1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.

73 735 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 554,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hộ nông dân Tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN HÀ THƯ

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH CÁC NGUỒN LỰC TÁC ĐỘNG ĐẾN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TẠI XÃ NHỮ HÁN - HUYỆN YÊN SƠN -

TỈNH TUYÊN QUANG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn Khóa học : 2010 - 2014

Thái Nguyên - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

Trang 3

“Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang”

Tôi xin chân thành biết ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của các thầy cô Khoa Kinh tế - Phát triển nông thôn, đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô

Đặng Thị Thái đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Nhữ Hán - Yên Sơn - Tuyên Quang đặc biệt tôi xin cảm ơn bà con nông dân nhiệt tình trả lời các câu hỏi

đã cung cấp những kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành đề tài

Tuy nhiên, kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài khó tránh

được những sai sót, khuyết điểm Tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của các

thầy cô

Cuối cùng tôi xin kính chúc quý thầy cô Khoa kinh tế - Phát triển nông thôn, UBND xã Nhữ Hán, cũng toàn thể bà con nông dân ở xã Nhữ Hán dồi dào sức khỏe và luôn thành công trong công việc

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Hà Thư

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của địa bàn xã Nhữ Hán từ năm 2011 đến

năm 2013 18

Bảng 3.2: Giá trị sản xuất các ngành của xã Nhữ Hán 3 năm (2011 - 2013) 21 Bảng 3.3: Thành phần dân tộc trên địa bàn xã Nhữ Hán 23

Bảng 3.4: Tình hình lao động và nhân khẩu 23

Bảng 3.5: Khảo sát thu nhập của các hộ điều tra 27

Bảng 3.6: Phân nhóm thu nhập 28

Bảng 3.7: Trình độ học vấn của chủ hộ 29

Bảng 3.8: Đất sản xuất của hộ 31

Bảng 3.9: Phương tiện phục vụ sản xuất 33

Bảng 3.10: Chi phí trồng một sào chè theo nhóm hộ 36

Bảng 3.11: Chi tiết chi phí chăn nuôi của các nhóm hộ 37

Bảng 3.12: Tổng chi của các nhóm hộ điều tra 38

Bảng 3.13: Tổng thu của các nhóm hộ điều tra 39

Bảng 3.14: summary 41

Bảng 3.15: ANOVA 41

Bảng 3.16: Hệ số co dãn (hồi quy) giữa thu nhập với các yếu tố cơ bản 42

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1: Biểu đồ phân bố thu nhập của hộ điều tra 27

Hình 3.2: Biểu đồ nguồn vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh của hộ 30

Hình 3.3: Biểu đồ đất sản xuất của hộ 32

Hình 3.4: Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa của xã 35

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

4 Bố cục của khóa luận 2

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Khái niệm hộ 3

1.1.2 Hộ nông dân 4

1.1.3 Kinh tế hộ nông dân 5

1.1.4 Phân loại hộ nông dân 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 10

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước

trên thế giới 10

1.2.2 Sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta 12

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu 14

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 14

2.1.2 Nội dung nghiên cứu 14

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 14

Trang 8

2.2 Phương pháp nghiên cứu 14

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 14

2.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 14

2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp 14

2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 15

2.2.3 Phân tích hồi quy và hàm sản xuất Cobb - Douglas 15

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 16

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 16

3.1.1.1 Vị trí địa lý - hành chính 16

3.1.1.2 Địa hình 16

3.1.1.3 Khí hậu 16

3.1.1.4 Tài nguyên nước 17

3.1.1.5 Tài nguyên rừng 17

3.1.1.6 Tài nguyên đất 17

3.1.2 Thực trạng kinh tế xã hội trên địa bàn xã 19

3.1.2.1 Tình hình kinh tế 19

3.1.2.2 Tình hình xã hội 22

3.1.2.3 Tình hình dân số và lao động 22

3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng 24

3.1.2.5 Thị trường 25

3.2 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 26

3.2.1 Khảo sát thu nhập và phân nhóm hộ nghiên cứu 26

3.2.2 Phân tích nguồn lực của các hộ điều tra 28

3.2.2.1 Nguồn nhân lực 28

3.2.2.2 Nguồn lực tài chính 30

3.2.2.3 Nguồn lực đất đai 31

Trang 9

3.3 Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái ảnh hưởng đến sản xuất

của hộ 34

3.4 Khái quát tình hình sản xuất của các nhóm hộ điều tra 36

3.4.1 Chi phí chè của các nhóm hộ 36

3.4.2 Chi phí chăn nuôi của các nhóm hộ 37

3.4.3 Tổng chi phí của các nhóm hộ điều tra 38

3.4.4 Tổng thu của các nhóm hộ điều tra 39

3.5 Các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ 40

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP 44

4.1 Quan điểm định hướng 44

4.1.1 Xây dựng, định hướng kế hoạch chiến lược năm 2020 44

4.1.2 Kế hoạch hằng năm cho địa phương, cho phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương 44

4.2 Các giải pháp 44

4.2.1 Về nguồn nhân lực 44

4.2.2 Giải pháp về hoạt động tạo thu nhập 45

4.2.3 Phát triển cơ sở hạ tầng 45

4.2.4 Giải pháp về vốn 46

4.2.5 Giải pháp về tiếp cận chính sách 47

KIẾN NGHỊ 48

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Phát triển kinh tế xã hội cùng với quá trình hội nhập và phát triển của khu vực và thế giới đã tạo nên những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đời sống người dân được từng bước nâng lên rõ rệt, người dân có điều kiện cải thiện đời sống và tiếp cận với những thành tựu của khoa học công nghệ

Kinh tế hộ nông dân được coi là một đơn vị kinh tế đặc thù và phù hợp trong sản xuất nông nghiệp Nó góp phần giải quyết vấn đề việc làm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân

Kinh tế hộ là loại hình kinh tế phổ biến, đang có vai trò, vị trí rất lớn và

là bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế, là chủ thể quan trọng trong phát triền nông nghiệp và đổi mới nông thôn ở nước ta Cùng với sự phát triển của kinh

tế xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng thì kinh tế hộ nông dân không ngừng phát triển cả về quy mô và tính chất Một bộ phận hộ nông dân chuyển từ quy mô nhỏ thành quy mô lớn, từ sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hóa, trao đổi sản phẩm trên thị trường

Xã Nhữ Hán là một xã miền núi thuộc huyện Yên sơn- tỉnh Tuyên Quang cách huyện lỵ Yên Sơn khoảng 17km về phía Nam Có vị trí địa lý từ

22004’27 đến 28011’10; vĩ độ Bắc từ 105007’07 đến 105013’14 Nhữ Hán có

điều kiên tự nhiên rất thuận lợi, đất đai màu mở rất phù hợp cho phát triển

nông nghiệp toàn diện Đa số người dân sống phụ thuộc vào nghề nông, trong khi đó quỹ đất nông nghiệp thì có hạn, dân số ngày càng tăng, chất lượng lao

động còn thấp, năng suất lao động chưa cao từ đó dẫn đến thu nhập của phần đông hộ gia đình còn khá thấp Thực trạng đó đặt ra một áp lực lớn cho việc

phát triển kinh tế - xã hội xã Nhữ Hán Vì thế, tôi chọn và nghiên cứu đề tài

“Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang” là rất cần thiết nhằm

cũng cấp những cơ sở khoa học cho các cơ quan hữu quan để ra các chính sách hỗ trợ, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho người dân, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của xã ngày càng toàn diện hơn

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kinh tế hộ nông dân

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã Nhữ Hán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển kinh tế

hộ nông dân

- Nghiên cứu, phân tích các nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của

hộ nông dân tại xã Nhữ Hán

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân tại địa bàn xã Nhữ Hán

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường,

ứng dụng kiến thức vào thực tiễn

- Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin, phân tích, xử lý số liệu và viết báo cáo

- Giúp hiểu thêm tình hình kinh tế - xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Nhữ Hán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nguồn lực đến kết quả phát triển sản xuất của hộ

4 Bố cục của khóa luận

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Các giải pháp

Kết luận

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm hộ

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hộ

Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về hộ như sau: Hộ là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cũng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ

Giáo sư Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm

Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”.[13]

Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: Hộ là một nhóm người

có cùng cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”.[13]

“Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết vơi nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân

họ và cộng đồng” (Raul I).[6]

Như vậy, có thể nêu một số điểm cần quan tâm khi phân định hộ Hộ là:

- Một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc

- Họ cùng sống chung hay không cùng sống chung dưới một mái nhà

- Có cùng một nguồn thu nhập (ngân quỹ) và ăn chung

Trang 13

- Cùng tiến hành sản xuất chung

1.1.2 Hộ nông dân

Tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" [9]

Nhà khoa học Traianốp cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn

định" và ông coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển

nông nghiệp" [11]

Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển Đồng tình với quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản" [11, tr.5] Chính vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo

nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh

tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" [3, 9]

Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu

hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp" [1, 4]

Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả

Trang 14

và theo nhận thức cá nhân, tôi cho rằng:

- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt

động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ) ở

các mức độ khác nhau

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng

và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay

1.1.3 Kinh tế hộ nông dân

Hộ nông dân là thực thể kinh tế văn hoá xã hội chủ yếu ở nông thôn, vì vậy cần phải hệ thống lý thuyết về phát triển kinh tế hộ nông dân làm nền tảng cho việc phân tích, đánh giá và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế nông thôn

Sau các công trình nghiên cứu về kinh tế nông dân của C.Mác và V.I.Lênin đã xuất hiện một xu hướng nghiên cứu về sự phát triển kinh tế hộ nông dân

Theo Hemery, Margolin (1988) thì “xã hội nông dân lạc hậu không nhất thiết phải đi lên chủ nghĩa tư bản, mà có thể phát triển lên chế độ xã hội khác bằng con đường phi tư bản chủ nghĩa” [5, 15]

Các tác giả của thuyết dân tuý cho rằng có nhiều con đường phát triển của lịch sử, lịch sử không phải chỉ có một con đường phát triển mà nó tiến hoá bằng các chu kỳ, mang tính chất vùng, có các thời kỳ trì trệ và tiến lên

Trang 15

Do đó các nước đi sau có thể đuổi kịp, thậm chí có thể vượt các nước đi trước Phải đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phục hồi nền văn minh nông dân, chủ yếu là cộng đồng nông thôn và hợp tác xã thủ công nghiệp Phải tiến hành công nghiệp hoá do nhà nước Chỉ có bằng cách này mới công nghiệp hoá mà tránh được các nhược điểm của chủ nghĩa xã hội

Trong quyển I của bộ Tư bản, C.Mác đã phân tích kỹ quá trình tước

đoạt ruộng đất của nông dân Anh một cách ồ ạt, làm phá vỡ nền nông nghiệp

truyền thống và sự hình thành của các tầng lớp trại chủ tư bản chủ nghĩa thuê

đất và vay vốn của địa chủ, bóc lột người làm thuê Người dự đoán, kinh tế hộ

sẽ hoàn toàn bị xoá bỏ trong điều kiện phát triển đại công nghiệp Nhưng ở quyển III, C.Mác khẳng định, ngay ở Anh, với thời gian đã thấy hình thức sản xuất nông nghiệp cơ bản được phát triển không phải là các nông trại lớn mà là các nông trại gia đình, không dùng lao động làm thuê Các nông trại lớn không có khả năng cạnh tranh với nông trại gia đình

V.I.Lênin cho rằng: “cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt của họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính họ” Khi phân tích kết cấu xã hội nông dân nước Nga, V.I.Lênin đã lưu ý, hộ nông dân khai thác triệt để năng lực sản xuất đáp

ứng những nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội Ông đã chỉ ra năng lực

tự quyết định của quá trình sản xuất của hộ nông dân trong nền kinh tế tự cung tự cấp, là mầm mống của những chiều hướng phát triển hàng hoá khác nhau, chính nó sẽ tự phá vỡ các quan hệ khép kín của hộ dẫn đến những quá trình sự vỡ kết cấu kinh tế" [3, 15]

David (1903) đã nhận xét rằng, chủ nghĩa tư bản không làm phá sản nền sản xuất tiểu nông, nền kinh tế này có "ưu thế", "ổn định", nếu so với các nông trại lớn tư bản chủ nghĩa

Theo Tchayanov (1924), luận điểm cơ bản nhất của Tchayanov là

Trang 16

coi kinh tế hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế

độ xã hội Mỗi phương thức sản xuất có những quy luật phát triển riêng

của nó, và trong mỗi chế độ, nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động gia đình

Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao

động - tiêu dùng giữa sự thoả mãn các nhu cầu của gia đình và sự nặng

nhọc của lao động Sản lượng chung của hộ gia đình hàng năm trừ đi chi phí sẽ là sản lượng thuần mà gia đình dùng để tiêu dùng, đầu tư sản xuất và tiết kiệm Mỗi hộ nông dân cố gắng đạt được một thoả mãn nhu cầu thiết yếu bằng cách tạo một sự cân bằng giữa mức độ thoả mãn nhu cầu của gia

đình với mức độ nặng nhọc của lao động Sự cân bằng này thay đổi theo

thời gian, theo cân bằng sinh học, do tỷ lệ giữa người tiêu dùng và người lao động quyết định [7, 15]

J.Harris (1982) trong bài giới thiệu cho cuốn sách "Phát triển nông thôn" đã phân loại các công trình nghiên cứu về nông thôn, nông dân, nông nghiệp ra ba xu hướng chính, đó là xu hướng tiếp cận hệ thống, mô hình ra quyết định và tiếp cận cấu trúc lịch sử

Vấn đề được tranh luận chủ yếu là, trong quá trình phát triển sản xuất hàng hoá, xã hội nông thôn phân hoá thành tư bản nông nghiệp, người làm thuê nông nghiệp hay là người nông dân sản xuất nhỏ, có đất đai, tư liệu sản xuất kinh doanh bằng lao động gia đình vẫn tồn tại vì có được nông sản rẻ hơn các nông trại tư bản chủ nghĩa

Nghiên cứu sự phát triển của nền kinh tế nông dân ở các nước đang phát triển gần đây Georgescu - Roegen (1960) cho thấy, nông trại nhỏ dùng lao động cho đến lúc thu nhập ròng xuống đến số không và chủ yếu nhằm tăng sản lượng của một đơn vị ruộng đất

Trang 17

Dandekar (1970) cho rằng có hai kiểu nông dân, một kiểu sản xuất hàng hoá, chỉ đầu tư lao động đến lúc lãi bằng tiền lương và một kiểu tự túc, chủ yếu đầu tư lao động nhằm tăng sản lượng đủ sống

Nhiều công trình nghiên cứu (Vergopoulos - 1978), Taussig - 1978 cho thấy nông trại nhỏ gia đình hiệu quả hơn nông trại lớn tư bản chủ nghĩa,

và chính hình thức sản xuất này có lợi cho chủ nghĩa tư bản hơn vì khai thác

được cao nhất thặng dư lao động ở nông thôn và giữ được giá nông sản thấp

Hayami và Kikuchi (1981) nghiên cứu sự thay đổi của kinh tế nông thôn Đông Nam Á và thấy rằng, áp lực dân số trên ruộng đất ngày càng tăng, lãi do đầu tư thêm lao động ngày càng giảm mặc dù có cải tiến kỹ thuật, nhưng giá ruộng đất (địa tô) ngày càng tăng

Năm 1989, Lipton cho rằng trong khoa học xã hội về phát triển nông thôn hiện nay, phổ biến ba cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận macxit phân tích (Roemer - 1985); tiếp cận cổ điển mới (Krueger, 1974) và tiếp cận hàng hoá tập thể (Olson, 1982) Ba tiếp cận trên về mặt lý luận, trong thực tiễn đều thuộc về quan hệ giữa nhà nước và nông dân Mối quan hệ

đó, thường theo các hướng là tăng thặng dư kinh tế của nông thôn;

chuyển thặng dư từ ngành này sang ngành khác; rút thặng dư và thúc đẩy việc luân chuyển Nhìn chung bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải tăng thặng dư, quá trình này cần sự tác động của Nhà nước

Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội

1.1.4 Phân loại hộ nông dân

- Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động

Trang 18

Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường: Loại này

có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong chính gia đình họ Để có đủ sản phẩm lao động trong nông hộ phải làm cật lực

và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp, tự túc sự hoạt động của

hộ phụ thuộc vào:

+ Khả năng mở rộng diện tích đất đai

+ Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập

+ Có thị trường vật tư để họ mua nhằm lấy lãi

+ Có thị trường sản phẩm để họ trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình

Hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường: Loại hộ này còn gọi là

“nửa tự cấp”, nó không giống như loại doanh nghiệp khác là phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường, vì các yếu tố tự cấp còn lại nhiều và vẫn quyết định cách thức sản xuất của hộ, ở đây họ có phản ứng với giá cả, với thị trường nhưng ở mức độ thấp

Hộ nông dân sản xuất hàng hóa là chủ yếu: Loại này mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được hiểu rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với các thị trường vốn, ruộng đất, lao động…

- Theo tính chất của ngành sản xuất

+ Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp

+ Nông hộ kiêm: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp

+ Nông hộ chuyên: Là loại nông hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc, nề, rèn, sản xuất vật liệu, vận tải, thủ công mỹ nghệ, may, dệt, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp

+ Nông hộ buôn bán: Có quầy hàng riêng, bán hàng ở chợ hoặc nơi

đông dân cư

Các loại nông hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép Vì vậy xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng

Trang 19

sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hiện nay làm lao

động phi nông nghiệp tăng lên.[12]

- Căn cứ vào thu nhập của nông hộ bao gồm

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới

Kinh tế hộ nông dân đã tồn tại từ rất sớm trong lịch sử và trải qua nhiều bước thăng trầm cùng với các hình thái kinh tế - xã hội Tuy nhiên, nó chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ ở ba thế kỷ trở lại đây khi mà các cuộc cách mạng khoa và công nghệ đã tạo ra hàng loạt những công nghệ, kỹ thuật và công cụ sản xuất mới, tạo ra bước đột phá trong nền nông nghiệp của thế giới Hộ nông dân cho đến nay đã tồn tại phổ biến trên thế giới, ở tất cả các nước có sản xuất nông nghiệp

Sau đây, để giúp cho việc nghiên cứu và việc định hướng phát triển cho kinh tế hộ nông dân ở nước ta phù hợp với quy luật phát triển nông nghiệp nói

Trang 20

chung, chúng ta sẽ xem xét tình hình phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới

Đài Loan: Ý thức được xuất phát điểm của mình có vị trí quan trọng là

nông nghiệp nhưng ở trình độ thấp, nhưng ngay từ đầu Đài Loan đã coi trọng

và chú ý đầu tư cho nông nghiệp Trong những năm 1950 đến 1960 chủ trương “lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp” Từ những năm 1951 đã có chương trình cải cách ruộng đất theo ba bước: giảm tô, giải phóng đất công, bán đất cho tá điền, thực hiện người cày

có ruộng (1953- 1954).[2]

Theo đạo luật cải cách ruộng đất của Đài Loan, địa chủ chỉ được giữ lại 3ha nếu là ruộng đất thấp và 6ha nếu là ruộng đất cao, số còn lại nhà nước mua và bán lại cho tá điền với giá thấp và được trả dần, trả góp Chính sách phát triển nông nghiệp của Đài Loan trong thời kỳ này đã làm cho nông dân phấn khởi, lực lượng sản xuất trong nông thôn được giải phóng, sản xuất đã tăng với tốc độ nhanh.[2]

Tại Đài Loan hiện có 30 vạn người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng cao, song đã có đường đi lên núi là đường nhựa, nhà có đủ điện nước, có ô tô riêng Từ năm 1974 họ thành lập nông trường, nông hội, trồng những sản phẩm quý hiếm như “cao sơn trà”, bán các mặt hàng sản phẩm của rừng như cao các loại, thịt hươu nai khô… cùng các sản phẩm nông dân sản xuất được trong vùng Về chính sách thuế và ruộng đất của chính quyền có sự phân biệt giữa hai đối tượng “nông mại nông” thì miễn thuế (nông dân bán đất cho nông dân khác), “nông mại bất nông” thì phải đóng góp thuế gấp ba lần tiền mua (bán đất cho đối tượng phi nông nghiệp) Nguồn lao động trẻ ở nông thôn rất dồi dào nhưng không di chuyển ra thành thị, mà dịch vụ tại chỗ theo kiểu ‘ly nông bất lương’ Các cơ quan khoa học ở Đài Loan rất mạnh dạn nghiên cứu cải tạo giống mới cho nông dân và họ không phải trả tiền.[2]

Trang 21

Thái Lan: Một nước trong khu vực Đông Nam Á, Chính phủ Thái Lan

đã thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hậu trở thành nước có

nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế vùng núi ban hành (từ 1950 đến 1980).[2]

Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn Mạng lưới đường

bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập các vùng ở xa (Bắc,

Đông, Bắc, Nam ) đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng

Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản

phẩm như cao su ở vùng núi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía Đông Bắc

Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa chế biến nông sản để xuất khẩu

như ngô, sắn sang các thị trường như Châu Âu và Nhật Bản

Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế

nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: Cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp, ứng trước tiền cho nhân dân, và cam kết mua sản phẩm với giá định trước cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Hàng năm có 95% sản lượng cao su, hơn

4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: Đó là việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo mùa vụ ngày càng gia tăng

1.2.2 Sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta

Bắc Ninh: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Ninh

có nhiều nỗ lực trong thực hiện chủ trương cho hộ vay sản xuất, trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển địa phương.[2]

Trang 22

Từ đó đến nay, hàng ngàn hộ nông dân trên địa bàn đã tiếp cận nguồn vay vốn ngân hàng Với thủ tục vay vốn càng đơn giản, thuận tiện, thời gian nhanh, số tiền vay nhiều hơn, phong cách phục vụ tận tình, chu đáo hơn ngân hàng đã luôn đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các hộ nông dân thúc đẩy phát triển trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng các mô hình trang trại tạo việc làm, thu nhập ổn định, từng bước xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu

Phong trào hộ nông dân thi đua sản xuất giỏi của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động được các cấp hội và nông dân trong tỉnh Bắc Ninh hưởng ứng Các cấp hội nông dân xác định đây là phong trào trọng tâm, nòng cốt có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới của hội viên Thực hiện tốt phong trào này sẽ góp phần xây dựng nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Ninh Bình: Hội nông dân tỉnh Ninh Bình đang thực hiện nhiều phương

thức giúp người nông dân phát triển kinh tế hộ: hỗ trợ vốn cho nông dân thông qua quỹ hỗ trợ nông dân của các cấp hội, phối hợp với ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn giúp cho hộ nông dân vay vốn chăn nuôi, trồng trọt và phát triển sản xuất.[2]

Hội nông dân các cấp trong tỉnh đã thành lập được 848 “tổ tiết kiệm”

để thực hiện việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn đến từng nông dân được

công bằng và hiệu quả hơn Những “tổ tiết kiệm” này sẽ cho các hộ nông dân trong thôn, xóm vay để phát triển kinh tế theo hình thức quay vòng vốn, đến nay đã có trên 40 nghìn hộ nông dân được hỗ trợ vay 340 tỷ đồng

Hội nông dân tỉnh rất chú trọng tới việc mở các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp bà con có kiến thức và phương pháp để sử dụng nguồn vốn có hiệu quả

Trang 23

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Nguồn thu và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tại các hộ nông dân tại địa bàn xã Nhữ Hán

2.1.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Nhữ Hán

- Nghiên cứu nguồn lực phục vụ sản xuất tại các nông hộ

- Phân tích các nhân tố chính tác động đến phát triển kinh tế của các nhóm hộ

- Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại địa phương

+ Thời gian thực tập từ ngày 31/1/2014 đến ngày 15/04/2014

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu có sẵn hoặc từ các số liệu đã được công bố Các thông tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng, dự án, các tài liệu trên Internet…

Trong phạm vi đề tài này, phương pháp thu thập thông tin thứ cấp sử dụng để có được các số liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Nhữ Hán, tình hình sản xuất phát triển kinh tế của xã Nhữ Hán qua các năm

2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp là phương pháp thu thập thông tin,

số liệu chưa từng được công bố, ở bất kỳ tài liệu nào người thu thập có được

Trang 24

thông tin qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau như: Tìm hiểu, quan sát thực tế, đánh giá nông thôn, phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn bán cấu trúc, …

Trong phạm vi đề tài này, để thu thập được các thông tin sơ cấp phục

vụ cho kết quả nghiên cứu, tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân bằng bảng hỏi, với bộ câu hỏi này, số liệu thu thập trong quá trình điều tra

được tổng hợp bằng bảng biểu

2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Xử lý số liệu đã công bố: Dựa vào các số liệu đã được công bố, tôi tổng hợp, đối chiếu để chọn ra những thông tin phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài

- Xử lý số liệu điều tra: Sử dụng phần mềm MICROSOFT EXCEL để tập hợp, phân tích và sử lý thông tin, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ và mối quan hệ giữa phát triển kinh tế hộ với các yếu tố về tự nhiên, điều kiện sản xuất

2.2.3 Phân tích hồi quy và hàm sản xuất Cobb - Douglas

Các nhà kinh tế tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học - công nghệ [8,10]

Một dạng của kiểu phân tích này là hàm Cobb - Douglas, hàm này có dạng:

Y = T Kα Lβ Rγ

Ở đây α, β, γ là các số lũy thừa, phản ảnh tỷ lệ cận biên của các yếu tố đầu vào

(α + β + γ = 1)

Trang 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý - hành chính

Xã Nhữ Hán là một xã miền núi nằm ở phía Tây - Nam của huyện Yên Sơn- tỉnh Tuyên Quang cách huyện lỵ Yên Sơn khoảng 17km Có vị trí địa lý từ

22004’27 đến 28011’10; vĩ độ Bắc từ 105007’07 đến 105013’14 Xã có 15 xóm

Phía Bắc giáp xã Phú Lâm, xã Hoàng Khai - huyện Yên Sơn

Phía Nam giáp xã Đông Khê, xã Nghinh Xuyên, xã Hùng Quan thuộc huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

Phía Đông giáp xã Nhữ Khê, xã Đội Cấn huyện Yên Sơn

Phía Tây giáp xã Mỹ Bằng huyện Yên Sơn

3.1.1.2 Địa hình

Nhữ Hán có địa hình chia cắt mạnh, phức tạp, diện tích đồi núi nhiều

và xen kẽ với đất sản xuất nông nghiệp Có những đỉnh núi cao, thấp dần về phía nam đã hình thành nên các thung lũng đan xen chân đồi bát úp, nên đất

đai ở đây tương đối mầu mỡ thuận lợi cho sự phát triển cây trồng Đất khu

dân cư và đất canh tác chủ yếu phân bố ở dưới chân thấp dọc theo suối và dọc theo trục đường tỉnh lộ

3.1.1.3 Khí hậu

Nhữ Hán nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa hè nóng

ẩm, mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình là 30o

C, mùa

đông lạnh và khô hanh nhiệt độ trung bình là 15o

C, nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6 và lạnh nhất vào tháng 2 Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có độ ẩm cao

Trang 26

3.1.1.4 Tài nguyên nước

Xã có các con suối lớn như Khuổi Nặm, Suối Ca, Làng Đầu gắn liền với các điểm di tích lịch sử văn hoá, khu cách mạng Những khe suối này thường vào mùa khô trở thành những khe suối cạn, còn vào mùa mưa thì nguồn nước lại có nhiều

Nguồn nước chính của xã từ sáu hồ, ba đập là: Hồ Đá Rỗng, đập Đá Mọc, hồ Hố Trẹo, hồ Hố Dáy, đập Hố nhội, đập Quỳnh Lâm, hồ Bà Lộc, hồ Gốc Ổi, hồ 16, đồng thời có nhiều suối được phân bố đều trên địa bàn xã Tổng diện tích sông suối trên 60ha Nhờ có các nguồn nước này, nước cho sản xuất và sinh hoạt tương đối thuận lợi

3.1.1.5 Tài nguyên rừng

Xã có hai khu rừng điển hình: Núi Man (xóm An Thịnh) và núi Cát (xóm Hồ) các khu rừng phân bố không đồng đều và chỉ tập trung ở hai xóm này là chủ yếu

Nhữ hán là một xã có thảm thực vật đa dạng và phong phú Ý thức người dân đã từng bước nhận thức được vai trò quan trọng thảm thực vật đối với rừng nên đã sớm phục hồi bằng cách trồng mới tái sinh rừng Thảm thực vật rừng Nhữ Hán khá phong phú, chủ yếu là cây bản địa mọc tự nhiên, nhiều chủng loại

3.1.1.6 Tài nguyên đất

Qua bảng 3.1 hiện trạng sử dụng đất của xã Nhữ Hán năm 2013 của xã Với diện tích đất sản xuất nông nghiệp là chủ yếu chiếm 80,15% trong tổng diện tích đất tự nhiên Đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ ít là 1,4% trong tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất là 57,52% trong tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích trồng lúa chỉ chiếm 25,53% trong tổng diện tích đất nông nghiệp

Trang 27

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của địa bàn xã Nhữ Hán từ năm 2011 đến năm 2013

Loại đất

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Trang 28

3.1.2 Thực trạng kinh tế xã hội trên địa bàn xã

3.1.2.1 Tình hình kinh tế

Trung tâm xã Nhữ Hán cách thành phố Tuyên Quang khoảng 20 km

đường bê tông Nhân dân ở đây chủ yếu làm nông nghiệp Từ khi xoá bỏ chế

độ bao cấp, sang cơ chế khoán tự chủ đời sống nhân dân có phần thay đổi rõ

rệt Đặc biệt được các dự án của Nhà nước, như phủ xanh đất trống đồi trọc, củng cố xây dựng các cơ sở hạ tầng như các kênh mương nội đồng, tạo điều kiện cho nhân dân thâm canh sản xuất được hai vụ lúa và trồng màu, góp phần tăng thêm thu nhập và ổn định đời sống Đặc biệt là chủ trương xoá đói giảm nghèo, kết hợp giữa Nhà nước và nhân dân cùng làm, các tổ chức đoàn thể trong xã đã đóng tiền, ngày công xây dựng một số nhà tình nghĩa, cho vay vốn ưu đãi, tạo công ăn việc làm, để tăng thêm thu nhập, đã xoá được nạn đói, nghèo

Ngoài việc làm nông nghiệp ra những lúc rảnh rỗi những hộ gia đình vẫn làm thêm những nghề phụ như dịch vụ, làm thuê, đi công nhân góp phần cải thiện đời sống, tăng thêm thu nhập

Tóm lại nhìn chung tình hình kinh tế ở xã Nhữ Hán tương đối ổn định

Đời sống nhân dân đang dần được cải thiện, mức tăng trưởng kinh tế có xu

hướng tăng theo cơ chế thị trường, góp phần ổn định kinh tế xã hội ở xã cũng như ở tỉnh

Trang 29

Lúa: diện tích 505,6ha, đạt sản lượng 2.972,9 tấn, năng suất 58,8 tấn/ha (Trong đó: Lúa lai: 240ha, Lúa thuần 265,6ha)

Diện tích mía: diện tích 25ha, sản lượng 1.662,5 tấn, năng suất 665 tạ/ha

Chăm sóc và thu hái 233,09ha chè Trong đó chè trong dân 155,7ha, chè công ty là 75,3ha Diện tích chè cho sản phẩm là 204,7ha Năng suất 15 tấn/ha, sản lượng 3.070 tấn

Ngoài lúa, mía và chè là ba loại trồng chính, Nhữ Hán còn là vùng trồng màu: lạc, mía, sắn, khoai lang, khoai sọ, khoai tây, đậu tương, các loại rau, đậu, củ, quả, bầu, bí…đáp ứng tiêu dùng nội địa và bán ra thị trường, nhất là ngô, cà chua

Chăn nuôi: Xã hiện có 567 con trâu, 106 con bò, 3.870 con lợn, 50.500 con gia cầm các loại

Chăn nuôi đại gia súc đã giảm nhiều so với trước, bởi lẽ máy nông nghiệp làm đất đã tràn ngập đồng ruộng thay trâu, không cần nhiều sức kéo bằng trâu như trước nữa và đồng cỏ bị thu hẹp do mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp, ăn quả, điều kiện chăn dắt khó khăn

- Lâm Nghiệp

Hiện nay toàn bộ đất rừng đã được giao cho các hộ gia đình quản lý Rừng được khoanh nuôi, bảo vệ Hiện có 980,14ha, khai thác và trồng thay thế 30ha Thường xuyên tuyên truyền vận động nhân dân chăm sóc và bảo vệ rừng, không để xảy ra cháy rừng Chấm dứt tình trạng khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép bảo đảm cân bằng sinh thái

Ngoài cây mọc tự nhiên, xã còn trồng nhiều loại cây ăn quả: xoài, na, nhãn, mít, vải thiều, hồng, chuối … và trồng các loại cây công nghiệp, cây lấy

gỗ như: keo, bạch đàn, tre, mai, xoan, … nhưng diện tích chưa nhiều

Trang 30

Bảng 3.2: Giá trị sản xuất các ngành của xã Nhữ Hán 3 năm (2011 - 2013)

Ngành

Trang 31

Qua bảng trên ta thấy trong tổng giá trị của các ngành nông- lâm- thủy sản chiếm tỷ lệ lớn nhất Năm 2011 nông- lâm- thủy sản đóng góp 72,54% trong tổng giá trị sản xuất các ngành và có xu hướng giảm xuống, năm 2013 chiếm 71,43% trong tổng giá trị sản xuất

Tại địa bàn xã Nhữ Hán các hoạt động CN - TTCN- XD, dịch vụ đang dần được phát triển do đó đóng góp của hai ngành này trong tổng giá trị sản xuất các ngành cũng rất quan trọng, năm 2013 CN - TTCN - XD chiếm 16,67%, dịch vụ 11,90%

3.1.2.2 Tình hình xã hội

Các tổ chức chính trị cơ sở xã đã được củng cố và hoàn thiện, cán bộ chủ chốt, cán bộ cốt cán các đầu ngành đều có trình độ học vấn qua đào tạo chính quy cao đẳng hay đại học được cấp bằng và chứng chỉ, có kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ văn hoá của nhân dân, cơ bản đã xoá được nạn mù chữ Hiện nay, trình độ văn hoá của nhân dân được nâng cao rõ rệt, việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất đời sống ngày càng được hoàn thiện Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin, hầu hết các hộ gia đình trên xã đều có ti vi hoặc đài, để nghe và theo dõi thông tin thời sự hàng ngày, chương trình cải cách kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Song cũng còn không ít một số nhỏ nhân dân chưa am hiểu, nhận thức còn quá kém tuy đã được học tập, giải thích phát tờ rơi song còn mang tính chất thuần thuý, cục bộ

3.1.2.3 Tình hình dân số và lao động

Dân cư trên địa bàn xã phân bố không đồng đều, các khu dân cư trên

địa bàn phân bố thành 15 xóm chủ yếu tập chung ở dọc các tuyến đường liên

thôn, liên xã, có một số xóm tập trung đông dân cư như: Xóm Gò Củi, Xóm Nhữ Hán, Xóm 11

Trang 32

Toàn xã có 15 xóm tính đến ngày 31/12/2013 cả xã có 1.367 hộ tương

ứng với 5.261 nhân khẩu

Dân tộc:

Xã Nhữ Hán có các dân tộc cùng nhau sinh sống đó là: Kinh, Tày, Cao lan, Mường Trong đó:

Bảng 3.3: Thành phần dân tộc trên địa bàn xã Nhữ Hán

Lao động và nhân khẩu:

Bảng 3.4: Tình hình lao động và nhân khẩu

Từ năm 2011 đến năm 2013 tình hình dân số trên địa bàn xã Nhữ Hán

có xu hướng giảm xuống, cụ thể năm 2013 giảm 40 người so với năm 2011 Tuy nhiên số lượng hộ lại có xu hướng tăng lên từ 1.348 hộ lên 1.367 hộ tức năm 2013 tăng 19 hộ so với năm 2011 Số lao động trong địa bàn xã có xu hướng giảm nhẹ từ năm 2011 đến 2012 giảm 5 người, từ năm 2012 đến 2013

Trang 33

giảm thêm 12 người Do thực hiện tốt chính sách Kế hoạch hóa gia đình bình quân nhân khẩu trên hộ năm 2011 chỉ có 3,93 người và đang có xu hướng giảm dần

3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm:

đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết

bị nông nghiệp , đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất của kinh tế hộ nông dân, thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các nông hộ được

ổn định và cải thiện

- Giao thông: Trong năm 2013 đã huy động nguồn lao động tại xóm để

tu sửa, làm mới đường liên thôn là 12.650 km Duy tu, bảo dưỡng các tuyến

đường đã bê tông hóa, hoàn thành đắp phụ hai bên lề các tuyến đường, phát

quang hành lang an toàn giao thông

Các tuyến đường liên thôn đã được bê thông hóa Tuy nhiên có một số tuyến đường chạy qua bốn thôn: thôn 11, thôn An Thịnh, thôn Đồng Rôm II

đường còn khó đi, nhiều ổ gà, khúc cua, lầy lội về mùa mưa Điều này ảnh

hưởng rất lớn tới quá trình giao lưu buôn bán, thực hiện các các công việc khác để tăng thêm thu nhập Hầu hết các hộ đều có phương tiện đi lại, nhiều nhất là xe máy, thuận tiện cho quá trình đi lại của hộ Có phương tiện truyền thông và thông tin liên lạc giúp quá trình tiếp cận thông tin của các hộ nông dân được kịp thời

- Điện:

Xã có 3 trạm điện biến áp: ở xóm Gò củi, xóm Di Dân và xóm 16 Hiện tại 100% số hộ trong xã có điện sinh hoạt

Nhìn chung cơ sở hạ tầng được người dân địa phương đánh giá khá tốt

đặc biệt là về hệ thống điện 100% hộ dân trong xã đều có điện để sử dụng,

Trang 34

đây là một điều kiện rất thuận lợi để các hộ có thể chạy các loại máy móc

cũng như các tiện nghi sinh hoạt trong gia đình Điện là một trong những điều kiện tất yếu để hộ có động cơ trang bị cho hộ những máy móc, trang thiệt bị phục vụ sản xuất, hay đơn giản là để có thể chạy được các thiết bị vô tuyến giúp hộ kịp thời cập nhật các thông tin về thị trường cũng như phương thức sản xuất có hiệu quả

- Điểm bưu điện văn hóa xã được xây dựng kiên cố, địa điểm gần trụ sở UBND và trạm y tế

Trạm y tế ở cấp xã đáp ứng khá tốt nhu cầu khám chữa bệnh cho cộng

đồng người dân địa phương Tuy nhiên việc thiếu thốn thiết bị y tế cũng như

các cán bộ chuyên môn là những trở ngại lớn nhất hiện tại

- Hệ thống thuỷ lợi: Ban quản lý Hồ An Khê và các thôn đã thường xuyên duy tu, bảo dưỡng và nạo vét các công trình thủy lợi, có kế hoạch tưới tiêu đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, chủ động nước tưới tiêu đầy đủ phục vụ tốt cho sản xuất

- Trường học: Trên địa bàn xã có 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học

và 1 trường trung học cơ sở Hầu hết các hộ đánh giá hệ thống giáo dục đáp

ứng khá tốt nhu cầu học tập của con em địa phương Hệ thống trường lớp đã được xây dựng củng cố tốt hơn Chất lượng giáo dục đào tạo tiếp tục được

nâng cao Tuy nhiên hệ thống trường học còn yếu kém về nhiều mặt như: Chất lượng giáo viên, trang thiết bị học tập làm ảnh hưởng tới chất lượng của các học sinh

3.1.2.5 Thị trường

Trong kinh tế nông hộ nói riêng và các ngành kinh tế nói chung thì thị trường là yếu tố quan trọng, nó quyết định quy mô sản xuất, khả năng đa dạng hóa sản xuất của nông hộ Sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hóa ngày càng đa dạng, mức độ tham gia trên thị trường của các hộ nông dân ngày

Trang 35

càng tăng Do vậy kéo theo sự phát triển đa dạng hàng hóa trên thị trường nông sản phẩm, thị trường các hàng hóa ở cả đầu vào và đầu ra

Thị trường đầu vào có ảnh hưởng đến đầu tư sản xuất, đặc biệt trong khi sản xuất nông nghiệp mang tính chất thời vụ, giá cả ở thị trường đầu vào

sẽ giúp nông hộ chủ động trong việc đầu tư vốn vào sản xuất kịp thời, góp phần nâng cao kết quả sản xuất ở nông hộ

Ngày nay trên thị trường tiêu thụ ngày càng quan trọng, có giải quyết

được sản phẩm đầu ra thì các hộ nông dân mới có thể tái sản xuất, đầu tư vào

sản xuất tốt, đa dạng hóa các ngành nghề sản xuất Đối với các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phường luôn đòi hỏi tìm kiếm thị trường tiêu thụ, bảo

đảm sản phẩm hang hóa sản xuất ra được tiêu thụ, có như vậy mới kích thích

sản xuất, từ đó hạn chế dư thừa lao động nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập người dân Nếu sản xuất tiêu thụ kịp thời sẽ rút ngắn chu kì sản xuất, tăng số vòng quay vốn Trong nền kinh tế thị trường vấn đề tiêu thụ sản phẩm rất quan trọng, nóng mang tính chất quyết định đến sản xuất hay dừng sản xuất, quyết định đến quy mô sản xuất từng ngành nghề

Như vậy thị trường là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nền kinh tế Nếu không có một mô hình thị trường hoàn chỉnh, thì khó có thể đẩy mạnh hoạt động sản xuất của các đơn vị kinh tế nói chung

và kinh tế hộ nói riêng

3.2 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra

3.2.1 Khảo sát thu nhập và phân nhóm hộ nghiên cứu

Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu và thực tế kết quả điều tra tại các hộ,

từ danh sách thu nhập của các hộ nông dân tại vùng khảo sát, có thể sắp xếp, phân loại nhóm hộ theo thu nhập lần lượt từ thấp đến cao Mục đích chính của việc phân nhóm hộ theo mức thu nhập này là để chỉ ra được các yếu tố chính

ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của các nhóm hộ tại khu vực nghiên cứu

Khảo sát thu nhập của các hộ điều tra có thống kê sau:

Trang 36

Bảng 3.5: Khảo sát thu nhập của các hộ điều tra

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra

Hình 3.1: Biểu đồ phân bố thu nhập của hộ điều tra

Biểu đồ phân bố thu nhập (3.1) của hộ nông dân tập trung xung quanh giá trị 74.065.120 đồng Tuy nhiên biểu đồ lệch về phía bên phải do các biến

số trội (hay biến ngoại lai)

Giá trị trung bình của hộ nông dân là 74.065.120 đồng Độ lệch chuẩn 72.519,255 Dựa trên giá trị trung bình và độ lệch chuẩn để tiến hành phân nhóm hộ nông dân Tiêu chí để tiến hành phân nhóm

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hữu Ảnh (1998), Sự phân hoá giàu nghèo trong quá trình biến đổi xã hội nông thôn, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phân hoá giàu nghèo trong quá trình biến đổi xã hội nông thôn
Tác giả: Lê Hữu Ảnh
Nhà XB: Đại học Nông nghiệp I
Năm: 1998
2. Đoàn Hồng Ánh (2013), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ trên địa bàn xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ trên địa bàn xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Đoàn Hồng Ánh
Năm: 2013
3. Nguyễn Sinh Cúc (2000), “Những thành tựu nổi bật của nông nghiệp nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu nổi bật của nông nghiệp nước ta”
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2000
4. Nguyễn Sinh Cúc (2001), Phân tích điều tra nông thôn năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích điều tra nông thôn năm 2000
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2001
5. Trần Đức (1997), Trang trại Việt Nam và thế giới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trại Việt Nam và thế giới
Tác giả: Trần Đức
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
6. Đỗ Trung Hiếu (2012), Giáo trình kinh tế hộ và trang trại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế hộ và trang trại
Tác giả: Đỗ Trung Hiếu
Năm: 2012
7. Nguyễn Văn Huân (1993), “Kinh tế hộ, khái niệm vị trí, vai trò, chức năng”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ, khái niệm vị trí, vai trò, chức năng”
Tác giả: Nguyễn Văn Huân
Năm: 1993
8. Vũ Thị Ngọc Phùng (2005), Giáo trình kinh tế phát triển, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Vũ Thị Ngọc Phùng
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2005
9. Lê Đình Thắng (1993), Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá
Tác giả: Lê Đình Thắng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
10. Nguyễn Cao Văn, Trần Thái Ninh (2008), Giáo trình xác suất và thống kê toán, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xác suất và thống kê toán
Tác giả: Nguyễn Cao Văn, Trần Thái Ninh
Nhà XB: Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
11. Trần Đức Viên (1995), Nông nghiệp trên đất dốc, thách thức và tiềm năng, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp trên đất dốc, thách thức và tiềm năng
Tác giả: Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
12. Chu Văn Vũ (1995), Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam
Tác giả: Chu Văn Vũ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1995
13. Mai Văn Xuân, Bài giảng kinh tế hộ và trang trại, Trường đại học kinh tế Huế 14. Từ thị Xuyến (2000), “Những giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dânvùng gò đồi tỉnh Hà Tây”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân vùng gò đồi tỉnh Hà Tây
Tác giả: Từ thị Xuyến
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ Kinh tế
Năm: 2000
15. Đặng Thọ Xương (1996), Kinh tế VAC trong quá trình phát triển Nông nghiệp, nông thôn. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế VAC trong quá trình phát triển Nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Đặng Thọ Xương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của địa bàn xã Nhữ Hán từ năm 2011 đến năm 2013 - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của địa bàn xã Nhữ Hán từ năm 2011 đến năm 2013 (Trang 27)
Hình 3.1: Biểu đồ phân bố thu nhập của hộ điều tra - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Hình 3.1 Biểu đồ phân bố thu nhập của hộ điều tra (Trang 36)
Bảng 3.6: Phân nhóm thu nhập - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 3.6 Phân nhóm thu nhập (Trang 37)
Bảng 3.7: Trình độ học vấn của chủ hộ - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 3.7 Trình độ học vấn của chủ hộ (Trang 38)
Hình 3.2: Biểu đồ nguồn vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh của hộ - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Hình 3.2 Biểu đồ nguồn vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh của hộ (Trang 39)
Hình 3.3: Biểu đồ đất sản xuất của hộ - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Hình 3.3 Biểu đồ đất sản xuất của hộ (Trang 41)
Hình 3.4: Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa của xã - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Hình 3.4 Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa của xã (Trang 44)
Bảng 3.15: ANOVA - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 3.15 ANOVA (Trang 50)
Bảng 1: Thông tin về các thành viên trong gia đình  STT  Họ và tên  Tuổi - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 1 Thông tin về các thành viên trong gia đình STT Họ và tên Tuổi (Trang 64)
Bảng 5: Kết quả sản xuất của ngành chăn nuôi. - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 5 Kết quả sản xuất của ngành chăn nuôi (Trang 67)
Bảng 9: Nghề phụ và sản xuất khác - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 9 Nghề phụ và sản xuất khác (Trang 69)
Bảng 11:  Phương tiện phục vụ sản xuất - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 11 Phương tiện phục vụ sản xuất (Trang 70)
Bảng 12: Nguồn vốn vay của hộ gia đình - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 12 Nguồn vốn vay của hộ gia đình (Trang 71)
Bảng 14: Điều kiện cơ sở hạ tầng của địa phương - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 14 Điều kiện cơ sở hạ tầng của địa phương (Trang 72)
Bảng 15: Nơi mua vật tư, con giống  Vật tư/con giống  Nơi mua  Thuận lợi  Khó khăn - Nghiên cứu và phân tích các nguồn lực tác động đến phát triển kinh tế hộ tại xã Nhữ Hán - huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 15 Nơi mua vật tư, con giống Vật tư/con giống Nơi mua Thuận lợi Khó khăn (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w