1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS

114 732 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải các BTVL được xem như mục đích, là phương pháp dạy học, là một phần hữu cơ của quá trình dạy học vật lí vì nó không chỉ có tác dụng giúp cho học sinh phát triển tư duy vật lí và thó

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau đại học, khoa Vật lí và Bộ môn phương pháp giảng dạy vật lí trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 cùng các thầy giáo cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Tạ Tri Phương đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên vật lí và các em học sinh trường THCS - THPT Hai Bà Trưng Thị xã Phúc Yên Tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tác giả trong đợt thực nghiệm sư phạm

Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, chia sẻ trong thời gian học tập khoá học này

Hà Nội, tháng 11 năm 2012

Tác giả

Lê Ngọc Đông

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm trước nhà nước về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 11 năm 2012

Người thực hiện

Lê Ngọc Đông

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 6

1.1 Sáng tạo và năng lực sáng tạo 6

1.1.1 Khái niệm sáng tạo 6

1.1.2 Khái niệm năng lực 7

1.1.3 Năng lực sáng tạo 7

1.1.4 Sự hình thành và phát triển năng lực 8

1.1.5 Những biểu hiện năng lực sáng tạo và các yếu tố cần thiết cho việc bồi dưỡng NLST trong học tập của học sinh 11

1.1.6 Cơ chế sáng tạo khoa học 13

1.1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của học sinh 18

1.1.8 Tính ì tâm lý và ảnh hưởng của nó đối với năng lực sáng tạo 20

1.1.9 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh 22

Trang 4

1.2 Cơ sở lí luận về dạy học sáng tạo 24

1.2.1 Cơ sở tâm lí học về dạy học sáng tạo 24

1.2.2 Cơ sở lí luận dạy học về dạy học sáng tạo 25

1.2.3 Một số biện pháp dạy học sáng tạo trong môn vật lí ở trường phổ thông 29

1.3 Vai trò của bài tập vật lí trong dạy học sáng tạo 31

1.3.1 Định nghĩa bài tập vật lí 31

1.3.2 Vai trò của bài tập vật lí 31

1.3.3 Yêu cầu đối với dạy học bài tập vật lí 32

1.4 Thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo 33

1.4.1 Mục đích và đối tượng điều tra 33

1.4.2 Phương pháp điều tra 33

1.4.3 Kết quả điều tra 34

1.4.4 Nguyên nhân của thực trạng 34

1.4.5 Kết luận 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2 CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BTST VÀ HỆ THỐNG BTST TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG " CƠ HỌC " VẬT LÍ 8 THCS 37

2.1 Đề xuất các nguyên tắc xây dựng BTST 37

2.1.1 Khái niệm BTST của Radumovxki 37

2.1.2 Quan niệm về STKH-KT theo lí thuyết TRIZ 39

2.1.3 Đề xuất các nguyên tắc xây dựng BTST chương "Cơ học" Vật lí lớp 8 THCS 41

2.1.4 Đề xuất các tiêu chí của biểu hiện năng lực sáng tạo 44

2.2 Xây dựng hệ thống BTST trong dạy học chương "Cơ học " Vật lí lớp 8 THCS 45

2.2.1 Các mục tiêu trong dạy học chương "Cơ học " Vật lí 8 THCS 45

2.2.2 Xây dựng hệ thống BTST chương "Cơ học " Vật lí 8 THCS 61

2.2.3 Sử dụng BTST trong dạy học chương " Cơ học " Vật lí 8 THCS 65

Trang 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 82

3.2 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 82

3.2.1 Chọn trường thực nghiệm 82

3.2.2 Chọn lớp thực nghiệm 82

3.2.3 Thời gian thực nghiệm sư phạm 82

3.2.4 Quá trình tiến hành thực nghiệm sư phạm 83

3.3 Kết quả TNSP 83

3.3.1 Kết quả định tính 83

3.3.2 Kết quả định lượng 85

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 96

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI là thế kỷ của sự bùng nổ về khoa học - công nghệ, là thế kỷ mà

"người ta coi sự sáng tạo là yếu tố đặc trưng của con người" Hiện nay, trên thế giới

cứ mỗi giây trôi qua có hàng nghìn ý tưởng sáng tạo được nảy sinh và cứ mỗi giây trôi qua có hàng trăm phát minh ra đời

Do vậy, khối lượng kiến thức (thông tin) cần cho một con người tăng nhanh không ngừng theo cấp số nhân Đặc biệt là đối với các thế hệ học sinh những chủ nhân tương lai của đất nước ta Việc học tập của các em không thể chỉ trông chờ vào sự lĩnh hội một khối lượng kiến thức nhất định Ở các trường học, ngoài việc trang bị kiến thức, kỹ năng và phương pháp chuyên môn, việc rèn luyện tư duy sáng tạo (quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định) ngày càng trở nên cấp thiết và quan trọng Yêu cầu đó đòi hỏi trước hết ở đội ngũ các thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy cần giúp học sinh có khả năng định hướng được trong các dòng thông tin khổng lồ, giúp họ có khả năng nhìn nhận cái cơ bản, cái then chốt, phát triển tư duy sáng tạo

Phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên, phương pháp đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải minh họa, trò lắng nghe ghi nhớ và bắt trước làm theo thì không thể đào tạo những con người có tính tích cực cá nhân, có tư duy sáng tạo hay

có kỹ năng thực hành giỏi Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, nền giáo dục ở nước ta đang chuyển dần từ trang bị cho học sinh kiến thức sang bồi dưỡng cho học sinh năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo Hội nghị BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII chỉ rõ : " Đổi mới phương pháp dạy học ở tấtcả các cấp, bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề " và " đổi mới mạnh

Trang 8

mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luện thành nếp tư duy sáng tạo của người học "

Điều 28 khoản 2 Luật giáo dục nước ta nhấn mạnh: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện

kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” Dạy học hướng tới việc phát huy tích cực, vai trò chủ động sáng tạo của học sinh là xu thế chung của đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay

Việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh có thể thực hiện ở tất cả các

bộ môn trong chương trình giáo dục phổ thông Trong dạy học vật lí, bằng nhiều phương pháp và biện pháp khác nhau có thể giúp học sinh nâng cao chất lượng học tập và phát triển năng lực sáng tạo Hoạt động giải bài tập vật lí vừa giúp HS nắm vững các kiến thức vật lí, vừa phát triển tư duy vật lí và năng lực sáng tạo Nó có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục, giáo dưỡng và rèn luyện kỹ thuật tổng hợp cho HS

ở trường phổ thông Bài tập vật lí là phương tiện dạy học được sử dụng ở mọi giai đoạn của quá trình dạy học vật lí Giải các BTVL được xem như mục đích, là phương pháp dạy học, là một phần hữu cơ của quá trình dạy học vật lí vì nó không chỉ có tác dụng giúp cho học sinh phát triển tư duy vật lí và thói quen vận dụng kiến thức vật lí vào thực tế mà còn có tác dụng tích cực trong việc hình thành kiến thức mới và làm phong phú các khái niệm vật lí

Trong thực tế dạy học vật lí ở trường phổ thông cho thấy hoạt động giải bài tập vật lí của học sinh chưa được chú trọng đúng mức Đa số các em chỉ biết áp dụng công thức trong SGK một cách máy móc để tính toán ra đáp số mà không hiểu bản chất các hiện tượng vật lí Vì vậy đối với môn vật lí, HS cần phải nắm được những kiến thức cơ bản, nắm được các khái niệm chuyên ngành, nắm được các định luật vật lí, biết vận dụng thành thạo những kiến thức đã học vào việc giải bài toán

và có thể giải bằng các cách khác nhau Thông qua việc giải BTVL có thể rèn luyện NLST cho các em HS Tuy vậy vấn đề này chưa được chú trọng trong quá trình

Trang 9

biên soạn sách giáo khoa, sách bài tập Đặc biệt là chưa có các tiêu chí cho khái niệm bài tập sáng tạo, do đó việc lựa chọn bài tập sáng tạo còn mang tính mò mẫm, ngẫu nhiên Mặt khác vấn đề này đã được rất nhiều nhà chuyên môn quan tâm nghiên cứu Cũng đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành lí luận

và phương pháp dạy học vật lí nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng TDST ; rèn luyện năng năng sáng tạo cho học sinh Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu vẫn còn hạn chế

Xuất phát từ những phân tích trên chúng tôi lựa chọn đề tài : Xây dựng và sử

dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương “Cơ học” SGK Vật lí lớp 8 THCS

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu để đưa ra các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập sáng tạo

dùng để dạy và học chương “Cơ học” vật lí lớp 8 THCS nhằm rèn luyện năng lực

sáng tạo cho học sinh

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài :

Hoạt động dạy học, giải bài tập chương “Cơ học” vật lí lớp 8 THCS

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Hệ thống bài tập chương “Cơ học” vật lí lớp 8 ở trường THCS

4 Giả thuyết khoa học

Việc đưa ra được các nguyên tắc để xây dựng bài tập sáng tạo, việc sử dụng các bài tập sáng tạo có mục đích, phù hợp với quy luật nhận thức sáng tạo sẽ có tác động tích cực trong việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa, phân tích những tài liệu liên quan đến khái niệm “ sáng tạo ”, “dạy học sáng tạo”, “ bài tập vật lí ”, "bài tập sáng tạo"

5.2 Phân tích nội dung, mục tiêu dạy học chương “Cơ học” SGK vật lí lớp

8 THCS

Trang 10

5.3 Đề xuất nguyên tắc xây dựng “ bài tập sáng tạo” chương “Cơ học” vật lí

lớp 8 THCS và xây dựng một hệ thống bài tập sáng tạo phục vụ cho việc dạy học

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu :

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận : Đọc sách báo, tài liệu, các công trình

nghiên cứu có liên quan đến bài tập sáng tạo từ đó phân tích đánh giá, tổng hợp, vận dụng để làm cơ sở lí luận của đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Điều tra bằng phiếu : Tìm hiểu thực trạng dạy học ở một số trường THCS

và chuẩn bị điều kiện cho thực nghiệm sư phạm, ngoài ra điều tra để xác định vốn kiến thức, hiểu biết ban đầu của học sinh liên quan đến nội dung kiến thức trong chương "Cơ học" vật lí 8 Kết quả thu được sẽ được xử lí bằng phương pháp thống

kê toán học để rút ra kết luận

- Trao đổi trực tiếp với giáo viên về phương pháp dạy và phương pháp học của học sinh để từ đó vận dụng bài tập sáng tạo vào dạy học sao cho có hiệu quả

6.3 Thực nghiệm sư phạm :

- Nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của giả thuyết khoa học ban đầu

- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để rút ra kết quả định lượng về điều tra và tổ chức thực nghiệm

7 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu

7.1 Đóng góp về mặt lí luận

- Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến khái niệm “ sáng tạo” và “ dạy học sáng tạo”

Trang 11

- Đề xuất các nguyên tắc xây dựng bài tập sáng tạo và các tiêu chí để đánh giá NLST

7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

- Xây dựng hệ thống BTST và việc sử dụng chúng vào dạy học chương “Cơ học” vật lí 8 THCS

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương :

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật lí

Chương 2: Các nguyên tắc xây dựng BTST và hệ thống BTST trong dạy học

chương“Cơ học” vật lí lớp 8 THCS

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC

SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

1.1 Sáng tạo và năng lực sáng tạo

1.1.1 Khái niệm sáng tạo

Trong từ điển Tiếng Việt thì "sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có"

"Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị giúp giải quyết một khó khăn, bế tắc nhất định " (Theo bách khoa toàn thư Liên Xô, tập 42, tr 54)

Sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra được cái mới, không

kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật nào đó của thế giới bên ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người

Sáng tạo thường được hiểu là đề ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích phù hợp với hoàn cảnh Người ta thường nghĩ, sáng tạo là khả năng chỉ có ở các nhà khoa học Nhưng thực ra trong mọi lĩnh vực hoạt động và mọi người đều có khả năng sáng tạo

Ngoài tính cách tân của sản phẩm, sáng tạo còn có những đặc điểm tâm lí là tính hiếm có, tính khó khăn, tính bất ngờ của phát kiến và tính ngẫu nhiên của phán đoán

Theo Phan Dũng : "Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời tính mới và có lợi” Tính mới là sự khác biệt của đối tượng cho trước so với đối tượng cùng loại ra đời trước đó về mặt thời gian Tính có lợi chỉ thể hiện ra khi đối tượng cho trước hoạt động theo đúng chức năng và trong phạm vi áp dụng của nó

Trang 13

Theo lí thuyết về TRIZ [4], để đánh giá một đối tượng cho trước có phải là sáng tạo hay không, người ta sử dụng 5 bước sau :

Bước 1 : Chọn đối tượng tiền thân;

Bước 2 : So sánh đối tượng cho trước với đối tượng tiền thân;

Bước 3 : Tìm tính mới của đối tượng cho trước;

Bước 4 : Trả lời câu hỏi ''Tính mới đó đem lại lợi ích gì trong phạm vi áp dụng nào”

Bước 5 : Kết luận theo định nghĩa sáng tạo

1.1.2 Khái niệm năng lực

Theo tâm lí học, "năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”

Người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lí riêng của cá nhân; nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt một loạt hoạt động nào đó, mặc

dù phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả cao

Người có năng lực về một mặt nào đó thì không phải nỗ lực nhiều trong quá trình công tác mà vẫn khắc phục được những khó khăn một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn người khác, hoặc có thể vượt qua được những khó khăn mới mà nhiều người khác không vượt qua được

Năng lực gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng Song kĩ năng, kĩ xảo liên quan đến việc thực hiện một loạt hành động hẹp, chuyên biệt, đến mức thành thạo, tự động hóa, máy móc Còn năng lực chứa đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực rộng hơn

Năng lực của mỗi người một phần dựa trên cơ sở tư chất Nhưng điều chủ yếu là năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục Việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng lực

Trang 14

1.1.3 Năng lực sáng tạo

Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu

biết đã có vào hoàn cảnh mới

Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, phương án lựa chọn Vì vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với hình thành kiến thức về một lĩnh vực nào đó

Quá trình sáng tạo của con người thường bắt đàu từ một ý tưởng mới, bắt nguồn từ NLST của mỗi người Người có năng lực sáng tạo thường có đặc trưng sau :

- Có tư duy độc lập và biết nhận xét, phê phán theo quan điểm riêng không phụ thuộc, gò bó vào những cái cũ, không tư duy theo lối mòn

- Luôn đi vào các vấn đề bản chất nhằm tìm ra quy luật

- Có khả năng dự báo và say sưa nung nấu các ý tưởng mới

- Luôn tìm ra được giải pháp tối ưu trước một tình huống mới, một vấn đề cần giải quyết

Đối với học sinh, NLST trong học tập là năng lực tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, năng lực phát hiện ra điều chưa biết, chưa có và tạo ra cái chưa biết, chưa có không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có

Năng lực nói chung và NLST nói riêng không phải chỉ do bẩm sinh mà được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể Do vậy muốn hình thành năng lực học tập sáng tạo, phải chuẩn bị cho học sinh những điều kiện cần thiết để họ có thể thực hiện thành công trong hoạt động nào đó

1.1.4 Sự hình thành và phát triển năng lực

Nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển năng lực là một vấn đề phức tạp, tuân theo quy luật chung của sự phát triển nhân cách Tâm lí học hiện đại cho rằng : con người mới sinh ra chưa có năng lực, chưa có nhân cách Chính trong quá trình

Trang 15

sống, học tập, lao động, giao lưu, con người đã hình thành và phát triển nhân cách của mình Sự hình thành và phát triển năng lực của con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố sinh học, yếu tố hoạt động của chủ thể và yếu tố giao lưu xã hội

1.1.4.1 Yếu tố sinh học : Vai trò của di truyền trong sự hình thành năng lực

Di truyền là sự tái tạo ở trẻ em những thuộc tính sinh học đã có ở cha mẹ, là

sự di truyền từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm và những phẩm chất nhất định

đã được ghi lại trong hệ thống gen Những đặc điểm về giải phẫu sinh lí, nhất là của

hệ thần kinh cao cấp của con người, được gọi là " tư chất "

Di truyền tạo ra những điều kiện ban đầu để con người có thể hoạt động có kết quả trong lĩnh vực nhất định Tuy nhiên, di truyền không thể quy định những giới hạn tiến bộ của xã hội loài người nói chung và của từng người nói riêng Những đặc điểm sinh học mặc dù có ảnh hưởng đến quá trình hình thành tài năng, xúc cảm, sức khỏe, thể chất của con người, nhưng nó chỉ tạo nên tiền đề của sự phát triển năng lực

Mặt khác, những tư chất được di truyền chỉ đặc trưng trong những lĩnh vực hoạt động hay sáng tạo cụ thể, do trình độ phát triển của những loại hình sản xuất, khoa học, nghệ thuật và như là hoạt động sáng tạo của cá nhân quyết định Những

tư chất có sẵn trong cấu tạo của não, trong các cơ quan cảm giác, các cơ quan vận động và ngôn ngữ là điều kiện để thực hiện có kết quả một hoạt động cụ thể

Tuy nhiên, sự thành công trong một lĩnh vực đó phần lớn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, vào lao động học tập, rèn luyện cũng như vào việc tích lũy kinh nghiệm của cá nhân

1.1.4.2 Yếu tố của hoạt động chủ thể

Như đã nói ở trên, năng lực không có sẵn trong con người Con người bằng hoạt động của chính mình mà chiếm lĩnh những kinh nghiệm hoạt động của các thế

hệ đi trước, biến thành năng lực của chính mình Đặc biệt là về mặt khoa học, nghệ thuật, ngày nay trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học, nghệ sĩ hoạt động rất thành

Trang 16

công trong một lĩnh vực nào đó mà một phần rất quan trọng là do đã tiếp thu được những kinh nghiệm sáng tạo của biết bao thế hệ đi trước

Lịch sử nhân loại cho thấy : các thiên tài về một lĩnh vực nào đó trước hết là những người hoạt động rất say mê, tích cực, miệt mài, kiên trì, dồn hết thời gian và tâm trí vào hoạt động đó Nhiều nhà khoa học lỗi lạc đều cho rằng " thiên tài, chín mươi chín phần trăm là do lao động, chỉ có một phần trăm là do bẩm sinh"

Tùy theo đặc điểm của loại hình hoạt động của con người mà các yếu tố bẩm sinh có thể phát triển mạnh theo hướng này hay hướng khác hoặc có thể bị thui chột

đi Như vậy, hoạt động của chủ thể có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành năng lực

1.1.4.3 Yếu tố môi trường xã hội

Ta hiểu môi trường xã hội là hệ thống các quan hệ chính trị, kinh tế, tư tưởng, được thiết lập trong xã hội Những bộ phận của môi trường thường có tác động mạnh mẽ đến con người là gia đình, trường học, bạn bè, người xung quanh, cơ

sở sản xuất, văn hóa thể thao

Mỗi con người đều hoạt động trong một môi trường xã hội nhất định Môi trường góp phần tạo nên động cơ, mục đích, phương tiện, hành động và đặc biệt là cho hoạt động giao lưu, của mỗi cá nhân với xã hội mà nhờ đó, cá nhân thu được kinh nghiệm xã hội loài người, biến nó thành của mình Cũng chính sự giao lưu với môi trường xã hội, con người mới biết được hoạt động của mình có ý nghĩa như thế nào, có ích lợi như thế nào, có phù hợp với thực tế không ; Từ đó, điều chỉnh hoạt động của mình để mang lại hiệu quả ngày càng cao, năng lực ngày càng được phát triển

Ngay cả các nhà bác học về các ngành khoa học tự nhiên, phần lớn thời gian làm việc trong phòng thí nghiệm, hầu như cô lập với xã hội bên ngoài thì những công trình sáng tạo của ông ta cũng có nguồn gốc từ sự tiếp nối phải giải quyết những vấn đề mà trước ông chưa ai làm được và kết quả công việc của ông cũng phải được xã hội kiểm tra và thừa nhận thì mới thực sự trở thành tài sản của nhân loại, đáng được lưu truyền

Trang 17

1.1.4.4 Vai trò của giáo dục, dạy học trong việc hình thành các năng lực

Giáo dục là một loại hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người (trong đó có năng lực) theo yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định

Sự hình thành và phát triển năng lực của học sinh lại phải thông qua chính hoạt động của học sinh trong mối quan hệ với cộng đồng Bởi vậy, nhà trường hiện đại phải là nhà trường hoạt động, lấy hoạt động của học sinh làm động lực chính để đạt được mục đích đào tạo Chỉ có dạy học trong nhà trường mới có khả năng tạo ra những loại hoạt động đa dạng, phong phú, cần thiết, tạo điều kiện phát triển những năng lực khác nhau ở trẻ em, phù hợp với năng khiếu bẩm sinh của họ và yêu cầu của xã hội

Tất nhiên, không phải là nhà trường đóng cửa lại mà dạy; trái lại, chính nhà trường còn phải tạo điều kiện để cho mỗi cá nhân học sinh giao lưu với các thành viên khác trong nhà trường cũng như ngoài xã hội

Chính trong quá trình dạy học có thể lựa chọn kĩ lưỡng những hình thức hoạt động Có sự định hướng chính xác sẽ giúp học sinh sớm ý thức được những yêu cầu của xã hội đối với hoạt động của mỗi người trong những lĩnh vực khác nhau Nhà trường cũng tích lũy được những phương pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh có tính hiệu quả cao, tránh được sự mò mẫm của mỗi cá nhân

Như vậy, giáo dục, dạy học có thể mang lại những hiệu quả, những tiến bộ của mỗi học sinh mà các yếu tố khác không thể có được Đặc biệt là dạy học có thể

đi trước sự phát triển, thúc đẩy sự phát triển

Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý rằng : trong quá trình dạy học có khả năng định hướng, thúc đẩy sự phát triển năng lực của trẻ em thì cũng có khả năng gò ép học sinh theo một khuôn mẫu cứng nhắc, do đó hạn chế sự phát triển đa dạng ở họ

Tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực là phương pháp hữu hiệu để khắc phục xu hướng xấu đó

1.1.5 Những biểu hiện năng lực sáng tạo và các yếu tố cần thiết cho việc bồi dưỡng NLST trong học tập của học sinh

Trang 18

1.1.5.1 Những biểu hiện NLST của học sinh trong học tập

Năng lực tự chuyển tải tri thức và kĩ năng từ tình huống quen thuộc sang tình huốn mới, vận dụng kiến thức đã học trong điều kiện, hoàn cảnh mới

Năng lực nhận biết vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc (tự đặt câu hỏi mới cho mình và cho mọi người về bản chất các điều kiện, tình huống, sự vật) Năng lực nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết

Năng lực nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu Thực chất là : bao quát nhanh chóng, đôi khi ngay lập tức, các bộ phận, các yếu tố của đối tượng trong mối quan hệ giữa chúng với nhau

Năng lực biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi xử lí một tình huống Khả năng huy động các kiến thức cần thiết để đưa ra các giả thuyết hay các dự đoán khác nhau khi phải lí giải một hiện tượng

Năng lực xác nhận bằng lí thuyết và thực nghiệm các giả thuyết (hoặc phủ nhận nó) Năng lực biết đề xuất các phương án thí nghiệm hoặc thiết kế các sơ đồ thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết hay hệ quả suy ra từ giả thuyết, hoặc để đo một đại lượng Vật lí nào đó với hiệu quả cao nhất có thể được trong những điều kiện đã cho

Năng lực nhìn nhận một vấn đề dưới những góc độ khác nhau, xem xét đối tượng ở những khía cạnh khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau Năng lực tìm ra giải pháp lạ Chẳng hạn : đối với một BTVL học sinh có nhiều cách nhìn để tìm kiếm lời giải, năng lực kết hợp nhiều phương pháp giải bài tập để tìm một phương pháp mới độc đáo

1.1.5.2 Các yếu tố cần thiết cho việc bồi dưỡng NLST của học sinh trong học tập

Nếu ở nhà trường HS được tập luyện làm những việc có tính chất sáng tạo thì sau này trong công tác sản xuất và hoạt động xã hội họ mới có thói quen suy nghĩ linh hoạt, nhạy cảm Trước hết phải nói tới một yếu tố quan trọng để nảy sinh sáng tạo là hứng thú Vì vậy ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường muốn rèn cho HS tính sáng tạo thì trước tiên GV trong quá trình giảng dạy, ra bài tập sao cho HS hứng thú

Trang 19

học tập Hứng thú gây ra sáng tạo và sáng tạo lại thúc đẩy hứng thú mới, HS cần có hứng thú nhận thức cao, cần có sự khao khát nhận thức cái mới và vận dụng cái mới vào thực tế như áp dụng kiến thức để làm các bài tập vận dụng, khái quát hóa các bài tập vận dụng để làm các dạng BT mới

Yếu tố thứ hai cần thiết để sáng tạo là phải có kiến thức cơ bản vững chắc Một quá trình sáng tạo bất kì nào đều bắt đầu từ sự tái hiện những cái đã biết Tâm

lí học hiện đại không phủ nhận những vai trò của trí nhớ Dĩ nhiên, chỉ ghi nhớ đơn thuần, không biết suy nghĩ vận dụng sáng tạo thì đó là kiến thức chết, vô dụng Người HS phải vận dụng tri thức đã biết vào tình huống mới, vào giải thích các hiện tượng vật lí, giải các BTVL trong các trường hợp khác nhau

L.X.Vưgôtxki đã phê phán những quan điểm không đúng cho rằng sáng tạo

là mảnh đất riêng của những người có tài, thiên tài, còn con người bình thường thì tuyệt nhiên không có khả năng đó Ông cho rằng ở những nơi con người biết phối hợp những cái cũ, tạo ra cái mới đều là sáng tạo Vì vậy kiến thức cơ bản vững chắc phải là yếu tố cần thiết cho rèn luyện NLST

Yếu tố thứ ba để sáng tạo là : HS cần có tính " nghi ngờ khoa học", luôn đặt câu hỏi " cách làm này hay phương án giải BT này đã tối ưu chưa ?, " "có còn cách giải khác nào không ?" hay BT "này có thể mở rộng như thế nào? "

Theo P.L Capitxa :" giáo dục khả năng sáng tạo trong con người dựa trên sự phát triển của tư duy tự lập " Do đó một yếu tố nữa không thể thiếu của việc rèn luyện NLST cho HS là : HS cần phải có khả năng tư duy độc lập Đó là khả năng của con người trong việc tự xác định phương hướng hoạt động của mình trong tình huống mới, tự phát hiện và nêu lên các vấn đề cần giải quyết và thực hiện nó Như vậy các điều kiện để hoàn thành các phát kiến càng được chuẩn bị tốt bao nhiêu thì tính chủ động sáng tạo càng được nâng cao bấy nhiêu

1.1.6 Cơ chế sáng tạo khoa học

1.1.6.1 Cơ chế trực giác

Theo An bert Anhxtanh thì qúa trình sáng tạo khoa học diễn ra theo sơ đồ 1.1

Trang 20

* Chúng ta có những dữ liệu E, những dữ liệu trực tiếp của kinh nghiệm cảm tính

* A là những tiên đề mà từ đó rút ra các kết luận Về mặt tâm lí, A dựa trên

cơ sở của E nhưng không có một con đường loogic nào để đi từ E đến A, chỉ có mối liên hệ trực giác (khái niệm tâm lí) luôn được tái diễn

* Từ các tiên đề A có thể rút ra một cách lôgic những khẳng định bộ phận S' với độ chặt chẽ cao bằng lôgic hay toán học

* Những khẳng định đó được đối chiếu với E (kiểm tra bằng thí nghiệm) Giai đoạn này cũng sử dụng tới trực giác vì mối quan hệ của các khái niệm chứa trong S' đối với các dữ kiện trực tiếp của kinh nghiệm cảm giác E không có tính lôgic về mặt bản chất

A

Trực giác

Trực giác Lôgic

Trang 21

Ví dụ :

- Các định luật Newton và cả thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh đều dựa trên một loạt các tiên đề, chẳng hạn tính đồng nhất và đẳng hướng của không gian,

sự tương đương của khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn,

- Trước khi tìm ra định luật I Newton thì Newton đã có những dữ liệu trực tiếp của kinh nghiệm cảm tính về chuyển động của các vật và lực Đặc biệt là những tài liệu của Galile và những thí nghiệm của Galile

-Nhiều thế kỉ trước người ta cho rằng để cho vật chuyển động với vận tốc không đổi cần phải có sự tác động thường xuyên của các vật thể khác vào vật

Galile làm thí nghiệm về chuyển động của vật trên mặt phẳng nghiêng và nhận thấy :

Khi vật chuyển động xuống dưới, vật chuyển động nhanh dần (có gia tốc)

Để giữu cho nó đứng yên cần phải dùng sức

Khi vật đi lên cần phải dùng lực để đẩy nó lên cũng như giữ nó ở phía trên

Từ các tiên đề và những dữ kiện rút ra được khẳng định bộ phận là :

Một vật nếu không có tác dụng của vật khác sẽ chuyển động thẳng đều mãi mãi (bằng lôgic) Khi đối chiếu điều khẳng định đó với những dữ liệu E người ta đã thường xuyên sử dụng những thí nghiệm tương đương với một mặt phẳng nhẵn dài

vô tận Việc sử dụng thí nghiệm trên đệm không khí hiện nay cũng chỉ có giá trị giúp cho việc khái quát hóa đó

1.1.6.2 Chu trình sáng tạo khoa học ( cơ chế Algôrit )

V.G.Razumopxki khi khái quat những lời phát biểu của các nhà khoa học nổi tiếng như Anhxtanh, Plang, Boocno, Kapitta, đã đề ra chu trình sáng tạo khoa học gồm 4 giai đoạn (Sơ đồ 1.2) Từ việc khái quát hóa những sự kiện đi đến xây dựng

mô hình trừu tượng của hiện tượng (đề xuất giả thuyết); từ mô hình dẫn đến việc rút

ra các hệ quả lí thuyết; từ việc rút ra các hệ quả đến sự kiểm tra chúng bằng thực nghiệm Nếu thực nghiệm xác nhận các hệ quả suy ra một cách lôgic từ mô hình giả thuyết thì mô hình giả thuyết đúng và trở thành lí thuyết Ngược lại thì phải xem lại

mô hình giả thuyết, chỉnh lí được thay đổi

Trang 22

Sơ đồ 1.2 diễn tả chu trình sáng tạo khoa học (cơ chế Algôrit) gồm 4 giai đoạn

Ta thấy chu trình bắt đầu bằng việc lựa chọn một nhóm những sự kiện quan sát, thí nghiệm Từ những sự kiện đó đề ra giả thuyết về tính tổng quát của chúng,

nó cho phép nhìn thấy trước (tiên đoán) những sự kiện khác vẫn còn chưa biết

Trong rất nhiều trường hợp, không thể kiểm tra được các giả thuyết đó Do

đó cần đề xuất các hệ quả cho phép kiểm tra được

Nếu hệ quả khẳng định bằng thực nghiệm thì mô hình trừu tượng được chấp nhận làm cơ sở cho lí thuyết đó Nếu lại xuất hiện các sự kiện, hiện tượng không nằm trong khuôn khổ của lí thuyết đó thì lại phải xây dựng một mô hình trừu tượng (giả thuyết khoa học) mới Do đó chúng ta lại có một chu trình thứ hai, thứ ba (được biểu diễn bằng các đường nét đứt trong sơ đồ 1.2)

Mô hình giả định trừu tượng Các hệ quả lôgic

Thí nghiệm kiểm tra

Những sự kiện khởi đầu

Sơ đồ 1.2

Trang 23

Trong mọi giai đoạn của chu trình đều cần đến sự sáng tạo nhưng có hai giai đoạn đòi hỏi sự sáng tạo cao nhất là đưa ra mô hình giả thuyết trừu tượng và đưa ra các phương án thực nghiệm để kiểm chứng vì ở đây không thể dùng tư duy lôgic

mà nhờ trực giác khoa học Ví dụ : Tìm ra định luật rơi tự do (Sơ đồ 1.3)

Trong khuôn khổ bài học không cho phép tổ chức quá trình học tập sao cho

HS hoàn toàn "khám phá lại" những định luật VL, nhưng cũng hoàn toàn đủ để cho

họ "trải qua" những phát hiện khoa học, hiểu được vai trò và vị trí của những thành phần chu trình sáng tạo : Ý nghĩa của dữ kiện xuất phát, vai trò sáng tạo của lí thuyết, tầm quan trọng của sự kiểm tra bằng thực hiện những hệ quả lí thuyết tất cả những cái đó tạo điều kiện phát triển khả năng sáng tạo của học sinh

Sự kiện ban đầu

Mô hình giả thuyết

Trang 24

1.1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của học sinh

1.1.7.1 Trí nhớ

Trí nhớ là quá trình tâm lí ghi nhớ, lưu giữ và tái hiện trong óc các thông tin

cá nhân có được trong các hoạt động của mình

Trí nhớ là chất liệu để tư duy, không có trí nhớ thì không thể tư duy Tuy nhiên trí nhớ không phải là sản phẩm của tư duy sáng tạo mà là của tư duy tái hiện

Để có chất liệu tư duy sáng tạo, cần phải luyện tập trí nhớ, tích lũy sự kiện làm cơ

sở cho tri giác phát triển

Thành tựu của tâm lí học về đặc điểm của trí nhớ rất có ý nghĩa trong dạy học Để có trí nhớ, cần luyện tập, gắn kết các sự kiện có tính chọn lọc và mang ý nghĩa chủ quan nhận thức Việc huy động nhiều giác quan đồng thời thu nhận thông tin là biện pháp giúp ghi nhớ tốt

Để rèn luyện tư duy sáng tạo đạt hiệu quả, cần phải thực hiện ở giai đoạn sau khi HS đã lĩnh hội được một số kiến thức và kỹ năng cơ bản thông qua dạy học bài học lí thuyết và giải các bài tập luyện tập

1.1.7.2 Ngôn ngữ, kí hiệu, hình vẽ

Ngôn ngữ, kí hiệu, hình vẽ vừa là phương tiện vừa là kết quả của tư duy Các đối tượng nhận thức khi phản ánh vào đầu óc chủ thể trở thành biểu tượng tâm lí, biểu tượng là bản sao của đối tượng thông qua nhận thức chủ quan của chủ thể được diễn đạt bằng ngôn ngữ Tư duy của con người luôn gắn với ngôn ngữ Nói rõ hơn, con người suy nghĩ bằng ngôn ngữ và bị tác động bởi ngôn ngữ

Ngoài ra, con người còn tư duy bằng các kí hiệu, hình vẽ Nó giúp cho tư duy trở nên gọn hơn Hình vẽ là một loại kí hiệu mô tả trực quan đối tượng Hầu hết các phát minh và sáng chế đều bắt đầu dưới dạng hình ảnh, biểu tượng trong đầu, sau đó mới là từ ngữ Trong bất kì giai đoạn nào của tư duy, nếu có thể hãy trình bày suy nghĩ bằng hình vẽ

Trang 25

1.1.7.3 Tính nhạy bén của tư duy

Tính nhạy bén của tư duy là khả năng phát hiện ra giá trị của thông tin và sử dụng chúng để giải bài toán trong khi nhiều người khác cũng tiếp nhận thông tin đó nhưng lại không phát hiện ra

Tùy thuộc vào mức độ khao khát giải được bài toán cho trước, mức độ rõ ràng của thông tin cung cấp mà tính nhạy bén của tư duy có thể bộc lộ

Để tăng tính nhạy bén của tư duy, cần phải tạo các suy nghĩ xuất phát từ nhu cầu giải bài toán cho trước, chủ động tạo các thông tin cần thiết, thiết lập mối liên

hệ giữa chúng với độ tin cậy cao

Loại ý tưởng được phát ra ở vùng ý thức như là kết quả của quá trình suy nghĩ xảy ra trong tiềm thức, vô thức gọi là các ý tưởng do trực giác mách bảo Chúng ta nên thu thập cả những ý tưởng do trực giác mách bảo thì xác suất ý tưởng dẫn đến lời giải càng lớn, suy nghĩ xuất hiện trong vùng ý thức càng lớn

1.1.7.6 Trí tưởng tưởng

Trí tưởng tưởng là sự xây dựng trong óc hình ảnh về đối tượng mà trong khoảng thời gian xây dựng và tồn tại hình ảnh, người tưởng tượng không tiếp thu đối tượng đó một cách trực tiếp thông qua các giác quan

Trang 26

Tưởng tượng là xây dựng trong đầu những hình ảnh mới trên cơ sở các biểu tượng đã có Biểu tượng là hình ảnh sự vật nảy sinh trên vỏ não khi sự vật không còn trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta nữa

Nếu như cơ sở sinh lí của trí nhớ là kết nối cá đường liên hệ thần kinh tạm thời và tái hiện những gì được lưu giữ thì khi tưởng tượng, hệ thống các mối liên kết trong qua khứ bị tách ra, rồi kết hợp lại theo cách mới Về bản chất, cơ chế của trí tưởng tượng là dựa trên các hình ảnh đã có để tạo ra các hình ảnh mới

Trí tưởng tượng cũng như trực giác đặc biệt quan trọng không thể thay thế được trong những giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển rất nhiều lĩnh vực khoa học kĩ thuật hoặc ở một giai đoạn mà lí thuyết hiện hành không còn đủ khả năng giải thích những kết quả mới thu được từ thực tiễn

Có thể chia trí tưởng tưởng thành ba loại : Trí tưởng tượng lôgic, trí tưởng tượng phê phán, trí tưởng tượng sáng tạo

1.1.8 Tính ì tâm lý và ảnh hưởng của nó đối với năng lực sáng tạo

1.1.8.1 Tính ì tâm lí – vật cản trong năng lực sáng tạo

Tính ì tâm lí bao gồm tính ì "thiếu" và tính ì " thừa " Tính ì "thiếu" luôn làm cho người ta e dè trước những cái mới, lo sợ mình sẽ làm sai, vì nó không giống những cái đã được công nhận trước đây Vì vậy, người ta rất hạn chế đưa ra một dự đoán nào đó khác với những kiến thức mà họ đã gặp trong những tình huống quen thuộc

Khi gặp một tình huống mới, người ta chỉ suy nghĩ và đề xuất những giải pháp cũ, không có tính sáng tạo, không có tính riêng của cá nhân Họ chỉ suy nghĩ theo một lối mòn đã định trước mà không có sự cách tân nào

Khi gặp một tình huống mới, người ta hay nghĩ đến những quy luật, định luật

đã được học để áp dụng nó vào giải quyết vấn đề Họ không dám nghĩ đến một giải pháp mới nào đó mà họ chưa biết để giải quyết vấn đề Mặt khác, tình huống mới này không nằm trong phạm vi áp dụng của quy luật, định luật nên việc vận dụng quy luật, định luật không thể giải quyết hoặc giải quyết sai vấn đề Đó chính là tính

Trang 27

ì "thừa” trong tâm lí con người Tính ì "thừa" hay còn gọi là tính ì do liên tưởng ngoại suy ra ngoài phạm vi áp dụng

Tính ì tâm lí tự ti hay còn gọi là tính thiếu tự tin, rụt rè đối với sáng tạo Chúng tôi đưa ra ba nguyên nhân chủ yếu dẫn đến loại tính ì này là :

+ Số phép thử - sai trong quá khứ nhiều hơn số phép thử - đúng

+ Chủ thể phải sống và hoạt động trong môi thường thiên về chỉ trích, phê phán, không có sự khuyến khích sáng tạo ra ngoài khuôn mẫu

+ Do chủ thể luôn cầu toàn đối với sự sáng tạo

1.1.8.2 Khắc phục tính ì tâm lí

Tính ì tâm lí là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến sự sáng tạo, nó làm con người trở nên cố hữu, không linh hoạt trong tư duy, nó ngăn cản mọi sự sáng tạo của con người Vì vậy, để khắc phục tính ì tâm lí, chúng ta phải thường xuyên rèn luyện mình, phải xem xét vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau Biết tạo ra nhiều giả thiết khi lí giải một hiện tượng Biết đề xuất các giải pháp khác nhau, phải xử lí tình huống không máy móc, biết vận dụng những mô hình sẵn có vào những tình huống mới

Bài tập sáng tạo là một phương tiện dạy học hiệu quả trong việc rèn luyện tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí, giúp khắc phục đáng

kể tính ì tâm lí không chỉ trong giải bài tập mà còn tạo nên một nhân cách mới năng động hơn, tránh được cách suy nghĩ theo lối mòn, từ đó làm việc hiệu quả hơn

Để khắc phục tính ì "thiếu", chủ thể tư duy phải có nhiều cách xem xét đối tượng sao cho số lượng nghĩa rút ra càng nhiều càng tốt Ví dụ giải bài tập sáng tạo theo nhiều cách khác nhau

Để khắc phục tính ì "thừa", chủ thể tư duy phải luôn ý thức về phạm vi áp dụng của đối tượng Khi hoàn cảnh thay đổi, chủ thể phải xem lại tất cả những gì đem lại ích lợi trong hoàn cảnh cũ có còn tiếp tục đem lại ích lợi trong hoàn cảnh mới hay không Nếu không, cần chủ động thay đổi chúng hoặc đưa ra những cái mới đem lại ích lợi trong hoàn cảnh mới

Trang 28

1.1.9 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh 1.1.9.1 Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới

Kiến thức vật lí trong trường phổ thông là những kiến thức đã được loài người khẳng định; tuy vây, chúng luôn luôn là mới mẻ đối với học sinh Việc nghiên cứu kiến thức mới sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi học sinh phải đưa ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân họ

Tổ chức quá trình nhận thức vật lí theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho học sinh trên con đường hoạt động nhận thức biết được : chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải đua ra kiến thức mới, giải pháp mới Việc tập trung sức lực vào chỗ mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo có hiệu quả, rèn luyện cho tư duy trực giác biện chứng nhạy bén, phong phú Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học

Theo quan điểm hoạt động, quá trình vật lí được xây dựng đi từ dễ đến khó, phù hợp với trình độ học sinh, tận dụng được những kinh nghiệm sống hàng ngày của họ, tạo điều kiện cho họ có cơ hội đề xuất ra được những ý kiến mới mẻ có ý nghĩa, làm cho họ cảm nhận được hoạt động sáng tạo là hoạt động thường xuyên có thể thực hiện được với sự cố gắng nhất định

1.1.9.2 Luyện tập phỏng đoán, dự đoán

Như ta đã biết, dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú

và kiến thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực Các nhà khoa học nói rằng : việc xây dựng giả thuyết dựa trên sự khái quát hóa những sự kiện thực nghiệm, những kinh nghiệm cảm tính

Tuy nhiên, sự khái quát hóa đó không phải là một phép quy nạp đơn giản, hình thức mà chứa đựng một yếu tố mới, không có sẵn trong các sự kiện dùng làm

cơ sở Dự đoán khoa học không phải là tùy tiện mà luôn luôn phải có một cơ sở nào

Trang 29

đó, tuy chưa thật là chắc chắn Có thể kể ra một số cách dự đoán trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức vật lí của học sinh :

- Dựa vào liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có

- Dựa trên sự tương tự

- Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng

có mối quan hệ nhân quả

- Dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình

- Dự đoán về mối quan hệ định lượng

1.1.9.3 Luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán

Trong nghiên cứu vật lí, một dự đoán, một giả thuyết thường là một sự khái quát hóa các sự kiện thực nghiệm; cho nên nó có tính chất trừu tượng, tính chất chung, không thể kiểm tra trực tiếp được Muốn kiểm tra xem dự đoán, giả tuyết có phù hợp với thực tế không, ta phải xem điều dự đoán đó biểu hiện trong thực tế như thế nào, có những dấu hiệu nào có thể quan sát được Điều đó có nghĩa là từ một dự đoán, giả thuyết, ta phải suy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế, sau đó tiến hành thí nghiệm để xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết quả thí nghiệm không

Hệ quả suy ra được phải khác với những sự kiện ban đầu dùng làm cơ sở cho

dự đoán thì mới có ý nghĩa Số hệ quả phù hợp với thực tế càng nhiều thì dự đoán càng trở nên chắc chắn, sát với chân lí hơn

Quá trình rút ra hệ quả thường áp dụng suy luận lôgic hay suy luận toán học

Sự suy luận này phải đảm bảo là đúng quy tắc, đúng quy luật, không phạm sai lầm Những quy tắc, quy luật đó đều đã biết cho nên, về nguyên tắc, sự suy luận đó không đòi hỏi một sự sáng tạo và thực tế có thể kiểm soát được

1.1.9.4 Sử dụng các bài tập sáng tạo

Ở trên, ta đã xem xét việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong quá trình xây dựng kiến thức mới Ngoài ra, trong dạy học vật lí, người ta còn xây dựng những loại bài tập riêng vì mục đích này và được gọi là bài tập sáng tạo (xem thêm chương 2 ) Trong loại bài tập sáng tạo này, ngoài việc phải vận dụng một số kiến

Trang 30

thức đã học, học sinh bắt buộc phải có những kiến thức độc lập mới mẻ, không thể suy ra một cách lôgic từ những kiến thức đã học

Theo Ra-dư-mốp-xki, BTST được chia là hai loại: Bài tập nghiên cứu và bài tập thiết kế Trong bài tập thiết kế đòi hỏi học sinh phải đề xuất một thiết bị (vẽ các

bộ phận chính và sắp xếp chúng) để thỏa mãn yêu cầu tạo ra một hiện tượng vật lí nào đó Trong bài tập nghiên cứu yêu cầu học sinh nghiên cứu để giải thích một hiện tượng mới gặp nào đó

1.2 Cơ sở lí luận về dạy học sáng tạo

1.2.1 Cơ sở tâm lí học về dạy học sáng tạo

Tâm lí học khám phá những quy luật hoạt động tâm lí của học sinh; học sinh cảm thụ thế giới xung quanh và tư duy ra sao, nắm các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo như thế nào Tất cả những điều đó có quan hệ trực tiếp với quá trình dạy học

Dạy học sáng tạo lấy lý thuyết thích nghi của Piaget và lý thuyết về vùng phát triển gần của Vưgôtxki làm cơ sở

Lý thuyết thích nghi của Piaget chỉ ra rằng những phẩm chất mới của con người được phát triển từ chính những hoạt động tích cực, tự lực của con người Mặt khác Vưgôtxki trong lý thuyết vùng phát triển gần lại cho rằng : " Dạy học được cho là tốt nhất nếu nó đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển ”

Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng : "Dạy học phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học” Thông qua hoạt động trí tuệ HS phát triển dần từ thấp lên cao Trình độ ban đầu của học sinh tương ứng với "Vùng phát triển hiện tại” Trình độ này cho phép HS có thể thu được những kiến thức gần gũi nhất với kiến thức cũ để đạt được trình độ mới cao hơn Vưgôtxki gọi đó là "vùng phát triển gần” Khi HS đạt tới vùng phát triển gần nhất, nghĩa là các em ở "vùng phát triển hiện tại” nhưng ở trình độ mới cao hơn Người giáo viên tiếp tục tổ chức và giúp đỡ HS đưa các em tới "vùng phát triển gần nhất” mới để sau đó lại trở thành "vùng phát triển hiện tại ”

Cứ tiếp tục như vậy, sự phát triển của học sinh đi từ nấc thang này đến nấc thang khác cao hơn Nếu người thầy biết phát huy tốt vai trò tổ chức điều khiển làm

Trang 31

giảm nhẹ khó khăn cho học sinh trong quá trình nhận thức, biết cách khuyến khích

HS tham gia vào hoạt động nhận thức tích cực trong dạy học thì trí tuệ của học sinh

có thể được phát triển tốt

Mặt khác, đối với học sinh để tự lực phát triển trí tuệ không có cách nào khác

là phải tự mình hoạt động, hoạt động một cách tích cực, tự giác trong sự tương tác với xã hội Dạy học sáng tạo có thể giải quyết được tất cả những vấn đề trên

1.2.2 Cơ sở lí luận dạy học về dạy học sáng tạo

Dạy học là một dạng hoạt động đặc trưng của loài người nhằm truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được, biến chúng thành vốn kinh nghiệm và phẩm chất, năng lực của cá nhân người học

Hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động liên quan với nhau, tác động qua lại với nhau : hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Hai hoạt động này đều có chung một mục đích cuối cùng là làm cho học sinh lĩnh hội được nội dung học, đồng thời phát triển được nhân cách, năng lực của mình Quá trình dạy học xảy ra rất phức tạp và đa dạng, trong đó sự phối hợp hoạt động giữa giáo viên và học sinh có ý nghĩa quyết định

Lí luận dạy học vật lí với tính cách là một khoa học giáo dục có những phương pháp nghiên cứu xác định Có thể kể những phương pháp cơ bản như :

+ Khoa học luận vật lí học và các thành tựu của khoa học vật lí

+ Các luận điểm của lí luận dạy học và các thành tựu của khoa học dạy học, giáo dục học và tâm lí học

Thí dụ khi giải quyết vấn đề nội dung của các cơ sở vật lí ở trường phổ thông, người ta xác lập xem cần phải đưa những nguyên lí chủ yếu nào của vật lí học vào giáo trình ở nhà trường để cho giáo trình này phản ánh một cách đầy đủ

Trang 32

trình độ hiện đại của khoa học; cần phải chú ý tới điều gì khi xác định nội dung của giáo trình vật lí để cho giáo trình này đảm bảo được sự phát triển tư duy khoa học của học snh và xây dựng cho họ thế giới quan duy vật biện chứng; cần phải chọn lọc những gì từ kho tàng khoa học và công nghệ để làm cho giáo trình vật lí học có tác dụng giáo dục kĩ thuật tổng hợp; tài liệu học được xác định có vừa sức học sinh thuộc một lứa tuổi nào đó hay không

Trong thời kì phát triển ban đầu của lí luận dạy học vật lí, chủ nghĩa kinh nghiệm có ảnh hưởng rất lớn Nhưng theo đà phát triển của nó, lí luận dạy học vật lí

đã vượt qua được sự trói buộc của chủ nghĩa kinh nghiệm và trở thành một lĩnh vực khoa học

2- Khảo sát điều tra tình trạng của việc dạy học vật lí, tình trạng tri thức,

kĩ năng của học sinh về vật lí học

Những kết luận đáng tin cậy trong các công trình nghiên cứu về lí luận dạy học chỉ có thể rút ra được nhờ sự hiểu biết tường tận tình trạng dạy học vật lí ở các trường học, nhờ có được một bức tranh rõ ràng về trình độ tri thức, kĩ năng của học sinh và ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau tới trình độ tri thức và kĩ năng đó

Để thu được những tài liệu cần thiết người ta tiến hành những quan sát trực tiếp quá trình dạy học, tiến hành những cuộc tham quan sư phạm tại những vùng và khu vực rộng lớn, cũng như tiến hành công tác kiểm tra, khảo sát tại các trường thuộc một số tỉnh trong cả nước

Việc quan sát quá trình sư phạm, việc nghiện cứu kinh nghiệm của các giáo viên và của các trường được tiến hành theo nhiều con đường Nhà nghiên cứu tìm hiểu các loại tư liệu khác nhau : các kế hoạch công tác của giáo viên, các nhật kí ghi chép của các bài học, các đề tài đã dạy, các bản hướng dẫn cho các thí nghiệm thực tập, các đề bài kiểm tra, vở ghi của học sinh và các tài liệu khác, tiến hành trao đổi với giáo viên và học sinh

Nhưng đó mới chỉ là một mặt của việc nghiện cứu cho phép ghi nhận một số đặc điểm nào đó của việc dạy học Sau đó cần quan sát quá trình tiến hành những bài học riêng biệt hoặc một hệ thống các bài học Nhà nghiên cứu ghi biên bản của

Trang 33

các giờ học và phân tích các giờ học đó Cũng có thể cho những bài kiểm tra viết

mà việc phân tích chúng sẽ cung cấp một tài liệu có giá trị, hoặc tiến hành kiểm tra miệng theo một phương án đã bàn bạc và thỏa thuận với giáo viên

3- Nghiên cứu và khái quát hóa kinh nghiệm

Việc nghiên cứu và khái quát hóa kinh nghiệm tốt của các giáo viên và các trường có giá trị đặc biệt trong công trình nghiên cứu về lí luận dạy học

Để làm được việc đó có khi người ta tiến hành quan sát một cách hệ thống việc giảng dạy của một giáo viên tại một trường trong thời gian dài Có trường hợp giáo viên tự viết kinh nghiệm của mình

Việc khái quát hóa kinh nghiệm là một quá trình phức tạp, không phải mọi kinh nghiệm đều có thể công nhận là mẫu mực Có thể tích lũy được cái gì có giá trị tiến bộ khách quan,vẫn không nâng lên được tới mức khái quát hóa lí luận

4- Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm giữ vai trò quyết định trong các công trình nghiên cứu

về lí luận dạy học vật lí Chính do kết quả thực nghiệm sư phạm mà người ta xác lập được các quy luật của sự dạy học, quyết định hoặc chính xác hóa được nội dung của các cơ sở vật lí, hoàn thiện được các phương pháp dạy học vật lí và các hình thức tiến hành các bài học, nhận rõ được cơ sở vật chất cần thiết cho việc dạy học vật lí

Khi tiến hành thực nghiệm sư phạm, người ta cố gắng sao cho trong các biên bản không những ghi được mọi lời nói của giáo viên và của học sinh mà còn thể hiện được cả mọi hoạt động của họ Điều này có thể thực hiện được khi sử dụng rộng rãi các phương tiện kĩ thuật hiện đại : máy ghi âm, máy chụp ảnh, máy quay phim, thiết bị vô tuyến truyền hình

Trong khoa học sản phẩm sáng tạo được chia thành phát minh và sáng chế Theo đó DHVL ở trường phổ thông được chia là hai dạng : Dạy học phát minh lại định luật, thuyết vật lí và dạy HS sáng chế lại các thiết bị kỹ thuật Việc dạy học những ứng dụng kỹ thuật của vật lí ở trường phổ thông có thể diễn ra theo hai con đường :

Trang 34

+ Con đường thứ nhất là quan sát cấu tạo của đối tượng kỹ thuật có sẵn, giải thích nguyên tắc hoạt động của nó

+ Con đường thứ hai là dựa trên những định luật vật lí, những đặc tính vật lí của sự vật, hiện tượng, thiết kế một thiết bị nhằm giải quyết một yêu cầu kỹ thuật nào đó Con đường này thực chất là tìm tòi, phát minh lại một thiết bị, máy móc dùng trong kỹ thuật, là một bài tập sáng tạo

Dạy học sáng tạo là biểu hiện sự thống nhất giữa chức năng giáo dục, giáo dưỡng và phát triển Trong dạy học sáng tạo, học sinh tự chiếm lĩnh được kiến thức phỏng theo các giai đoạn nghiên cứu của nhà khoa học

Cơ sở lí thuyết của phương pháp phát triển khả năng sáng tạo của HS trong quá trình dạy học là sự hiểu biết những quy luật của sự sáng tạo khoa học tự nhiên

Sơ đồ ngắn gọn và rõ ràng nhất của quá trình nhận thức đã được V.I Lê Nin nêu lên : "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng ròi từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn - Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan ”

Khảo sát chu trình sáng tạo khoa học (mục 1.1.4) của V.G.Razumôpxki đã chỉ ra hai giai đoạn khó khăn đòi hỏi sự sáng tạo là giai đoạn từ sự kiện khởi đầu tới xây dựng mô hình giả thuyết trừu tượng và giai đoạn chuyển từ một tiên đề lí thuyết

và những quy luật nhất định của hiện tượng sang việc kiểm tra bằng thực nghiệm Giai đoạn thứ nhất đòi hỏi sự giải thích hiện tượng, trả lời câu hỏi " tại sao ”; giai đoạn thức hai đòi hỏi thực hiện một hiện tượng thực đáp ứng với yêu cầu đã cho, đòi hỏi trả lời câu hỏi " làm thế nào ”

Nếu các hệ quả được khẳng định bằng thực nghiệm thì mô hình trừu tượng được chấp nhận làm cơ sở cho lí thuyết đó Nếu lại xuất hiện các sự kiện, hiện tượng không nằm trong khuôn khổ của lí thuyết đó thì lại phải xây dựng một mô hình trừu tượng (giả thuyết khoa học) mới Do đó ta lại có chu trình thứ hai, thứ ba

Trang 35

1.2.3 Một số biện pháp dạy học sáng tạo trong môn vật lí ở trường phổ thông 1.2.3.1.Áp dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề :

Dạy học giải quyết vấn đề có tác dụng lớn trong việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh vì :

- Luôn đặt HS vào tình huống có vấn đề làm xuất hiện các nhu cầu giải quyết vấn đề của HS (rèn luyện thói quen tự đặt câu hỏi hay thói quen phát hiện vấn đề cần giải quyết của người học)

- Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề

Người giáo viên nên dạy học theo phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề Tùy theo nội dung kiến thức của bài học, trình độ của học sinh, điều kiện về thời gian và cơ sở vật chất nhà trường mà có thể áp dụng dạy học nêu và giải quyết vấn đề theo các mức độ khác nhau

1.2.3.2 Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học

Các phương tiện dạy học gồm các thiết bị dạy học, phòng bộ môn, phòng thí nghiệm, bàn ghế, các phương tiện kỹ thuật Giáo án điện tử là một phương tiện dạy học hiện đại, sử dụng đạt hiệu quả khá cao

Sử dụng các phương tiện dạy học một cách hợp lí không những giúp HS có điều kiện nhận thức thế giới bên ngoài tốt hơn, rèn luyện TDST đồng thời giảm cường độ lao động của giáo viên Phương tiện trực quan không những cung cấp cho

HS kiến thức bền vững, chính xác, mà còn gây hứng thú học tập, tăng chú ý đối với bài học

Khi tiếp xúc với các tình huống xảy ra trong thực tiễn ở các bài thí nghiệm thực hành, tư duy của HS luôn được đặt trước vấn đề mới buộc phải suy nghĩ, tìm tòi, phát triển năng lực tư duy sáng tạo của họ

1.2.3.3 Rèn luyện trí tưởng tượng, tư duy không gian, tư duy logic cho học sinh

Óc tưởng tượng, tư duy không gian, tư duy lôgic là ba năng lực rất cần thiết cho người lao động sáng tạo Tưởng tượng là xây dựng trong đầu những hình ảnh

Trang 36

mới trên cơ sở các biểu tượng đã có Tưởng tượng phong phú là yếu tố quan trọng nhất góp phần phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

Tư duy không gian phát triển tức là óc tưởng tượng không gian phong phú Không gian ở đây có thể là ba chiều hoặc vô số chiều Nói cách khác, tư duy không gian giúp cho cách nhìn nhận vấn đề theo nhiều cách khác nhau và tùy từng bài toán, ta chọn cách đi tới kết quả sớm nhất, hiệu quả nhất

Bồi dưỡng tư duy không gian giúp cho việc nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách tổng thể và toàn diện hơn, tránh cách nhìn cục bộ, phiến diện về một vấn đề,

sự vật Tư duy không gian phát triển làm cho qúa trình tư duy trở nên khách quan hơn, toàn diện hơn, sáng tạo hơn

Một chuỗi suy luận dù có mang tính sáng tạo hay không thì đều có suy luận lôgic, vì vậy tư duy lôgic mà phát triển thì sẽ thúc đẩy được tư duy sáng tạo phát triển, người có tư duy sáng tạo nhất định sẽ có suy luận lôgic tốt

1.2.3.4 Bồi dưỡng phương pháp tự học

Chúng ta đã biết, tự học thì mới có thể hiểu sâu và nhớ lâu kiến thức được vì

đó là đặc điểm thu nhận thông tin của bộ não đa số con người Nếu học sinh tự lực tìm được kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo thì sự lĩnh hội kiến thức

sẽ cao hơn nhiều Giáo viên không những dạy cho học sinh cách tự học (tự tìm kiếm

và xử lí thông tin) ngay trên lớp mà còn hướng dẫn học sinh cách tự học ở nhà

Tự học là học sinh tự nghiền ngẫm, lật đi lật lại vấn đề, hình thành những thắc mắc, những câu hỏi và cố gắng tự trả lời Trong quá trình tự học đó, tư duy độc lập, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo được hình thành và phát triển

1.2.3.5 Giáo dục tính tích cực và sáng tạo cho học sinh

Giáo viên với kinh nghiệm và năng lực của mình cần :

- Khuyến khích, khơi gợi tiềm năng to lớn về học tập ở học sinh để họ tự đào sâu suy nghĩ, tìm tòi, phát huy khả năng của họ Có thể nêu gương các nhà khoa học, sinh viên, học sinh tiêu biểu trong quá trình học tập bộ môn sẽ kích thích được tiềm năng sáng tạo và quyết tâm phấn đấu học tập theo những tấm gương đó

- Giúp hoc sinh ham học, hứng thú học, biết cách tự học, khám phá thế giới

Trang 37

- Giúp học sinh rèn luyện để phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

1.3 Vai trò của bài tập vật lí trong dạy học sáng tạo

1.3.1 Định nghĩa bài tập vật lí

Trong thực tế dạy học, bài tập vật lí là một vấn đề đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ những suy luận lôgic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và các phương pháp vật lí Hiểu theo nghĩa rộng, mỗi vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài tập vật lí đối với học sinh

Ta cũng có thể hiểu bài tập vật lí là những bài tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích nghiên cứu các hiện tượng vật lí, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy vật lí của học sinh và rèn luyện kĩ năng vận dụng các kiến thức của

họ vào thực tiễn

1.3.2 Vai trò của bài tập vật lí

- Là phương tiện ôn tập, củng cố, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động và có hiệu quả Khi xây dựng kiến thức, học sinh đã nắm được những quy luật chung, những khái niệm, định nghĩa là những cái trừu tượng Trong khi giải bài tập, học sinh phải vận dụng những kiến thức khái quát, trừu tượng đó vào những trường hợp cụ thể rất đa dạng, có khi đòi hỏi phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức đã học trong cả chương, một phần Nhờ thế, HS sẽ hiểu rõ hơn và ghi nhớ vững chắc những kiến thức đã học

- BTVL có thể là điểm khởi đầu dẫn dắt đến kiến thức mới Có thể được sử dụng là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức mới cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới một cách sâu sắc Với kiến thức toán học và lập luận lôgic, sử dụng bài tập vật lí một cách khéo léo thì phần kiến thức được xây dựng một cách khoa học, đơn giản và dễ hiểu

- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức, liên hệ lí thuyết với thực tế, học tập với đời sống Các môn khoa học nói chung và môn Vật lí nói riêng thì việc vận dụng lí thuyết vào thực tế là rất quan trọng

Trang 38

- Thông qua việc giải bài tập có thể rèn cho học sinh những đức tính tốt như tính tự lập, tính cẩn thận, tính kiên trì, tinh thần vượt khó Khi làm bài tập, các em phải tự mình phân tích các điều kiện của đề bài, tự xây dựng lập luận, thực hiện phép toán, tự kiểm tra hoặc phê phán những kết luận đã rút ra nên tư duy phát triển, năng lực làm việc tự lực của họ được nâng cao, tính kiên trì được rèn luyện

- Bài tập vật lí là phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn tư duy sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh Giải bài tập là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh Có nhiều bài tập vật lí không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng những kiến thức đã học mà còn giúp bồi dưỡng cho học sinh tư duy sáng tạo Đặc biệt là những bài tập giải thích hiện tượng, bài tập thí nghiệm, bài tập thiết kế dụng cụ rất có ích về mặt này

- Bài tập vật lí cũng là một phương tiện có hiệu quả để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh Tùy theo cách đặt câu hỏi kiểm tra, ta có thể phân loại được các mức độ nắm vững kiến thức của học sinh, khiến cho việc đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh được chính xác

1.3.3 Yêu cầu đối với dạy học bài tập vật lí

Trong dạy học vật lí giáo viên phải dự tính kế hoạch cho toàn bộ công việc

về bài tập, với từng đề tài, với từng tiết học cụ thể Có như vậy mới phát huy được khả năng của bài tập trong việc thực hiện những yêu cầu của dạy học vật lí Cần phải thực hiện các việc sau đây :

- Lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nêu vấn đề để sử dụng trong các tiết học nghiên cứu tài liệu mới nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy của học sinh

- Lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nhằm củng cố, bổ sung, hoàn thiện những kiến thức lí thuyết cụ thể đã học, cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thực tế,

kĩ thuật có liên quan với kiến thức lí thuyết

- Lựa chọn, chuẩn bị những bài tập điển hình nhằm hướng dẫn cho học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải những loại bài tập cơ bản; hình thành phương pháp chung giải mỗi loại bài tập đó

Trang 39

- Lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nhằm kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến thức kĩ năng của học sinh về từng kiến thức cụ thể và về từng phần của chương trình

- Sắp xếp các bài tập đã lựa chọn thành một hệ thống, định rõ kế hoạch và phương pháp sử dụng trong tiến trình dạy học

Trong việc giải bài tập vật lí phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải những loại bài cơ bản thuộc những phần khác nhau của SGK vật lí phổ thông Đồng thời phải đặc biệt coi trọng việc rèn luyện tư duy và đảm bảo tính tự lập của học sinh

1.4 Thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo

1.4.1 Mục đích và đối tượng điều tra

- Điều tra thực tế dạy và học bài tập vật lí nói chung và BTST về vật lí nói riêng

- Điều tra giáo viên : 5 GV của 2 trường THCS trên Thị xã Phúc yên Tỉnh Vĩnh Phúc

- Điều tra học sinh : Học sinh khối lớp 8 Trường THCS & THPT Hai Bà Trưng và Trường THCS Tiền Châu, Thị xã Phúc yên Tỉnh Vĩnh Phúc

1.4.2 Phương pháp điều tra

Đối với giáo viên

- Dự giờ dạy của các giáo viên đang giảng dạy môn Vật lí lớp 8 THCS

- Trao đổi trực tiếp với các GV dạy Vật lí 8 thuộc các trường khác nhau

- Phát phiếu điều tra GV đang dạy lớp 8 thuộc 2 trường THCS trên Thị xã Phúc Yên -Vĩnh Phúc

Đối với học sinh

- Chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra việc học BTVL đối với học sinh của hai trường là THCS & THPT Hai Bà Trưng và THCS Tiền Châu

- Xem xét và phân tích các sản phẩm học tập của học sinh như : các bài kiểm

tra, vở ghi lí thuyết, vở bài tập

Trang 40

1.4.3 Kết quả điều tra

Về giáo viên :

Tất cả các GV đều cho rằng bài tập vật lí có vai trò quan trọng , có tác dụng

to lớn trong dạy học vật lí Ngoài việc cung cấp kiến thức cơ bản, luyện tập cho học sinh kĩ năng vận dụng các công thức còn dùng để kiểm tra, đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh Khoảng 65,4% GV thường đồng nhất hai khái niệm "độ khó của bài tập" và " mức sáng tạo của bài tập" tức là bài tập càng khó thì mức sáng tạo càng cao Khoảng 26,5% GV chưa hiểu về bài tập sáng tạo, chưa biết soạn BTST Khoảng 38,3% GV cho rằng không thể sử dụng BTST vào trong tiết dạy trên lớp, vì

45 phút là quá ít

Về học sinh

Đa số các em có ý thức tốt trong học tập Một số học sinh lười hoạt động và suy nghĩ trong giờ học, các em thường chỉ ngồi nghe và trông chờ thầy (cô ) hoặc các bạn làm để chép

Khoảng 30,5% học sinh được điều tra chỉ chú ý tới các công thức, tích cực học theo nghĩa làm thật nhiều bài tập theo các bài tập mẫu tương tự mà GV đã chữa

mà không chịu suy nghĩ làm một bài tập nào đó theo các cách khác nhau có thể có

Khoảng 26,6% học sinh tính toán chưa tốt, trong đó có nhiều em lại phụ thuộc vào máy tính, không chịu tư duy khi tính toán

1.4.4 Nguyên nhân của thực trạng

Theo kết quả điều tra chúng tôi tổng hợp được những nguyên nhân chính dẫn đến việc GV ít dạy BTST là do :

- Kiểm tra , đánh giá kết quả học tập của HS chưa khuyến khích HS học tập sáng tạo ; vì thi trắc nghiệm khách quan ít kích thích được sự sáng tạo

- Nội dung kiến thức trong một bài quá nhiều, rất khó đưa thêm BTST vào các tiết dạy lí thuyết trên lớp

- Việc xây dựng BTST khá khó, mất nhiều thời gian Số lượng BTST trong sách giáo khoa, sách bài tập và trong sách tham khảo là không nhiều Mặt khác, ít

Ngày đăng: 23/07/2015, 17:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2 - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Sơ đồ 1.2 (Trang 22)
Sơ đồ 1.3 - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Sơ đồ 1.3 (Trang 23)
Hình 2.5 Hình 2.4 - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Hình 2.5 Hình 2.4 (Trang 80)
Sơ đồ như hình vẽ 2.8. Đầu B của ống cần làm thít lại. Chiều dài mà quãng  đường đi được phụ thuộc vào thế năng của lượng nước (khối lượng và độ cao của  nước) và lực cản của nước, phụ thuộc vào hình dạng, vật liệu làm tầu - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Sơ đồ nh ư hình vẽ 2.8. Đầu B của ống cần làm thít lại. Chiều dài mà quãng đường đi được phụ thuộc vào thế năng của lượng nước (khối lượng và độ cao của nước) và lực cản của nước, phụ thuộc vào hình dạng, vật liệu làm tầu (Trang 85)
Bảng 3.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm  Bài kiểm - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Bảng 3.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm Bài kiểm (Trang 91)
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả thực nghiệm sư phạm - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả thực nghiệm sư phạm (Trang 91)
Hình 3.1. Đồ thị phân bố tần suất - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Hình 3.1. Đồ thị phân bố tần suất (Trang 93)
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần suất - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần suất (Trang 93)
Bảng 3.6. Bảng phân phối tần số tích lũy - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Bảng 3.6. Bảng phân phối tần số tích lũy (Trang 94)
Bảng 3.7. Bảng tổng hợp số liệu xác định các tham số đặc trưng - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Bảng 3.7. Bảng tổng hợp số liệu xác định các tham số đặc trưng (Trang 95)
Hình vẽ đúng được 0,5điểm - Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS
Hình v ẽ đúng được 0,5điểm (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w