1. Lý do chọn đề tài Môi trường sống, hoạt động và học tập của thế hệ trẻ ngày nay có những thay đổi đáng kể. Nhịp độ phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giao lưu quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa đã và đang tạo ra những tác động phức hợp, đa chiều làm ảnh hưởng và thay đổi mạnh mẽ quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người trong xã hội hiện nay. Cục diện mới này làm cho toàn xã hội có cái nhìn và những quan điểm mới về giáo dục. Mà vấn đề đặt ra và quan tâm hiện nay là giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung và học sinh trong nhà trường nói riêng. Một thực tế trong vấn đề trung tâm liên quan đến việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là ngày nay thế hệ trẻ thường phải đương đầu với những rủi ro đe dọa đến sức khỏe, nhân cách và hạn chế cơ hội học tập. Do đó, nếu chỉ bằng thông tin không thôi thì không đủ bảo vệ họ tránh những rủi ro này. Giáo dục KNS hoặc giáo dục dựa trên tiếp cận KNS có thể cung cấp cho học sinh các KN để giải quyết các vấn đề nảy sinh từ các tình huống thách thức. Mặt khác, KNS là thành phần quan trọng của nhân cách con người trong thời đại ngày nay. Từ đây, con người muốn thành công và sống có chất lượng trong xã hội hiện đại thì đòi hỏi phải có KNS. Kỹ năng sống vừa mang tính xã hội, vừa mang tính cá nhân. Giáo dục KNS trở thành mục tiêu và là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng xuyên suốt tinh thần của một nền giáo dục toàn diện. Vì lẽ đó, nhu cầu tiếp cận KNS một cách trực tiếp hay gián tiếp, nhu cầu được thông tin, được giáo dục và được tạo cơ hội, điều kiện để phát triển KNS ở mỗi người là một nhu cầu chính đáng, trong đó có học sinh tiểu học. Cấp tiểu học là cấp học nền tảng có vị trí quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của một con người. Theo Luật giáo dục năm 2005, tại Điểm 2 - Điều 27 có nêu rõ mục tiêu của giáo dục tiểu học là “giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở ”. Và như vậy, muốn dành cho học sinh tiểu học một môi trường tốt nhất cho việc đặt nền móng về nhân cách và tạo tiền đề bền vững cho quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của học sinh thì việc quan tâm giáo dục và hình thành các KN cần thiết ban đầu ở trường tiểu học có một vai trò và ý nghĩa quyết định trong toàn bộ quá trình đó. Ở Việt Nam, từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiện giáo dục KNS cho học sinh phổ thông với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là tổ chức Unicef tại Việt Nam. Giáo dục KNS cho học sinh được thông qua việc khai thác nội dung của một số môn học có ưu thế như các môn học: Tự nhiên xã hội, đạo đức, mỹ thuật, thủ công...và gần đây giáo dục KNS theo hướng tích hợp ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Tuy nhiên, việc tích hợp giáo dục KNS vào nội dung môn học hay hoạt động nào, bằng phương pháp gì, thời lượng, cơ cấu chương trình và cách tổ chức thực hiện ra sao để đạt được hiệu quả cao nhất đó là điều mà hiện nay nhiều nhà quản lý, nhà giáo tâm huyết quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu. Qua một thời gian tiếp cận đường lối giáo dục KNS thông qua việc tích hợp vào dạy học môn học trong chương trình giáo dục, chúng ta nhìn ra một vấn đề rằng với thời lượng quy định của một tiết học giáo viên không thể truyền tải hết nội dung, tinh thần về KN nào đó có thể tích hợp để giáo dục học sinh như mong muốn và học sinh cũng khó có khả năng thể nghiệm được những tri thức thu nhận được qua các bài học. Vì vậy, phương thức tích hợp giáo dục KNS cho học sinh đồng bộ trên tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường theo hướng tiếp cận KNS gắn với thực tiễn và nền tảng giá trị sống là sự lựa chọn tối ưu cho giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho học sinh phổ thông nói chung và học sinh tiểu học nói riêng. Bởi lẽ, giáo dục KNS phải thông qua hoạt động và chỉ có thông qua hoạt động mới có thể hình thành KN, nâng cao nhận thức, phát triển thái độ, tình cảm, niềm tin, bản lĩnh cũng như sự năng động, sáng tạo và khả năng tự bảo vệ ở mỗi học sinh và hơn thế nữa qua hoạt động giáo dục trong nhà trường với hệ thống nội dung đa dạng, cập nhật và phù hợp với đối tượng giáo dục; hình thức phong phú, thiết thực và sáng tạo chúng ta có thể đạt được mục tiêu thực hiện đảm bảo nguyên lý giáo dục như ở Điều 3- Mục 2 Luật giáo dục 2005 đã xác định “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Với tinh thần trên, là người trực tiếp quản lý cơ sở giáo dục tiểu học trong ngành giáo dục huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, tác giả cũng không nằm ngoài sự lựa chọn đó. Huyện Chư Pưh tỉnh Gia Lai là một huyện mới được thành lập năm 2009. Với đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa, giáo dục của một huyện miền núi thuộc vùng kinh tế mới của khu vực Tây Nguyên, huyện Chư Pưh có những nét đặc trưng vùng miền như dân số trẻ, đa sắc tộc, đa văn hóa...Yếu tố vùng miền đã tạo ra nhiều thách thức trong vấn đề dân sinh, dân trí và nhiều thiệt thòi về đời sống vật chất và tinh thần của thế hệ trẻ, trong đó có học sinh tiểu học mà đặc biệt là học sinh tiểu học đồng bào dân tộc thiểu số. Trong những năm qua, việc triển khai thực hiện hoạt động giáo dục KNS trong các trường tiểu học trên toàn huyện còn mang tính bị động, khuôn mẫu, đơn điệu, chiếu lệ và theo thời vụ. Thời lượng cũng như định lượng và sự quan tâm dành cho hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở các trường còn rất hạn chế. Hầu như chỉ được quan tâm tích hợp giáo dục tự phát trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thậm chí còn nhầm lẫn đánh đồng mục tiêu giáo dục KNS với mục tiêu giáo dục ngoài giờ lên lớp trong quá trình quản lý và tổ chức thực hiện. Mà hiện tại, phần lớn ở các trường trên địa bàn huyện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp diễn ra còn nặng tính hình thức, lặp đi lặp lại theo định kỳ về nội dung, hình thức, chủ đề, chủ điểm trong nhiều năm học. Một số trường còn xem nhẹ, bỏ ngỏ hoạt động này vì đổ lỗi cho điều kiện nhà trường, đối tượng học sinh...Đa số các trường triển khai thực hiện tích hợp giáo dục KNS trong các môn học, tiết học ... và chỉ là thực hiện tuyên truyền giáo dục đơn thuần chứ chưa thực sự quan tâm tổ chức một hoạt động giáo dục chuyên biệt, đúng tinh thần. Trong khi đó, học sinh tiểu học ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số nói chung và học tiểu học ở huyện Chư Pưh nói riêng rất thiếu thốn về KNS do điều kiện hoàn cảnh mang lại. Sự thiệt thòi và thiếu hụt về KNS của các em dẫn đến những hậu quả, hệ lụy đáng tiếc trên toàn huyện trong vài năm gần đây, đáng để suy ngẫm về trách nhiệm của các nhà quản lý, nhà giáo, các cấp ngành liên quan và trong toàn xã hội. Việc quản lý giáo dục KNS trong nhà trường đúng hướng, đúng nhu cầu góp phần tăng tính hiệu quả giáo dục toàn diện cho ngành giáo dục huyện nhà; tạo ra cơ hội và điều kiện để học sinh được tiếp cận với những kiến thức, kỹ năng thiết thực cho chính bản thân các em. Từ những lý do trên, với cương vị là Hiệu trưởng trường tiểu học, tác giả lựa chọn vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai” để nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý giáo dục.
Trang 1HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HUỲNH TRỌNG CANG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC CỦA HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2014
Trang 2HUỲNH TRỌNG CANG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC CỦA HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Hữu Hoan
HÀ NỘI, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sựquan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cấp lãnh đạo cùng bạn bè, đồng nghiệp.Với tình cảm chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới:
- Học viện Quản lý giáo dục, Trung tâm Đào tạo Sau đại học, các thầy côgiáo trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ trong thời gian học tập và nghiên cứu
- Lãnh đạo UBND huyện Chư Pưh và Phòng GD và ĐT huyện Chư Pưh, Bangiám hiệu, cán bộ Đoàn – Đội, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh các trườngtiểu học trên địa bàn huyện Chư Pưh đã tạo điều kiện, cộng tác, cung cấp thông tincho hoạt động nghiên cứu đề tài
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Hữu Hoan người
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Huỳnh Trọng Cang
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH Ban giám hiệuCBQL Cán bộ quản lýCSVC Cơ sở vật chất
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục 16
1.2.3 Quản lý nhà trường 18
1.3 Giáo dục kỹ năng sống 19
1.3.1 Kỹ năng sống 19
1.3.2 Giáo dục kỹ năng sống 25
1.3.3 Yêu cầu về giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học theo định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo 26
1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học 33
1.4.1 Quản lý mục tiêu, nội dung và chương trình của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học 33
1.4.2 Quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học 34
1.4.3 Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học 36
1.4.4 Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học 37
1.4.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học 38
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong trường tiểu học 39
Trang 61.5.1 Một số vấn đề về kỹ năng sống của học sinh tiểu học miền núi, vùng
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên 39
1.5.2 Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và và các lực lượng giáo dục .43
1.5.3 Trình độ năng lực của đội ngũ giáo viên 43
1.5.4 Nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng sống 43
1.5.5 Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống 44
1.5.6 Phương pháp kiểm tra đánh giá và cơ chế động viên khen thưởng 44
Tiểu kết chương 1 45
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 46
CỦA HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI 46
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai 46
2.2 Thực trạng giáo dục Tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai 46
2.2.1 Quy mô phát triển trường 47
2.2.2 Về hoạt động dạy và học 49
2.2.3 Công tác phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý 52
2.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục và công tác phong trào 53
2.2.5 Đánh giá chung về thực trạng giáo dục tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai 54
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai 56
2.3.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 56
2.3.2 Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và cộng đồng về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các nhà trường 57
2.3.3 Thực trạng về quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học 65
2.3.4 Thực trạng về quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của Ban giám hiệu các nhà trường 76
2.3.5 Thực trạng quản lý tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học 78
2.3.6 Thực trạng về chỉ đạo triển khai hoạt động giáo dục KNS cho HS ở các trường tiểu học 84
Trang 72.3.7 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo
dục giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học 90
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai 91
2.4.1 Những kết quả đạt được 91
2.4.2 Một số hạn chế, tồn tại 92
Tiểu kết chương 2 95
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC CỦA HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI 97
3.1 Định hướng triển khai hoạt động giáo dục kỹ năng sống 97
3.2 Các nguyên tắc đề xuất 98
3.3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai 100
3.3.1 Kế hoạch hóa toàn diện công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống đảm bảo tuân thủ quy chế của ngành và phù hợp với điều kiện của trường cũng như tình hình thực tế tại địa phương 100
3.3.2 Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường về vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học 102
3.3.3 Quản lý hiệu lực công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho đội ngũ giáo viên, nhân viên, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường 104
3.3.4 Quản lý hiệu quả và bền vững việc phối hợp, huy động các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tham gia vào tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 107
3.3.5 Chỉ đạo tăng cường tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học môn học và các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường 113
3.3.6 Quản lý chặt chẽ công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường 126
3.3.7 Đổi mới tích cực công tác kiểm tra, đánh giá và thi đua, khen thưởng cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường 127
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 130
3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 131
Trang 83.5.1 Mục đích khảo nghiệm 131
3.5.2 Đối tượng khảo nghiệm 131
3.5.3 Nội dung khảo nghiệm 131
3.5.4 Phương pháp khảo nghiệm 131
Tiểu kết chương 3 133
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 134
1 Kết luận 134
2 Khuyến nghị 135
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 137 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê trường, lớp và học sinh của các trường tiểu học 47Bảng 2.2 Thống kê đội ngũ cán bộ, giáo viên và công nhân viên của
các trường tiểu học
48
Bảng 2.3 Thống kê chất lượng đội ngũ của các trường tiểu học 48Bảng 2.4 Thống tình hình cơ sở vật chất của các trường tiểu học 49Bảng 2.5 Thống kê kết quả xếp loại học lực của học sinh 51Bảng 2.6 Thống kê kết quả xếp loại hạnh kiểm củ học sinh 51Bảng 2.7 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của CBQL, GV, cha mẹ
học sinh và cộng đồng về hoạt động giáo dục KNS
58
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của CBQL và GV về vai
trò của GVCN trong tổ chức giáo dục KNS
59
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của CBQL và GV về vai
trò của Cán bộ Đoàn, Đội trong tổ chức giáo dục KNS chohọc sinh
60
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát sự quan tâm của cha mẹ học sinh trong
việc tìm hiểu về năng lực KNS của con em mình
61
Bảng 2.11 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của cha mẹ học sinh về
bản chất và mức độ cần thiết của việc giáo dục KNS
61
Bảng 2.12 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của CBQL về nội dung
quản lý hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường
62
Bảng 2.13 Kết quả khảo sát mức độ đánh giá của GV về năng lực KNS
hiện tại của học sinh trong nhà trường
66
Bảng 2.14 Kết quả khảo sát đánh giá của GV về mức độ thực hiện mục
tiêu, nội dung, chương trình giáo dục KNS hiện nay
70
Bảng 2.15 Kết quả khảo sát đánh giá của GV về việc vận dụng môi
trường giáo dục trong việc tổ chức thực hiện mục tiêu, nộidung, chương trình giáo dục KNS cho học sinh
71
Bảng 2.16 Kết quả khảo sát đánh giá của Cán bộ Đoàn, Đội và GV về
mức độ thực hiện giáo dục KNS thông qua hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp và hoạt động tập thể
72
Bảng 2.17 Kết quả khảo sát thực trạng về quản lý xây dựng kế hoạch
giáo dục KNS trong nhà trường
77Bảng 2.18 Kết quả khảo sát thực trạng về mức độ tham gia phối hợp 79
Trang 10giáo dục KNS giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoàinhà trường với GVCN
Bảng 2.19 Kết quả khảo sát thực trạng về hứng thú và mức độ tham gia
của HS trong các hoạt động giáo dục KNS
80
Bảng 2.20 Kết quả khảo sát thực trạng về mức độ tổ chức các hoạt
động giáo dục KNS ở môi trường ngoài nhà trường và sựtham gia của cộng đồng
83
Bảng 2.21 Kết quả khảo sát thực trạng về thực hiện giáo dục KNS cho
HS của GVCN
85
Bảng 2.22 Kết quả khảo sát thực trạng về thực hiện giáo dục KNS cho
HS của cán bộ Đoàn – Đội
87
Bảng 2.23 Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL về những khó khăn nhất
trong quá trình tổ chức thực hiện giáo dục KNS
89
Bảng 2.24 Kết quả khảo sát về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá
hoạt động giáo dục KNS của BGH
90
Bảng 3.25 Thống kê kết quả khảo sát ý kiến của CBQL và GV về mức
độ cần thiết của 7 biện pháp đề xuất
131
Bảng 3.26 Thống kê kết quả khảo sát ý kiến của CBQL và GV về mức
độ khả thi của 7 biện pháp đề xuất
132
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
1 Sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Sự tác động giữa các yếu tố trong quản lý 12
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý 15
2 Biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Mức độ quan tâm giáo dục KNS cho học sinh ở các
Biểu đồ 2.2 Lý do học sinh thích tham gia các hoạt động giáo dục
Biểu đồ 2.3 Lý do học sinh không thích tham gia các hoạt động
giáo dục KNS trong các trường tiểu học 82
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môi trường sống, hoạt động và học tập của thế hệ trẻ ngày nay có những thayđổi đáng kể Nhịp độ phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giao lưuquốc tế trong thời đại toàn cầu hóa đã và đang tạo ra những tác động phức hợp, đachiều làm ảnh hưởng và thay đổi mạnh mẽ quá trình hình thành và phát triển nhân cáchcủa con người trong xã hội hiện nay Cục diện mới này làm cho toàn xã hội có cái nhìn
và những quan điểm mới về giáo dục Mà vấn đề đặt ra và quan tâm hiện nay là giáodục KNS cho thế hệ trẻ nói chung và học sinh trong nhà trường nói riêng
Một thực tế trong vấn đề trung tâm liên quan đến việc giáo dục KNS cho thế
hệ trẻ là ngày nay thế hệ trẻ thường phải đương đầu với những rủi ro đe dọa đến sứckhỏe, nhân cách và hạn chế cơ hội học tập Do đó, nếu chỉ bằng thông tin khôngthôi thì không đủ bảo vệ họ tránh những rủi ro này Giáo dục KNS hoặc giáo dụcdựa trên tiếp cận KNS có thể cung cấp cho học sinh các KN để giải quyết các vấn
đề nảy sinh từ các tình huống thách thức Mặt khác, KNS là thành phần quan trọngcủa nhân cách con người trong thời đại ngày nay Từ đây, con người muốn thànhcông và sống có chất lượng trong xã hội hiện đại thì đòi hỏi phải có KNS Kỹ năngsống vừa mang tính xã hội, vừa mang tính cá nhân Giáo dục KNS trở thành mụctiêu và là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng xuyên suốt tinh thần của một nền giáodục toàn diện Vì lẽ đó, nhu cầu tiếp cận KNS một cách trực tiếp hay gián tiếp, nhucầu được thông tin, được giáo dục và được tạo cơ hội, điều kiện để phát triển KNS
ở mỗi người là một nhu cầu chính đáng, trong đó có học sinh tiểu học
Cấp tiểu học là cấp học nền tảng có vị trí quan trọng trong việc hình thành vàphát triển nhân cách toàn diện của một con người Theo Luật giáo dục năm 2005, tạiĐiểm 2 - Điều 27 có nêu rõ mục tiêu của giáo dục tiểu học là “giúp học sinh hìnhthành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ,thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở ”
Và như vậy, muốn dành cho học sinh tiểu học một môi trường tốt nhất cho việc đặtnền móng về nhân cách và tạo tiền đề bền vững cho quá trình phát triển và hoànthiện nhân cách của học sinh thì việc quan tâm giáo dục và hình thành các KN cầnthiết ban đầu ở trường tiểu học có một vai trò và ý nghĩa quyết định trong toàn bộquá trình đó
Trang 13Ở Việt Nam, từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiệngiáo dục KNS cho học sinh phổ thông với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặcbiệt là tổ chức Unicef tại Việt Nam Giáo dục KNS cho học sinh được thông quaviệc khai thác nội dung của một số môn học có ưu thế như các môn học: Tự nhiên
xã hội, đạo đức, mỹ thuật, thủ công và gần đây giáo dục KNS theo hướng tích hợp
ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường Tuy nhiên, việctích hợp giáo dục KNS vào nội dung môn học hay hoạt động nào, bằng phươngpháp gì, thời lượng, cơ cấu chương trình và cách tổ chức thực hiện ra sao để đạtđược hiệu quả cao nhất đó là điều mà hiện nay nhiều nhà quản lý, nhà giáo tâmhuyết quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu
Qua một thời gian tiếp cận đường lối giáo dục KNS thông qua việc tích hợpvào dạy học môn học trong chương trình giáo dục, chúng ta nhìn ra một vấn đề rằngvới thời lượng quy định của một tiết học giáo viên không thể truyền tải hết nộidung, tinh thần về KN nào đó có thể tích hợp để giáo dục học sinh như mong muốn
và học sinh cũng khó có khả năng thể nghiệm được những tri thức thu nhận đượcqua các bài học Vì vậy, phương thức tích hợp giáo dục KNS cho học sinh đồng bộtrên tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường theo hướng tiếpcận KNS gắn với thực tiễn và nền tảng giá trị sống là sự lựa chọn tối ưu cho giảipháp nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho học sinh phổ thông nói chung và họcsinh tiểu học nói riêng Bởi lẽ, giáo dục KNS phải thông qua hoạt động và chỉ cóthông qua hoạt động mới có thể hình thành KN, nâng cao nhận thức, phát triển thái
độ, tình cảm, niềm tin, bản lĩnh cũng như sự năng động, sáng tạo và khả năng tự bảo
vệ ở mỗi học sinh và hơn thế nữa qua hoạt động giáo dục trong nhà trường với hệthống nội dung đa dạng, cập nhật và phù hợp với đối tượng giáo dục; hình thứcphong phú, thiết thực và sáng tạo chúng ta có thể đạt được mục tiêu thực hiện đảmbảo nguyên lý giáo dục như ở Điều 3- Mục 2 Luật giáo dục 2005 đã xác định “Học
đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn,giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Với tinhthần trên, là người trực tiếp quản lý cơ sở giáo dục tiểu học trong ngành giáo dụchuyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, tác giả cũng không nằm ngoài sự lựa chọn đó
Huyện Chư Pưh tỉnh Gia Lai là một huyện mới được thành lập năm 2009.Với đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa, giáo dục của một huyện miền núi
Trang 14thuộc vùng kinh tế mới của khu vực Tây Nguyên, huyện Chư Pưh có những nét đặctrưng vùng miền như dân số trẻ, đa sắc tộc, đa văn hóa Yếu tố vùng miền đã tạo ranhiều thách thức trong vấn đề dân sinh, dân trí và nhiều thiệt thòi về đời sống vậtchất và tinh thần của thế hệ trẻ, trong đó có học sinh tiểu học mà đặc biệt là học sinhtiểu học đồng bào dân tộc thiểu số Trong những năm qua, việc triển khai thực hiệnhoạt động giáo dục KNS trong các trường tiểu học trên toàn huyện còn mang tính bịđộng, khuôn mẫu, đơn điệu, chiếu lệ và theo thời vụ Thời lượng cũng như địnhlượng và sự quan tâm dành cho hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở các trườngcòn rất hạn chế Hầu như chỉ được quan tâm tích hợp giáo dục tự phát trong cáchoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thậm chí còn nhầm lẫn đánh đồng mục tiêugiáo dục KNS với mục tiêu giáo dục ngoài giờ lên lớp trong quá trình quản lý và tổchức thực hiện Mà hiện tại, phần lớn ở các trường trên địa bàn huyện hoạt độnggiáo dục ngoài giờ lên lớp diễn ra còn nặng tính hình thức, lặp đi lặp lại theo định
kỳ về nội dung, hình thức, chủ đề, chủ điểm trong nhiều năm học Một số trườngcòn xem nhẹ, bỏ ngỏ hoạt động này vì đổ lỗi cho điều kiện nhà trường, đối tượnghọc sinh Đa số các trường triển khai thực hiện tích hợp giáo dục KNS trong cácmôn học, tiết học và chỉ là thực hiện tuyên truyền giáo dục đơn thuần chứ chưathực sự quan tâm tổ chức một hoạt động giáo dục chuyên biệt, đúng tinh thần.Trong khi đó, học sinh tiểu học ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số nói chung và họctiểu học ở huyện Chư Pưh nói riêng rất thiếu thốn về KNS do điều kiện hoàn cảnhmang lại
Sự thiệt thòi và thiếu hụt về KNS của các em dẫn đến những hậu quả, hệ lụyđáng tiếc trên toàn huyện trong vài năm gần đây, đáng để suy ngẫm về trách nhiệmcủa các nhà quản lý, nhà giáo, các cấp ngành liên quan và trong toàn xã hội Việcquản lý giáo dục KNS trong nhà trường đúng hướng, đúng nhu cầu góp phần tăngtính hiệu quả giáo dục toàn diện cho ngành giáo dục huyện nhà; tạo ra cơ hội vàđiều kiện để học sinh được tiếp cận với những kiến thức, kỹ năng thiết thực chochính bản thân các em
Từ những lý do trên, với cương vị là Hiệu trưởng trường tiểu học, tác giả lựa
chọn vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai” để nghiên cứu trong luận văn
tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý giáo dục
Trang 152 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục KNS cho học sinh tiểuhọc và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tại các trường tiểuhọc của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạtđộng giáo dục KNS hiệu quả và phù hợp với thực tiễn địa phương, góp phần nângcao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung và chất lượng giáo dục KNS nói riêng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở các trường tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở các trường tiểuhọc của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
4 Giả thuyết khoa học
KNS của học sinh tiểu học vùng nông thôn miền núi huyện Chư Pưh, tỉnhGia Lai còn rất nhiều hạn chế do điều kiện hoàn cảnh và cơ hội học tập mang lại:Học sinh thiếu tự tin trong giao tiếp, khả năng tự hòa nhập với môi trường ngoàicộng đồng đang sinh sống chậm thích nghi và kém linh hoạt, năng lực bản thântrong giải quyết vấn đề, xử lý tình huống và tự vệ cá nhân trước nguy cơ đe dọa đếnsức khỏe, nhân cách và cơ hội học tập còn nhiều yếu kém ,…Trong khi đó, công tácquản lý hoạt động này trong các trường chưa thực sự được quan tâm, không có dấuhiệu cải tiến và tích cực Nếu áp dụng được các biện pháp quản lý hoạt động giáodục KNS trong nhà trường làm tăng hiệu quả tính phối hợp tương tác thông qua bamôi trường: gia đình, nhà trường và xã hội, gắn kết đồng bộ tinh thần giáo dụcthông qua dạy chữ để dạy người, tạo ra cơ hội cho người học được trải nghiệm,được rèn luyện để hình thành nên thái độ, hành vi, KN và niềm tin bản thân… sẽgóp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho các trường tiểu học của huyệnChư Pưh, tỉnh Gia Lai, đồng thời góp phần rút ngắn khoảng cách về dân sinh, dântrí, về năng lực cá nhân giữa dân tộc kinh và dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động giáo dục KNScho học sinh trong trường tiểu học
Trang 16- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh
ở các trường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở cáctrường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
- Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi các biện pháp đề xuất trong luận văn
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNScho học sinh ở các trường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai Trong đó, tậptrung vào việc quản lý tổ chức thực hiện giáo dục các KNS cơ bản và thiết thực đốivới học sinh tiểu học vùng miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chú trọngđến những KN hữu dụng mang tính vùng miền và khai thác những KN mang tínhthời sự của xã hội
6.2 Về địa bàn nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu được triển khai tại các trường tiểu học trên địa bàn huyệnChư Pưh, tỉnh Gia Lai với 4 trường tiểu học đại diện cho 3 khu vực phát triển của huyện:khu vực trung tâm huyện, khu vực nông thôn và khu vực có nhiều khó khăn
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và các tiếp cận hệ thống,
tiếp cận tích hợp trong nghiên cứu đề tài luận văn.
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhànước về vấn đề hoạt động giáo dục trong nhà trường và giáo dục kỹ năng sống chohọc sinh phổ thông, trong đó có học sinh tiểu học; phân tích tổng hợp những tư liệu,tài liệu lý luận, những kết quả nghiên cứu lý thuyết và những kết quả khảo sát, đánhgiá về việc quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong trường tiểu học đểxây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Trang 17Phương pháp được thực hiện nhằm thu thập thông tin từ các đối tượng thôngqua việc trưng cầu ý kiến về các vấn đề liên quan đến thực trạng vấn đề nghiên cứu.Các đối tượng tham gia điều tra gồm giáo viên, học sinh và cán bộ quản lý cáctrường tiểu học.
+ Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp được thực hiện nhằm tìm hiểu thu thập thông tin về các nguyênnhân về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở các trường tiểuhọc và tìm hiểu quan điểm của các đối tượng được phỏng vấn vấn đề nghiên cứu
+ Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến các chuyên gia về một số kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn.Đồng thời thông qua đó để đánh giá tính khả thi của của các biện pháp quản lý hoạtđộng giáo dục KNS cho học sinh tiểu học
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm của các trường trên địa bàn nghiên cứu về công tácquản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học
7.2.3 Phương pháp hỗ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả điều tra bằngphiếu hỏi
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh trong trường tiểu học
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh ở các trường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh ở các trường tiểu học của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Thuật ngữ Kỹ năng sống (KNS) được người Việt Nam biết đến từ chương
trình UNICFF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Thông qua quá trình
hoạt động chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS càngngày được mở rộng
Trong giai đoạn đầu tiên, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề “Giáo dục sức khỏe cho thanh thiếu niên” Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm
KNS và giáo dục KNS đã được mở rộng và phát triển sâu sắc hơn
Về vấn đề KNS và giáo dục KNS, ngay giai đoạn đầu đã có những nghiêncứu theo xu hướng xác định những kỹ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động màthanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành các kỹ năng này
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng đi này là: Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu niên, của tác giả Phạm Văn Nhân [24]; Kỹ năng thanh niên tình nguyện, tác giả Trần Thời [29] Một trong những người tập trung nghiên
cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả NguyễnThanh Bình [2,3,4] với hàng loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo,…tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng
kể trong việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS, giáo dục KNS và quản lýhoạt động giáo dục này
Về vấn đề quản lý giáo dục KNS trong nhà trường, giai đoạn đầu và trongnhững năm trước đây thực chất là quản lý hoạt động giáo dục và quản lý hoạt độnggiáo dục ngoài giờ lên lớp bởi nội dung của KNS và giáo dục KNS được tích hợptrong cả giáo dục chính khóa và giáo dục ngoại khóa Vì thế nên mặc dù có rấtnhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhưngxét cho cùng thì mục tiêu về giáo dục KNS chưa được thể hiện rõ, còn nhập nhằn vàmang nặng mục tiêu, nội dung, chương trình của giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 19Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã triển khai chương trình đưagiáo dục KNS vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy Nội dung giáodục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục KNS Cácnội dung giáo dục KNS cơ bản đã được triển khai ở tất cả các cấp học: Năng lựcthích nghi, năng lực hành động, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tự học suốt đời;định hướng học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến vấn đề KNS nóichung, KNS trong nhà trường nói riêng và quản lý hoạt động giáo dục KNS Ngoài
những tác giả đã nêu trên còn có: Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh [25]; Giáo dục KNS của tác giả Nguyễn Kỳ Anh – giám đốc Trung tâm giáo dục môi trường và sức khỏe cộng đồng; Một số vấn đề chung về KNS và giáo dục KNS cho học sinh ở nhà trường phổ thông của Bộ Giáo dục và
Ngô Giang Nam, trong luận án Tiến sĩ “Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc” đề cập đến vấn đề Giáo dục kỹ năng
giao tiếp là nhiệm vụ quan trọng trong mọi nhà trường, đặc biệt nhà trường tiểu học,
nó là bộ phận chủ yếu của giáo dục KNS, tạo nên hệ giá trị sống tích cực của họcsinh Giáo dục KN giao tiếp cho học sinh tiểu học được thực hiện bằng con đườngtích hợp nội dung giáo dục KN giao tiếp qua hoạt động nội khóa, qua hoạt độngngoài giờ lên lớp Các con đường này phải phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhaukhông làm quá tải nội dung chương trình Giáo dục KN giao tiếp phải thông quamối quan hệ giữa: Nhà trường - Gia đình - Xã hội, hỗ trợ bổ sung cho nhau, cùng
Trang 20hướng vào việc xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực, thực hiện tốtmục tiêu giáo dục toàn diện con người [22];
Nguyễn Kiều Duyên, trong luận văn Thạc sĩ “Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở một số trường THCS Quận Hoàn Kiếm – Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” đã chỉ ra những thực trạng trong công tác quản lý
của các nhà trường dành cho hoạt động quản lý giáo dục KNS trong giai đoạn hiệnnay, đồng thời đưa ra một số biện pháp khả thi trong việc quản lý hoạt động giáodục KNS phù hợp, sáng tạo và hiệu quả [11];…
Nhìn chung qua các đề tài nghiên cứu, vấn đề quản lý nhà nước được đề cậpđến và trong bối cảnh xã hội hóa giáo dục cũng đặt ra những vấn đề quan tâm đếngiáo dục KNS Đẩy mạnh và tăng cường giáo dục KNS đồng thời phải tổ chức giáodục KNS theo tinh thần xã hội hóa Có thể nhận thấy ở Việt Nam trong những nămgần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS và công tácquản lý giáo dục KNS trong nhà trường, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu vềlĩnh vực nội dung và phương thức giáo dục KNS, một số đề tài đã đề cập đến hìnhthức giáo dục KNS và đề xuất các biện pháp giáo dục KNS trong nhà trường,…Song, có không nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hoạt động giáo dụcKNS đồng bộ ở cả môi trường trong và ngoài nhà trường, đặc biệt là quản lý giáodục KNS trong trường tiểu học Hơn nữa, việc đưa giáo dục KNS vào các trườngtiểu học hiện nay chưa thực sự được sự quan tâm và đầu tư chưa thích đáng choviệc xây dựng kế hoạch, đầu tư các nguồn lực và chưa tập trung vào những giảipháp, biện pháp quản lý tích cực dành cho hoạt động giáo dục này Trên cơ sở kếthừa các công trình nghiên cứu của các tác giả, thông qua đề tài nghiên cứu này, tácgiả dành sự quan tâm và mong muốn nâng cao chất lượng giáo dục KNS trong cáctrường tiểu học ở huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có sự phân công lao động đãxuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt
Trang 21động lao động theo những yêu cầu nhất định Dạng lao động mang tính đặc thù đóđược gọi là hoạt động quản lý.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần có quản lý Quản lý vừa là khoa học, vừa
là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội ở tầm vi mô và vĩ mô Đó lànhững hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhautrong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu chung
Quản lý còn là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch
sử phát triển của loài người Đặc biệt phát sinh từ tính chất xã hội hóa lao động,điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính chất khoa học và nghệ thuật caonhưng đồng thời nó cũng là sản phẩm mang tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội
Sự cần thiết của quản lý được Các Mác viết “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp, hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến những mức độ nhiều hay ít sự quản lý nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy ” [21, tr.312].
Có thể xem xét quản lý dưới các góc độ khác nhau: Ở góc độ chung nhấtthì quản lý vạch ra mục tiêu cho bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiện tácđộng đến bộ máy để đạt mục tiêu đã định Ở góc độ kinh tế, quản lý là tính toán
sử dụng hợp lý nguồn lực nhằm đạt mục tiêu đề ra Ở góc độ chính trị, xã hội,quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động Ở góc độ hành động thì quản lý
là quá trình điều khiển
Sự đa dạng về cách tiếp cận dẫn đến sự phong phú về các quan niệm quản lý.Theo Harold Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự nỗ lựccủa cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất [19]
Mary Parker Follet đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý và được trích
dẫn khá nhiều là “Nghệ thuật hoàn thành công việc qua người khác”
Trang 22Một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi khác là “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt những mục đích của tổ chức” (Stoner, 1995); một số tác giả cho rằng quản lý là “Tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập
kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra ) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả”[1,10,17]
Còn với M.I Kônđacôp thì: “Bản chất của hoạt động quản lý là ở chỗ hệ quản lý (chủ thể quản lý) tác động một cách có hệ thống, có mục đích đến hệ được quản lý (khách thể quản lý), nhằm thực hiện những nhiệm vụ đề ra” [17, tr.32].
Như vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủthể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quảnlý), là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của nhữngngười khác nhằm thu được kết quả mong muốn
Khi xem xét quản lý với tư cách là một hành động, tác giả Vũ Ngọc Hải kếtluận rằng: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tớiđối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra [13]
Qua định nghĩa ta nhận ra những dấu hiệu chung của quản lý, đó là:
Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng bịquản lý, đây là mối quan hệ ra lệnh và phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc
Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luậtkhách quan
Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin
Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự biến độngkhông ngừng của kinh tế nền kinh tế - xã hội, thì quản lý đóng vai trò quyết định
sự thành bại trong mọi hoạt động Hoạt động quản lý tồn tại với 3 yếu tố cơ bản
đó là “chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý” Các yếu tố này cómối quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng nằm trong môi trường quản lý được thểhiện bằng sơ đồ sau:
Trang 23Sơ đồ 1.1 Sự tác động giữa các yếu tố trong quản lý [16, tr.13]
1.2.1.2 Các chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là một thể thống nhất hoạt động tất yếu của chủ thể quản
lý nảy sinh từ phân công chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý nhằm thực hiệnmục tiêu Quản lý bao gồm các chức năng sau:
+ Lập kế hoạch: Theo Pêter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý
hàng đầu đương đại đã đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (Tức là khả năng làmnhững việc “đúng”) và tính hiệu quả (Tức là khả năng làm đúng việc) Ông chorằng tính hiệu nghiệm là quan trọng hơn bởi vẫn có thể đạt được hiệu quả khi chọnsai mục tiêu Hai tiêu chuẩn này song hành với hai khía cạnh của kế hoạch xác địnhnhững mục tiêu “đúng” để đạt được các mục tiêu này, cả hai khía cạnh đó đều có ýnghĩa sống còn đối với quá trình quản lý
Nhiều thuyết gia quản lý cho rằng, kế hoạch hóa là cái khởi nguyên của mọihoạt động, mọi chức năng quản lý Nếu không có kế hoạch thì không biết tổ chứcnhân sự và các nguồn nhân lực khác nhau như thế nào Không có kế hoạch hóangười quản lý không thể chỉ dẫn, lãnh đạo người thuộc quyền hành động một cáchchắc chắn với những kỳ vọng đặt vào kết quả mong muốn Như vậy bản chất củakhái niệm kế hoạch hóa chính là quá trình xác định mục tiêu, xác định những biệnpháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó cùng với những điều kiện cơ sở vật chấtcung ứng cho việc thực hiện những mục tiêu đề ra Trong tất cả các chức năng quản
lý, chức năng kế hoạch hóa đóng vai trò là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản đểhoàn thành các chức năng khác Đây được coi là chức năng dẫn đường cho các chức
Công cụquản lý
Công cụquản lý
Mục tiêu quản lýMục tiêu quản lý
Trang 24năng chỉ đạo và kiểm tra Bởi trên cơ sở phân tích những thông tin quản lý, nhữngtiềm năng hiện có, những khả năng sẽ có mà xác định nội dung hoạt động, cácphương pháp tiến hành, những điều kiện đảm bảo để đưa nhà trường đạt đến mụctiêu mà nhà trường mong muốn.
Chính vì kế hoạch hóa là phương hướng cho mọi hoạt động của hệ thống tácđộng vào các mục tiêu để tạo khả năng đạt được một cách hiệu quả và cho phépngười quản lý có thể kiểm soát được quá trình tiến hành nhiệm vụ Cho nên bảnthân chức năng kế hoạch hóa bao gồm các chức năng sau: 1) Chức năng chẩn đoán;2) Chức năng dự báo; 3) Chức năng dự đoán
+ Chức năng tổ chức: Đề cập đến chức năng này, Barmard cho rằng: “Chức
năng quản lý như là hệ thống các hoạt động hay tác động có ý thức của hai hay nhiều người”
V.I.Lê Nin khẳng định: “Chúng ta hiểu rằng muốn quản lý tốt…còn phải biết tổ chức các mặt thực tiễn nữa”
Giáo trình Khoa học quản lý của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
viết: “Thứ nhất, tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có hiệu quả; Thứ hai, từ khối lượng công việc quản lý mà xác định biên chế, sắp xếp con người; Thứ ba, tạo điều kiện cho hoạt động tự giác sáng tạo của các thành viên trong tổ chức, tạo nên sự phối hợp ăn khớp nhịp nhàng trong cơ quan quản lý và đối tượng quản lý; Thứ tư, dễ dàng cho việc kiểm tra, đánh giá.”
Như vậy, thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa conngười với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịpnhàng cho một cơ thể thống nhất Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho những tiềm năng,cho các động lực khác, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệuquả quản lý Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, điều quan trọng nhất củacông tác tổ chức là phải xác định cho được và xác định cho rõ vai trò, vị trí của mỗi
cá nhân, mỗi thành viên, các bộ phận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ - yếu tố đảmbảo sự thành công trong quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
+ Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý
đến hành vi, thái độ con người nhằm đạt được mục tiêu đề ra Quá trình đó thể hiện
Trang 25ở sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức góp phầnthực hiện tốt các mục tiêu đề ra Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sựtác động lên con người trong hệ thống quản lý, thực hiện mối quan hệ giữa conngười với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự giác vàhăng hái phấn đấu trong công việc.
Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, chức năng chỉ đạo có ý nghĩaquan trọng, song nó còn đòi hỏi ở năng lực phẩm chất và nghệ thuật của chủ thểquản lý trong việc chỉ đạo khách thể là những con người có trình độ năng lực và cátính phong phú
+ Chức năng kiểm tra: Là chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để
đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống quản lý, đo lường các sai lệch nảysinh trong quá trình hoạt động so với mục tiêu và kế hoạch định trước Như vậy khixác định các mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất để hoàn thành mục tiêu
và triển khai các hoạt động tổ chức, chỉ đạo thực hiện hóa các mục tiêu thì điềuquan trọng phải tiến hành hoạt động kiểm tra để xem xét việc triển khai các quyếtđịnh trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cần thiết trong quá trình hoạt động
để góp phần đạt tới mục tiêu mà người quản lý cần hướng đến
Trong quản lý, quản lý nhà trường, Điều 22 chương VI của quy chế về tổ
chức và hoạt động của thanh tra giáo dục ghi rõ: “Hiệu trưởng các trường, thủ trưởng các cơ sở giáo dục và đào tạo trong ngành giáo dục có trách nhiệm sử dụng
bộ máy quản lý và cán bộ trong đơn vị để kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ kế hoạch của cá nhân và của bộ phận thuộc quyền, xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo các vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý của mình Các hoạt động kiểm tra được tiến hành thường xuyên, công khai dân chủ, kết quả được ghi nhận bằng văn bản và lưu trữ Hiệu trưởng hay thủ trưởng phải chịu trách nhiệm về các kết luận kiểm tra này”.
Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác kế hoạchhóa, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đổi mới cơ chế quản lý, phương pháp quản
lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nói chung và quản lý giáo dục,quản lý nhà trường nói riêng Tóm lại, kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra là
Trang 26các chức năng cơ bản được hình thành trong sự phân công và chuyên môn hóa hoạtđộng quản lý Bốn chức năng này gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen nhau, khi thựchiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năng khác ở các mức độ khácnhau Trong quản lý, việc vận dụng các chức năng này là hết sức linh hoạt, phụthuộc vào tính chất hoạt động và thực tế của đơn vị Mối quan hệ được thể hiện ở
mô hình dưới đây:
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ mối quan hệ giữa các chức năng quản lý [30, tr.49]
1.2.1.3 Phương pháp quản lý
Phương pháp quản lý là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượngquản lý nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đề ra Trong nhà trường thường sửdụng một số phương pháp sau:
Phương pháp tổ chức hành chính: Là phương pháp tác động trực tiếp của chủthể quản lý lên các đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính bắt buộc nhưnghị định, nghị quyết, văn bản quy chế, quy định, nội quy Phương pháp tổ chứchành chính là vô cùng cần thiết trong mọi hoạt động quản lý Tuy nhiên, khi sửdụng phương pháp này cần chú ý không nên lạm dụng nó vì sẽ dẫn đến tình trạngquan liêu, mệnh lệnh
Phương pháp kinh tế: là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động gián tiếpđến các đối tượng được quản lý dựa trên các lợi ích vật chất và các đòn bẩy kinh tế
để làm cho các đối tượng được quản lý phải suy nghĩ đến lợi ích của mình, tự giác
Kiểm tra
Lập kế hoạch
Chỉ đạo
Tổ chức
Trang 27thể hiện bổn phận và trách nhiệm một cách tốt nhất mà không phải đôn đốc nhắcnhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thể quản lý Những phương phápkinh tế các nhà trường thường áp dụng như: cộng điểm rèn luyện, thưởng, phạt,tuyên dương,…
Phương pháp tâm lý – xã hội: đặc điểm của phương pháp này là sự kích thíchđối tượng quản lý sao cho họ luôn luôn toàn tâm toàn ý với công việc, coi nhữngmục tiêu nhiệm vụ của quản lý như là mục tiêu công việc của chính họ, hơn nữa họluôn cố gắng học hỏi tích lũy kinh nghiệm ngày càng tốt hơn, đoàn kết giúp đỡ nhauhoàn thành tốt nhiệm vụ
1.2.2 Quản lý giáo dục
1.2.2.1 Khái niệm
Xét về mặt lịch sử của khoa học thì khoa học quản lý giáo dục ra đời saukhoa học quản lý kinh tế Cho nên trong các nước tư bản chủ nghĩa thường vậndụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trường học) và cơ sở củaquản lý giáo dục như quản lý một loại xí nghiệp đặc biệt
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mảng công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [1, tr.31].
Quản lý giáo dục là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, nó đãxuất hiện từ lâu và tồn tại trong suốt tiến trình lịch sử phát triển giáo dục của xã hội.Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệmquản lý giáo dục
Theo P.V.Khuđôminxki: “Quản lý giáo dục là tác động một cách có
hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, và có mục đích của các chủ thể quản lý các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng cả những quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như quy luật khách quan của quá trình giáo dục, học tập, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanh niên” [15, tr.44].
Trang 28Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra một khái niệm vừa khái quátnhưng vẫn cụ thể, hợp lý và dễ hiểu của khái niệm quản lý giáo dục (và cũng là của
khái niệm quản lý trường học): “Quản lý giáo dục cũng là quản lý nhà trường, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [12, tr.61].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [27, tr.35].
Trong luận văn này, xin đề cập đến quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp trongphạm vi quản lý một trường học
Bản chất của quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý nghĩa của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.
1.2.2.2 Các nguyên tắc quản lý
Trong việc quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…) màyếu tố chủ yếu là con người, các nhà quản lý thường vận dụng các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng: Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất
cầm quyền Vì thế trong quản lý phải bám sát đường lối, chủ trương chính sách củaĐảng trong mọi hoạt động
Nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng
quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan quyền lực với sứcmạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý Tậptrung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống được tập trungvào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch ra đường lối, chủtrương, phương hướng, mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản để thựchiện Nguyên tắc này được thể hiện qua chế độ một thủ trưởng
Trang 29Dân chủ trong quản lý được hiểu là việc phát huy quyền làm chủ của mọithành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ Dân chủ được thể hiện ở chỗ cácchỉ tiêu, kế hoạch hoạt động đều được tập thể tham gia bàn bạc, kiến nghị các biệnpháp trước khi thủ trưởng ra quyết định.
Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và thực tiễn: Nguyên tắc này đòi hỏi
người quản lý phải nắm được quy luật của hệ thống, nắm vững quy luật tâm lý củaquá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địa phương, thực tiễn ngành mình, đảm bảo hàihòa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, đảm bảo hiệu quả kinh tế, đảm bảo vai tròquần chúng tham gia trong quá trình quản lý
1.2.3 Quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức giáo dục, là một đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thốnggiáo dục quốc dân
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy
và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [27, tr.34].
Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh cùng các cộng sự cho rằng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [26, tr.135].
Theo Phạm Khắc Chương; “Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường
là một phương hướng cải tiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trường nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể quản lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo mà xã hội đang yêu cầu.
Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực hiện mục tiêu đào tạo giáo dục nhân cách, bằng việc truyền thụ những tri thức, đạo đức mà nhân loại
đã sàng lọc, triết xuất được cho thế hệ trẻ Vì vậy, nhà trường trong bất cứ xã hội nào cũng là tâm điểm hội tụ của hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục” [10].
Trang 30Như vậy, quản lý nhà trường về bản chất là quản lý người dạy và người học,
là giáo viên và học sinh Giáo viên và học sinh vừa là chủ thể quản lý vừa là đốitượng quản lý Với tư cách là đối tượng quản lý, họ là đối tượng bị tác động của chủthể quản lý (Hiệu trưởng) Với tư cách là chủ thể quản lý, giáo viên và học sinh làngười tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lý Quản lý nhà trường làtrách nhiệm chung của mọi thành viên trong nhà trường Bản chất của quản lý nhàtrường là quản lý con người và vật chất, là nội dung của các hoạt động tương ứngvới từng nhiệm vụ quản lý ở các đối tượng quản lý đó
Quản lý nhà trường về hình thức là một chuỗi tác động hợp lý có mục đích,
có kế hoạch, có hệ thống, có tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến đốitượng quản lý là tập thể giáo viên và học sinh và những lực lượng giáo dục trong vàngoài nhà trường phối hợp tham gia vào các hoạt động của nhà trường làm cho quátrình này vận hành theo những mục tiêu đề ra
Một số tác giả khác như A.Danhilov, M.N Xkaltkin, B.P Exipov, NguyễnVăn Hoan quan niệm KN là khả năng con người thực hiện có hiệu quả hành độngtương ứng với các mục đích, điều kiện trong hành động xảy ra KN mang tính kháiquát được sử dụng trong các tình huống khác nhau, chỉ khi đã nắm vững kiến thứcmới hình thành được KN Vậy kỹ năng là gì?
Theo thuyết về cấu trúc hoạt động thì trong hoạt động có thể có nhiều hànhđộng Mỗi hành động đều có mục đích Trong mỗi hành động có nhiều thao tác(thao tác trên đối tượng và thao tác tư duy )
Trang 31Với các hành động có mục đích khác nhau, cần lựa chọn các thao tác, quytrình thực hiện khác nhau Nghĩa là muốn hành động có kết quả phải biết lựa chọncác thao tác hướng đích, sắp xếp được chúng theo một trình tự nhất định sao cho khithực hiện theo trình tự đó, hành động sẽ đạt kết quả.
Để đạt tới cùng một mục đích của hành động, người ta có thể lựa chọn cácthao tác khác nhau và quy trình hành động khác nhau Đó là tính linh hoạt, sáng tạotrong hành động
Các thao tác lựa chọn có thể giống nhau nhưng khi lựa chọn quy trình thựchiện khác nhau sẽ dẫn đến những kết quả hành động khác nhau
Như vậy, nếu thực hiện thành thạo được một số thao tác nhất định có thể sắpxếp, hình thành các KN khác nhau theo mục đích hành động
Tóm lại, kỹ năng được hiểu là cách thức lựa chọn các thao tác hướng định, sắp xếp theo một trình tự nhất định, sao cho khi thực hiện theo đúng trình tự đó sẽ đạt được kết quả tương ứng với mục đích và điều kiện hành động đặt ra.
chỉ nhằm hỗ trợ sự phát triển và tăng cường sức khỏe của trẻ
Vào năm 1986, bản Hiến chương Ottawa vì tăng cường sức khỏe nhận ra Kỹnăng sống (KNS) trong ý nghĩa làm cho sức khỏe được tốt hơn Năm 1989, Côngước Quốc tế về quyền trẻ em (CRC) liên kết kỹ năng sống với giáo dục thông quatuyên bố rằng: giáo dục cần trực tiếp hướng tới sự phát triển hết tiềm năng của trẻ.Năm 1990, tuyên bố Jomtien về giáo dục cho mọi người đã nhìn nhận quan điểmnày rộng hơn và đưa KNS vào trong số các công cụ học tập trọng yếu để tồn tại, đểxây dựng năng lực và chất lượng cuộc sống Năm 2000, Hội nghị thế giới về giáo
Trang 32dục ở Dakar đề nghị tất cả trẻ em và người lớn đều có quyền hưởng lợi từ “một nền giáo dục trong đó bao gồm việc học tập để biết, để làm, để sống cùng nhau và để tồn tại” và đưa các kỹ năng sống vào “mục tiêu giáo dục cho mọi người”.
Mặc dù, ngay những năm đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hiệp Quốc như
Tổ chức Y tế Thế giới (WTO), Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF),
Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã chungsức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên Tuy nhiên, cho đếnnay khái niệm này vẫn còn khá nhiều quan niệm khác nhau:
Theo WHO (1993), KNS là năng lực tâm lý xã hội, là khả năng ứng phó mộtcách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng là khảnăng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểuhiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền vănhóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trongviệc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội KNS làkhả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này
Theo UNICEF (UNICEF Thái Lan, 1995), KNS là khả năng phân tích tìnhhuống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tìnhhuống Các KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” vàthái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế
“làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng
UNESCO (2003) quan niệm: KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủcác chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Đó là khả năng làm cho hành
vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thểkiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sốnghàng ngày [34]
Từ các quan niệm về KNS nêu trên, có thể rút ra nhận xét:
Có nhiều cách biểu đạt khái niệm KNS với quan niệm rộng hẹp khác nhautùy theo cách tiếp cận vấn đề Khái niệm KNS được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ baogồm những năng lực tâm lý xã hội (TLXH) Theo nghĩa rộng, KNS không chỉ baogồm những năng lực TLXH mà còn bao gồm những KN tâm vận động
Trang 33Mặc dù cách biểu đạt khái niệm KNS có khác nhau (việc xác định nội hàmcủa khái niệm rộng, hẹp khác nhau dẫn đến phạm vi phản ánh của khái niệm nông,sâu khác nhau) nhưng điểm thống nhất trong các quan niệm về KNS là: Khẳng địnhKNS thuộc phạm trù năng lực (hiểu KN theo nghĩa rộng) chứ không thuộc phạm trù
kỹ thuật của hành động, hành vi (hiểu KN theo nghĩa hẹp)
Do tính chất phức tạp của KNS nên trong thực tế, các tài liệu về kỹ năngsống đề cập đến mỗi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào nghề, cách họcngoại ngữ, KN làm cha mẹ đến tổ chức trại hè Tuy nhiên cần phân biệt giữa những
KN để sống còn (livelihood skills, survival skills) như học chữ, học nghề, làm toánv.v…tới bơi lội v.v… với khái niệm KNS đã được đề cập ở các định nghĩa nêu trên
Tóm lại, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khuvực và từng quốc gia Ở một số nước, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinhdưỡng và phòng bệnh Một số nước khác, KNS lại hướng vào giáo dục hành vi vàcách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục yêu hòabình Theo đó, vấn đề phát triển KNS cho thanh thiếu niên ở mỗi nước cũng khácnhau Có quốc gia chỉ hạn chế những KNS cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòngtránh các tệ nạn xã hội, nghĩa là KNS chỉ dành cho một nhóm đối tượng có nguy cơcao để đương đầu với những thách thức của xã hội, KNS không phải là cần cho mọingười Còn ở một số quốc gia khác, sự nhận thức về KNS có khác hơn, KNS đượcphát triển cho mọi đối tượng, với những KNS được trang bị đó con người có thể vậndụng vào giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huốngkhác nhau của từng loại đối tượng Tuy nhiên, xu hướng chung là sử dụng kháiniệm KNS của UNESCO (KNS theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt động pháttriển KNS cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên Điều nàyđược lý giải bởi hai ý do: Thứ nhất, nếu hiểu KNS theo nghĩa hẹp là đồng nhất KNSvới năng lực TLXH do đó làm giảm đi phạm vi ảnh hưởng cũng như tác dụng củaKNS Năng lực TLXH đề cập tới khả năng của con người biểu hiện ở những cáchứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác trong các tình huốngkhác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó Nhưng, điềucần lưu ý là, con người không chỉ cần năng lực thích ứng với các thách thức của
Trang 34cuộc sống mà còn cần và phải biết cách thay đổi linh hoạt phù hợp và mang tínhtích cực Thứ hai, khái niệm KNS theo nghĩa rộng đã bao hàm trong nó năng lựcTLXH với ý nghĩa là thành phần có vai trò chung trong việc hỗ trợ cho sức khỏetinh thần thể chất, giúp cá nhân sống hạnh phúc trong xã hội Bên cạnh đó, theonghĩa rộng, khái niệm KNS còn đề cập đến khả năng con người quản lý và kiểmsoát được các tình huống rủi ro không chỉ đối với bản thân mà còn có thể gây ảnhhưởng đến mọi người trong việc chấp nhận các biện pháp ngăn ngừa rủi ro Đâychính là khả năng con người quản lý một cách thích hợp bản thân, người khác và
xã hội trong đời sống hàng ngày
Trong luận văn này, khái niệm KNS được hiểu với nội hàm: “khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày”
Do tiếp cận KNS tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách phân loại KNS.Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình [4, tr.15-17], tồn tại các cách phânloại KNS như sau:
Phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe (WHO): Theo cách phân loại này có
3 nhóm KN: Nhóm thứ nhất, là nhóm kỹ năng nhận thức bao gồm các kỹ năng: tưduy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, tư duy phân tích, khả năngsáng tạo, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị, ; Nhóm thứ hai, là các kỹnăng đương đầu với cảm xúc bao gồm: ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế căngthẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lý, tự giám sát và tự điều chỉnh,…;Nhómthứ ba, kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác bao gồm: giao tiếp, tính quyết đoán,thương thuyết, từ chối, hợp tác, sự cảm thông, chia sẻ, khả năng nhận thấy sự thiệncảm của người khác,…
Phân loại của UNESCO: Theo cách phân loại của UNESCO thì ba nhóm nêutrên được coi là KNS chung, ngoài ra còn có những KNS thể hiện trong những vấn
đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội như:
- Vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng
- Các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản
Trang 35- Ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS
- Phòng tránh rượu, thuốc lá, ma túy
- Ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro
- Hòa bình và giải quyết xung đột
- Gia đình và cộng đồng
- Giáo dục công dân
- Bảo vệ thiên nhiên và môi trường
- Phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ…
Phân loại của tổ chức Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF): Với mục đíchgiúp cho người học có được những KN ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoànthiện mình, UNICEF đưa ra cách phân loại KNS theo các mối quan hệ sau:
- Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình bao gồm các KN: KN tự nhậnthức (self awarennes), lòng tự trọng (self esteem), sự kiên định, đương đầu với cảmxúc, đương đầu với căng thẳng
Kỹ năng nhận biết và sống với người khác bao gồm các KN: KN quan hệ tương tác liên nhân cách, sự thông cảm – thấu cảm (Empathy), đứng vững trước áplực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả
Kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả bao gồm: tư duy phê phán, tư duysáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,
…Theo các nhà nghiên cứu, trên thực tế các KNS thường không hoàn toàntách rời nhau Các KN này liên hệ mật thiết với nhau, đan xen và bổ sung cho nhaunhờ đó thanh thiếu niên có thể ứng phó linh hoạt và hiệu quả đối với những nguy cơ
và vấn đề khó khăn trong tình huống cuộc sống hàng ngày Ví dụ: Khi cần quyếtđịnh vấn đề một cách hiệu quả thì những kỹ năng sau đây thường được vận dụng:
KN tự nhận thức, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, xác định giá trị, KN kiên định
Để có thể giao tiếp một cách hiệu quả cần phối hợp những KN sau: KN nhậnthức, thương lượng, tư duy phê phán, lắng nghe tích cực, chia sẻ cảm thông, kiềm chế
Những KNS thường không được dạy một cách riêng biệt mà phải được thựchiện như một phần không thể tách rời của các chương trình giáo dục đa dạng gắnvới các bối cảnh cụ thể
Trang 361.3.2 Giáo dục kỹ năng sống
Khái niệm KNS cũng được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ xãhội và cấp độ nhà trường [2] Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ quá trìnhgiáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện thông quacác hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục là những hoạt động do các cơ sở giáodục (trường học và các cơ sở giáo dục khác) tổ chức thực hiện theo kế hoạch,chương trình giáo dục, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm Trong các hoạt độnggiáo dục, hoạt động dạy học là nền tảng và chủ đạo không chỉ trong các môn học
mà có ở tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Nó là hoạt động giáodục cơ bản nhất Hoạt động giáo dục được tổ chức có định hướng về mặt giá trịnhằm tạo ra môi trường hoạt động có định hướng cho người học Khi tham gia cáchoạt động giáo dục, người học tiến hành các hoạt động của mình theo nhữngnguyên tắc chung, những mục tiêu chung, những chuẩn mực giá trị chung và nhữngbiện pháp chung, nhờ vậy người học được giáo dục theo những tiêu chí chung (tuyhoạt động của mỗi người luôn diễn ra ở cấp độ cá nhân)
Kỹ năng sống được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành vilành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học
có cả kiến thức, giá trị, thái độ và KN thích hợp… Do vậy, KNS phải được hìnhthành cho học sinh thông qua con đường đặc trưng – hoạt động giáo dục TheoUNICEF, giáo dục dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sựphát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi [32,33,35]
Từ nội hàm của khái niệm KNS (Khái niệm KNS được tác giả luận văn lựachọn) và quan niệm về hoạt động giáo dục đã trình bày ở trên, tác giả luận văn quanniệm: Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổchức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức (cái học sinh biết) vàthái độ, giá trị (cái học sinh nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành động thực tế (làm
gì và làm cách nào) một cách tích cực và mang tính chất xây dựng Giáo dục KNScho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, làxây dựng hoặc thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mụctiêu phát triển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp học sinh có trithức, giá trị, thái độ và KN phù hợp
Trang 371.3.3 Yêu cầu về giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học theo định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
1.3.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học
Có nhiều yếu tố chi phối đến quản lý hoạt động giáo dục KNS…Tuy nhiên, yếu
tố về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh là một trong những yếu tố cơ bản
Trong phần này, luận văn đề cập đến các tiền đề của sự hình thành nên đặc điểmlứa tuổi học sinh tiểu học trên cơ sở trình bày của tác giả Bùi Văn Huệ cùng các cộng sự
*Đặc điểm phát triển về thể chất
Học sinh tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi, lứa tuổi này có những biến đổi cực
kỳ quan trọng trong hoạt động và trong đời sống của trẻ Cơ thể của trẻ là nền tảng của trítuệ và tâm hồn Nền tảng có vững thì trí tuệ và tình cảm mới có khả năng phát triển tốt
Ở lứa tuổi này, trẻ tiểu học có thể tiến hành những vận động cơ bản của người(Đi, đứng, chạy, nhảy, bò, giữ thăng bằng…) một cách mềm mại, nhanh và chính xác
Bộ xương của trẻ tuy bước vào giai đoạn cứng dần nhưng còn nhiều mô sụn và pháttriển chưa hoàn thiện, cân đối, đặc biệt là xương bàn tay, ngón tay còn yếu Vì thế cầnquan tâm đến tư thế đi, đứng, ngồi, chạy, nhảy của các em, đề phòng cong vẹo, gùxương ở trẻ Tránh mang vác các vật quá nặng, tránh làm việc quá tỉ mỉ trong mộtkhoảng thời gian dài
Hệ thần kinh của học sinh tiểu học đang thời kỳ phát triển mạnh Đây là thời kỳnão bộ phát triển cả về khối lượng, trọng lượng lẫn cấu tạo, đến khoảng 9 đến 10 tuổinão của các em căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó sẽ giữ lại trong suốt cuộcđời Đây cũng là giai đoạn mà sự hình thành các phản xạ có điều kiện diễn ra nhanh vànhiều So với lứa tuổi trước, sự cân bằng giữa hai quá trình thần kinh cơ bản tốt hơnnhiều Tuy nhiên, hưng phấn vẫn còn mạnh dẫn đến khả năng ức chế của hệ thần kinhcòn yếu Do bộ óc và hệ thần kinh đang phát triển tiến dần đến hoàn thiện nên các em
dễ bị kích thích Khó tự chủ, kiên trì và kiềm chế bản thân trước những tác động củahoàn cảnh xung quanh
Hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh nên lứa tuổi này nhịp tim vẫn còn nhanh, huyết
áp động mạch thấp làm cho các em chóng mệt và dễ xúc động Vì vậy, tránh gây cho
Trang 38các em những xúc động mạnh, tiêu cực, tránh để trẻ ngồi viết dựa ngực vào bàn, đội
mũ chật, vừa ăn no đã tắm, hút thuốc lá, uống rượu bia,…
* Tâm lý sẵn sàng đi học
Từ khi ra đời đến khi tròn 6 tuổi, trong môi trường văn hóa (cả văn hóa gia đìnhlẫn văn hóa nhà trường), trẻ đã tạo cho mình những thành tựu phát triển nhất định Sựkết hợp của những thành tựu ấy đã làm nên tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi Tâm
lý sẵn sàng đi học của trẻ được biểu hiện ở các yếu tố sau:
- Sự thích thú đến trường, thích được học tập: thích tham gia vào một hoạt độngmới, mang tính nghiêm chỉnh, được đánh giá, nhận xét bằng điểm hoặc lời, nhằm thunhận những hiểu biết mới, thao tác mới, cảm xúc mới Tuy nhiên, lúc đầu sự thích thúcủa các em còn dựa vào vẻ bề ngoài của cuộc sống nhà trường, của hoạt động học tập,như thích đi học vì trường đẹp, vì có cặp sách mới,…Cho nên, phải nhanh chóng làmcho các em thích thú những cái thuộc về nội dung của cuộc sống nhà trường và hoạtđộng học, như những tri thức mới, xúc cảm đẹp đẽ, cách giải quyết vấn đề thông minh,những khám phá bất ngờ,…
- Khả năng hành động (thao tác chân tay): tiến hành các thao tác chạy nhảy, giữthăng bằng tốt Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vận động của tay Bàn tay và ngóntay có thể thực hiện nhiều vận động tinh tế và bền bỉ
- Vốn hiểu biết và khả năng nhận thức: trẻ 6 tuổi bước vào trường tiểu họcvới một “vốn liếng” không nhỏ các hiểu biết về thế giới xung quanh Các em đã cóbiểu tượng rõ ràng về thế giới đối tượng (bàn, ghế, bố mẹ, cô, bác,…), về khônggian (trên dưới, trái phải, trước sau,…), về thời gian (ngày đêm, sáng trưa, chiều tối,nhanh chậm,…) Cùng với các biểu tượng trên, trẻ đã có kỹ năng tương ứng trongviệc cư xử với thế giới đối tượng, với thời gian, không gian cũng như vận hành cácmối quan hệ gia đình Tuy nhiên, các hiểu biết của trẻ còn mang nặng tính kinhnghiệm Ở trẻ 6 tuổi, tính không chủ định chiếm ưu thế trong các quá trình nhậnthức Các quá trình cảm giác tri giác tốt hơn tư duy Tuy đã có các yếu tố của tư duylogic, nhưng tính duy kỷ và tư duy hình ảnh vẫn chiếm ưu thế ở các em Tưởngtượng phong phú và mang tính tái tạo Lời nói phát triển mạnh, trẻ đã có khả năng
Trang 39diễn đạt đúng, rõ ràng và tương đối gãy gọn những ý nghĩ và tình cảm của mình và
có khả năng hiểu đúng lời nói của người khác
- Khả năng điều khiển các hoạt động tâm lý của bản thân: trẻ có khả năng tậptrung chú ý tương đối dài (30-35 phút) vào đối tượng Tính tò mò ham hiểu biết chuyểndần sang tính ham học Ở trẻ 6 tuổi, động cơ phục tùng lẫn nhau đã được hình thànhtạo cơ sở cho sự tiếp nhận các quy tắc chuẩn mực đạo đức cũng như sự tự chủ tronghành vi Nhu cầu tự đánh giá xuất hiện cho phép trẻ bắt đầu biết kiềm chế tính hiếuđộng và tính bột phát trong hành vi Tuy nhiên khả năng kiềm chế còn yếu Giao tiếpsinh hoạt được vận hành một cách dễ dàng, linh hoạt hơn giao tiếp công việc và nhậnthức
Tuy nhiên, trong thực tế, không phải trẻ em nào đến trường cũng có tâm lýsẵn sàng đi học Tâm lý học đã xác nhận trẻ em lần đầu đi học sẽ diễn ra sự tổ chứclại các đặc điểm tâm lý Phải giúp trẻ khắc phục những khó khăn do tâm lý sẵn sàng
đi học ở các em chưa đầy đủ, chưa đồng bộ sao cho các em chuyển từ cách suynghĩ, rung cảm, hoạt động, ứng xử trực tiếp song có lý lẽ, có suy tính và hợp vớichuẩn mực đạo đức do nhà trường và xã hội đặt ra
* Đặc điểm cuộc sống nhà trường
Đối với học sinh tiểu học, cuộc sống nhà trường với các đặc điểm của nó đã tạolập các điều kiện, các mối quan hệ xã hội đảm bảo cho sự xuất hiện các đặc điểm tâm
lý mới của giai đoạn tuổi này và nhờ đó nâng trình độ phát triển tâm lý lên một mứccao hơn cũng như mở ra trước các em những khả năng phát triển mới
Gia nhập cuộc sống nhà trường, học sinh tiểu học phải tiến hành hoạt động họctập – hoạt động lần đầu tiên xuất hiện trong đời sống của các em Với các em hoạt độnghọc tập là dạng hoạt động mới không chỉ vì đó là hoạt động nghiêm túc, có kỷ cươngvới những yêu cầu chặt chẽ, mà còn vì đối tượng của nó – tri thức khoa học đích thực,các khái niệm khoa học chính thống cũng là những cái mà cuộc sống nhà trường trước
đó chưa đem đến cho các em Hay nói cách khác, nhà trường mang đến cho các emnhững gì chưa hề có và cũng không có được trong sáu năm đầu của cuộc đời trẻ.Chẳng hạn, trẻ biết nói nhưng chưa hề biết cấu tạo của tiếng nói, biết nói nhưng chưabiết viết, biết đọc, biết đếm mà không biết cấu tạo của số Mặt khác, việc tổ chức hoạt
Trang 40động học của các em được tiến hành bằng phương pháp nhà trường, Nhờ phương phápnày các em lĩnh hội được phương pháp làm việc trí óc, trẻ em phải tự làm ra sản phẩmgiáo dục từ đó cảm nhận niềm vui trong học tập Nhà trường nhờ vậy sẽ hình thành nên
ở các em một số thái độ mới, một lối suy nghĩ mới khi nhìn cái quen thuộc, thái độ ấy
là thái độ lý luận, lối suy nghĩ ấy là lối suy nghĩ lý luận
Trong trường tiểu học, trẻ phải vận hành cùng một lúc nhiều mối quan hệkhác nhau, với tính chất khác nhau: quan hệ với thầy, cô giáo, quan hệ với bạn bècùng trang lứa, quan hệ với “anh, chị, em” cùng trường…Nếu trước đây quan hệgiao tiếp của trẻ đối với người khác chủ yếu mang tính chất giao tiếp xúc cảm, thìgiờ đây trong các mối quan hệ điển hình trên, giao tiếp công việc chiếm ưu thế Nhưvậy, nhập vào mối quan hệ này, trẻ vừa phải đương đầu với những đòi hỏi mới củacuộc sống, lại vừa có được các cơ hội để xã hội hóa các mối quan hệ của mình vàchiếm lĩnh các phương thức ứng xử phù hợp
Đến trường – trở thành “học sinh”, trẻ có một loạt quyền hạn và trách nhiệmkhông chỉ trước bản thân, trước những người thân và còn trước xã hội Ở trường, trẻ
là “người công dân – học sinh” gánh vác trách nhiệm của người học sinh trước xãhội – tiến hành hoạt động học tập đạt kết quả Từ đây, kết quả học tập của trẻ sẽquyết định vị thế xã hội của các em: nếu học tốt thì hoàn thành nhiệm vụ, được bố
mẹ, thầy cô vui lòng và có nhiều bè bạn,…Nếu học kém thì không những khônghoàn thành nhiệm vụ mà còn làm cho bố mẹ, thầy cô vui và không có bạn chơicùng,…Ở nhà, trẻ là một “người lớn-học sinh” chứ không còn là đứa bé Trẻ khôngchỉ có quyền đòi hỏi người khác phải tôn trọng giờ học của mình, phải đảm bảo cácđiều kiện tối thiểu để các em tiến hành học tập theo yêu cầu của nhà trường mà cònphải có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ các thành viên trong gia đình Đây vừa làthách thức mới của cuộc sống đối với trẻ, lại vừa là mảnh đất làm nảy nở các phẩmchất của một người công dân đích thực trong tương lai: tinh thần trách nhiệm, ýthức tập thể, tính kỷ luật, tinh thần tương trợ,…
Rõ ràng, đến trường- trở thành học sinh là một bước ngoặc trong cuộc đờicủa học sinh tiểu học Nhà trường và hoạt động học tập đã đặt ra trước trẻ nhữngyêu cầu, đòi hỏi mới của cuộc sống, nhưng đồng thời cũng đem đến cho các emnhững điều kiện, những cơ sở để thay đổi triệt để phương thức vận hành của mình