn sâu sắc Đó là Mùa lạc, Đứa con nuôi (Nguyễn Khải), Anh
Keng (Nguyễn Kiên)…
Trong số nhiều nhà văn viết về nông thôn, thì Nguyễn Kiên thuộc cây bút tiêu biểu xuất hiện ngay từ những ngày đầu hợp tác hóa và cũng có thể coi
là người có công khai phá về thể loại này Nhiều tác phẩm của anh phản ánh bức tranh nông thôn trên con đường hợp tác hóa nông nghiệp Tác phẩm của anh ít nhiều đã đánh dấu được bước đi của xã hội nông thôn từ thời kì chuẩn
bị và bước đầu đi vào hợp tác hóa Đồng tháng năm là quá trình mâu thuẫn,
xung đột trong đời sống nông thôn Là cảnh lao động sản xuất hăng say, là
hậu phương vững chắc cho tiền tuyến đánh Mỹ trong Ngày và đêm ở hậu
phương, và sự xuất hiện của giống lúa mới trong Vùng quê yên tĩnh, cho đến
cảnh làm ăn của hợp tác xã hóa bộc lộ những yếu kém, cục bộ trong Khuôn
mặt Trong truyện Đồng tháng năm, tác giả đã đi sâu vào những vấn đề sinh
hoạt của đời sống nông thôn, là những tư tưởng, nếp sống mang tính cá thể ăn sâu vào tâm lí, suy nghĩ của người nông dân từ ngàn đời nay Tư tưởng tư hữu biến dạng ra nhiều hình vẻ với tư tưởng cục bộ, quan liêu, chủ nghĩa cá nhân
mà thiếu đi tinh thần tập thể trong sản xuất cũng như trong quản lí sản xuất Nguyễn Khải viết về nông thôn với vấn đề đặt ra trong cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ Một trong những cây bút cũng gây được tiếng vang lớn thời
kì này là Vũ Thị Thường Cũng viết về nông thôn mới, tác giả ca ngợi sự thắng lợi của cái mới Muốn có được điều đó, đòi hỏi con người phải vượt qua lối làm việc quan liêu, dập khuân máy móc, đồng thời cũng phát hiện ra những con người với vẻ đẹp tâm hồn bị khuất lấp, nếu không tinh thì khó có
Trang 32thể nhận ra: Bông hoa súng, Từ mỗi căn nhà như thế, Câu chuyện xảy ra
không tránh khỏi…
Trong những năm cả nước chống Mỹ xâm lược, nền văn học mới với định hướng rõ ràng và đúng đắn “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” đặt lên hàng đầu nhiệm vụ cổ vũ động viên tinh thần chiến đấu, ý chí quyết thắng và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Quan niệm nghệ thuật
về con người của văn học giai đoạn này là sự tiếp tục của văn học trước đó nhưng được phát triển tập trung vào một hướng lớn và đi tới đỉnh cao của nó
là quan niệm con người sử thi Nhận thức đúng đắn điều này, các nhà văn lại tiếp tục phản ánh kịp thời hiện thực lịch sử và đời sống con người trong bối cảnh đó Việc phản ánh con người mới đòi hỏi nhà văn phải có cái nhìn toàn diện, thể hiện được hai nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu Nhiều tác phẩm viết về nông thôn thời kì này phản ánh những tấm gương xuất thân từ các làng quê, vừa sản xuất giỏi vừa chiến đấu anh dũng Sự xuất hiện của đội ngũ nhà văn phản ánh về cuộc sống nông thôn mới, con người mới, cuộc sống mới
ngày càng nhiều với dung lượng tác phẩm khá lớn như: Lê Mai (Tre xanh), Nguyễn Kiên (Một ông chủ nhiệm), Mai Ngữ (Hai người du kích cũ), Nguyễn Thị Ngọc Tú (Đất làng, Buổi sáng), Nguyễn Minh Châu (Cửa sông), Nguyễn Khải (Chủ tịch huyện), Vũ Thị Thường (Ông lão chăn vịt), Nguyễn Địch Dũng (Người ở nhờ)…
Từ sau năm 1975 đến nay, văn học Việt Nam đã tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử và xã hội có nhiều biến đổi Văn học vận động theo hướng dân chủ hóa Đại hội lần VI của Đảng (1986) đã kêu gọi đổi mới
tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo cơ sở cho dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh mẽ Nếu trong giai đoạn trước, văn học chủ yếu được nhìn nhận như một vũ khí tư tưởng của cách mạng, phục vụ và đáp ứng yêu cầu của cách mạng, thì văn học sau năm 1975 lại được chú trọng nhiều hơn ở sức mạnh khám phá thực tại và thức tỉnh về ý thức sự thật, ở vai trò dự báo, dự cảm và cả việc thể hiện những tư tưởng, quan niệm, chính kiến
Trang 33của mỗi nhà văn về xã hội và con người, là cả sự thay đổi trong quan niệm về kiểu nhà văn Hoàn cảnh xã hội, hiện thực xã hội đổi thay cũng đặt ra những yêu cầu mới, thách thức mới cho văn học và cho các nhà văn Nhưng chính sự
“mở cửa” này cũng là dịp và cơ hội để cho văn học thỏa sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vỡ Nhu cầu được “nói thật” và muốn được “nói thật” lúc này thực
sự quan trọng và nó trở nên sôi động mạnh mẽ Điều này đòi hỏi các nhà văn không những theo sát, mà còn phản ánh được những mặt tối, mặt trái mà xã hội quan tâm, lên án với một thái độ đồng cảm, thấu hiểu, sẻ chia
Cùng với xu hướng chung thời “mở cửa” của văn học, văn xuôi viết về nông thôn giai đoạn này phát triển mạnh mẽ Một trong những vấn đề then chốt của khuynh hướng văn xuôi nhận thức lại lịch sử là vấn đề “cải cách ruộng đất” Cũng có thể gọi đây là thời kì của “lịch sử nông thôn” Các nhà văn đứng ở góc độ con người để nhìn con người Đó là vấn đề con người và
hạnh phúc cá nhân: Thời xa vắng, Chuyện làng cuội (Lê Lựu), Mảnh đất
lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bước qua lời nguyền, Bến không chồng (Dương Hướng), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang
Lập), Bi kịch nhỏ (Lê Minh Khuê), Lão Khổ, Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Ác mộng (Ngô Ngọc Bội), Cái
đêm hôm ấy là đêm gì? (Phùng Gia Lộc)… Những tác phẩm trên đã phản ánh
muôn mặt phức tạp, bộn bề của đời sống nông thôn Các nhà văn không ngần ngại nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh sự thật, phơi bày tất cả những mặt mạnh
và cả những mặt yếu kém của bộ mặt xã hội nông thôn trong thời kì đổi mới
Có thể thấy, tư tưởng dân chủ, tự do của Đại hội Đảng lần VI đã mang đến cho văn xuôi viết về nông thôn thời kì đổi mới những chuyển biến tích cực, những tác phẩm có giá trị, những thành tựu lớn cho văn học nước nhà
Và thấy được cả cái nhìn đầy nhân đạo, nhân ái, thấm nhuần chất nông dân của lớp văn nghệ sĩ Đó là những mặt đáng ghi nhận của văn học viết về nông thôn trong thời kì đổi mới
Trang 34Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA NÔNG THÔN VIỆT NAM
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGÔ NGỌC BỘI
2.1 Nhà văn Ngô Ngọc Bội
2.1.1 Vài nét về tiểu sử và con người
Ngô Ngọc Bội sinh ngày 7 tháng 11 năm 1929 tại quê gốc xã Phú Khê, huyện Sông Thao, tỉnh Vĩnh Phú (Phú Thọ ngày nay) Nơi ở hiện nay: Khu 4-Xóm Đoài Ngoài - Xã Phú Khê - Huyện Cẩm Khê - Tỉnh Phú Thọ Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam Hội Viên Hội Nhà Văn Việt Nam (1976)
Sinh ra trong một gia đình thuộc lớp trung lưu ở nông thôn, cha là Ngô Văn Liễn (1892), là người có chức sắc trong làng Từng làm phó lí, quyền lí trưởng, có chân trong Hội đồng kỉ mục Ông học giỏi chữ Hán và viết thông thạo chữ Quốc ngữ, am hiểu phong tục, tập quán và đạo đức lễ giáo cổ truyền Sống nền nếp phúc hậu, làm ăn căn cơ
Tố chất thông minh được bộc lộ khá sớm, 7 tuổi Ngô Ngọc Bội đã được học trường Hương học Lớn lên cậu thanh niên này đã đỗ đầu tỉnh với gần 300 thí sinh trong kì thi Sơ học yếu lược Theo tập quán của quê hương, Ngô Ngọc Bội đỗ sơ học yếu lược rồi quay về học chữ Hán được hai năm Với nạn đói Ất Dậu (1945) ập tới, không có sự lựa chọn nào khác là nhà văn đành bỏ học về lao động cùng với gia đinh để mưu sinh, kiếm sống
Ngô Ngọc Bội ngay từ khi còn nhỏ đã say mê đọc sách Nhờ có sự ham đọc trên các báo Đông Pháp và các tạp chí mà nhà văn đã sớm biết đến thơ văn của Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh… Ngoài ra là sự tìm tòi, tích lũy vốn văn chươmg từ truyện dân gian, truyện khuyết danh, và một số sách cổ Trung Quốc Đây cũng có thể coi là chút vốn liếng mà nhà văn tích lũy được làm cơ sở cho sự thành công trong sự nghiệp văn chương của tác giả
Trang 35sau này Ngoài ra Ngô Ngọc Bội rất thích vẽ chân dung cụ Hồ Với niềm yêu thích âm nhạc, nhà văn đã từng làm nhị, khoét sáo để luyện tập Cây sáo trục
đã gắn bó với tác giả hết cuộc kháng chiến chống Pháp
Xuất thân từ vùng đất Trung du, thuộc “vùng sâu, vùng xa” nhưng lại nằm giáp sát sông Hồng nên cũng có cánh đồng rộng, sông ngòi bãi bồi và một vùng rừng cọ bạt ngàn Vì đường giao thông không tiện nên ít được giao lưu kinh tế, văn hóa Mặc dù là một vùng đất thiên nhiên trời phú nhưng với nạn đói chung của cả nước năm 1945 và do đặc thù của vụ mùa cấy một vụ, lại thêm thường bị úng thủy, thiên tai nên đời sống gia đình thường xuyên gặp nhiều khó khăn Hơn ai hết nhà văn hiểu được cuộc sống cơ cực, bần hàn của người nông dân
Sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Ngọc Bội đã tham gia công tác tại địa phương, hoạt động trong đoàn Thanh niên cứu quốc: luyện tập quân sự, tuyên truyền vận động tham gia kháng chiến, tổ chức các lớp bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ, thực hiện đời sống văn hóa mới, chống mê tín dị đoan từ năm
1945 đến năm 1948 Là cán sự huyện đội Cẩm Khê (1948-1949) Từ năm
1949 đến năm 1957 là cán bộ thông tin tuyên truyền huyện Đà Bắc rồi tỉnh Hòa Bình Đây là thời gian tác giả được tham gia và chứng kiến cuộc kháng chiến chống Pháp và gắn bó, chia sẻ với đời sống của nhân dân kháng chiến, thấy được đời sống cực khổ, khó khăn của cách mạng Kết thúc đợt công tác tác giả về công tác tại Ty văn hóa Phú Thọ rồi Vĩnh Phú từ năm 1957 đến năm 1968 Từ tháng 12/1968 đến năm 1993 ông là cán bộ biên tập Tuần báo Văn nghệ Hiện ông đã nghỉ hưu và đang sống tại quê nhà
Cuộc đời của nhà văn trải qua đầy những thăng trầm, khi lên cao lúc lại xuống thấp nhưng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn của người con sinh ra từ vùng châu thổ sông Hồng này luôn một lòng, một dạ gắn bó với làng quê và con người nông thôn
Trang 362.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Theo như lời đánh giá, nhận xét của Nguyễn Trọng Hoàn thì “Ngô Ngọc Bội là nhà văn có sở trường viết về nông thôn Nhiều người gọi anh là nhà văn của nông thôn Ngô Ngọc Bội đã công tác ở Hà Nội từ năm 20 năm nay, nhưng những trang viết về nông thôn của anh vẫn luôn luôn tươi mới, hấp dẫn, có nhiều trang đặc sắc”[19, tr.4] Với đặc trưng công việc nay đây, mai đó, nhà văn có cơ hội được tiếp cận với cuộc sống của người nông dân trong mọi công việc như: chống hạn, chống úng, chống đói, chống rét, thu thuế, thu mua, cải tiến hợp tác xã vòng 1, vòng 2 Nghĩa là thượng vàng, hạ cám nhà văn đều biết và nếm trải Nhưng nghiệp văn đến với nhà văn như một câu chuyện đùa Nhà văn từng tâm sự: “Thử viết báo chơi Lúc đầu tôi nghĩ đơn giản Viết để có cái nghề tay trái cho vui… Khi viết cũng chẳng nghĩ
nó là thể loại gì”[18, tr.55] Và Ngô Ngọc Bội cũng không có ý định viết văn, với ý nghĩ khiêm tốn là mình không thể trở thành nhà văn bởi “ếch ngồi đáy giếng” Chính cái quan niệm đầy tự ti, mặc cảm ấy khiến cho tác giả không dám mon men đến nghiệp văn dù rằng nhà văn có điều kiện trải nghiệm, lăn lộn với cuộc sống và năng khiếu văn chương Không ngờ được báo Phụ nữ in rất nhanh và được bạn bè, đồng nghiệp ca ngợi, tán thưởng Và thế là từ đấy nhà văn bắt đầu say: say văn, say viết lách Kết quả của “niềm say” ấy là khởi
nguồn cho sự nghiệp văn chương của tác giả với tác phẩm Ruộng liền bờ (1959), rồi sau đó Bộ quần áo mới (1960) đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn
báo Văn học do Hội Nhà văn tổ chức
Đứng trước sự lựa chọn, hoặc là làm lãnh đạo: chức tước, tiền bạc, hoặc là viết văn: chật vật, khó khăn Ngô Ngọc Bội đã dứt khoát lựa chọn nghề viết văn và chỉ xin làm nhân viên của phòng văn nghệ để dành thời gian
đi thâm nhập thực tế và viết với tấm lòng yêu nghề, yêu người của mình Quyết tâm vào con đường “văn nghiệp”, nhà văn ý thức được phải tập trung
Trang 37sức lực để giải quyết hai khâu: kiến thức văn hóa và vốn sống Kiến thức thì lấy sách làm thầy Nhà văn phải nhịn mặc, nhịn ăn để dành tiền mua sách Còn đi thực tế thì khỏi phải nói, khắp các tỉnh ở miền núi phía Bắc, đặc biệt là tỉnh Phú Thọ không còn hang cùng ngõ hẻm nào mà nhà văn không đặt chân đến, ghi chép hàng chục cuốn sổ tay Đây chính là vốn liếng mà nhà văn tích lũy được để sau này cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị
Khác với một số nhà văn khác cùng thời, đề tài sáng tác của nhà văn chỉ viết về nông thôn, nông nghiệp và nông dân Nông thôn là nơi nhà văn sinh ra, lớn lên và trưởng thành, đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn và cảm hứng
sáng tác của nhà văn Ao làng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về nông thôn với
vấn đề hợp tác xã nông nghiệp Dành trọn tâm huyết của mình cho tiểu thuyết này, nhà văn từng tâm niệm: “Ao làng chính là đề tài làm thủy lợi Trong nông
nghiệp thì thủy lợi phải đi trước một bước Nhưng tiểu thuyết Ao làng chủ yếu
nói về số phận của người nông dân Thời ấy người ta chỉ viết phục vụ kịp thời mang tính minh họa chính sách, không thấy ai viết như tôi”[18, tr.60] Lí giải cho điều này là bởi ông là người gắn bó, am hiểu, thấm nhuần chất nông dân và cuộc sống nông thôn, “nông dân chính hiệu” Nông thôn vùng Trung du có những điểm giống với tất cả các nông thôn khác ở mọi miền đất nước, nhưng cũng có những điểm khác ở dấu ấn văn hóa vùng đất Trung du, con người Trung
du mang những phong tục, sắc thái riêng của vùng Phú Thọ với một quan niệm
“mỗi nhà văn có một quê hương cho riêng mình” Ông là một nhà văn suốt đời tận tụy, cống hiến cả tuổi trẻ, cuộc đời của mình cho sự nghiệp văn chương Gia đình vợ con ở quê thuần nông, cuộc sống nghèo khó nên bản thân cuộc sống của nhà văn cũng nghèo
Là nhà văn chuyên viết về số phận người nông dân nên ai viết được mảng đề tài nông thôn ông đều ủng hộ và giúp đỡ Ngô Ngọc Bội từ cuộc đời,
từ những trang văn đều mang màu sắc hiện thực và thấm đẫm tinh thần nhân
Trang 38văn Tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh vấn đề lao động sản xuất, hợp tác hóa nông nghiệp và cải cách ruộng đất gắn với người nông dân Nhà văn từng tâm sự “Đời văn của tôi hòa nhập với nông dân Do đó trong năm mươi năm, tôi vừa là nông dân, vừa là một đảng viên, lại là một nhà văn, nhà báo Tôi vừa ra sức chiến đấu, cổ vũ cho sự nghiệp cách mạng, vừa băn khoăn trăn trở khá gay gắt với chủ trương, đường lối của Đảng áp dụng ở nông thôn Những sáng tác của tôi thường xuyên cháy bỏng những điều trăn trở ấy”[10, tr.5]
Ngô Ngọc Bội là nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp Từ những năm 60, trong một số tác phẩm của mình, có những điều không phải ai cũng dám nói nhưng nhà văn đã mạnh dạn, dũng cảm đối diện với “sự thật”, “phản ánh sự thật” Trong nhiều cái sự thật về bộ máy quản lí nông thôn thì những sai lầm, phi lí, bất công về công cuộc cải cách ruộng đất được tác giả chú ý và thể hiện khá đặc sắc Bởi “Tinh thần và khí thế” của cải cách ruộng đất ngoài những mặt tốt là cân bằng cuộc sống cho người dân thì
là những mặt trái, mặt tiêu cực vẫn tồn tại Trong tiểu thuyết của mình, tác giả
đã tái hiện được số phận của người nông dân trước miếng cơm manh áo Ông
là người biết phát hiện ra những cái mới trong mỗi bước tiến của xã hội đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục Dù trải qua những khó khăn có những lúc tưởng chừng không thể tiếp tục trong nghiệp văn bởi có những tác phẩm phải ủ đến hàng chục năm khi vấn đề “cởi trói” cho văn học trong Đại hội Đảng lần VI chưa ra đời nhưng “Ông cố kê dẫu biết là “lệch tủ” nhưng kê cho tới khi nào văn học, công chúng chấp nhận được vấn đề ông đặt
ra, đó là niềm kiêu hãnh nhất của nhà văn”[36, tr.199] Cứ thế, để sau này tài
năng của ông được khẳng định bởi nhiều tiểu thuyết có giá trị như: Ao làng,
Ác mộng, Lá non… Ngoài những vấn đề mang tính thời sự, nóng hổi ấy là
những trang viết của nhà văn về bản sắc, văn hóa làng quê, những vấn đề đạo
đức thế sự, lối sống (Mênh mang cổng trời, Tơ vương, Đường trường khuất
Trang 39khúc), là suy nghĩ của người nông dân trong thời đại mới có những đổi thay,
người nông dân đã bắt đầu thấy ruộng đồng không phải là lẽ sống duy nhất
mà họ bám lấy (Gió đưa cành trúc)… Rồi khi người nông dân bươn trải ra
thành phố, muốn thoát nghèo thì chính họ không tránh khỏi những va vấp, khổ đau và họ lại trở thành những kẻ khờ khạo, đáng thương Đó là cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của ông có sức sáng tạo mạnh mẽ đến tận bây giờ khi ông
đã đứng ở cái tuổi xế bóng “thất thập cổ la hy”
Ngoài những thành công về sáng tác văn chương thì Ngô Ngọc Bội còn
là nhà báo biết phát hiện và bồi dưỡng nhân tài 25 năm làm báo, nhà văn giữ cương vị biên tập phần văn xuôi báo Văn nghệ Với con mắt tinh tường, sự nhạy cảm và thái độ làm việc nghiêm túc, nhà văn đã lựa chọn và sàng lọc được nhiều anh chị em có tài năng và nâng họ thành những cây bút có tầm cỡ như: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Phùng Gia Lộc, Nguyễn Quang Lập, Hồ Anh Thái, Nguyễn Đức Thọ, Lê Hoài Nam… nhờ đó mà trong thời
kì đổi mới (1985-1992) bút kí, truyện ngắn báo Văn nghệ đã nâng lên thành cao trào hiếm thấy
Là nhà văn chỉ viết về đề tài nông thôn và người nông dân với thể loại khá đa dạng: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, Ngô Ngọc Bội cho ta cái nhìn toàn cảnh, sinh động về bức tranh nông thôn phong phú và đa dạng với lối viết mộc mạc, giản dị, cách miêu tả tỉ mỉ, chân thực, hấp dẫn
Với một lối viết riêng, phong cách riêng không nhầm lẫn với ai viết về làng quê, người quê Ngô Ngọc Bội đã cho ra đời một số lượng tác phẩm khá lớn Cụ thể như sau:
* Những tác phẩm đã xuất bản
1 Chị Cả Phây - Tập truyện ngắn, 1963
2 Đất bỏng - Kí sự, 1967
3 Ao Làng - Tiểu thuyết, 1975
Trang 404 Đường chè - Tập truyện ngắn, in chung trong Vùng đất thức, 1984
5 Nợ đồi - Tập truyện ngắn, 1984
6 Lá non - Tiểu thuyết, 1987
7 Chị Cả Phây - Tuyển truyện ngắn, 1987
8 Ác mộng - Tiểu thuyết, 1990
9 Gió đưa cành trúc - Tiểu thuyết, 1992
10 Mênh mang cổng trời - Tiểu thuyết, 1996
11 Những mảnh vụn - Tập truyện ngắn, 1996
12 Tơ vương - Tiểu thuyết, 2000
13 Đường trường - Tiểu thuyết, 2001
14 Đường trường khuất khúc - Tiểu thuyết, 2003
15 Ẩm ương đi lấy chồng - Tập truyện ngắn, 2005
16 Gần 70 bài bút kí, phóng sự in trên báo Văn nghệ
* Những tác phẩm chưa xuất bản
1 Bản nháp ghi bằng máy chữ: Những bài học về viết văn
2 Ngô Ngọc Bội - Tuyển tập truyện ngắn, tập I, II, III
3 Ngô Ngọc Bội - Tuyển tập tiểu thuyết, tập I, II, III
4 Ngô Ngọc Bội - Tuyển tập bút kí, phóng sự, tập I, II, III
5 67 bài bút kí, phóng sự chưa tập hợp thành tập
* Những giải thưởng văn học
1 Bộ quần áo mới, giải nhất, thi truyện ngắn, báo văn học, Hội Nhà văn Việt Nam, 1960
2 Tình cát sỏi, giải nhất thi bút kí phóng sự, Đài tiếng nói việt Nam và báo Văn nghệ, 1984
3 Ao Làng, tiểu thuyết, tặng giải thưởng của Ủy ban Nông nghiệp TW, 1976
4 Ác mộng, tiểu thuyết, giải thưởng Văn học Hùng Vương, Hội Văn nghệ Vĩnh Phú, 1991