1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu những hiện vật thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương

78 486 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu những hiện vật thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương
Người hướng dẫn PGS.TS Bùi Văn Tiến
Trường học Đại học Văn hóa Hà Nội
Thể loại khóa luận
Thành phố Việt Trì
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 265 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ hàng ngàn đời nay, có ba dòng sông miệt mài chảy để rồi hội tụ vào sông Hồng ở ngã ba Hạc

Trang 1

Lời mở đầu

Từ hàng ngàn đời nay, có ba dòng sông miệt mài chảy để rồi hội tụ vàosông Hồng ở ngã ba Hạc (nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) Sự hội

tụ đó đã đem đến cho miền hạ lu trớc núi nguồn phù sa vô tận và màu mỡ Nơi

đó núi không cao, có đồi gò san sát nh bát úp, có sông suối lạch ngòi, có đồngruộng phì nhiêu, khí hậu ôn hòa, cảnh vật nên thơ Miền đất cổ thiên thời, địalợi nh thế nên từ buổi hoang so hàng vạn năm về trớc đã có con ngời đến ngụ

c, sinh sống Dấu tích của họ còn để lại trên các đồi gò và thềm sông cổ

Bớc vào thời đại văn minh, khi con ngời biết đến kim loại, miền đất ấyvẫn là nơi cuốn hút các nhóm c dân thời văn minh tụ hội Trong đó nổi trội và

đông đảo nhất là c dân văn hóa Phùng Nguyên Đó chính là những ngời đãlàm nên một nền văn hóa mở đầu cho lịch sử văn minh thời các Vua Hùng –văn hóa Phùng Nguyên

Ngày nay, trên mảnh đất ấy còn lại rất nhiều dấu tích ghi dấu thời cácVua Hùng Trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là địa điểm có ý nghĩa lịch

sử quan trọng nhất Việc lu giữ và phát huy những giá trị văn hóa đó đã và

đang đợc nhiều cấp, ngành trên quê hơng Đất Tổ thực hiện Bảo tàng Hùng

V-ơng đợc ra đời trong khu Di tích lịch sử Đền Hùng cũng không nằm ngoàimục đích đó

Với nội dung văn hóa Phùng Nguyên đợc giới thiệu tại bảo tàng HùngVơng, sẽ giúp cho thế hệ sau nhận biết đợc tổ tiên chúng ta thời Hùng Vơng

Đó là chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên – những ngời đã lao động và sáng tạokhông ngừng để đạt đợc những thành tựu trên mọi lĩnh vực, xây dựng nên mọicơ sở vật chất và tinh thần cho xã hội thời Hùng Vơng

Là một ngời con thuộc thế hệ con cháu Vua Hùng, em thấy rằng việctìm hiểu lịch sử, tìm hiểu những giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông là điều vô

cùng cần thiết Chính vì vậy, em đã chọn đề tài : Tìm hiểu những hiện vật“Tìm hiểu những hiện vật

thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng” để

tìm hiểu về văn hóa Phùng Nguyên - nền văn hóa khởi đầu thời kỳ Hùng Vơngdựng nớc

Để hoàn thành đợc bài khóa luận này em đã xin chân thành cảm ơnnhững đóng góp quý báu của thầy giáo hớng dẫn PGS.TS Bùi Văn Tiến Qua

đây em cũng muốn cảm ơn các cán bộ thuộc bảo tàng Hùng Vơng, th viện bảo

Trang 2

tàng Mỹ Thuật Việt Nam, th viện Quốc Gia, th viện trờng Đại học Văn hóa

Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình làm bài

Trang 3

Mục lục

Trang

Chơng 1 : Khái quát về thời đại Hùng Vơng và nền văn

hóa Phùng Nguyên 5

1.1 Khái quát về thời đại Hùng Vơng 5

1.1.1 Niên đại……… 5

1.1.2 Cơng vực……… 5

1.1.3 Phân bố dân c……… 5

1.1.4 Kinh tế……… 7

1.1.5 Xã hội……… 11

1.2 Khái quát về nền văn hóa Phùng Nguyên 14

1.2.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu……… 14

1.2.2 Những đặc trng nổi bật ……… 21

1.2.2.1 Loại hình di tích……… 21

1.2.2.2 Niên đại……… 23

1.2.2.3 Các giai đoạn phát triển……… 24

1.2.3.4 Đặc trng về hiện vật……… 32

Chơng 2 : Những hiện vật văn hóa Phùng Nguyên Trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng 62

2.1 Khái quát về nội dung trng bày của bảo tàng Hùng Vơng 62

2.2 Hiện vật văn hóa Phùng Nguyên trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng … 64

2.2.1 Khái quát phần trng bày văn hóa Phùng Nguyên 64

2.2.2 Những hiện vật tiêu biểu của văn hóa Phùng Nguyên đợc trng bày 65

2.2.2.1 Đồ đá……… 65

2.2.2.2 Đồ gốm……… 68

2.2.3 Nhận xét về hệ thống trng bày 70

2.2.4 ý nghĩa của việc trng bày 71

Trang 4

Chơng 3 : Giá trị những hiện vật văn hóa Phùng

Nguyên trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng 73

3.1 Những giá trị cơ bản 73

3.1.1 Giá trị lịch sử 73

3.1.2 Giá trị nghệ thuật 75

3.1.3 Giá trị văn hóa 77

3.2 Mối quan hệ giữa văn hóa Phùng Nguyên và các nền văn hóa khác thông qua các hiện vật trng bày tại bảo tàng Hùng Vơng 79

3.3 Văn hóa Phùng Nguyên - tiền đề cơ bản cho sự phát triển của các giai đoạn văn hóa tiếp theo 83

Kết luận 88

Trang 5

Chơng 1

Khái quát về thời đại Hùng Vơng

và nền văn hóa Phùng Nguyên

1.1 Khái quát về thời đại Hùng Vơng

1.1.1 Niên đại là một vấn đề mấu chốt nhất trong khi nghiên cứu thời kỳ

lịch sử Hùng Vơng Có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Nhng chúng

ta có thể nói thời Hùng Vơng đợc tính từ khi manh nha nhà nớc Văn Lang đếnkhi nớc Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lợc khoảng 200 năm

1.1.2 Cơng vực nớc ta thời Hùng Vơng khá rộng lớn Phía bắc vơn lên

đến những miền giáp ranh giới các vùng Quảng Đông, Quảng Tây, VânNam(Trung Quốc), về phía nam tới đèo Hải Vân, về phía Tây bao gồm có cảvùng Tây Bắc hiện nay dọc xuống đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, Bình TrịThiên, về phía đông giáp biển đông Tổ tiên ta đã khéo chọn cho mình mộtmiền đất độc đáo ở vi trí tiếp xúc của nhiều hệ thống địa lý Nớc Văn Langnằm trong vành đai nhiệt đới mà lại không đơn thuần là một nớc nhiệt đới Từngàn xa gió mùa đã ảnh hởng sâu sắc đến thiên nhiên nớc ta, một thiên nhiênmuôn màu muôn vẻ với rừng rậm núi cao, sông dài biển rộng Ngày nay rừngrậm đã lùi dần về vùng cao phía tây sau một quá trình đấu tranh dài hàng mấynghìn năm giữa con ngời với thiên nhiên Vào thời đại dựng nớc rừng còn gồmkhắp vùng trung du và một phần lớn đồng bằng Nhiều đồi gò trọc hiện nay xakia đã phủ rừng dày đặc

1.1.3 Phân bố dân c Thời Hùng Vơng thành phần dân c nh thế nào? mật độ c

trú là bao nhiêu? Để trả lời tất cả những câu hỏi đó các nhà khảo cổ học nớc tacòn phải nghiên cứu rất nhiều Những phát hiện khảo cổ học gần đây chobiết: vào khoảng thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên(cách chúng ta 4000năm) có những nhóm tộc ngời c trú ở vùng trung du và những miền đất caoven rìa phía Bắc của đồng bằng Bắc Bộ.Đó là vùng đất thuộc tỉnh Vĩnh Phú,

Hà Tây, Hà Bắc, một phần đất thuộc Hà Nội bây giờ Quá trình khai thác ở

đâu diễn ra suốt thiên niên kỷ thứ II và khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ I

tr-ớc công nguyên Các di tích cổ nhất của c dân Văn Lang tơng đơng với tuổicủa di chỉ Phùng Nguyên hoặc còn sớm hơn một chút(khoảng nửa đầu thiênniên kỷ thứ II trớc công nguyên) nh ở Gò Chùa(Hơng Nộn), An Đạo, ĐônNhân, Gò Chè, đều tập trung trên các gò đồi thuộc tỉnh Phú Thọ cũ Khi bớcsang hẳn thời đại đồng thau, các di tích thuộc giai đoạn này lại lấn xuống phía

Trang 6

nam: những di tích muộn hơn trớc có niên đại khoảng nửa đầu thiên niên kỷthứ II nh Lũng Hòa,Đồng Đậu… chủ yếu đều phân bố ở những tỉnh VĩnhYên, Phúc Yên, Bắc Ninh cũ Tới giai đoạn phát triển đồng thau-khoảng nửa

đầu thiên niên kỷ thứ I trớc công nguyên, khối c dân nòng cốt của Văn Langvẫn còn chủ yếu sinh tụ trong phạm vi cơng vực hẹp của nớc Văn Lang baogồm vùng bắc và một phần vùng trung tâm và nam của đồng bằng Bắc Bộ theo

sự phân vùng địa lý Về thời gian này, sử sách xa nhất còn lại đã ghi nhận sựhng khởi của bộ lạc Văn Lang với các vua Hùng Nh vậy là cho đến giữa thiênniên kỷ thứ I trớc công nguyên, về căn bản toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ đã đợckhai thác Chỉ còn một vùng chúng ta cha đợc hiểu rõ lắm đó là vùng đất venbiển kể từ dới chỗ sông Hồng đổ ra biển vào tới miền Bắc đồng bằng ThanhHóa thuộc tỉnh Ninh Bình Trong bốn vùng đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ đợckhai thác trớc tiên cùng với một bộ phận phía bắc của vùng trung tâm và vùngphía nam, kế đó là những dải đất hẹp thuộc những thềm sông Hồng, sông Đáy,

và cuối cùng là phần còn lại của cả đồng bằng Đó là quá trình lập c ở đồngbằng Bắc Bộ trong đoạn đầu tiên mà khảo cổ học cho biết Đất nớc trù phú,

điêù kiện nhiên thuận lợi cho sinh hoạt của con ngời, thêm vào đó trình độphát triển văn minh cao của dân c cũng có thể làm cho chúng ta phán đoán đ-

ợc rằng c dân Văn Lang hẳn phải là đông đúc lắm Tuy nhiên tài liệu ghi chéplại không thỏa mãn đợc nguyện vọng muốn hiểu biết về vấn đề này Tình hìnhphân bố dân c trong nội nớc Văn Lang cũng không đều nhau Vùng đồngbằng Bắc Bộ đông đúc hơn cả, đồng bằng sông Mă tha nhất là vùng núi vàvùng Nghệ –Tĩnh Dân số đông đúc cũng là một chỉ tiêu phản ánh trình độphát triển của nớc Văn Lang Hầu nh mọi nguồn tài liệu thông báo về tìnhhình c dân Văn Lang đều thống nhất ở một chỗ: ngay từ thuở dựng nớc, đất n-

ớc ta đã là nơi có nhiều dân tộc anh em sinh sống, cùng chung sức xây dựng

và bảo vệ đất nớc

1.1.4 Về kinh tế xã hội Văn Lang là xă hội có một nền kinh tế đã phát

triển đến một trình độ nhất định Kinh tế nớc Văn Lang là một quá trình pháttriển liên tục Chúng ta có thể chia quá trình đó làm hai thời kỳ lớn: thời kỳ thứnhất tơng ứng với thới kỳ văn hóa Phùng Nguyên; thời kỳ thứ hai là thời kỳ cựcthịnh của thời đại Hùng Vơng tơng ứng với thời kỳ văn hóa Đông Sơn

Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo thời Hùng Vơng Vào giai đoạnsớm nhất thời kỳ này nghề trồng lúa đã tồn tại Những xóm làng định c thuộcgiai đoạn Phùng Nguyên, mà dấu vết là những di chỉ có tầng văn hóa khá dày

Trang 7

đã phân bố từ trung du đến đồng bằng ra gần ven biển Sống trên một địa bàn

nh vậy, con ngời tất nhiên đã biết trồng trọt ở các địa hình khác nhau với điềukiện thổ nhỡng khác nhau Và nh vậy chúng ta có thể tin rằng ngay ở giai

đoạn sớm nhất của thời kỳ Hùng Vơng tổ tiên ta đã biết trồng lúa trên nhiềuloại ruộng khác nhau: ruộng nớc, ruộng bãi, nơng rẫy… Hạng ruộng tốt nhất

là ruộng đất phù sa ở ven sông Thời đại Hùng Vơng có thể có đê ở một vàikhu vực nào đó Hằng năm đến mùa ma, nớc sông Hồng, sông Mã dâng lêntràn ngập cánh đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đem phù sa bồi vào cácruộng làm tăng thêm độ phì của các ruộng Cuối mùa ma khi nớc đã rút khỏicác cánh đồng bằng thì ruộng đất ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ trởnên rất màu mỡ thuận lợi cho việc cấy lúa Hạng ruộng trũng ở quanh các đầm

hồ cũng có khá nhiều Đối với hạng ruộng này ngời ta dùng phơng pháp “Tìm hiểu những hiện vậtthủynậu” để cấy lúa tức là dùng chân giẫm xuống ruộng cho cỏ sụt bùn rồi mớicấy lúa Đối với ruộng trên các đồi gò ngời thời đại Hùng Vơng đã dùng ph-

ơng pháp “Tìm hiểu những hiện vậtđao canh hỏa chủng” tức là dùng lửa đốt cây cỏ rồi mới xới đất lên

để tra hạt giống nh đồng bào miền ngợc ngày nay làm nơng rẫy Công cụ dùngtrong nông nghiệp thời đó chủ yếu là rìu đá và rìu đồng C dân Văn Lang đãdùng những công cụ này để cuốc đất.Ngoài ra họ còn sáng chế ra nhiều đồ

đun nấu bằng gốm và bằng đồng Điều đó chứng tỏ rằng sản xuất nông nghiệpthời kỳ này đã phát triển Nhng bên cạnh nghề trồng lúa, nghề trồng rau củ vàcây ăn quả đã xuất hiện Nhiều sách Trung Quốc đã chép về nhiều loại rau củ

và cây ăn quả ở Việt Nam trong thời Bắc thuộc Nh vậy là những cây trồng đókhông phải đến thời kỳ Bắc thuộc mới bắt đầu đợc thuần hóa mà chúng đã đợctrồng từ trớc trong thời kỳ Hùng Vơng Bên cạnh nghề trồng lúa, c dân vănLang còn chăn nuôi gia xúc, gia cầm Trâu bò, lợn, chó, ngựa, gà, vịt đã đợcthuần dỡng từ trớc thời Hùng Vơng Đến thời Hùng Vơng do nông nghiệpphát triển, các gia súc, gia cầm lại có rất nhiều Thời kỳ thứ nhất của thời đạiHùng Vơng, tức là thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên, nghề đánh cá đã xuất hiện,nhất là ở các vùng ven sông, ven hồ Sang thời kỳ thứ hai của thời đại HùngVơng nghề đánh cá càng phát triển Sang giai đoạn cuối của văn hóa ĐôngSơn, ngời thời Hùng Vơng đã biết đóng thuyền lớn Do đó chúng ta có thể nóirằng nghề đánh cá đã rất phát triển Ngời thời Hùng Vơng không những đã có

điều kiện dùng lới đánh cá theo quy mô lớn trên sông mà còn có thể đánh cátrên mặt biển nữa Kinh tế thời Hùng Vơng là một nền kinh tế có tính chấttổng hợp, lấy nông nghiệp làm gốc Thực chất nông nghiệp thời kỳ này là

Trang 8

nông nghiệp trồng lúa nớc Điều đó nói lên rằng, ngay từ buổi đầu dựng nớc

đầu tiên, ông cha chúng ta đã chú ý đến vấn đề nông nghiệp, đến cây lúa.Kinh tế nông nghiệp đã trở thành một truyền thống của dân tộc ta Chínhtruyền thống ấy đã ảnh hởng và chi phối mọi hình thái ý thức và ngay cả tâm

t, tình cảm của dân tộc ta

Bên cạnh nông nghiệp, các ngành thủ công nghiệp cũng càng ngày càngphát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong đời sống của con ngời thờiHùng Vơng Nghề làm đồ đá thời Hùng Vơng đã kéo dài đến 2000 năm Ngay

ở giai đoạn Phùng Nguyên kỹ thuật làm đá đã đạt đến trình độ hoàn thiện.Con ngời đã biết ca mài khoan thành thạo Khoan có nhiều kiểu Những mũikhoan dùng để khoan lỗ các hạt chuỗi Ngời ta dùng phơng pháp khoan táchlõi để khoan các vòng trang sức Phơng pháp khoan tạo ra các rãnh tròn rấtgần gũi với phơng pháp tiện Những đờng gờ đều đặn và những đờng ren trêncác vòng đá nói lên rằng phơng pháp tiện đã xuất hiện Do vai trò của kimloại ngày một lớn, địa vị của đá lùi dần mà công cụ bằng đá ngày một ít Số l -ợng vòng đá cũng không còn nhiều qua các giai đoạn Trong giai đoạn muộn

số lợng đồ trang sức bằng đá quý tăng lên Những ngời thợ làm thủ công thànhnhững ngời làm đồ mỹ nghệ Trong suốt thời đại Hùng Vơng nghề làm đồ gỗkhông ngừng phát triển Các công cụ bằng kim loại ra đời tạo điều kiện chonghề làm đồ gỗ phát triển Ngời thợ mộc thời đại Hùng Vơng đã dùng gỗ

đóng các thuyền lớn để đi sông, đi biển Nhiều khi họ còn hạ cả một cây gỗrất to để làm áo quan nh ở Việt Khê Nghề xe sợi dệt vải đã có từ thời kỳPhùng Nguyên Căn cứ vào dấu vết trên đồ gốm chúng ta có thể biết rằng b ớcvào thời kỳ Phùng Nguyên ông cha ta đã xe đợc nhng sợi khá nhỏ, săn và mịn.Ngời ta dùng dọi bằng đất nung vào việc xe chỉ Theo những sử sách TrungQuốc chép lại, chúng ta có thể khẳng định rằng trớc thời Bắc thuộc, ngời ViệtNam đã biết trồng bông, trồng đay, trồng gai để lấy sợi dệt vải Việt Nam cónhiều tre, nứa… Vì vậy nghề đan lát xuất hiện từ rất sớm Dấu vết của nghề

đan lát đã tìm thấy trên các đồ gốm thuộc thời kỳ Phùng Nguyên Những dấuvết này nói lên rằng con ngời thuộc thời kỳ Phùng Nguyên dẫ biết đan lát rấtkhéo Càng về những thời kỳ sau nghề đan lát càng tinh xảo Một ngành thủcông quan trọng của thời Hùng Vơng là nghề làm gốm Ngay từ giai đoạnPhùng Nguyên, đồ gốm đã rất đẹp và phần lớn làm bằng bàn xoay Điều đángchú ý là đồ gốm thời Hùng Vơng càng về sau càng ít trang trí hoa văn Conngời tập trung vào trang trí đồ đồng thau Con ngời sản xuất đồ gốm nhanh

Trang 9

hơn, mất ít công lao động hơn Kỹ thuật làm đò gốm qua các thời kỳ có khácnhau nhng hình dạng gốm, cách tạo hình cũng nh trang trí giữa các giai đoạnlại có nhiều điểm giống nhau Điều này nói lên sự thống nhất về văn hóa, tâm

lý của cộng đồng nhng đồng thời cũng nói lên sự xác lập một truyền thống kỹthuật ổn định Một ngành thủ công quan trọng khác có tác dụng lớn về kinh tếcũng nh xã hội của thời kỳ Hùng Vơng là luyện kim Nghề luyện kim đã xuấthiện từ giai đoạn sớm nhất của thời kỳ Hùng Vơng, giai đoạn Phùng Nguyên.Hiện nay đã tìm thấy dấu vết của đồng ở một số di chỉ thuộc văn hóa PhùngNguyên nh Gò Bông, Xóm Dền, Đồng Xấu, Đồng Vông… Đó là những cục

đồng vụn, xỉ đồng hay gỉ đồng Kỹ thuật luyện đồng đã phát triển rực rỡ ở giai

đoạn Đông Sơn thì nghề làm đồ sắt cũng bắt đầu xuất hiện Trớc đây nhiềungời còn cho rằng kỹ thuật làm đồ sắt do ngời phơng Bắc đa vào Việt Namtrong thời Bắc thuôc Những phát hiện mới trong mấy năm gần đây đã bác bỏnhận định đó Ngời ta đã tìm thấy nhiều công cụ sắt trong các di chỉ thuộc giai

đoạn Đông Sơn ở miền Bắc

Căn cứ vào các phát hiện của khảo cổ học, chúng ta có thể tìm hiểu đợcngời Hùng Vơng đã tổ chức nh thế nào để tiến hành công việc sản xuất Tấtcả những điều mà chúng ta có thể biết đợc về sản xuất đồ gốm thời Hùng V-

ơng là việc sản xuất không rải ra ở tát cả các miền của nớc Văn Lang; chỉ có ởmột số vùng có điều kiện thuận lợi về nguyên vật liệu, về đờng giao thông để

có thể tiến hành sản xuất đồ gốm đợc; nhng cho đến cuối thời đại Hùng Vơngvẫn không thấy xuất hiện những công xởng chuyên sản xuất đồ gốm Côngviệc sản xuất đồ gốm vẫn là công việc của từng công xã Ngời thợ gốm nóichung vẫn sống trong công xã, đời sống của họ vẫn lệ thuộc vào sản xuất nôngnghiệp của công xã Trớc thời đại Hùng Vơng, trên miền đất sau này là VănLang, giữa các khu vực đă có sự trao đổi kinh tế và giao lu văn hóa Khi nớcVăn Lang ra đời, việc trao đổi kinh tế giữa các khu vực vẫn tiếp tục và ngaycàng chặt chẽ

Nh vậy là cho đến nay kinh tế thời Hùng Vơng vẫn còn là vấn đề cần đợcnghiên cứu thêm Tuy nhiên, chúng ta cũng đã đã nhận thức đợc về cơ bản bộmặt kinh tế thời kỳ này chuyển biến qua các giai đoạn từ thấp đến cao Đó lànền kinh tế mà nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo Các ngành thủ công nghiệpngày một phát triển nhng vẫn gắn liền với nông nghiệp trừ ngành luyện kim

Kỹ thuật luyện đồng đã đạt đến đỉnh cao và bắt đầu phát triển nghề luyện sắt.Trao đổi bị hạn chế do cuộc phân công lao động không đợc thực hiện ngay từ

Trang 10

1.1.5 Về xã hội Trình độ phát triển kinh tế nói lên trình độ phát triển về

chính trị của một xă hội Đến nay chúng ta có hai loại quan điểm khác nhau

về xã hội thời Hùng Vơng

- Loại ý kiến thứ nhất cho rằng xã hội thời Hùng Vơng vẫn nằm trongphạm trù xã hội nguyên thủy, vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyênthủy và có thể đang bớc đến ngỡng cửa hình thành Nhà nớc

- Loại ý kiến thứ hai cho rằng xã hội thời Hùng Vơng trải qua nhiều biến

đổi sâu sắc, cuối cùng đã chuyển sang xã hội có giai cấp

Có nhiều ý kiến tranh luận nh vậy vì cơ sở t liệu để nghiên cứu về vấn đềnày còn quá ít Do đó với vấn đề này chúng ta phải nghiên cứu trên cơ sở tàiliệu khảo cổ, văn học dân gian, dân tộc học, ngôn ngữ học…

Các bộ sử cũ đều chép gia đình thời Hùng Vơng là gia đình phụ hệ Gia

đình là hậu quả của sự tan rã thị tộc Sự tan rã này có thể đã diễn ra từ thời trớcthời Hùng Vơng, tiếp tục cho đến đầu thời kỳ Phùng Nguyên và Đông Sơn.Trớc kia nông nghiệp dùng cuốc đá thô sơ làm cho ngời đàn bà vẫn giữ vai tròtrọng yếu trong sản xuất Chỉ có hái lợm mới cung cấp đầy đủ nhu cầu thựcphẩm cho con ngời Nhng bấy giờ công cụ sản xuất ngày một sắc bén tiện lợinên có nhiều khả năng đẩy mạnh nghề trồng trọt Vai trò của ngời đàn ông vìthế mà đợc nâng lên Mặt khác việc trao đổi thịnh hành lúc bấy giờ càng làmcho ngời đàn ông phải đảm đơng những công việc lao động mà ngời đàn bà trớckia vẫn làm Việc cớp bóc và chống cớp bóc cũng là một lý do nữa nâng vai trò

và địa vị của ngời đàn ông Khi đã giành địa vị trong sản xuất, ngời đàn ôngcũng giành lấy địa vị trong gia đình và trong xã hội

Công xã không chỉ là đơn vị xã hội mà còn là tổ chức đời sống của xã

hội Công xã giai đình phân biệt với công xã láng giềng ở chỗ một bên dựatrên quan hệ dòng máu, một bên không Trong giai đoạn tan rã của chế độcông xã nguyên thủy hình thành xã hội có giai cấp, các nhóm thị tộc hỗn hợpvới nhau, do đó quan hệ dòng máu ngày một trở nên không quan trọng Khôngphải chỉ có sự phát triển của sức sản xuất là nguyên nhân làm cho hình thức xãhội dựa trên quan hệ dòng máu lâm vào suy yếu, sự phát triển của quân sự vàchính trị càng có tác dụng phá hoại mạnh hơn Giữa các bộ lạc khác nhau th-ờng diễn ra những cuộc chiến tranh, cớp bóc Do hậu quả của chiến tranh, một

số thị tộc bộ lạc này rơi vào địa vị phụ thuộc một số thị tộc bộ lạc khác Lúcnày quan hệ dòng máu sẽ phải nhờng chỗ cho quan hệ lãnh thổ Tuy nhiên

Trang 11

không phải vì thế mà hình thức công xã gia đình đã bị xóa sạch Sự tồn tại củanhững công xã gia đình không làm trở ngại đến sự phát triển của xã hội nôngnghiệp Tất nhiên trong lúc xã hội đã biến chuyển biến thì những công xã nàycũng phải có những thay đổi nhất định Nh vậy vào thời Hùng Vơng cả hailoại công xã đồng thời cùng tồn tại nhng công xã láng giềng dần dần chiếm uthế Mọi thành viên trong công xã đều có nghĩa vụ lao động thực hiện cáccông trình chung và có nghĩa vụ quân sự Giữa các công xã không phải làkhông có tranh chấp Khi chiến tranh xảy ra hay khi có giặc đến xâm lợc, mọithành viên đều phải tham gia chiến đấu hoặc hậu cần Mỗi công xã đều cólãnh thổ của mình Trong lãnh thổ có ruộng nơng đã khai phá, có đất hoang,

có rừng rú, sông ngòi, ao hồ… Tất cả đều là vật sở hữu chung; các thành viêncủa công xã có bổn phận chống lại sự xâm phạm của ngời ngoài, đồng thờichống lại sự sở hữu riêng trong nội bộ

Bộ tộc Xã hội lúc này đang trên con đờng hình thành bộ tộc Sự hình

thành bộ tộc cũng có tiền đề của sự hình thành công xã láng giềng Trớc thờiHùng Vơng, chế độ bộ lạc ngự trị khắp nơi Nhng bớc vào thời Hùng Vơng

đời sống kinh tế của bộ lạc dần dần đợc mở rộng Hầu hết các bộ lạc làm nôngnghiệp ruộng nớc ở lu vực sông Hồng và sông Mã do trao đổi, chiến tranh, nợnần, cớp bóc, dần dần trở nên có liên quan đến nhau Các dòng ngời di chuyển

và tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa ở những nơi mà họ mới

đến Lúc này quan hệ lân cận và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trở nên quantrọng Cùng với quá trình đó bộ tộc Lạc Việt cũng đợc hình thành Nh vậy vàothời Hùng Vơng dân tộc chúng ta không còn là những cộng đồng nhỏ yếu,phân tán, những bộ lạc phân tán rời rạc, mà nó đã cố kết thành một bộ tộc

đông đảo, có tính cách ổn định, sớm có xu hớng hình thành một dân tộc

Tiền đề vật chất có ý nghĩa quyết định cho sự phân hóa xã hội và hình

thành giai cấp là sức sản xuất phát triển đến mức độ cao tạo ra sản phẩm thừacủa xã hội Nhân dân ta thời dựng nớc sinh tụ trên địa bàn rất phong phú về tàinguyên, phì nhiêu về đất đai Vì vậy trong thời đại đồng thau với kỹ thuật sảnxuất ngày một nâng cao và bằng sức lao động sáng tạo nhân dân ta có nhiềukhả năng sớm tạo ra những sản phẩm thừa Cuối thời Hùng Vơng, sản phẩmthừa càng tăng lên Sự phát triển kinh tế cùng với sự phân công lao động và sựtrao đổi những sản phẩm thừa đã tạo ra những điều kiện cần thiết để đẩy mạnh

sự phân hóa xã hội và hình thành giai cấp Chính trên cơ sở đó tầng lớp quýtộc bộ lạc xuất hiện có thể lợi dụng địa vị, chức năng và uy tín của mình để

Trang 12

biến sản phẩm thừa của xã hội thành của riêng, biến sự đóng góp vì lợi íchcông cộng thành hình thức bóc lột ngời sản xuất Trong xã hội đã có sự phânhóa sâu sắc thành những tầng lớp ngời khác nhau Trong xã hội lúc bấy giờ códân và ngời quý tộc Về dân đã có ngời tự do và ngời nô lệ Về quý tộc đã cóthể phân biệt quý tộc trung ơng với quý tộc địa phơng Trải qua một quá trìnhphân hóa xã hội, xã hội Văn Lang cuối thời Hùng Vơng không còn là xã hộinguyên thủy với sự thống trị của quan hệ huyết thống và sự bình đẳng về mọimặt của những thành viên khối cộng đồng nữa Giàu nghèo, sang hèn, bất bình

đẳng xã hội, áp bức bốc lột đã xuất hiện Tầng lớp dân tự do là thành viêncông xã nông thôn tuy bị bóc lột nhng vẫn bảo tồn đợc nhiều quan hệ bình

đẳng trong kinh tế, xã hội Tầng lớp thống trị đã vợt lên trên xã hội nhng chatách hẳn khỏi nhân dân và mức độ bóc lột không gay gắt Tầng lớp nô tỳ bóclột nặng nề hơn và chỉ là tầng lớp thứ yếu trong xã hội Đó là bức tranh kháiquát về cơ cấu xã hội cuối thời Hùng Vơng đợc phác họa trên t liệu và sự hiểubiết hiện nay

1.2 Khái quát về nền văn hóa Phùng Nguyên

1.2.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu

Văn hóa Phùng Nguyên là một văn hóa khảo cổ mang tên thôn PhùngNguyên, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Có thể lấy năm 1959,năm phát hiện di chỉ Phùng Nguyên và đầu năm 1971, năm tổ chức hội nghịnghiên cứu thời Hùng Vơng lần thứ IV là mốc mở đầu và kết thúc lịch sửnghiên cứu nền văn hóa này Công cuộc nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên đã

đạt đợc những thành tựu xuất sắc T liệu phát hiện và nghiên cứu về văn hóaPhùng Nguyên đã dày hàng ngàn trang Vị trí ý nghĩa và khoa học của vănhóa Phùng Nguyên là rất lớn đối với lịch sử Việt Nam nói chung và khảo cổhọc Việt Nam nói riêng

Phần lớn những di chỉ quan trọng đã đợc khai quật, nghiên cứu trong giai

đoạn này Các nhà khảo cổ của nhiều cơ quan Viện khảo cổ học, Khoa Sử cáctrờng đại học Tổng hợp, S phạm Hà Nội, S phạm Việt Bắc, Viện Bảo tàng Lịch

Sử phối hợp với các Ty Văn Hóa các tỉnh thực hiện những đợt điều tra cơ bản,trớc hết tập trung trên vùng đất tổ Phong Châu và những vùng phụ cận thuộctỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc Gần 30 địa điểm đợc phát hiện, trong đó đã có 25 ditích thuộc các tính này Có 15 địa điểm đợc khai quật với những quy mô khácnhau, từ gần một trăm mét vuông đến vài nghìn mét vuông

Mùa xuân năm 1959, công trình thủy nông Lâm - Hạc khi đào qua thôn

Trang 13

Phùng Nguyên, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao đã làm lộ ra nhiều di vật lànhững công cụ bằng đá và đất nung… Các cán bộ chuyên môn đã tới hiện tr-ờng xem xét và nhận định rằng đây là di chỉ c trú ngoài trời của ngời nguyênthủy, lần đầu tiên đợc phát hiện trên vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ Cơquan chịu trách nhiệm khai quật lúc đó là Đội khai quật thuộc Bộ Văn Hóa,tiền thân của Viện Khảo Cổ học sau này Họ đã thực hiện 2 đợt khai quật lớn.Lần khai quật thứ nhất đợc tiến hành vào năm 1959 Chủ trì khai quật làNguyễn Ngọc Bích Các nhà khảo cổ đã dùng thuổng cán dài khoan 37 lỗthăm dò, thám sát 2 hố với diện tích 41m2 và mở 5 hố khai quật ở khu B vớidiện tích 158m2 Lần khai quật thứ hai ở di chỉ Phùng Nguyên đợc tiến hành

từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1961, dới sự chủ trì của Nguyễn Ngọc Bích Các

hố khai quật đợc hoạch định cả ở khu A và khu B, gồm 22 hố với tổng diệntích là 3700m2 Đây là lần khai quật có quy mô rộng lớn cha từng có ở ViệtNam đến lúc đó Các nhà khảo cổ đã mở ở khu A: 5 hố khai quật, mỗi hố códiện tích 40m2, ở khu B: 17 hố khai quật, mỗi hố có diện tích 100m2 Diệntích và di vật phát hiện đợc là rất lớn, gần 1656 hiện vật đá, 97 đồ gốm và trên100.000 mảnh gốm lớn nhỏ Sau hai lần khai quật trên, vào năm 1964, một sốcán bộ của Đội Khảo Cổ đã trở lại Phùng Nguyên và đào hai hố tham sát, mỗi

hố là 1m2

Di chỉ Phùng Nguyên đợc bộ môn khảo cổ hoc trờng Đại học Tổng Hợp

Hà Nội tiến hành khai quật lần thứ ba từ ngày 23/2 đến 13/3 năm 1968 Cáccuộc khai quật do Hà Văn Tấn phụ trách Diện tích khai quật mỗi hố là100m2 Di vật thu đợc gồm 69 hiện vật đá , 19 hiện vật gốm và trên 5000mảnh gốm Nh vậy từ năm 1959 đến 1968, các nhà khảo cổ học đã khai quậttrên diện tích rộng ở Phùng Nguyên trên diện tích 3.917m2 khai quật và 41m2thám sát Số lợng di vật phát hiện đợc trong 3 lần khai quật này là hết sức đồ

sộ và quý giá, gồm gần 2000 di vật đá, trên 130 di vật gốm và trên 100.000mảnh gốm lớn nhỏ Tầng văn hóa ở đây nói chung là đơn giản, chỉ có một lớptơng đối mỏng (dày 0,1-0,3m2) Đây là nguồn t liệu có giá trị nhiều mặt giúpcho quá trình điều tra, thám sát và khai quật hàng loạt các di tích PhùngNguyên khác.Ngay sau khi phát hiện và có những đợt khai quật ở di chỉ PhùngNguyên, các nhà khảo cổ đã lần lợt tìm thấy hàng loạt các địa điểm khác cáchkhông xa nó, có những đặc trng văn hóa tơng tự Có thể kể tên những di tíchchính nh sau: Gò Mả Muộn, An Đạo, Xóm Rền, Xóm Kiếu, Đồng Sấu, LêTính thuộc địa phận huyện Phong Châu, Gò Bông, Ô Rô, Thọ Sơn, Gò Chèthuộc huyện Tam Thanh, Đôn Nhân thuộc huyện Lập Thạch; Nghĩa Lập,

Trang 14

Lũng Hòa thuộc huyện Vĩnh Tờng; Đồng Đậu thuộc huyện Vĩnh Lạc.

Di chỉ Gò Bông thuộc địa phận xã Thợng Nông, huyện Tam Thanh Di

chỉ đợc khoa Sử trờng Đại Học Tổng Hợp tiến hành mở 2 hố thám sát, mỗi hốkhai quật với diện tích 70m2 vào năm 1965 Di vật đá, gốm, đồng thu đợc kháphong phú, đa dạng và độc đáo Tháng 2 năm 1967, Đại học Tổng Hợp HàNội lại trở lại khai quật di chỉ Gò Bông lần thứ hai Lần này họ đã mở một hốkhai quật rộng 100m2 Phụ trách khai quật là Hà Văn Tấn Nh vậy diện tíchthám sát và khai quật tại di chỉ Gò Bông là 178m2 Tài liệu thu đơc từ haicuộc khai quật rất phong phú với trên 500 di vật đá các loại, trên 4 vạn mảnhgốm và một số cục đồng, gỉ đồng Tầng văn hóa Gò Bông dày hơn hẳn PhùngNguyên (chỗ dày nhất lên tới 1,6m) Di chỉ Gò Bông quan trọng ở chỗ nó là

di tích tiêu biểu cho giai đoạn phát triển sớm nhất trong hệ thống các giai

đoạn phát triển văn hóa Phùng Nguyên với những dấu vết chế tác kim loại đầutiên

Di chỉ Xóm Rền là một trong số không nhiều di chỉ thuộc văn hóa Phùng

Nguyên có tầng văn hóa dày tới 2m2 Di chỉ Xóm Rền tọa lạc gần nh trọntoàn bộ một quả đòi thầp, đợc gọi là Xóm Rền, thuộc địa phận xã Gia Thanh,huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Di chỉ này đợc bộ môn Khảo Cổ Học, trờng

Đại Học Tổng Hợp Hà Nội phát hiện vào năm 1968 và khai quật đợt 1 vàonăm 1969 Các cuộc khai quật do Hà Văn Tấn chủ trì Có hai hố khai quật, hốthứ nhất có diện tích 100m2,hố thứ hai: 51m2 Di vật phát hiện từ hai hố khaiquật gồm có 270 hiện vật đá, 16 đồ gốm nguyên và 39364 mảnh gốm lớn nhỏ.Tầng văn hóa thuần nhất, khá dày, trên dới 2m Ngoài đồ đá, đồ gốm còn pháthiện những mảnh đồng, một vài vết gỉ đồng

Đợt khai quật thứ hai đợc bắt đầu từ ngày 1-10-2002 đến ngày

15-11-2002 do Viện Khảo Cổ Học hợp tác với trung tâm Khảo Cổ Học và NghệThuật (Đại học Trung văn ở Hông Kông) tiến hành Tổng diện tích thám sát

và khai quật đợt hai tại di chỉ Xóm Rền là 120m2 Tầng văn hóa có đó dàykhông đều, mỏng ở phía đỉnh gò, dày trên dới 2m, các nhà khai quật phát hiện

đợc rất nhiều di tích, di vật và 4 ngôi mộ nằm sát sinh thổ Số lợng di vật thu

l-ợm đợc trong lần khai quật này rất lớn, bao gồm 1324 hiện vật đá, 260.000mảnh gốm và 75 đồ gốm nguyên hoặc gần nguyên

Đợt khai quật thứ ba vào tháng 12-2002 do Bộ môn Khảo Cổ Học phốihợp với Bảo tàng Phú Thọ tiến hành Đợt khai quật này do Hán Văn Khẩn chủtrì Một hố khai quật với diện tích 60m2 đợc mở ra với tầng văn hóa thuần

Trang 15

nhất dày trên 2m Các hiện vật phát hiện đợc trong hố khai quật khá nhiều,bao gồm 268 hiện vật đá, 64.537 mảnh gốm vỡ và 263 đồ gốm nguyên hoặcphục nguyên đợc Đặc biệt lần này các nhà khảo phát hiện đợc một số loại divật có giá trị nh gốm xốp, gốm trang trí khắc vạch, in chấm, bột trắng, bìnhgồm quai dọc ở miệng, con dấu bằng đất nung, vòng hình trống, tợng rùa bằng

đá Đặc biệt là sự có mặt một số lợng rất lớn các loại hình bát, bát bồng và thố

ở di chỉ Xóm Rền

Tháng 12-2003, Bộ môn Khảo Cổ Học, Khoa Lịch Sử lại trở lại Xóm Rềnkhai quật lần thứ t Đợt khai quật này do Hán Văn Khẩn chủ trì Một hố khaiquật với diện tích 20m2 đã đợc mở ở sờn phía Bắc gò Xóm Rền Ngoài hốkhai quật này còn có hai hố thám sát đợc mở: hố thứ nhất có diện tích 5m2, hốthứ hai có diện tích 7.5m2 Hai hố thám sát này nằm ở phía Nam của gò XómRền Tổng diện tích thám sát và khai quật là 32.5m2 Tầng văn hóa của hốkhai quật cũng tơng tựu nh đã thấy trong 3 đợt khai quật trớc, cả về kết cấu,màu sắc, độ dày và các loại di tích di vật nằm trong tầng văn hóa Các loại divật đợc phát hiện gồm: 322 hiện vật đá, 41.231 mảnh gốm lớn nhỏ và 71 đồgốm nguyên hoặc phục nguyên đợc

Tháng 12 năm 2004 Bộ môn khảo cổ học kết hợp với Bảo tàng Phú Thọtiến hành khai quật di chỉ Xóm Rền lần thứ V Họ đã khai quật đợc 5 hố nhỏ:Hai hố ở phía Bắc Xóm Rền, mỗi hố có diện tích 12m2; ba hố ở phía namXóm Rền, trong đó một hố rộng 12m2, hai hố còn lại, mỗi hố 8m2 Nh vậytổng diện tích khai quật lần này là 52m2 Tầng văn hóa và di vật ở đây giốngcác đợt khai quật trớc: một tầng văn hóa thuần nhất, đồ đá và đồ gốm rấtphong phú, đa dạng Trong lần khai quật lần này cũng phát hiện đợc một số divật đáng chú ý: vật dạng ấm nắp liền và vòi cực ngắn, thố có áo trắng ở tronglòng, vòng chữ T bản rộng và hẹp với gờ rộng bản Các di vật có số lợng khálớn, bao gồm 284 đồ đá, 41928 mảnh gốm vỡ và 103 gốm nguyên hoặc gầnnguyên

Nh vậy di chỉ Xóm Rền đã thám sát và khai quật đợc 5 lần với diện tích415,5m2 Số lợng di vật thu đợc qua 5 mùa điền dã gồm 2378 hiện vật

đá,447144 mảnh gốm lớn nhỏ, 528 đồ gốm nguyên hoặc phục nguyên, trong

đó có một số loại di vật độc đáo nh bát bồng và thố, vòng gốm hình trống vàcon dấu bằng gốm, thố có lớp “Tìm hiểu những hiện vậtáo”trắng ở phía trong lòng, gốm có quai dọc vàgốm có tai ngang, gốm có trang trí khắc vạch in chấm kết hợp xoa bột trắng

và gốm nhuộm màu đen bóng láng Ngoài ra còn phải kể đến 3 nha chơng

Trang 16

phát hiện ngẫu nhiên trong khi đào ao vào các năm 1975,1976 và 2004 Chúng

ta có thể khẳng định rằng Xóm Rền là một di tích khảo cổ học đặc biệt quantrọng, đáng xếp ở vị trí số một trong 70 di tích thuộc Văn hóa Phùng Nguyên

Di chỉ Khu Đờng Di chỉ Khu Đờng thuộc xã Vĩnh Lại(Lâm Thao), phát

hiện và thám sát vào tháng 12-1962 Trờng Đại học Tổng Hợp Hà Nội tổ chứckhai quật Khu Đờng lần thứ nhất năm 1971 Ngời chủ trì khai quật là HánVăn Khẩn Cho đến nay, toàn bộ kết quả vẫn cha đợc công bố Toàn bộ hiệnvật đợc lu giữ tại bảo tàng Hùng Vơng

Trong lần khai quật thứ nhất, các nhà khảo cổ học đào hai hố thám sát,mỗi hố rộng 4m2 và hai hố khai quật, mỗi hố diện tích 100m2 Nh vậy toàn

bộ diện tích thám sát và khai quật lần này là 208m2

Tầng văn hóa của các hố thám sát và khai quật giống nhau, một tầngthuần nhất, độ dày trung bình từ 30-40cm, chỗ có hố đất đen có thể dày tới1m Di vật thu đợc gồm có 202 hiện vật đá và 7127 mảnh gốm vỡ Ngoài 2mảnh liềm đá phát hiện đợc trong hố khai quật và một cuốc đá thu nhặt đợctrên mặt ruộng, toàn bộ hiện vật đá (rìu,bôn,đục,bàn màiđồ trang sức…) giốnghệt nh những hiện vật cùng loại đã thấy ở di chỉ Phùng Nguyên, Gò Cây Táo

và Văn Điển(Hà Nội) Nh vậy, Khu Đờng là một di tích thuộc Văn hóa PhùngNguyên Để mở rộng và nghiên cứu thêm về Văn hóa Phùng Nguyên, tháng12-2000, Khoa Lịch Sử trờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã trở lạikhu di chỉ Khu Đờng khai quật lần thứ hai Hai hố khai quật đã đợc mở, hốthứ nhất có quy mô 100m2 và hố thứ hai 48m2

Kết cấu, màu sắc, độ dày tầng văn hóa của hai hố khai quật giống nhau,dày trung bình từ 30-40cm Di vật thu đợc trong lần khai quật này gồm có 349hiện vật đá, 10 dọi xe chỉ, 4 bi gốm, 1 vòng gốm, 336 chạc gốm, 15032 mảnhgốm vỡ Đáng chú ý là trong lần này các nhà khảo cổ học đã phát hiện đợccuốc đá và vòng gốm có hoa văn Ngoài ra, những ngời khai quật còn su tầm

đợc 1 cuốc đá và một qua đá Nh vậy có thể thấy Khu Đờng là một di chỉPhùng Nguyên rất quan trọng

Di chỉ Đồng Sấu thuộc xã Thụy Vân huyện Phong Châu phân bố trên quả

gò rộng khoảng 120000 m2, đợc giáo viên và học sinh trờng cấp 2 xã pháthiện năm 1961, đến cuối năm 1966, đội khảo cổ tiến hành cuộc khai quật diệntích 200m2 Tầng văn hóa di chỉ này dày từ 0,3 đến 0,8 m Điều đáng chú ý là

ở đây ngoài 200 di vật đá và rất nhiều mảnh gốm vỡ , còn gặp những mảnh

đồng vụn trong lớp đát văn hóa Đồng Sấu nằm rất gần trên 2 địa điểm thuộc

Trang 17

thời kỳ đồng thau phát triển là Gò Tro Trên và Gò Tro Dới Ba quả gò có dấutích văn hóa này chỉ nằm cách nhau khoảng trên dới 100m.

Di chỉ nhiều tầng văn hóa Đồng Đậu thuộc xã Minh Tân, huyện Yên

Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đợc coi là địa điểm khảo cổ học quan trọng nhất trongviệc xác lập phổ hệ 4 giai đoạn phát triển văn hóa thời đại kim khí trên lu vựcsông Hồng Lớp văn hóa dới cùng của di chỉ có niên đại cuối Phùng Nguyên,bắt đầu chuyển sang văn hóa Đồng Đậu Di chỉ đợc cán bộ Đội khảo cổ họcphát hiện năm 1962 Sau đó Đội khảo cổ tiến hành khai quật vào cuối năm

1965 đầu năm 1966 và Viện Khảo Cổ Học khai quật vào đầu năm 1969

Xen giữa 2 đợt khai quật trên, Viện Bảo tàng Lịch Sử đào một hố khaiquật nhỏ vào năm 1967 Tổng diện tích khai quật là 550m2 Di tích và di vậtphát hiện đợc trong các hố khai quật khá phong phú Trong lớp văn hóa PhùngNguyên(dày trên dới 1 m) tìm thấy rất nhiều đồ đá, đồ gốm, đồ xơng Khônggặp di vật bằng đồng trong lớp này, chỉ có lớp đất bên trên mới có rất ít vếttích gỉ đồng, cục đồng nhỏ Vì tầm quan trọng của địa điểm khảo cổ học này,các nhà nghiên cứu còn trở lại đây khai quật 2 đợt nữa vào năm 1984(117m2)

và 1986

Ngay trong giai đoạn 10 năm đầu của chơng trình nghiên cứu năm hóaPhùng Nguyên,các nhà nghiên cứu đã mở rộng mối quan tâm đến những vùng

xa trung tâm đất Phong Châu xa.Di chỉ Văn Điển (ngoại thành Hà Nội)đợc

phát hiện năm 1962,khai quật 2 lần vào năm 1962 và 1964 với tổng diện tích

là 928m2.Toàn bộ khu vực rộng chừng 170000m2 nằm gọn trong khu nghĩatrang Văn Điển,nên phần lớn di chỉ đã bị phá hoại hoàn toàn.Di chỉ Văn Điển

có một lớp văn hóa thống nhất,dày chừng 0,3m đến 1,2m.Hiện vật thu đợc ở

đây cũng nh đa số các di chỉ Phùng Nguyên khác chỉ gồm đồ đá và đồgốm.Có gần 100 di vật đá và vài vạn mảnh gốm

Di chỉ Tràng Kênh(xã Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) là địa

điểm đợc coi là thuộc văn hóa Phùng Nguyên, hoặc ít ra là cũng có mối quan

hệ chặt chẽ với văn hóa Phùng Nguyên, nằm cách xa nhất về phía đông địabàn c trú cơ bản của văn hóa này Đây là một di chỉ xởng chế tạo đồ trang sức

đá quan trọng Diện tích khoảng 10000m2 phân bố ven chân núi đá vôi Nó

đ-ợc phát hiện năm 1967 và trong năm này các nhà khảo cổ học thuộc ViệnKhảo Cổ học và bảo tàng Lịch Sử Việt Nam đã tiến hành đào thám sát và khaiquật lần thứ nhất Diện tích các hố khai quật lần 1 là 192m2 Tầng văn hóadày trên dới 2m đã thu thập đợc 2 ngàn di vật đá, xơng và hàng vạn mảnh

Trang 18

gốm Di chỉ Tràng Kênh còn đợc Viện Khảo Cổ học khai quật diện tích nhỏlần thứ 2(50m2) năm 1986 và lần 3(35m2) năm 1996.

Kết quả thu đợc trong những năm đầu nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyênthật lớn lao Các nhà khảo cổ học đã có trong tay khối t liệu rất phong phú, đadạng về loại hình văn hóa đủ cơ sở để khẳng định đó là một nền văn hóa sơ kỳ

đống thau- văn hóa Phùng Nguyên

Trong những năm 70 trên vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc còn có một số phát

hiện nh di chỉ Đồi Giàm, Thổ Tang, Đồi Dung Tầng văn hóa dày 0,14m đến

1m Trong một hố khai quật 60m2 đã phát hiện đợc nhiều đồ đá và đồ gốmmang đặc trng của văn hóa Phùng Nguyên Đồ gốm có nhiều đồ án hoa văn vàloại hình cho phép đoán định di chỉ ở vào giai đoạn Phùng Nguyên cổ điển.Nghiên cứu di chỉ này sẽ làm rõ thêm một khâu trong các bớc phát triển củavăn hóa Phùng Nguyên Trong những năm này, công tác điền dã khảo cổ họctrên đất Bắc Ninh đợc đánh dấu bằng những phát hiện các di tích thời HùngVơng nói chung, trong đó phải kể đến hệ thống di tích sơ kỳ thời đại kim khíbên dòng sông Tiêu Tơng thuộc xã Tơng Giang, Võ Cờng, Vân Phơng(huyệnTiên Sơn)

Nh vậy trong những năm 70 trở lại đây, công việc điền dã trong nghiêncứu văn hóa Phùng Nguyên đã thu đợc những kết quả khả quan Song song vớicông tác điền dã, khai quật, các nhà khảo cổ còn đẩy mạnh nghiên cứu sâuhơn các vấn đề chung, cơ bản xung quanh văn hóa Phùng Nguyên

Đối với văn hóa Phùng Nguyên, hơn 4 thập kỷ qua là những thập kỷ củaphát hiện, tích lũy t liệu và nghiên cứu toàn diện Hơn 50 di chỉ PhùngNguyên đã đợc phát hiện, bản đồ phân bố văn hóa này càng đây đủ.Đã cóhàng trăm bài viết dới dạng công bố t liệu điều tra khai quật,chuyên khảo,luận bàn về mọi vần đề xung quanh nền văn hóa sơ kỳ kim khi nổi tiếng này

1.2.2 Những đặc trng nổi bật của văn hóa Phùng Nguyên

1.2.2.1 Loại hình di tích

Các địa điểm văn hóa Phùng Nguyên phân bố tập trung ở khu vực hợp lucủa các con sông lớn nh sông Hồng, sông Đà, sông Thao và sông Đáy tứcvùng Nam Phú Thọ, Đông Bắc Hà Tây, Hà Nội, Nam Bắc Ninh

Phần lớn các di tích nằm ở miền trớc núi, dới chân đồi núi đất, ven sôngsuối ở vùng trung du Nhiều địa điểm trên các khu đất cao châu thổ, ven biển

Loại hình: Trên 50 địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên tập trung phần

lớn ở tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc(34 địa điểm), Hà Nội, Hà Tây(14 địa điểm),

Trang 19

Bắc Ninh (6 địa điểm) Nhìn chung địa bàn phân bố các di chỉ văn hóa PhùngNguyên khá rộng lớn, bao gồm cả vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

Văn hóa Phùng Nguyên tồn tại và phát triển trong thời gian cách ngàynay trên dới 4000 năm Những dấu tích còn lại hầu hết là các làng định c, các

di chỉ c trú ngoài trời Diện tích các làng định c này nhìn chung khoảng 1 vạnmét vuông Cá biệt có những làng có diện tích khá lớn tới 2 đến 3 vạn métvuông (Văn Điển, Phùng Nguyên, Gò Bông…)

Ngời Phùng Nguyên thờng c trú trên các đồi gò đất nổi cao hơn mặtruộng xung quanh từ 0,5m đến 2-3 m, cá biệt có trờng hợp cao đến 5-6m nh dichỉ Gò Bông, Gò Chè(Tam Thanh,Phú Thọ) Lớp đất văn hóa có độ kết chặttùy thuộc vào tính chất thổ nhỡng của từng vùng, nhng nhìn chung cứng rắn

có xen lẫn các hạt latêlit lết vón Đất có màu xám đen và chứa đựng thuầnnhất các di vật khảo cổ học nh đồ đá,đồ gốm,ít xơng răng và tro than Tích tụtầng văn hóa ở các di chỉ Phùng Nguyên nhìn chung không dày lắm, trungbình khoảng 0,7m, dày nhất đến 2m (di chỉ Xóm Rền) Một số di chỉ có độdày tầng văn hóa không đều, có chỗ dày chỗ mỏng tùy thuộc địa hình c trú.Tuy đã phát hiện đợc 50 địa điểm của văn hóa này, trong đó số di chỉ đã đợckhai quật cũng hơn 25 địa điểm , song các dấu vết c trú, nhà cửa vẫn còn làvấn đề cha sáng tỏ

Căn cứ vào tính chất và đặc điểm các di tích văn hóa Phùng Nguyên, cóthể phân chia chúng ra thành 3 loại hình:

Các di chỉ xởng nằm ở giai đoạn cuối văn hóa Phùng Nguyên bớc sangvăn hóa Đồng Đậu Cho đến nay mới tìm thấy 3 di chỉ xởng với tính chất côngxởng rõ ràng ĐIều đặc biệt là tính chuyên môn hóa của chúng khá cao: Di chỉ

Trang 20

xởng Gò Chè chế tác công cụ đá là chính-xởng Bãi Tự chế tác mũi khoan, dichỉ xởng Tràng Kênh chế tác vòng trang sức là chủ yếu.

Di chỉ c trú mộ táng, nếu không kể địa điểm Xóm Rền với phát hiện dấutích 2 ngôi mộ lẻ loi nằm ngay trong di chỉ c trú, đến nay chúng ta mới tìmthấy đợc 1 địa điểm thuộc loại hình này Đó là địa điểm Lũng Hòa Tại LũngHòa đã phát hiện đợc cả một khu mộ tập trung Trong diênh tích hố khai quậtkhông lớn lắm đã tìm thấy 12 ngôi mộ có những đặc điểm tơng tự nhau, chứng

tỏ chúng cùng thuộc 1 thời đại, một chủ nhân Khu mộ địa cũng phân bố trongphạm vi c trú, đất lấp mộ cha nhiều di vật giống nh các di vật tìm thấy trongtầng văn hóa và đồ tùy táng đợc chôn theo ngời chết

Địa tầng:Có 5 loại hình di tích theo diễn biến địa tầng:

- Loại có một tầng văn hóa thuộc văn hóa Phùng Nguyên

- Loại có địa tầng phát triển liên tục từ cuối Phùng Nguyên sang Đồng Đậu

- Loại di chỉ- xởng phát triển từ cuối Phùng Nguyên sang Đồng Đậu

1.Loại ý kiến thứ nhất cho rằng văn hóa Phùng Nguyên bắt đầu từ hậu kỳ

đá mới và bớc sang sơ kỳ đồng thau

2 Loại ý kiến thứ hai cho rằng, căn cứ vào việc phân tích tổng thể các dấutích văn hóa vật chất của các địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên thì văn hóanày không còn ở hậu kỳ đá mới nữa mà đã ở vào sơ kỳ thời đại đồng thau

Đa số các nhà nghiên cứu đều theo quan điểm thứ hai Nh vậy văn hóaPhùng Nguyên có niên đại mở đầu từ cuối thiên niên kỷ thứ III trớc côngnguyên-đầu thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên và kết thúc vào khoảng nửa

đầu thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên

1.2.2.3 Các giai đoạn phát triển của văn hóa Phùng Nguyên

* Dựa trên việc phân tích loại hình hoa văn gốm của các nhóm di tích, cứliệu địa tầng… Hà Văn Tấn và Hán Văn Khẩn đã xác lập 3 giai đoạn pháttriển của văn hóa Phùng Nguyên

- Giai đoạn sớm, có thể gọi là giai đoạn trớc cổ điển, lấy Gò Bông, GòHện làm tiêu biểu Di chỉ Đồng Chỗ ở vào thời điểm kết thúc của giai đoạnnày,bắt đầu có yếu tố của giai đoạn sau

- Giai đoạn giữa, có thể gọi là giai đoạn cổ điển, lấy Phùng Nguyên, An

Trang 21

Đạo, Xóm Rền, Nghĩa Lập… làm tiêu biểu Di chỉ Đồi Giàm ở vào thời điểmkết thúc của giai đoạn này.

- Giai đoạn cuối, có thể gọi là giai đoạn cổ điển.Có thể lấy lớp dới Đồng

Đậu, các di tích nhóm Tiêu Tơng ở Bắc Ninh, Tiên Hội và Xuân Kiều ở HàNội làm tiêu biểu

Tuy vậy cũng có ý kiến khác (chủ yếu dựa vào sự xuất hiện của dấu vếtkim loại đồng) mà chia thành 2 giai đoạn phát triển

- Giai đoạn Phùng Nguyên sớm, cha tìm đợc đồ đồng hay hiện vật kim khínào khác, thuộc thời đại đồng thau, vào thiên niên kỷ thứ III trớc công nguyên

- Giai đoạn Gò Bông muộn, thuộc sơ kỳ thời đại đông thau, vào cuốithiên niên kỷ thứ III-đầu thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên Đã có hợp kim

- 01 niên đại C14 của di chỉ Đồng Đậu (lớp dới) ở độ sâu 4m cho tuổi

3328  100 năm cách ngày nay (tính từ năm 1950) Đây đợc coi là niên đạigiai đoạn kết thúc của văn hóa Phùng Nguyên, tơng đơng giai đoạn đầu củavăn hóa Đồng Đậu

- 01 niên đại C14 ở Đồi Giàm (Phú Thọ), địa điểm cuối giai đoạn giữacủa văn hóa Phùng Nguyên Niên đại C14 ở đay khá muộn, 290060 nămcách ngày nay Điều này đợc các nhà khai quật giải thích do mẫu than lấytrong một hố đất đen có thể là mộ, chứa đồ gốm sau Phùng Nguyên

- 01 niên đại C14 ở Đồng Chỗ (Hà Tây), địa điểm thuộc giai đoạn GòBông, đầu Phùng Nguyên, 3800+60 năm cách ngày nay

* Mới đây, đã có một số niên đại A M S của hai địa điểm Xóm Rền và

Gò Hội, kết quả cụ thể nh sau:

- Mẫu Gò Hội 4, than lấy ở đáy hố của địa điểm thuộc giai đọa sau củavăn hóa Phùng Nguyên cho kết qủa 359050BP hay niên đại hiệu chỉnh 1930trớc công nguyên

- Mẫu Gò Hội 8, than lấy ở đáy hố cho kết quả 337080BP

- Mẫu Xóm Rền 1,than lấy ở đáy lớp hai cho kết quả 345060

- Mẫu Xóm Rền 2, than lấy ở gần mộ 2 cho kết quả 377060BP

- Mẫu Xóm Rền 3, than lấy ở đáy lớp 2 cho kết quả 336040BP

* Nguyễn Linh sắp xếp các di chỉ Phùng Nguyên vào hai bớc trong giai

Trang 22

đoạn hình thành nhà nớc Văn Lang Bớc thứ nhất, tác giả lấy di chỉ An Đạo là

điển hình, di chỉ Phùng Nguyên là mốc cuối cùng Theo tác giả lúc này ngờiPhùng Nguyên cha biết kỹ thuật đúc đồng Các di tích Lũng Hòa, Gò Bông,Nghĩa Lập đợc chọn làm các di tích tiêu biểu cho bớc hai Lúc này c dân VănLang chuyển sang thời đại đồng thau

* Theo Nguyễn Duy Tỳ, văn hóa Phùng Nguyên có hai giai đoạn pháttriển sớm và muộn: giai đoạn Phùng Nguyên 1 và giai đoạn Phùng Nguyên 2.Phùng Nguyên 1 có các địa điểm Phùng Nguyên, Lê Tính, Gò Mả Muộn, GòChè, Hơng Nộn (Gò Chùa), Núi Xây, Yên Tàng, Đinh Xá, Văn Điển, An Th-ợng, Phú Diễn

Theo tác giả, giai đoạn 1 có đặc điểm sau:

- Công cụ đá nhỏ, không dài quá 5 cm

- Vòng trang sức có đờng kính bé, mỏng, tiết diện cắt ngang thờng chỉ cóhình vuông, chữ nhật hoặc hình tam giác

- Mũi tên, mũi lao và qua cha xuất hiện

- Đồ gốm thờng có đáy tròn, độ nung thấp và mỏng, hoa văn chủ yếu làrạch đơn giản, chấm dải, rạch các đờng song song, đờng xoáy ốc, các đờngthẳng cắt chéo nhau thành hình tam giác, hoa văn chấm tròn, hoa văn in dâythừng mịn

- Cha tìm thấy vết tích đồng

Giai đoạn Phùng Nguyên 2 gồm các địa điểm Lũng Hòa, Nghĩa Lập, GòBông, Thọ Sơn, Gò Chùa, Đồng Sấu, Ô Rô, An Đạo, Đôn Nhân, Đồng Đậulớp dới, Từ Sơn, Bãi Mèn, Đồng Dền lớp dới, Đồng Lâm lớp dới, An Thợnglớp trên Đặc trng của giai đoạn này là:

- Bắt đầu xuất hiện các loại vũ khí bằng đá nh mũi tên, mũi lao và qua

- Đục đá ra đời

- Vòng trang sức có kích thớc lớn, nhiều gờ nổi ở mặt vòng

- Kỹ thuật khoan, ca, mài phát triển rất cao

- Hoa văn trang trí trên đồ gốm phong phú và đẹp: hoa văn làn sóng uốnlợn, hình chữ S, hình chữ C, hình mỏ neo, hình tam giác

Trang 23

Loại hình Gò Bông gồm các địa điểm An Đạo, Đôn Nhân, PhùngNguyên, Nghĩa Lập, Đồng Sấu, Xóm Rền.

Loại hình Chùa Do gồm các địa điểm Chùa Gio, Văn Điển, Gò ấp, ĐồngDền lớp sát đất cái Theo tác giả, đặc trng của giai đoạn Gò Bông là: đồ ántrang trí trên gốm theo những công thức chặt chẽ với những yếu tố hoa văntrang trí nh hoa văn chấm tròn, chữ S, chữ X… Còn đặc trng của giai đoạnChùa Gio là: vẽ văn thô, rạch thô đơn giản cộng thêm văn sóng

* Nguyễn Văn Hảo xếp các di tích Phùng Nguyên vào hai nhóm hay hailoại hình Nhóm 1 hay loại hình Gò Bông bao gồm các địa điểm Ô Rô, ThọSơn, Phùng Nguyên, Gò Bông, An Đạo,An Thái, Xóm Rền, Thành Rền, ĐônNhân, Nghĩa Lập… Nhóm 2 hay loại hình Chùa Gio gồm các địa điểm ChùaGio, Khu Đờng, Đồng Đậu lớp dới, Lũng Hòa, Văn Điển, Đinh Xá, NúiXây… Tác giả nêu lên 2 khả năng về mối quan hệ giữa 2 nhóm này: Đó là 2loại hình tiêu biểu cho hai giai đoạn phát triển khác nhau Và cuối cùng tácgiả cho rằng: về cả 2 khả năng nói trên đến nay chúng ta vẫn cha đủ căn ckhoa học để lựa chọn

* Theo Diệp Đình Hoa, thời kỳ Hùng Vơng phát triển qua 6 giai đoạn:Phùng Nguyên, Gò Bông, Đồng Đậu, Gò Mun, Đờng Cồ, Đông Sơn Nh vậy ở

đây các di tích của văn hóa Phùng Nguyên đợc xếp vào 2 giai đoạn sớm, muộnkhác nhau: giai đoạn sớm -Phùng Nguyên, giai đoạn muộn-Gò Bông

Việc phân chia giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên của các nhà nghiên cứukhác nhau không chỉ do quan niệm khác nhau, cơ sở phân chia khác nhau, tàiliệu ít mà còn là vì chúng ta cha đủ điều kiện sử dụng các phơng pháp khoahọc tự nhiên nên cha có đợc một hệ thống niên đại tuyệt đối đủ tin cậy để sắpxếp các di tích theo trật tự từ sớm đến muộn

Tuy nhiên khi phân chia các giai đoạn phát triển của văn hóa PhùngNguyên, các nhà nghiên cứu đứng trớc một vấn đề khá phức tạp là phải lựachọn cơ sở t liệu nào để phân chia giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên: đồ đáhay đồ gốm, các vết tích đồng, nền kinh tế nông nghiệp hay các nghề thủcông? Chọn một hay tất cả các loại di tích di vật của văn hóa Phùng Nguyên?

Điều này thực sự khó khăn vì mỗi loại di tích di vật đều có u điểm và hạn chế của

nó Chính vì vậy nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào tài liệu gốm để phân chia cácgiai đoạn phát triển của văn hóa Phùng Nguyên Căn cứ vào các tài liệu hiện có,văn hóa Phùng Nguyên sẽ đợc chia làm 3 giai đoạn phát triển sau:

- Giai đoạn Gò Bông

- Giai đoạn Phùng Nguyên

Trang 24

- Giai đoạn Lũng Hòa

Việc sử dụng đất sét rất mịn mà tạo đợc các loại gốm rất đẹp chứng tỏ kỹthuật tìm, tuyển chọn, chế tạo chất liệu gốm rất cao của ngời Phùng Nguyên.Gốm làm bằng đất sét có cỡ hạt nhỏ thờng có tính dẻo cao, co rất mạnh, nếupha chế kém, sản phẩm tạo ra sau khi sấy khô, nung chín sẽ bị vênh méo hoặc

vỡ nát Song các di vật gốm thuộc loại này rất mỏng, tròn, đều, đẹp Gốm mịnkhá đều, màu đẹp, thờng có màu đỏ hoặc nâu hơi xám Sự hiện diện của “Tìm hiểu những hiện vậtchấtbột trắng” trong rãnh hoa văn khắc vạch và in chấm, lớp áo trắng trong lòngthố có thể coi là đặc trng tiêu biểu của giai đoạn Gò Bông Chất bột trắng bámkhá chắc vào xơng gốm chứng tỏ chất bột trắng là đát sét trắng hay hỗn hợp

có đất sét trắng Chất bột trắng trên không có sẵn trong tự nhiên, là chất dongời Phùng Nguyên tạo ra để trang trí hoa văn và làm áo gốm

Khác với các loại gốm khác, loại gốm mịn đợc trang trí bằng các loại hoavăn khắc vạch và văn thừng Kỹ thuật khắc vạch đã đạt đến trình độ cao vớicác mô típ hoa văn chính- các đờng viền bên ngoài, mà còn vạch bên trongcác họa tiết ấy Những nét vạch bên trong vừa ngắn lại vừa nông đều, nhỏ nênhoa văn tạo ra không kém vẻ đẹp nh lối in, lăn, chấm Nhiều khi nếu khôngnhìn kỹ ngời ta sẽ nhầm tởng đó là hoa văn in Đồng thời ở loại gốm này ngời

ta còn dùng dây thừng hết sức mịn in lên bên trong các đờng nết khắc vạch.Dây thừng mịn đến mức phải dùng kính lúp mới thấy đợc rõ ràng Việc tạohoa văn thừng này có thể đợc làm nh sau: Trớc hết in dấu thừng lên phôi gốm,sau đó dùng que vạch các họa tiết tùy ý; cuồi cùng ngời ta xóa bỏ dấu thừng ởphía ngoài họa tiết khắc vạch Việc mài miết, xóa bỏ dấu thừng này lại tạo chomặt gốm nhẵn bóng sau khi nung Đây là lối tạo hoa văn rất độc đáo ở giai

đoạn Gò Bông, rất ít gặp ở các giai đoạn khác

Nét đặc sắc thứ hai là sự phổ biến các loại hoa văn khắc vạch trên nền

Trang 25

văn thừng hay văn chải Đờng nét khắc vạch rất phóng khoáng nên hoa văn và

đồ gốm thêm phần phong phú Bằng cách khắc vạch- in lăn rất công phu và tỷ

mỷ, ngời Gò Bông đã tạo ra đợc nhiều họa tiết hoa văn, nhiều đồ án hoa vănphức tạp

Vẻ đẹp của loại hoa văn này có đợc một phần là do kỹ thuật đánh bóngláng tạo ra Đánh bóng là lối trang trí phổ biến và độc đáo của gốm Gò Bông.Các đờng, mảng đánh bóng chạy giữa các họa tiết hoa văn khắc vạch- in lănhay khắc vạch có độ bóng láng rất cao

Việc sử dụng các họa tiết đệm để điểm lấp các khoảng trống giữa các họatiết hoa văn cũng là nết rất riêng trong trang trí gốm Gò Bông Có nhiều kiểuloại họa tiết đệm khác nhau: hình tròn, hình tam giác, hình tim, hình bánnguyệt…Quy mô kích thớc của họa tiết đệm rất khác nhau, tùy thuộc vào độdài rộng của khoảng trống giữa các họa tiết hoa văn

Mặt khác, ở đồ gốm Gò Bông bên cạnh các loại hoa văn rất đẹp còn cómột số loại hoa văn rất thô, mộc mạc nh hoa văn khắc vạch trên nền vănthừng, hoa văn khắc vạch trổ lỗ to thô

Nh vậy so với các giai đoạn khác đồ gốm Gò Bông có những khác biệt rõrệt về chất liệu, loại hình, hoa văn và nghệ thuật trang trí hoa văn

Ngoài ra đồ đá giai đoạn Gò Bông cũng có những khác biệt nhất định sovới giai đoạn Phùng Nguyên Ngời Gò Bông ít dùng đá nephelite màu đỏ mậnchín hơn ngời Phùng Nguyên Ngời Gò Bông phần nhiều dùng đá nephelitemàu trắng ngà làm đồ trang sức

Loại hình công cụ đá Gò Bông không đợc mài chế vuông thành sắc cạnh

nh công cụ Phùng Nguyên

Giai đoạn Phùng Nguyên

Số lợng các di tích thuộc giai đoạn Phùng Nguyên nhiều hơn giai đoạn GòBông Các di tích tiêu biểu thuộc giai đoạn này là Phùng Nguyên, Khu Đờng, Gò

Đồng Sấu, Xóm Rền, An Đạo, Gò Chùa, Thọ Sơn, Ô Rô, Đồi Giàm, Đôn Nhân,

Đồng Gai, Nghĩa Lập, Gò Cây Táo, Văn Điển, Đồng Vông…

Vào giai đoạn Phùng Nguyên, loại gốm rất mịn gần nh mất hẳn Loạigốm làm bằng đất sét tơng đối mịn, có kích thớc lớn, có hoa văn đẹp xuấthiện Các loại gốm này thờng có màu xám đỏ, hạt to và thô hơn trớc Hoa vănkhắc vạch kết hợp in chấm in lăn đợc thay thế bằng bằng hoa văn khắc vạchkết hợp với lối chấm tha thành hàng thẳng rõ rệt Đặc biệt dấu vết của chất bộttrắng, loại gốm có áo trắng ở mặt trong hầu nh biến mất

Trang 26

Trong giai đoạn này, tuy có nhiều di chỉ, phân bố trên một không gianrộng lớn, có rất nhiều loại đồ gốm khác nhau, hoa văn phong phú nhng một sốhọa tiết và đồ án trang trí đã tuân theo một quy tắc nhất định Các hoa văn chữ

S ở giai đoạn Gò Bông nay đã biến hóa thành những hoa văn mẫu Lối vẽphóng khoáng, tự do ở giai đoạn Gò Bông đến giai đoạn này hầu nh khôngcòn nữa Các họa tiết hoa văn lúc này hình nh đã đợc quy chuẩn hóa, quy cáchhóa cả về mặt kết cấu đến lối trang trí và bố cục trên đồ đựng Nh thế có thểqua một thời gian sử dụng, thừa hởng và sàng lọc, ngời Phùng Nguyên đã đatrình độ tạo hoa văn đến đỉnh cao Điêù này đợc thể hiện rõ nhất ở những họatiết hoa văn chữ S liên kết để tạo thành băng trang trí gốm Trình độ trang trí,mức độ chuẩn xác về trang trí của ngời Phùng Nguyên chặt chẽ hơn ngời GòBông

Khác với Gò Bông, ngời Phùng Nguyên không a lối khắc vạch đè lên nềnvăn thừng Cách khắc vạch kết hợp với chấm tha theo hàng đã giúp ngờiPhùng Nguyên tạo ra đợc nhiều họa tiết hoa văn rất đẹp, có kết cấu phức tạpnhng lại rất uyển chuyển và hài hòa Đồ đá Phùng Nguyên có khác biệt rõ rệt

so với Gò Bông và Lũng Hòa Loại đá Nephelite màu đỏ mận chín đ ợc sửdụng phổ biến ở Phùng Nguyên Nhiều loại công cụ sản xuất cỡ nhỏ và đồtrang sức đợc làm bằng loại đá này Trong khi giai đoạn Gò Bông, đồ trangsức phần nhiều là đá nephelite có màu trắng ngà hoặc trắng xanh

Giai đoạn Lũng Hòa

Đây là giai đoạn kết thúc của văn hóa Phùng Nguyên, khác với hai giai

đoạn trớc, ở giai đoạn này, chúng ta có một số di chỉ có địa tầng để tìm hiểu

sự chuyển tiếp từ cuối văn hóa Phùng Nguyên sang đầu văn hóa Đồng Đậu.Giai đoạn Lũng Hòa có một số di tich tiêu biểu nh Lũng Hòa, Gò Hội,

Đồng Đậu lớp dới cùng, Gò Diễn, Gót Rẽ, Chùa Gio, Phợng Hoàng, Bãi Mèn,

Đình Chiền, Tiên Hội, Xuân Kiều, Đình Tràng lớp dới, Gò Ghệ, Gò Dạ…

Lũng Hòa là giai đoạn phát triển tiếp nối sau giai đoạn Phùng Nguyên vàchuyển nối lên đầu văn hóa Đồng Đậu.Do đó còn lu lại nhiều sắc thái của PhùngNguyên nhng cũng nảy nở một số yếu tố văn hóa mới- văn hóa Đồng Đậu

Trong giai đoạn Lũng Hòa vắng mặt hoàn toàn loại gốm mịn Thay vào

đó là sự xuất hiện của một loại gốm mới có màu hơi xám Nhìn chung gốm có

xu hớng ngày càng thô hơn

Hoa văn gốm ở giai đoạn này trở nên nghèo nàn và đơn điệu Văn thừngchiếm u thế tuyệt đối Hầu nh không thấy bóng dáng của các mô típ hoa văn

Trang 27

khắc vạch kết hợp in chấm, in lăn của giai đoạn trớc Lúc này trên gốm chỉcòn thấy vài họa tiết khắc vạch đơn sơ kết hợp với lối in chấm Trong giai

đoạn Phùng Nguyên và Gò Bông, văn thừng thờng rất mịn Còn ở gốm LũngHòa ngoài các loại văn thừng mịn có một loại văn thừng to, thô, in sâu, chạydọc hông của đồ đựng Ngoài ra trên mảnh gốm ở giai đoạn này còn có một

số mô típ hoa văn trang trí hoàn toàn cha có ở hai giai đoạn trớc Đó là hoavăn khuông nhạc, hoa văn các đờng tròn đồng tâm Nhìn chung, gốm LũngHòa thiên về thực dụng hơn là thẩm mỹ Các loại hình gốm trang trí cầu kỳ và

đẹp Nh vậy, chuyển từ các họa tiết hoa văn a chuộng là các đờng khắc vạchkết hợp in chấm- in lăn sang lối trang trí hoa văn khuông nhạc, hoa văn thừng

to, thô, in sâu nét chẳng những là một sự chuyển biến lớn và sâu sắc về kỹthuật trang trí, phong cách trang trí mà còn là sự thay đổi về quan niệm thẩm

mỹ của con ngời lúc bấy giờ

Nh vậy, dựa vào tài liệu gốm chúng ta đã có đủ cơ sở để phân chia cácgiai đoạn phát triển của văn hóa Phùng Nguyên

1.2.3.4 Đặc trng về hiện vật trong văn hóa Phùng Nguyên.

Phùng Nguyên đợc coi là nền văn hóa vật chất mở đầu cho thời kỳ HùngVơng dựng nớc Sau hơn 45 năm, một khối lợng di vật đồ sộ cực kỳ quý giá đã

đợc phát hiện và nghiên cứu Thông qua di vật, có thể thấy chủ nhân của vănhóa Phùng Nguyên là những ngời đã đạt đến trình độ phát triển cao của kỹthuật chế tác đồ đá và đồ gốm Về đồ đá, hầu nh toàn bộ công cụ và đồ trangsức đều đợc mài nhẵn, kích thớc nhỏ nhắn, đa dạng và tinh tế Các kỹ thuật ghè

đẽo, ca, khoan, mài, tiện… có mặt đầy đủ trong quy trình chế tác đồ đá của ng

-ời Phùng Nguyên và đã đạt đến trình độ điêu luyện Thậm chí có thể nói rằng ởvăn hóa Phùng Nguyên, kỹ thuật chế tạo đồ đá đã đạt đến đỉnh cao trong lịch sửcủa kỹ thuật chế tác đá tiền sử và sơ sử Bên cạnh đó, qua kỹ thuật chế tác gốmcũng có thể thấy văn hóa Phùng Nguyên là một nền văn hóa khảo cổ mà chủnhân của nó thực sự có tài năng sáng tạo trong nghề gốm

Đồ đá:

Có ngời đã nói rằng: Nếu có một nghề thủ công nào để lại nhiều minhchứng nhất về kỹ thuật học, mà không những bằng chứng đó lại hầu nh không

bị hủy hoại bởi thời gian, hì đó chính là nghề sản xuất đồ đá Cũng nh vậy, ếu

có một nền văn hóa khảo cổ nào hàm chứa nhiều tinh hoa hơn cả về kỹ thuậtchế tác đá và sản phẩm đồ đá, thì đó chính là văn hóa Phùng Nguyên

Di vật đá Phùng Nguyên hầu hết đều có kích thớc nhỏ Kể cả công cụ sản

Trang 28

xuất cũng nh đồ trang sức đều đợc chế tạo bằng các loại đá có độ rắn cao, màusắc đẹp.

Đặc trng về nguyên liệu và loại hình.

* Về vấn đề nguyên liệu đá trong văn hóa Phùng Nguyên:

Những tài liệu khảo cổ học cho biết rằng nguyên liệu dùng để chế tác đácủa c dân Phùng Nguyên rất đa dạng Đó là các loại đá: Basalt, spilite,nephrite, gres, schist, jade,j asper Họ không những biết lựa chọn các loại đátốt mà còn có ý thức sử dụng từng loại đá sao cho thích hợp với từng loại công

cụ hay đồ trang sức Ví dụ, đá Basalt thờng đợc sử dụng để chế tạp các loạicông cụ có số lợng nhiều và kích thớc lớn; đá nephrite chủ yếu để chế tạo đồtrang sức, đá sa thạch cát kết đợc sử dụng làm dao ca, bàn mài; đá silic-jasperdùng làm mũi khoan Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, ngoài đồ trang sức,

đá nephrite còn đợc sử dụng để chế tạo các loại rìu bôn, đục cỡ vừa và nhỏ

Nh vậy,ngời Phùng Nguyên phải biết rõ về thuộc tính từng loại đá thì mới cóthể sử dụng chúng để chế tạo từng loại công cụ thích hợp

- Đá ba gian, Diabazer hay Spilite: Tùy theo từng phòng thạch học khácnhau mà đá đợcđặt tên nh trên Theo các nhà địa chất, sự khác nhau về tên gọinày là do có những thành phần trội biệt trong từng mẫu đá phân tích,về cơ bảncác tên gọi đá nói trên thuộc về một nhóm chung, không có sự khác nhau vềthuộc tính và chất liệu Chúng có cấu tại hình khối, thành phần khoáng vật chủyếu là Plagioclase(70%-80%) Nhìn chung nguồn nguyên liệu này chủ yếu là

đá gốc Ngời Phùng Nguyên dùng loại đá này để chế tạo ra các loại hình công

cụ lao động chính nh rìu, đục hoay làm vòng đeo nh đã thấy trong công xởngchế tác đá Hồng Đà Đá thờng đợc khai thác trong các mỏ đá bazan hayDiabazer lộ thiên, tơng đối gần nơi c trú, việc chuyên chở cắc hẳn phần nhiềudựa vào sông nớc nếu khai thác xa hoặc bằng đờng bộ nếu khai thác gần.Trong văn hóa Phùng Nguyên, nguồn nguyên liệu này cho thấy sự bảo lutruyền thống sử dụng đá bazan từ các văn hóa Hậu kỳ đá mới trớc đó.Ta biếtrằng c dân hậu kỳ đá mới nh Mai Pha, Bàu Tró, Hạ Long… đã có thói quen sửdụng đá gốc Bazan để sản xuất công cụ lao động; do vậy ngay cả trong quytrình khai thác, kỹ thuật khai thác ngời Phùng Nguyên vẫn tiếp nối truyềnthống trớc đó Trong nhiều di chỉ xởng chế tác đá thuộc về văn hóa PhùngNguyên ta có thể thấy ngời thợ chế tạo đá không phải tiết kiện lắm đối với loạinguyên liệu này Nh vậy, nguồn nguyên liệu đá bazan tơng đối rõ ràng trongvăn hóa Phùng Nguyên

Trang 29

- Về nguồn đá ngọc - jade hay gọi theo tên khoa học là Nephrite Đá này

có thành phần cơ bản là tremollite ở dạng ẩn tinh, rất mịn hạt, rắn và dẻo ĐáNephrite đợc dùng chủ yếu tạo các loại rìu đục kích thớc nhỏ, thích hợp vớicác thao tác thủ công nhẹ nhàng và trên một đối tợng mềm hơn chúng, đồngthời do màu sắc đẹp, độ dẻo dai dễ tạo hình hơn các loại đá khác nên đá nàycòn đợc dùng gần nh chuyên biệt trong chế tạo đồ trang sức

Đứng ở góc độ thành phần thạch học, sự hình thành đá Jade đòi hỏi cónhững vận động kiến tạo sâu và lâu dài trong những dãy núi đá vôi, với mộtnhiệt độ thích hợp rất cao, tới 700-800 độ hoặc hơn cả ngàn độ Khi đã hìnhthành rồi, loại đá này cũng không dễ dàng khai thác lộ thiên trên bề mặt trái

đất, trừ những vùng có nguồn đá phun trào sau núi lửa và do đó đá Jade đợc

đẩy lên trên rồi biến thành cuội lăn Tuy nhiên, trong văn hóa Phùng Nguyên,những bằng chứng nguyên liệu đá Jade tìm thấy trong các di chỉ cho ta thấytuyệt đại đa số nguyên liệu khai thác đều là đá gốc Từ những nghiên cứu địachất và thạch học, ngời ta đã tìm ra những nguồn mỏ Jade hình thành hàngvạn năm trớc nằm trong các vùng đá vôi, trong các điều kiện địa lý đặc biệtcủa vỏ trái đất tại một số khu vực vên biển Đông thuộc Đài Loan và TrungQuốc Mặc dù chúng ta cha có những thành tựu nghiên cứu địa chất về vấn đềnày nhng từ những bằng chứng khảo cổ học, với sự có mặt của những di chỉ x-ởng chế tác đá trong văn hóa Phùng Nguyên tại vùng núi đá vôi Từ đây chúng

ta có thể nghĩ ở Việt Nam có thể có các mỏ đá Nepherit Tuy nhiên hiện naychúng ta cha rõ c dân Phùng Nguyên đã khai thác đá ngọc ở đâu

- Đá Amphibolite là loại đá đợc c dân Phùng Nguyên dùng làm đồ trangsức Thành phần khoáng vật của Amphibolite gồm có actinolite, quartz,plagioclase, epodot, actinolits có dạng hình kim, kích thớc nhỏ, sắp xếp songsong nhau Plagiocláe có dạng hạt đều đặn nằm lẫn cùng với quartz Epidotnằm rải rác trong các nham thạch thành từng nhóm nhỏ Đặc biệt của loại đánày là có nhiều màu sắc, lại không cứng lắm nên dùng chế tạo vòng trang sứcrất thích hợp

- Đá Japer là một nguồn đá khác đợc dùng để chế tạo mũi khoan dùngtrong nghề chế tạo đồ trang sức của c dân Phùng Nguyên Trong giai đoạn vănhóa Phùng Nguyên, vào giai đoạn muộn đã có ít nhất hai di chỉ xởng tồn tạihoạt động chế tác mũi khoan đá Jasper còn gọi là đá Silic màu đỏ gan trâu haymàu vàng gan gà Đá Jasper có thành phần hóa học cơ bản là các tập hợp tinhdạng tóc rối, rất mịn, quánh, vết vỡ thờng có dạng vẩy hến và bóng, loại đá

Trang 30

này chỉ đợc dùng để chế tạo mũi khoan, ngoài ra không dùng trong các loạihình di vật khác đồng thời kỹ thuật chế tạo nó cũng rất chuyên biệt Bằngchứng về chế tạo mũi khoan đá trong văn hóa Phùng Nguyên, chúng ta có thể

đánh giá đợc chân xác sự tiến bộ trong khâu lựa chọn nguyên liệu của ngờiPhùng Nguyên

Loại hình nguyên liệu này cũng không dễ tìm kiếm nh đá ngọc vậy Sựtiết kiệm đá đến mức tối đa trong các di chỉ xởng Bãi Tự, Tràng Kênh chothấy sự khan hiếm của nó, đồng thời cũng phản ánh sự khó khăn nhọc nhằncủa ngời thợ khai thác đá nhày xa Đá Jasper đợc dùng ở một số vùng nh tâybắc Trung Quốc hay vùng I ran, bắc Việt Nam Điều đáng nói là mặc dầu các

di chỉ tồn tại loại đá này nh nói ở trên phân bố trong các vùng địa lý khácnhau, trong các giai đoạn lịch sử khác nhau và chắc chắn không có những mốiquan hệ trực tiếp với nhau, nhng đều đợc dùng rất chuyên biệt trong việc chếtạo ra một loại hình công cụ lao động duy nhất là mũi khoan đá, chúng cóhình dáng, kích thớc và các dấu vết kỹ thuật giống hệt nhau

Việc tìm kiếm nguồn gốc loại nguyên liệu đá này còn gặp nhiều khókhăn Nhng càng khó khăn bao nhiêu thì sự có mặt của nó trong văn hóaPhùng Nguyên càng cho thấy trình độ hiểu biết và làm chủ nguồn nguyên liệucủa ngời Phùng Nguyên Hiện nay ngời ta tạm cho rằng đá này không tồn tạimột cách tập trung trong các mỏ đá lớn ở Việt Nam mà chỉ có mặt ngẫu nhiêntrong các mỏ đá vôi nằm kẹp giữa các mỏ đá vôi mà thôi

Ngoài các loại đá trên, trong khi khai quật các di tích Phùng Nguyên, cácnhà khảo cổ thờng phát hiện đợc rất nhiều đá mài và bàn mài Đó là các loại đáquác dit, sa thạch, a thạch quác dit hóa yếu, sa thạch có Felspat Đó là các loại đá

sa thạch và phiến thạch có màu xám đen, nâu xám, nâu đỏ hay trắng xám

Nhờ có đá cứng và màu đẹp, mũi khoan cứng, bàn mài mịn và thô mà

ng-ời Phùng Nguyên chế tạo đợc nhiều công cụ, vũ khí và đồ trang sức phongphú, đa dạng và rất tinh xảo

* Về công cụ sản xuất ở văn hóa Phùng Nguyên rất phong phú Di vật có

số lợng nhiều nhất là bôn đá hình tứ giác có lỡi vát lệch một bên Số lợng rìu

tứ giác cân xứng trong các di chỉ thuộc văn hóa này ít hơn, có những địa điểmkhông có Những di vật vẫn gọi là rìu và bôn có thể gồm 3 loại sau:

- Rìu: Lỡi vát chữ V cân xứng

- Bôn: Lỡi vát một bên thành chữ V lệch

- Rìu bôn: Lỡi vát hai bên không đều nhau

Trang 31

Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng quy mô kích thớc vừa phải là đặc trngnổi bật của công cụ sản xuất văn hóa Phùng Nguyên Kích thớc bôn tập trungtrong khoảng dài 6-7cm, rộng 3-4cm, dày 1-2cm PGS.TS Hán Văn Khẩn thìcho rằng: rìu, bôn và rìu bôn Phùng Nguyên gồm 2 loại rõ ràng:

- Loại hẹp ngang và dày

Trong số bôn đá tìm thấy ở các địa điểm Phùng Nguyên cũng có một sốlợng không nhỏ những bôn có kích thớc nhỏ,mỏng Về mặt hình dáng, nhữngbôn loại này chủ yếu có hình tứ giác, gần vuông hoặc dài, một số chiếc có đầu

đốc thon nhỏ hơn phần lỡi, lỡi có độ lợn hơi vòng cung, kích thớc trung bìnhcủa loại bôn này nằm trong khoảng chiều dài1,8-2,5 cm, rộng 1,5-2 cm, dày0,3-0,5 cm, góc lỡi 30-40 độ, đặc biệt có nhiều chiếc chiều dài và chiều rộngtơng đơng nhau

Những chiếc rìu đá điển hình ở Phùng Nguyên cũng là rìu tứ giác, mặtcắt ngang hình tứ giác và nhìn trực diện cũng là hình tứ giác Các địa điểmthuộc văn hóa này, hầu nh không thấy sự xuất hiện của rìu đá có mặt cắtngang hình bầu dục Rìu lỡi cân Phùng Nguyên đa số có dáng hình thang, nh-

ng phần lỡi thờng chỉ nhỉnh hơn phần đốc một chút Toàn thân rìu đợc màinhẵn, ở nhiều chiếc rìu thuộc địa điểm Phùng Nguyên còn cho thấy rõ rệt dấuvết sử dụng mòn vẹt của chúng Kích thớc rìu Phùng Nguyên nhỏ nhắn, xinhxắn; loại rìu có kích thớc lớn hơn cũng chỉ tập trung ở khoảng dài 6-7 cm,rộng 4-5 cm ,dày 1,5-2 cm Trên thân một số rìu còn xót lại các dấu ghè, đẽohoặc mẻ sứt trong quá trình chế tác và sử dụng Đa số rìu Phùng Nguyên đều

có góc lỡi sắc (khoảng ở 40 độ-50 độ cho loại kích thớc trên)

Đáng chú ý là, trong các địa điểm thuộc văn hóa này không có ít rìu đá

đ-ợc chế tác bằng đá ngọc Nephrite có các màu đẹp: trắng đục, trắng vân hồng,

Trang 32

vân xanh Loại rìu này có kích thớc nhỏ bé, xinh xắn, kích thớc trung bình củaloại rìu này có độ dài trên dới 3 cm, rộng 2 hoặc hơn 2 cm, dày 0,5 cm, cá biệtcòn có những chiếc rìu lỡi cân xứng, dáng đẹp kích thớc nhỏ hơn Sự có mặtcủa những chiếc rìu này khiến chúng ta nghĩ tới 1 nghề thủ công nhẹ nhàng tỉ

mỉ hơn là những thao tác sản xuất thô nặng

Tại di chỉ Phùng Nguyên đã tìm thấy 246 chiếc rìu các loại nhng không

hề có chiếc rìu mài có chiều dài đến10 cm Loại rìu nhỏ (dài dới 4 cm,rộng

d-ới 2,5 cm) chiếm td-ới 40% tổng số rìu Tại di chỉ Văn Điển cũng đã tìm đợc

181 chiếc rìu tứ diện, kiểu dáng và kích thớc, quy thức chế tác cũng giống hệt

nh rìu tìm thấy ở Phùng Nguyên Riêng ở địa điểm Gò Bông, trên tổng diệntích 178 m2 khai quật khoa Sử Đại học Tổng Hợp đã thu thập đợc trên 500hiện vật đá nhng số lợng rìu đá chân chính chỉ có 7 chiếc (bên cạnh 108 chiếc

bôn đá) Tại địa điểm Gò Hện, rìu và bôn theo báo cáo khai quật cho biết có

số lợng tơng đơng nhau (rìu: 9 chiếc, bôn: 9 chiếc) trong tổng số 113 di vật đá.Trong 1 vài địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên,còn có mặt loại rìu có vaihay có nấc nh ở Phùng Nguyên, Núi Xây… tuy số lợng rất ít, nhng sự có mặtcủa những loại rìu này cho ta thấy sự giao lu văn hóa với các c dân khác đãkhá phát triển

Trong số công cụ sản xuất của văn hóa Phùng Nguyên, ngoài rìu và bôn

ra, còn phải kể số lợng đến lớn đục đá Đục đá Phùng Nguyên có đặc điểmnhỏ nhắn cũng nh rìu và bôn, đợc chế tác từ các loại đá mịn hạt, độ cứng dáng

kể nh Spilite, Nephlite, và có những màu sắc đẹp Loại hình của đục cũng đadạng, có thể phân chia thành các loại chính sau: Đục bằng, đục mảnh vòng,

đợc xếp vào loại đục dày, dài và dày nhất của văn hóa Phùng Nguyên Đục

đ-ợc làm bằng đá Spilite màu xám, có quy mô kích thớc khá lớn: dài 13 cm,rộng 3,5 cm, dày 2,5 cm, mặt cắt ngang hình chữ nhật Khác với đục dày, đụcmỏng có lỡi mài vát 2 hoặc 1 mặt, mặt cắt ngang chủ yếu là hình thang, chữnhật cũng đủ kích cỡ từ lớn đến nhỏ Kích thớc loại đục này tập trung trongkhoảng: dài từ 3 đến 10 cm, rộng từ 1-1,5 cm, dày từ 0,5-0,8 cm Loại đục này

Trang 33

thờng đợc làm bằng đá Nephrite rất đẹp Rõ ràng, loại đục dày cũng nh đụcmỏng có đủ các loại kích thớc từ dài đến ngắn, từ rộngđến hẹp, từ dày đếnmỏng Nh vậy với bộ đục gồm nhiều kiểy loại này, ngời thợ thủ công có thể

dễ dàng đục, khoét các lỗ vuông, chữ nhật, hình tam giác hay hình thang trêncác vật liệu tre gỗ để là khung nhà cửa…

Đục móng(hay còn gọi là đục vũm) là một loại đục chuyên dụng để đụckhoét các lỗ tròn giống nh đục móng của ngời thợ mộc ngày nay Đục móng th-ờng có số lợng ít hơn các loại đục trên nhng cũng khá phổ biến ở nhiều di tíchPhùng Nguyên, nh Phùng Nguyên, Chùa Gio, Văn Điển, Đồng Vông…

Đục mảnh vòng đợc làm bằng đá Nephrite với các màu sắc khác nhau,

nh trắng ngà, hồng nhạt, hay tím mận chín Đây là công cụ do ngời PhùngNguyên khéo léo tận dụng những mảnh vòng gãy, rộng bản(từ 1-2cm) đemmài chế thành những đục nhỏ xinh xắn Gọi là đục nhng cha chắc nó đợc sửdụng nh những đục đá thực thụ Bởi vì nó nhỏ và mỏng manh có khi lại congnên rất có thể đục mảnh vòng còn đợc sử dụng nh dao để cắt, gọt, rạch, khắc

Đục nhọn hay đục đinh đợc làm từ mảnh đá, mảnh tớc hay mảnh công cụ

vỡ Đục thờng đợc làm bằng đá Nephrite hay Spilite Tuy nhiên loại công cụnày không có nhiều lắm trong các di tích Phùng Nguyên

Đột có mặt trong các di tích Phùng Nguyên không nhiều, đợc làm bằng

đá Nephrite, có mặt cắt ngang hình bầu dục, một đầu lớn, một đầu nhỏ, đầunhỏ đợc mài nhỏ dần thành hình tròn Nhìn chung nó có dạng giống đột sắthiện nay Nh vậy đục gồm nhiều loại khác nhau, đợc làm bằng đá Nephritehay Sphilite, có mặt cắt khác nhau (hình thang, hình vuông hình chữ nhật…)

có kích thớc từ 3-10cm, rộng 1-2 cm, dày từ 1-5cm Để tiết kiệm nguyên liệu

và công sức, ngời Phùng Nguyên đã tận dụng các mảnh vòng gãy, mảnh công

cụ vỡ để làm công cụ

Tại di chỉ Phùng Nguyên đã tìm thấy 59 chiếc đục, kích thớc trung bìnhthờng có chiều dài 3-4 cm, thân rộng 1 hoặc hơn 1 cm, bề dày của đục thờngchỉ khoảng 0,3-0,5 cm Có những chiếc đốc bằng, cũng có những chiếc đốctròn do sử dụng lâu ngày Tại Văn Điển đã phát hiện đợc 20 chiếc đục Khikhai quật Đồng Vông và Gò Bông cũng tìm thấy ở mỗi nơi 7 chiếc…

Tại một số địa điểm, thuộc nhóm công cụ sản xuất bằng đá còn phải kể

đến các loại dao đá, ềm đá Hình dạng của loại di vật này cũng rất khác nhau,

có những dao đá hình dáng dài, thuôn, rìa lỡi sử dụng rõ ràng nằm về một phía(dao đá ở Tràng Kênh), nhng cũng có những dao đá chỉ là các mảnh, phiến tớc

Trang 34

dài đợc sử dụng đến mòn vẹt Tại Gò Hện, đã tìm đợc 6 chiếc dao đá có kích

th-ớc và rìa lỡi sử dụng rất khác nhau Có chiếc dài 7,2 cm, bản rộng là 4 cm, hngcũng có chiếc chiều dài là 4 cm mà rộng bản lỡi lại là 5,5 cm

Đáng chú ý là một số di vật đá đợc coi là liềm Liềm có chức năngchuyên biệt trong việc gặt hái ngũ cốc, cắt cây thân thảo, vì vậy sự có mặt củaliềm là một vấn đề quan trọng để đánh giá trình độ sản xuất lơng thực của ng-

ời xa Một số di vật đợc xác định là liềm đã tìm thấy trong các địa điểm thuộcvăn hóa Phùng Nguyên, trong đó chiếc liềm ở địa điểm Gò Bông là điển hình.Liềm đợc làm bằng một phiến tớc dài phần chuôi liềm có bề rộng nhất 3,5 cm,

đây cũng là phần đáy nhất của liềm Phần tiếp giáp với sống liềm về phía lỡi cóngấn tròn(bị vỡ chỉ còn một phần cung tròn) có tác dụng để buộc dây, tra cán

Đặc biệt phần lỡi liềm tuy bị gãy, phần còn lại dài 4 cm, nhng vẫn thấy chiềucong giống hệt liềm cắt hiện đại Rìa lỡi rất sắc và bóng nhẵn do sử dụng Phầnsống lng của liềm dày 0,3-0,7cm, đợc mài nhẵn Thân liềm còn nhiều vết ghè

đẽo Chiếc liềm này đợc phát hiện trong lần khai quật thứ hai ở địa điểm GòBông Nhiều nhà nghiên cứu cho đây là bằng chứng gián tiếp về một nền nôngnghiệp trồng lúa trong văn hóa Phùng Nguyên

Trong nhóm công cụ sản xuất thuộc văn hóa Phùng Nguyên, còn có một

số lợng không nhỏ các ca đá Các ca đá đều đợc chế tác bằng đá sa thạch hạtmịn hoặc thô thùy theo từng nơi Loại lỡi ca hoàn chỉnh có thể chia ra làm 4loại sau:

- Loại 1: 42 tiêu bản, có rìa tác dụng rõ rệt, dày từ 0,5-0,8 cm

- Loại 2: 23 tiêu bản, còn có dấu vết rìa tác dụng, dày từ 0,3-0,5cm

- Loại 3: 30 tiêu bản, dày dới 0,3 cm

- Loại 4: Có 2 mảnh đá Jasper, lỡi cong, có gờ lỡi rõ rệt, lỡi rộng từ 2,9 cm

2,5-Loại công cụ này thấy ở nhiều địa điểm nhất là trong các công xởng nhTràng Kênh, Bãi Tự hay Gò Chè…

Ngoài ra còn phải kể đến sự có mặt của mũi khoan đá trong các địa điểmvăn hóa Phùng Nguyên Mũi khoan là một công cụ không thể thiếu đợc trongquá trình chế tạo đồ trang sức (vòng tay,vòng chân,khuyên tai và hạt chuỗi)

Đây là một trong những di vật từng là đối tợng sản xuất của hai công xởng Bãi

Tự và Tràng Kênh, à nơi chuyên sản xuất mũi khoan đá và đồ trang sức cóniên đại Phùng Nguyên muộn Tại hai công xởng này đã tìm thấy hàng ngànmũi khoan đá

Trang 35

Ngoài ra ở văn hóa Phùng Nguyên còn có rất nhiều các loại bàn mài, hòn

kê, hòn đập, bàn đập bằng đá Bàn mài là công cụ không thể thiếu trong việcchế tác đá của c dân Phùng Nguyên Bởi vì,tuyệt đại bộ phận công cụ sảnxuất, vũ khí và đồ trang sức đợc mài nhẵn hoàn toàn Bàn mài Phùng Nguyên

đợc làm từ các loại đá quác dít, quác dít hóa yếu, đá sa thạch, sa thạch cóphen-xpát, phôn-li Bàn mài có một số màu sắc chủ yếu nh xám đen, trắngxám mốc, nâu hồng hoặc tím nhạt Căn cứ vào vết bàn mài có thể chia bànmài Phùng Nguyên ra làm 3 loại sau:

- Bàn mài lõm lòng chảo

- Bàn mài rãnh chữ V

- Bàn mài rãnh lòng máng

Bàn mài lõm lòng chảo có số lợng lớn nhất, diện mài rộng, có khi cả 4mặt đều đợc sử dụng, nhiều khi vết mài lõm rất sâu đến mức khó có khả năngtận dụng hơn đợc nữa

Bàn mài rãnh chữ V có số lợng không ít so với bàn mài lõm lòng chảo,trên một mặt có thể có nhiều rãnh mài, các rãnh mài có thể song song hoặc cắtnhau Có khi trên một bàn mài vừa có vết mài rãnh, vừa có vết mài lõm lòngchảo Hầu hết bàn mài đợc sử dụng nhiều mặt Đây có thể loại bàn mài để màimũi nhọn công cụ

Bàn mài lòng máng có số lợng ít hơn 2 loại bàn mài trên Bàn mài córãnh mài rộng, mặt cắt rãnh mài hình bán nguyệt, mép rãnh song song vớinhau, cách nhau khoảng chừng 1-1,5cm, rãnh sâu từ 4-5cm Trên một mặt củabàn mài có khi có nhiều rãnh chạy song song với nhau hoặc cắt nhau Có thể

đây là loại bàn mài dùng để mài các di vật có mặt cắt hình bán nguyệt nh đụcvũm, rìu, bôn, cuốc, đục hoặc vòng có hình bán nguyệt

Số lợng bàn mài phát hiện đợc ở từng di tích Phùng Nguyên khá lớn sovới các loại công cụ sản xuất và vũ khí khác Điều này chứng tỏ nhu cầu sửdụng bàn mài ở c dân Phùng Nguyên là rất lớn

Bàn đập là một trong những loại hình di vật tiêu biểu trong văn hóaPhùng Nguyên Đó thờng là các thỏi đá mài hình chữ nhật, bằng sa thạch hạtmịn hoặc đá phiến Trên hai mặt của bàn dập có những rãnh khía đều đặnthẳng song song nhau, rãnh có mặt cắt hình chữ V, rộng chừng 2-3mm vàcách nhau đều đặn cũng chừng 2-3 mm Trên các bàn đập, số lợng rãnh vàkích thớc của rãnh phụ thuộc vào kích thớc dài, rộng của bàn đập

Tại địa điểm Phùng Nguyên, đã tìm thấy 18 bàn đập, ở Gò Bông có 5chiếc Trong một số địa điểm khác nh Núi Xây, Gò Chùa, Gò Hện… cũng có

Trang 36

mặt loại hình di vật này.

* Về các loại vũ khí:

Vũ khí trong các di tích văn hóa Phùng Nguyên cha nhiều, nhng gồm một

số loại khá tiêu biểu nh: mũi lao, mũi giáo, mũi tên, qua đá và nha chơng

Mũi lao, lỡi giáo, lỡi qua, những đầu mũi tên 3 cạnh hoặc 2 cạnh cũng lànhững di vật tìm thấy trong các địa điểm Phùng Nguyên Sự đa dạng của loại

di vật này cho thấy, trong phơng thức sống của c dân Phùng Nguyên xa, sănbắn là một trong những hoạt động phát triển và có hiệu quả nhất

Mũi lao, mũi giáo đợc làm bằng đá Spilite, xám xanh hay đá Nephritetrắng hồng Phần lớn chúng bị gãy vỡ thành từng mảng nhỏ nên rất khó phânbiệt là mũi lao hay mũi giáo

Qua đá là một loại vũ khí đặc biệt Qua đá xuất hiện không nhiều trongvăn hóa Phùng Nguyên, ví dụ nh ở di chỉ Tràng Kênh chỉ có 3 mảnh qua đátrong tổng số hàng nghìn di vật đá Đây có thể coi là những vũ khí tự vệ mangtính văn hóa cao

Nha chơng là hiện vật độc đáo của văn hóa Phùng Nguyên Nha chơng

đ-ợc làm bằng một loại đá, giống loại đá mà c dân Phùng Nguyên thờng dùnglàm rìu Hiện vật này đợc mài nhẵn bóng, thân dài, có lỗ gần phía đốc, hai bên

lỗ có mấu, lỡi ở một đầu, mài vát một mặt và rìa lỡi cong lõm vào Hiện nay

có 6 nha chơng đều thấy trên đát Phú Thọ: 3 chiếc ở Xóm Rền, 3 chiếc ởPhùng Nguyên

Trong đó hai chiếc nha chơng ở di chỉ Phùng Nguyên đợc ông NguyễnLộc công bố vào năm 1985 Chiếc thứ nhất còn khá nguyên vẹn, có cấu tạo

đơn giản hơn các nha chơng khác của văn hóa Phùng Nguyên Đốc nha chơnggần vuông, bằng 1/5 chiều dài cả hiện vật Phần tiếp giáp giữa đóc và thân lỡiphát triển rộng tạo thành chắn tay và vai ngang tạo thành mấu ngắn Giữa đốcgần với chắn tay có một lỗ khoan xuyên thủng Thân lỡi nha chơng hình chữnhật, lỡi hơi cong hình cung, lỡi mài vát một bên Nha chơng đợc mài nhẵnphẳng toàn thân, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật Các đờng xoi nhẹ tạothành rãnh nông, mảnh, cắt ngang trên cả đốc thân và lỡi nha chơng Nha ch-

ơng đợc làm bằng đá trắng ngà vân nâu, bị sứt mẻ nhỏ ở rìa lỡi và thân lỡi.Nha chơng có quy mô, kích thớc nh sau: dài 24cm, đốc dài 4,5cm, rộng 4 cm,lỡi rộng 4,2-4,7 cm, dày 0,7 cm

Chiếc nha chơng thứ hai phát hiện đợc ở di chỉ Phùng Nguyên bị vỡ mấtphần đốc và thân lỡi, chỉ còn lại phần đốc có mấu Phần đốc còn lại có đuôi

Trang 37

mấu dài nhô ngang ra 2 bên thân, ở đầu mấu có lỗ xoi nhng không thủng sangmặt sau Đôi mấu dài lại đợc xẻ thành 4 mấu nhỏ tạo thành 2 nhóm mấu Dới

2 mấu dài ó đôi mấu nhỏ Các đôi mấu sắp xếp hơi lệch nhau Các đôi mấu

đ-ợc nối với nhau bằng các rãnh xoi mảnh, nông chạy song song với nhau Nhachơng đợc làm bằng đá trắng đục có vân vàng Kích thớc của phần hiện còn

đo đợc là: dài 13 cm, phần đốc dài 5,1 cm, rộng 5,6 cm, dày 0,4 cm và lỡirộng 6,7cm

Chiếc nha chơng thứ ba đợc công bố vào năm 1998 Nó đợc ông NguyễnVăn Đống phát hiện ngẫu nhiên trong khi đào đất là gạch tại di chỉ PhùngNguyên vào năm 1993 Nha chơng còn nguyên vẹn đợc làm bắng đá ngọcNephrite giống với đá làm công cụ sản xuất và đồ trang sức của văn hóaPhùng Nguyên Nó đợc mài nhẵn bóng, thân dài có hai lỗ cách đều nhau, 2bên chỗ đốc và thân có mấu lõm hình chữ V, lỡi mài vát một mặt Kích thớccủa nha chơng khá lớn: dài 35cm, phần đốc dài 6cm, đốc rộng 8,9cm, mấu dài0,7cm, hân dài 28cm, lỡi rộng 12cm Nha chơng có độ dày 0,4cm Lỗ khoancách đầu đốc 2cm, có đờng kính 0,8cm Hai lỗ khoan cách nhau 3,3cm Đốcnha chơng có một dấu ca Thân có vết lõm dài 5cm, rộng 1cm, do khuyết tậtcủa đá nguyên liệu

Nha chơng cũng là một di vật điển hình của khảo cổ học Trung Quốc Nóxuất hiện và tồn tại từ hậu kỳ đá mới đến thời Hán

* Các loại đồ trang sức:

Đồ trang sức là một loại di vật phong phú và có mặt ở tất cả các địa điểmthuộc văn hóa Phùng Nguyên Đó là các loại vòng tay, vòng chân, vòng tai,hạt chuỗi trang sức hình vuông, hình tròn, hình đuôi cá, hình dấu phẩy TạiPhùng Nguyên có hơn 4000 hiện vật đá thì đồ trang sức đã có gần 600 tiêubản Tại Văn Điển riêng vòng đá có 535 chiếc trên tổng số 1085 hiện vật đá

Gò Bông có số lợng đồ trang sức 60 chiếc trong tổng số 500 hiện vật đá Sự cómặt của 2 công xởng Bãi Tự và Tràng Kênh-chuyên sản xuất, chế tạo đồ trangsức bằng đá cho thấy khiếu thẩm mỹ và nhu cầu đời sống tinh thần của c dânPhùng Nguyên đã ở trình độ cao Vòng đá ở các địa điểm thuộc văn hóaPhùng Nguyên rất nhỏ nhắn và tinh tế Chúng đợc chế tác bằng các loại đángọc Nephlite với các màu trắng hồng, vân nâu, xanh ngọc… rất trang nhã vàtinh tế Các vòng có mặt cắt ngang đa dạng, nhiều kiểu: chữ nhật dẹt và đứng,hình vuông, hình tròn, hình bán nguyệt, hình tam giác, hình thấu kính, và đặcbiệt hơn cả là loại vòng có mặt cắt hình chữ nhật đứng có gờ ngoài, có khi có

Trang 38

một gờ nhô ra ở giữa , có khi có cả 3 gờ nhô ra hoặc 4 gờ to nhỏ không đềunhau Đẹp và cầu kỳ nhất là vòng chữ T tồn tại trong nhiều địa điểm Mặc dù

số lợng không nhiều nhng nó đợc coi là đồ trang sức rất đặc trng cho văn hóaPhùng Nguyên

Kích thớc vòng đeo nhỏ nhắn Loại vòng mặt cắt ngang chữ nhật đứngtrong di chỉ Phùng Nguyên, bản rộng của vòng trung bình 0,7 cm, độ dày 0,3

cm, đờng kính tập trung ở kích thớc từ 6-7cm Đáng chú ý là nhiều chiếc vòng

đã có dấu khoan nối vòng hoặc các dấu ca cho thông lỗ để buộc dây Loạivòng có mặt cắt ngang hình chữ D hay tròn cũng vậy, đờng kính của mặt cắtthân vòng thờng khá nhỏ, chỉ 0,5-0,7cm Đặc biệt có những vòng rất chuẩn về

độ tròn thân vòng Loại vòng có mặt cắt hình tam giác trong văn hóa PhùngNguyên cũng có những đặc điểm khác biệt với vòng loại này ở các văn hóakhác Loại vòng hình ống có gờ nổi ở mặt ngoài là loại vòng rất tiêu biểu chotrình độ điêu luyện của ngời Phùng Nguyên cũng nh khiếu thẩm mỹ của họ.Vòng thờng có bản đứng, rộng và rất mỏng Mặt ngoài bản vòng có các nấcnhô ra cũng mỏng và dài ngắn tùy theo ý muốn của ngời thợ Có những vòng

có gờ hình chữ T, có vòng có nhiều gờ nhô ra to nhỏ khác nhau Tại địa điểmPhùng Nguyên đã tìm thấy 16 chiếc; tại địa điểm Gò Hện có đến 3 mảnh vòng

đợc tìm thấy thuộc vào loại này; Đồng Vông có 6 mảnh vòng hình chữ T TạiVăn Điển, đã tìm thấy 14 mảnh vòng có gờ dạng hình chữ T hoặc 3 gờ to nhỏkhác nhau…

Khuyên tai là loại trang sức thấy không nhiều trong các di tích PhùngNguyên Nó đợc làm bằng đá, giống khuyên tai ngày nay Khuyên tai có quymô nhỏ hơn, đờng kính chỉ độ 2-3cm, dày ở giữa, mỏng dần về hai phía đầu,mặt ngoài hơi cong khum, mặt trong phẳng tại cho nó có mặt cắt chữ D, giữa

2 đầu khuyên tai là một khe hở rộng độ 1 ly Khuyên tai đợc là bằng đá trắngngà, mài nhẵn bóng

Số lợng khuyên tai và nhẫn các loại có mặt cắt khác nhau: cơ bản là mặtcắt hình vuông, hình tròn, hình bán nguyệt… trong các di chỉ Phùng Nguyênkhá nhiều Có những chiếc nhẫn đợc chế tạo bằng đá đen sẫm, bóng và cứng

nh sừng Đáng chú ý là ở những địa điểm thuộc giai đoạn muộn của văn hóanày đã xuất hiện loại hình khuyên tai có mấu (Tràng Kênh, Bãi Tự, NghĩaLập, Lũng Hòa…) Loại khuyên tai này bắt đầu có mặt ở văn hóa PhùngNguyên giai đoạn cuối và còn thấy trong nhiều văn hóa khảo cổ khác muộnhơn Phùng Nguyên

Trang 39

Hạt chuỗi hình ống là loại hình đồ trang sức phổ biến trong các địa điểmPhùng Nguyên Nó đợc làm từ đá Nephrite hoặc quacxit, có màu tím phớthồng, trắng ngà, xám xanh, đen nh sừng, tím nh mận chín Nó đợc chế tạo quacách ca, khoan, mài rất tinh vi Hạt chuỗi có dạng hình trụ tròn, hầu nh không

có dạng tang trống Có hạt chuỗi to, dài Có loại hạt chuỗi bé ngắn Lỗ khoan

có khi xuyên chính giữa, cũng có khi chạy lệch sang một bên Loại hạt chuỗidài thì dùng lối khoan hai đầu để chế tạo lỗ Loại hạt chuỗi nhắn thì chỉ cầnkhoan từ một đầu bé để tạo lỗ Quy mô kích thớc của hạt chuỗi cũng khácnhau Đờng kính hạt chuỗi trong khoảng từ 0,5-1cm, độ dài của hạt chuỗi nằmtrong khoảng 0,5 đến 5-6cm Hai đầu hạt chuỗi có khi đợc cắt mài phẳng, cókhi đợc cắt mài vát Hạt chuỗi thuộc loại này thờng có đờng ren nằm trên thân

và lỗ khoan nhỏ chỉ 0,2 cm cho thấy kỹ thuật khoan lỗ và kỹ thuật tiện đã đạt

đến đỉnh cao Ngoài ra,những hạt chuỗi nhỏ bé, đờng kính và bề dầy tơng

đ-ơng nhau (chừng 0,6-0,7 cm) có dáng hình tang trống đợc mài nhẵn bóng lànhững hạt chuỗi rất đẹp của văn hóa Phùng Nguyên Tại công xởng TràngKênh, tìm thấy hàng loạt hạt chuỗi này, thậm chí còn tìm thấy cả các hạtchuỗi hình tang trống nhng lại có các gờ nổi nhô ra ở bên ngoài trông rất

đẹp…

Tại nhiều địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên đã tìm thấy những đồtrang sức khá độc đáo: đó là các vật đeo có các hình thù khác nhau nh hình

đầu thú, hình đuôi cá, hình dấu phẩy, hình bàn chân… Vật đeo loại này đều đ

-ợc làm bằng chất liệu đá chế tạo đồ trang sức

Trang sức hình dấu phẩy tìm thấy ở di chỉ Phùng Nguyên là một mảnh đámỏng gần hình chữ nhật, góc tròn, một đầu mài nhỏ lại hơi cong tạo thànhhình dấu phẩy Nó còn có một lỗ khoan nhỏ ở đầu

Trang sức hình rìu xéo ở di chỉ Phùng Nguyên, đợc là từ một mảnh đátrắng xám, mũi nhọn, gót tròn, gần gót có một lỗ tròn nhỏ Quy mô của trangsức: dài 1,8cm, rộng ở lỡi 2,1cm, rộng ở đốc là 6cm

Trang sức hình đuôi cá là một mảnh đá mỏng màu xanh, gần hình chữnhật, một đầu mài lõm vào, một đầu mài lõm tạo hình đuôi cá Kích thớc củatrang sức này là: dài 5,5cm, rộng 2,2cm và 2,7 cm, dày 4cm Rãnh mài ở cả 2mặt, rộng 5cm, sâu 1,5cm

Tại Phùng Nguyên có 4 chiếc Điều đáng chú ý là nhiều chiếc có lỗ đeo.Các vật này đều đợc chế tác khá tỉ mỉ và cẩn thận

Ngoài các loại trang sức trên, tại các di chỉ Phùng Nguyên còn có một sốrìu, bôn, đục cỡ nhỏ có khoan lỗ, một số thỏi đá hình đũa Những di vật này

Ngày đăng: 12/04/2013, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Ngọc Bích. Di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên, NXB Khoa học xã hội năm 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chỉ khảo cổ học PhùngNguyên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội năm 1978
2. Hoàng Xuân Chinh. Vĩnh Phú thời tiền sơ sử, Sở VHTT – TT Phú Thọ năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh Phú thời tiền sơ sử
3. Hoàng Xuân Chinh. Một sô bảo cáo về khảo cổ học Việt Nam, Đội Khảo cổ học xuất bản năm 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sô bảo cáo về khảo cổ học Việt Nam
4. Lâm Thị Mỹ Dung. Thời đại đồ đồng, NXB Đại hoc Quốc gia Hà Nội năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời đại đồ đồng
Nhà XB: NXB Đại hoc Quốc gia Hà Nội năm2004
5. Lê Xuân Diệm. Các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vơng, Khảo cổ học số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vơng
6. Lê Xuân Diệm., Hoàng Xuân Chinh. Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu, NXB Khoa học xã hội năm 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội năm 1983
7. Nguyễn Đăng Duy. Văn hóa Việt Nam buổi đầu dựng nớc, NXB Hà Nội n¨m 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam buổi đầu dựng nớc
Nhà XB: NXB Hà Nộin¨m 2003
8. Lê Văn Hảo. Hành trình về thời đại Hùng Vơng dựng nớc, NXB Thanh Niên năm 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình về thời đại Hùng Vơng dựng nớc
Nhà XB: NXB ThanhNiên năm 1982
9. Phạm Lý Hơng. Chất liệu gốm và phơng pháp nghiên cứu nó, Khảo cố học sè 4 n¨m 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất liệu gốm và phơng pháp nghiên cứu nó
10. Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh, Nguyễn Linh. Những vết tích đầu tiên của thời đại đồ đồng thau ở Việt Nam. NXB Khoa học xã hội năm 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vết tích đầu tiên củathời đại đồ đồng thau ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội năm 1963
11. Hà Văn Phùng, Nguyễn Duy Tỳ. Di chỉ khỏa cổ học Gò mun. NXB Khoa học xã hội năm 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chỉ khỏa cổ học Gò mun
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội năm 1982
13. Đặng Phong. Kinh tế thời nguyên thủy ở Việt Nam, NXB Khoa học xãhéi n¨m 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thời nguyên thủy ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xãhéi n¨m 1970
14. Hán Văn Khẩn. Văn hóa Phùng Nguyên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội n¨m 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Phùng Nguyên
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nộin¨m 2005
15. Hán Văn Khẩn. Thử phân giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên qua tài liệu gốm, Khảo cổ học số 19 năm 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử phân giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên qua tài liệugốm
16. Hà Văn Tấn. Những chiếc nha ch “ ơng trong văn hóa Phùng Nguyên, ” Khảo cổ học số 2 năm 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chiếc nha ch"“ "ơng trong văn hóa Phùng Nguyên
17. Hà Văn Tấn. Một số vấn đề về văn hóa Phùng Nguyên, NCLS số 1 năm 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về văn hóa Phùng Nguyên
18. Hà Văn Tấn. Ngời Phùng Nguyên và đối xứng, Khảo cố học số 3 năm 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời Phùng Nguyên và đối xứng
19. Hà Văn Tấn (chủ biên). Khảo cổ học Việt Nam Tập 2 Thời đại – – kim khí Việt Nam, NXB Khoa học xã hội năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cổ học Việt Nam Tập 2 Thời đại"– –"kim khí Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội năm 1999
20. Hà Văn Tấn. Theo dấu các văn hóa khỏa cổ. NXB Khoa học xã hội năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dấu các văn hóa khỏa cổ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội năm1997
21. Hà Văn Tấn. Văn hóa Phùng Nguyên và vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt, Dân tộc học số1 năm 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Phùng Nguyên và vấn đề nguồn gốc dân tộcViệt

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w