Kinh tế hộ nông dân nước ta ngày càng khẳng định rõ vai trò tự chủ của mình trong đời sống, sự phát triển kinh tế hộ nông dân đã thực sự làm cho nền nông nghiệp nước ta đạt được nhiều th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN LUẬN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CÔN LÔN, HUYỆN NA HANG,
TỈNH TUYÊN QUANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN LUẬN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CÔN LÔN, HUYỆN NA HANG,
TỈNH TUYÊN QUANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Trần Việt Dũng Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - 2014
Trang 3Được sự đồng ý và giúp đỡ của bán giám hiệu trường Đại học Nông
Lâm, ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn tôi đã thực hiện đề
tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ trên địa bàn xã Côn
Lôn, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”
Trong thời gian thực tập tại xã, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, đặc biệt là sự giúp
đỡ nhiệt tình của thầy Trần Việt Dũng, cùng sự giúp đỡ tận tình của các cán
bộ tại Ủy ban Nhân Dân xã Côn Lôn Tôi xin chân thành cám ơn sâu sắc tới các thầy cô, cùng toàn thể các cán bộ tại UBND xã Côn Lôn đã giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt đề tài này
Do trình độ hạn chế nên trong quá trình làm đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong sự chỉ bảo thêm của thầy, cô giúp tôi hoàn thành và đạt kết quả cao
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Văn Luận
Trang 5Trang Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của địa bàn xã Côn Lôn từ năm 2011 đến
năm 2013 22
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất các ngành của xã Côn Lôn 3 năm (2011- 2013) 24
Bảng 3.3: Cơ cấu hành phần dân số và dân tộc trên địa bàn xã Côn Lôn 26
Bảng 3.4: Tình hình lao động và nhân khẩu 26
Bảng 3.5: Tình hình lao động việc làm của xã Côn Lôn năm 2013 27
Bảng 3.6: Khảo sát thu nhập của các hộ điều tra 29
Bảng 3.7: Phân nhóm thu nhập 29
Bảng 3.8: Trình độ học vấn của chủ hộ 31
Bảng 3.9: Đất sản xuất của hộ 33
Bảng 3.10: Phương tiện phục vụ sản xuất 34
Bảng 3.11: Phương tiện đi lại của các hộ điều tra 38
Bảng 3.12: Phương tiện truyền thông của các nhóm hộ điều tra 39
Bảng 3.13: Phương tiện tiện ích và giải trí có trong các nhóm hộ điều tra 40
Bảng 3.14: Thu nhập bình quân/người/tháng của các nhóm hộ phân theo trình độ học vấn của chủ hộ 43
Bảng 3.15: Bình quân tổng thu nhập theo khẩu và lao động 45
Bảng 3.16: Chi tiết chi phí chăn nuôi của các nhóm hộ 47
Bảng 3.17: Tổng chi của các nhóm hộ điều tra 48
Bảng 3.18: Tổng thu của các nhóm hộ điều tra 49
Bảng 3.19: Summary 51
Bảng 3.20: ANOVA 51
Bảng 3.21: Hệ số co dãn (hồi quy) giữa thu nhập với các yếu tố cơ bản 52
Trang 6Trang
Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu phân nhóm hộ theo thu nhập 30
Hình 3.2: Biểu đồ nguồn lực tài chính của các hộ điều tra trên địa bàn
xã Côn Lôn 32
Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ hộ tham gia các hội, đoàn thể 36
Hình 3.4: Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa trung bình năm 2013 41
Hình 3.5: Biểu đồ thu nhập bình quân/người/tháng của các nhóm hộ phân theo trình độ học vấn của chủ hộ 43
Trang 7Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
4 Bố cục của khóa luận 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Khái niệm hộ 4
1.1.2 Hộ nông dân 6
1.1.3 Kinh tế hộ nông dân 7
1.1.4 Phân loại hộ nông dân 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước
trên thế giới 12
1.2.2 Sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta 14
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra 15
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu 17
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 17
Trang 82.2 Phương pháp nghiên cứu 17
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 17
2.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 17
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 18
2.2.2.3 Thu thập số liệu sơ cấp 18
2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 18
2.2.3 Phân tích hồi quy và hàm sản xuất Cobb - Douglas 19
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
3.1.1.1 Vị trí địa lý - hành chính 20
3.1.1.2 Địa hình 20
3.1.1.3 Nguồn nước 20
3.1.1.4 Khí hậu 20
3.1.1.5 Tài nguyên rừng 21
3.1.1.6 Tài nguyên đất 21
3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn xã 23
3.1.2.1 Tình hình kinh tế 23
3.1.2.2 Tình hình xã hội 25
3.1.2.3 Tình hình dân số và lao động 25
3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng 27
3.2 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 28
3.2.1 Khảo sát thu nhập và phân nhóm hộ nghiên cứu 28
3.2.2 Phân tích nguồn lực của các hộ điều tra 30
3.2.2.1 Nguồn nhân lực 30
3.2.2.2 Nguồn lực tài chính 31
3.2.2.3 Nguồn lực của hộ 33
Trang 93.2.3 Chất lượng cuộc sống của các hộ điều tra 37
3.2.3.1 Phương tiện đi lại 38
3.2.3.2 Phương tiện truyền thông 39
3.2.3.3 Phương tiện tiện ích và giải trí trong gia đình 40
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ 41
3.3.1 Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái 41
3.3.2 Trình độ học vấn và kỹ năng lao động 43
3.3.3 Thị trường 46
3.4 Khái quát tình hình sản xuất của các nhóm hộ điều tra 47
3.4.1 Chi phí chăn nuôi của các nhóm hộ 47
3.4.2 Tổng chi của các nhóm hộ điều tra 48
3.4.3 Tổng thu của các nhóm hộ điều tra 49
3.5 Mối quan hệ giữa tổng thu và các nhân tố tác động đến phát triển
kinh tế hộ 50
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP 54
4.1 Các giải pháp hoặc nhóm giải pháp 54
4.1.1 Về nguồn nhân lực 54
4.1.2 Giải pháp về hoạt động tạo thu nhập 54
4.1.3 Phát triển cơ sở hạ tầng 55
4.1.4 Giải pháp về vốn 55
4.1.5 Giải pháp về khoa học công nghệ 56
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kinh tế hộ là loại hình kinh tế phổ biến, đang có vai trò, vị trí rất lớn và
là bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế, là chủ thể quan trọng trong phát triền nông nghiệp và đổi mới nông thôn ở nước ta Cùng với sự phát triển của kinh
tế xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng thì kinh tế hộ nông dân không ngừng phát triển cả về quy mô và tính chất Một bộ phận hộ nông dân chuyển từ quy mô nhỏ thành quy mô lớn, từ sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hóa, trao đổi sản phẩm trên thị trường
Kinh tế hộ nông dân nước ta ngày càng khẳng định rõ vai trò tự chủ của mình trong đời sống, sự phát triển kinh tế hộ nông dân đã thực sự làm cho nền nông nghiệp nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn khiến bộ mặt nông nghiệp, nông thôn và đời sống của người dân có bước thay đổi đáng kể
Kinh tế hộ nông dân được coi là một đơn vị kinh tế đặc thù và phù hợp trong sản xuất nông nghiệp Nó góp phần giải quyết vấn đề việc làm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân
Côn Lôn là một xã miền núi của huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quangsản xuất của xã chủ yếu phát triển nông nghiệp Trong những năm qua cùng với sự phát triển chung của đất nước, đời sống kinh tế xã hội của nhân dân trong xã cũng có nhiều thay đổi, đời sống kinh tế từng bước được nâng lên tỷ
lệ hộ giàu và khá tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể so với trước
Mặc dù có nhiều hộ đã đạt được một số kết quả nhất định trong phát triển kinh tế hộ tuy nhiên vẫn chưa đạt kết quả cao bởi có rất nhiều các nhân
tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ, việc xem xét các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế gia đình, sự cần thiết tháo gỡ những bất cập, để có thể sử dụng tối ưu các nguồn lực đã trở thành mối quan tâm của mọi người, mọi người dân những người chịu tác động trực tiếp
Trang 11Để góp phần nghiên cứu giúp người dân khắc phục những khó khăn
phát triển kinh tế hộ, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các
nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ trên địa bàn xã Côn Lôn, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”
Trong đề tài này tôi tập trung nghiên cứu những khó khăn, thuận lợi của các yếu tố giúp người dân xã Côn Lôn phát triển kinh tế hộ một cách hiệu quả
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kinh tế hộ nông dân và
đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã Côn Lôn,
huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Thực trạng kinh tế hộ nông dân tại xã Côn Lôn, huyện Na Hang, tỉnh
Tuyên Quang
- Nghiên cứu, phân tích các nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của
hộ nông dân tại xã Côn Lôn
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân tại địa bàn xã Côn Lôn
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn
Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin, phân tích, xử lý số liệu và viết báo cáo
Giúp hiểu thêm tình hình kinh tế - xã hội và các yếu tố ảnh hưởng
đến phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Côn Lôn, huyện Na Hang, tỉnh
Tuyên Quang
Trang 123.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nguồn lực đến kết quả phát triển sản xuất của hộ
4 Bố cục của khóa luận
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Các giải pháp
Kết luận
Phụ lục
Trang 13Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng
có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay [5]
Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế [8]
Các nhà kinh tế ở Việt Nam định nghĩa: “hộ là một nhóm người có cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng sống chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm, cùng tiến hành sản xuất chung và có chung một ngân quỹ…” [8]
Theo PGS.TS Trần Quốc Khánh (2005), trường Đại học kinh tế Quốc dân thì: Nông hộ là những hộ nông dân làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và dịch vụ…hoặc làm kết hợp nhiều ngành nghề , sử dung lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh Nông hộ tiến hành sản xuất nông, lâm - ngư nghiệp để phục vụ cuộc sống, do cá nhân làm chủ
Trang 14hộ và tự chịu trách nhiệm toàn bộ kết quả kinh doanh được gọi là kinh tế
hộ gia đình
Kinh tế hộ luôn gắn liền và chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố và
điều kiện tự nhiên, kinh tế văn hóa xã hội… của mỗi địa phương, mỗi vùng
lãnh thổ Sự khác nhau về đất đai, khí hậu, môi trường sinh thái cũng như về dân cư, dân tộc, trình độ sản xuất và tập quán sinh sống giữa các vùng vừa tạo
ra tính đa dạng trong nền kinh tế hộ nông dân, đồng thời cũng tạo ra những nét khác biệt và đặc thù về quy mô, cấu trúc lẫn phương thức và trình độ phát triển
Theo Liên hiệp Quốc: Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ
Trong thời gian qua đã có nhiều cuộc thảo luận nghiên cứu nghiêm túc
về khái niệm hộ giữa các nhà nghiên cứu cũng như các nhà chỉ đạo thực tiễn Tại cuộc hội thảo Quốc tế lần 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980, các nhà đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động khác”
Như vậy hộ là một nhóm người cùng huyết tộc “ăn chung” không chỉ
có nghĩa ăn thông thường, nó còn hàm nghĩa phân phối chung nguồn thu nhập
mà các thành viên của hộ sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định
Trên mỗi góc độ khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về hộ, tuy nhiên có thể kết luận hộ có chung các đặc điểm sau:
cùng huyết thống, sống chung một mái nhà
hoạch sản xuất kinh doanh chung
viên trong gia đình
Trang 151.1.2 Hộ nông dân
Sự phân định hoạt động liên quan và không liên quan đến nông nghiệp trong các hoạt động phi nông nghiệp là khó do vậy nảy sinh khái niệm “hộ nông thôn”
Theo Ellis - 1988 thì “hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản
được đặc trưng bằng việc tham gia một phần thị trường hoạt động với một
trình độ hoàn chỉnh không cao”.[6]
Như vậy, hộ nông dân khác với các hộ khác và khác với doanh nghiệp nông nghiệp ở quy mô sản xuất, nguồn lao động và mục tiêu sản xuất
Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất.[15]
Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản, vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng nông sản [7]
Nguyễn sinh Cúc (2001) định nghĩa: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc trên 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp và thông qua nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp” [2]
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng
có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay
Trang 16Ở nước ta có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà
khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu
hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc , trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.[1,3]
Đặc điểm của hộ nông dân:
- Là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của
hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết
định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt
động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau làm cho khó giới hạn thế nào
là một hộ nông dân
1.1.3 Kinh tế hộ nông dân
Traianốp cho rằng: “Kinh tế hộ nông dân như là một phương thức sản xuất tồn tại trong chế độ xã hội, từ nô lệ qua phong kiến đến tư bản chủ nghĩa, phương thức này có những quy luật phát triển riêng của nó, và trong mỗi chế
độ nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành.[9]
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong
đó các nguồn lực của đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi
là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà,
Trang 17ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc
vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ vào tạo điều kiện phát triển.[6]
Có ý kiến lại cho rằng, kinh tế nông hộ bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: Sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Kinh
tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp.[5]
Sau các công trình nghiên cứu về kinh tế nông dân của C.Mác và V.I.Lênin đã xuất hiện một xu hướng nghiên cứu về sự phát triển kinh tế hộ nông dân
Theo Hemery, Margolin (1988) thì “xã hội nông dân lạc hậu không nhất thiết phải đi lên chủ nghĩa tư bản, mà có thể phát triển lên chế độ xã hội khác bằng con đường phi tư bản chủ nghĩa” [4]
Trong quyển I của bộ Tư bản, C.Mác đã phân tích kỹ quá trình tước
đoạt ruộng đất của nông dân Anh một cách ồ ạt, làm phá vỡ nền nông nghiệp
truyền thống và sự hình thành của các tầng lớp trại chủ tư bản chủ nghĩa thuê
đất và vay vốn của địa chủ, bóc lột người làm thuê Người dự đoán, kinh tế hộ
sẽ hoàn toàn bị xoá bỏ trong điều kiện phát triển đại công nghiệp Nhưng ở quyển III, C.Mác khẳng định, ngay ở Anh, với thời gian đã thấy hình thức sản xuất nông nghiệp cơ bản được phát triển không phải là các nông trại lớn mà là các nông trại gia đình, không dùng lao động làm thuê Các nông trại lớn không có khả năng cạnh tranh với nông trại gia đình
V.I.Lênin cho rằng: “cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt của
họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính họ” Khi phân tích kết cấu xã hội nông dân nước Nga,
V.I.Lênin đã lưu ý, hộ nông dân khai thác triệt để năng lực sản xuất
đáp ứng những nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội Ông đã chỉ ra năng
Trang 18lực tự quyết định của quá trình sản xuất của hộ nông dân trong nền kinh tế
tự cung tự cấp, là mầm mống của những chiều hướng phát triển hàng hoá khác nhau, chính nó sẽ tự phá vỡ các quan hệ khép kín của hộ dẫn đến những quá trình sự vỡ kết cấu kinh tế" [14]
Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao
động - tiêu dùng giữa sự thoả mãn các nhu cầu của gia đình và sự nặng
nhọc của lao động Sản lượng chung của hộ gia đình hàng năm trừ đi chi phí sẽ là sản lượng thuần mà gia đình dùng để tiêu dùng, đầu tư sản xuất và tiết kiệm Mỗi hộ nông dân cố gắng đạt được một thoả mãn nhu cầu thiết yếu bằng cách tạo một sự cân bằng giữa mức độ thoả mãn nhu cầu của gia
đình với mức độ nặng nhọc của lao động Sự cân bằng này thay đổi theo
thời gian, theo cân bằng sinh học, do tỷ lệ giữa người tiêu dùng và người lao động quyết định [8]
Nhìn chung kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau:
+ Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống
Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: Kinh tế hộ sinh tồn, kinh
tế hộ tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hóa
+ Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế hộ nông hộ Ở nước ta, từ năm 1988 khi nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp - mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng chưa từng có về năng suất và số lượng Người nông dân phấn khởi trong sản xuất Một vấn đề rất quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ
+ Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao
động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng
Trang 19nhu cầu khác của gia đình Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với ngành kinh tế khác
+ Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại
Trước thực tiễn phong phú của sản xuất hiện nay, kinh tế hộ nông dân
đang được nghiên cứu để định hướng phát triển Vấn đề này sẽ còn gây nhiều
tranh luận về mặt lý luận và thực tiễn ở nước ta trong nhiều năm tới
1.1.4 Phân loại hộ nông dân
Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có:
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường
Loại này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong chính gia đình họ Để có đủ sản phẩm lao động trong nông hộ phải làm cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp, tự túc
sự hoạt động của hộ phụ thuộc vào:
+ Khả năng mở rộng diện tích đất đai
+ Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập
+ Có thị trường vật tư để họ mua nhằm lấy lãi
+ Có thị trường sản phẩm để họ trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình
- Hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường
Loại hộ này còn gọi là “nửa tự cấp”, nó không giống như loại doanh nghiệp khác là phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường, vì các yếu tố tự cấp còn lại nhiều và vẫn quyết định cách thức sản xuất của hộ, ở đây họ có phản ứng với giá cả, với thị trường nhưng ở mức độ thấp
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa là chủ yếu
Trang 20Loại này mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được hiểu rõ rệt và họ có phản
ứng gay gắt với các thị trường vốn, ruộng đất, lao động…
Theo tính chất của ngành sản xuất
- Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp
- Nông hộ kiêm: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp
- Nông hộ chuyên: Là loại nông hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc, nề, rèn, sản xuất vật liệu, vận tải, thủ công mỹ nghệ, may, dệt, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp
- Nông hộ buôn bán: Có quầy hàng riêng, bán hàng ở chợ hoặc nơi
đông dân cư
Các loại nông hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép Vì vậy xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hiện nay làm lao
động phi nông nghiệp tăng lên.[13]
Căn cứ vào tính chất của ngành sản xuất: Hộ thuần nông, nông hộ kiêm, nông
hộ chuyên, nông hộ buôn bán
Căn cứ vào thu nhập của nông hộ bao gồm
Trang 211.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới
Thái Lan: Một nước trong khu vực Đông Nam Á, Chính phủ Thái Lan
đã thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hậu trở thành nước có
nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế vùng núi ban hành (từ 1950 đến 1980)
Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn Mạng lưới đường
bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập các vùng ở xa (Bắc,
Đông, Bắc, Nam ) đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng
Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản
phẩm như cao su ở vùng núi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía Đông Bắc
Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa chế biến nông sản để xuất khẩu
như ngô, sắn sang các thị trường như Châu Âu và Nhật Bản
Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế
nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: Cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp, ứng trước tiền cho nhân dân, và cam kết mua sản phẩm với giá định trước cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Hàng năm có 95% sản lượng cao su, hơn
4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: Đó là việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng , xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời
bỏ nông thôn theo mùa vụ ngày càng gia tăng
Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực
đầu tư cho nông nghiệp nông thôn Một trong những thành tựu của Trung
Quốc trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển
Trang 22dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao Nguyên nhân của thành tựu đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho
sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tần nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng, vật nuôi, cây con vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông.[4]
Đài Loan: Cũng là nước có nền nông nghiệp phát triển mạnh Đặc biệt
là sau cải cách ruộng đất nền nông nghiệp của Đài Loan thực sự đổi sắc Để phát triển kinh tế nông hộ Đài Loan có rất nhiều chủ trương, chính sách Song cách hợp lý và có hiệu quả hơn cả là cách lập ra các tổ chức có tên gọi là
“Nông phục hội”
Tổ chức này đứng ra lập kế hoạch chỉ đạo sản xuất, cố vấn phát triển
và quan trọng hơn cả là làm khâu trung gian chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân… Kinh nghiệm của tổ chức này cho hay, để thành công trong việc phát triển kinh tế hộ nông dân, họ đã tiến hành một loạt các biện pháp cơ bản sau:
+ Tiến hành cải cách ruộng đất mà thực chất là giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân Thực hiện “Người cày có ruộng” Sau cải cách ruộng
đất, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trong sản xuất nông nghiệp đạt tới mức 5,3%
một năm liên tục trong suốt 15 năm
+ Tiến hành cuộc “Cách mạng xanh” Đây là cuộc cách mạng về giống
và đào tạo được nhiều giống mới có năng suất cao trên mảnh đất của nông hộ
“Cách mạng xanh” đã đem lại cho hộ những lợi ích thiết thực Trong khi đó, Chính phủ lại cố định thuế nông nghiệp vì vậy mà nông dân có lợi cao hơn,
họ rất phấn khởi và ngày càng hăng hái trong sản xuất
+ Không ngừng phát triển kinh tế HTX và các hiệp hội ở nông thôn Các tổ chức này có vai trò chuyển giao công nghệ cho bà con nông dân, tương
Trang 23trợ sản xuất ở nhiều mặt như: Tạo giống, nhân giống, thủy lợi, phân bón, thâm canh, tín dụng bao tiêu sản phẩm
+ Tiến hành CNH nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập Mặt khác tiến hành điện khí hóa và phát triển cơ sở hạ tầng ở các làng xã nông thôn, tạo điều kiện cho nông nghiệp được thiết lập từ đó thu hút lao động dư thừa và rẻ ở nông thôn, tạo khả năng mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa trong các nông trại Đồng thời cũng làm giảm việc di cư ra đô thị của người dân nông thôn
+ Tiến hành cơ khí hóa và chuyên môn hóa trong sản xuất Dùng máy móc thiết bị thay thế sức người, thoạt đầu một số người chung nhau mua máy móc để canh tác cho hộ mình sau đó làm thuê cho các hộ khác
Việc cung cấp nước, giống cũng được phát triển theo hình thức ấy, từ
đó đã tạo nên chuyên môn hóa trong sản xuất Việc cơ khí hóa và chuyên môn
hóa đã góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất trong các hộ
1.2.2 Sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta
Bắc Ninh: Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Bắc
Ninh có nhiều nỗ lực trong thực hiện chủ trương cho hộ vay sản xuất, trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển,
đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển địa phương
Từ đó đến nay, hàng ngàn hộ nông dân trên địa bàn đã được tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng Với thủ tục vay vốn ngày càng đơn giản, thuận tiện, thời gian nhanh hơn, số tiền vay nhiều hơn, phong cách phục vụ tận tình, chu đáo hơn, ngân hàng đã luôn đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các hộ nông dân thúc đẩy phát triển trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng các
mô hình trang trại tạo việc làm, thu nhập ổn định, từng bước xoá đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu
Phong trào hộ nông dân thi đua sản xuất giỏi của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động được các cấp hội và nông dân trong tỉnh
Trang 24Bắc Ninh hưởng ứng Các cấp Hội Nông dân xác định đây là phong trào trọng tâm, nòng cốt có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới của hội viên Thực hiện tốt phong trào này sẽ góp phần xây dựng nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Hưng Yên: Tư tưởng cần phải chia ruộng tốt - xấu, xa - gần, cao - thấp
để bảo đảm công bằng của thời kỳ đầu nhận đất nông nghiệp khoán đến hộ
nông dân nay không còn phù hợp Sự manh mún, nhỏ hẹp đó đã trở thành lạc hậu, đang bị đẩy lùi để nhường chỗ cho cách làm tiên tiến hơn, đó là người nông dân đang rất cần những thửa ruộng đủ lớn, liền vùng, liền khoảnh để sản xuất, vươn tới một nền nông nghiệp hàng hoá thực sự Muốn vậy, phải tích tụ
ruộng đất
Ruộng đất manh mún là nguyên nhân chính kìm hãm việc áp dụng cơ giới hoá và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, kìm hãm tiến trình sản xuất nông nghiệp hàng hoá cũng như tiêu thụ nông sản theo hợp
đồng Chính vì thế, để phát huy những thành tựu đã đạt được sau khi dồn thửa đổi ruộng năm 2003 cũng như khắc phục những hạn chế trong quá trình
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tiến đến xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững Định hướng đến năm 2020, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo tiếp tục thực hiện dồn thửa đổi ruộng, khuyến khích tích tụ đất đai trên cơ sở thoả thuận, góp vốn bằng đất hoặc chuyển nhượng đất để sản xuất nông nghiệp theo đúng pháp luật Cùng với đó, tỉnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách
đồng bộ hỗ trợ cho chủ hộ có ruộng đất phát huy được tư liệu sản xuất “Lối
mở” này đang mở ra tương lai tốt đẹp hơn cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
của tỉnh, thêm cơ hội làm giàu và từng bước giải phóng sức lao động cho người nông dân
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra
Qua tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân của một số nước trên thế giới và tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân của Việt Nam trong
Trang 25nhiều năm Tôi rút ra được một số kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân như sau:
- Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức cơ sở trong nông nghiệp
Được phát triển phổ biến và nó cần tạo điều kiện để phát triển vì kinh tế hộ
nông dân có nhiều ưu điểm mà các hình thức sản xuất khác không có được
- Không thể áp đặt phương pháp sản xuất công nghiệp vào nông nghiệp, nghĩa là không thể tách quản lý sản xuất ra khỏi sản xuất, các chủ hộ sẽ vừa là người quản lý, vừa là người lao động trực tiếp và vừa là người kinh doanh Để quản lý nông trại hiện đại, người chủ hộ phải có những kiến thức rộng, phải
có năng lực và đặc biệt là phải có thái độ người chủ đồng thời là người thân thiết gần gũi đối với đất đai, vật nuôi, cây trồng
- Con đường phát triển kinh tế hộ nông dân tự cấp tự túc lên kinh tế trang trại không phải là quy luật riêng của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
mà là quy luật phát triển chung của nền nông nghiệp thế giới
- Hộ nông dân chuyển từ sản xuất tiểu nông lên sản xuất hàng hoá, tất yếu phải phát triển theo quy mô trang trại gắn với hình thức hợp tác cần thiết Nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế hộ bằng cơ chế, chính sách, biện pháp hỗ trợ cho người nông dân của mình
- Tư liệu sản xuất là điều tối cần thiết đối với kinh tế hộ đặc biệt là đất
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn thu và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tại các hộ nông dân tại địa bàn xã Côn Lôn
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Côn Lôn
- Nghiên cứu nguồn lực phục vụ sản xuất tại các nông hộ
- Phân tích các nhân tố chính tác động đến phát triển kinh tế của các nhóm hộ
- Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại địa phương
+ Thời gian thực tập từ ngày 13/01/2014 đến ngày 15/04/2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Điều tra chọn mẫu là không tiến hành điều tra hết toàn bộ các đơn vị
của tổng thể, mà chỉ điều tra trên một số đơn vị nhằm để tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí Từ những đặc điểm và tính chất của mẫu ta có thể suy ra
được đặc điểm và tính chất của cả tổng thể đó Vấn đề quan trọng nhất là đảm
bảo cho tổng thể mẫu phải có khả năng đại diện cho tổng thể chung Chọn
Trang 27mẫu ngẫu nhiên trong tổng số hộ của xã lấy mẫu 90 hộ Kết quả điều tra của mẫu này có thể suy ra cho tổng thể chung
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu có sẵn hoặc từ các số liệu đã được công bố Các thông tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng, dự án, các tài liệu trên Internet…
Trong phạm vi đề tài này, phương pháp thu thập thông tin thứ cấp sử dụng để có được các số liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Côn Lôn, tình hình sản xuất phát triển kinh tế của xã Côn Lôn qua các năm
2.2.2.3 Thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp là phương pháp thu thập thông tin,
số liệu chưa từng được công bố, ở bất kỳ tài liệu nào người thu thập có được thông tin qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau như: Tìm hiểu, quan sát thực tế, đánh giá nông thôn, phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn bán cấu trúc, …
Trong phạm vi đề tài này, để thu thập được các thông tin sơ cấp phục
vụ cho kết quả nghiên cứu, tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân bằng bảng hỏi, với bộ câu hỏi này, số liệu thu thập trong quá trình điều tra
được tổng hợp bằng bảng biểu
2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Xử lý số liệu đã công bố: Dựa vào các số liệu đã được công bố, tôi tổng hợp, đối chiếu để chọn ra những thông tin phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài
- Xử lý số liệu điều tra: Sử dụng phần mềm MICROSOFT EXCEL để tập hợp, phân tích và sử lý thông tin, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ và mối quan hệ giữa phát triển kinh tế hộ với các yếu tố về tự nhiên, điều kiện sản xuất
Trang 282.2.3 Phân tích hồi quy và hàm sản xuất Cobb - Douglas
Các nhà kinh tế tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học - công nghệ [10,11]
Một dạng của kiểu phân tích này là hàm Cobb - Douglas, hàm này có dạng:
Y = T Kα Lβ Rγ
Ở đây α, β, γ là các số lũy thừa, phản ảnh tỷ lệ cận biên của các yếu tố đầu vào
(α + β + γ = 1)
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý - hành chính
Côn Lôn là một xã miền núi vùng cao không có đường tỉnh lộ đi qua địa bàn xã Đất đai của xã chủ yếu là đất lâm nghiệp chiếm diện tích cao so với tổng diện tích đất tự nhiên, nên thuận lợi cho phát triển các cây công nghiệp lâu năm và một số cây ăn quả
Xã Côn Lôn có tổng diện tích đất tự nhiên là 5611,6 ha, nằm ở phía
Bắc huyện Na Hang, có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp xã Thượng Nông
- Phía Nam giáp xã Khâu Tinh
- Phía Đông giáp xã Thượng Nông, xã Yên Hoa
- Phía Tây giáp xã Sinh Long
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình của xã chủ yếu là đồi núi cao, có độ dốc lớn, địa hình bị chia
cắt dọc theo các dãy núi, điều kiện đi lại của nhân dân trong xã gặp rất nhiều khó khăn vào mùa mưa
3.1.1.3 Nguồn nước
Nguồn nước chính của xã là trên núi, đồng thời có nhiều suối, khe rạch
được phân bố đều trên địa bàn xã Nhờ có các nguồn nước này, nước cho sản
xuất và sinh hoạt tương đối thuận lợi
3.1.1.4 Khí hậu
Nhiệt độ: Côn Lôn có khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ bình quân
23oC, cao nhất 37oC, thấp trung bình là 10oC vào các tháng 12, tháng 1, tháng 2
Trang 30Mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9
Trang 31Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của địa bàn xã Côn Lôn từ năm 2011 đến năm 2013
Loại đất
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Nguồn: UBND xã Côn Lôn
Trang 32`3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn xã
3.1.2.1 Tình hình kinh tế.
Trung tâm xã Côn Lôn cách thị trấn Na Hang khoảng 50 km Nhân dân
ở đây chủ yếu là trồng trọt nông nghiệp Từ khi xoá bỏ chế độ bao cấp, sang
cơ chế khoán tự chủ đời sống nhân dân có phần thay đổi rõ rệt Đặc biệt được các dự án của Nhà nước, như phủ xanh đất trống đồi trọc, củng cố xây dựng các cơ sở hạ tầng như các kênh mương nội đồng, tạo điều kiện cho nhân dân thâm canh sản xuất được hai vụ lúa và trồng màu, góp phần tăng thêm thu nhập và ổn định đời sống Đặc biệt là chủ trương xoá đói giảm nghèo, kết hợp giữa Nhà nước và nhân dân cùng làm, cho vay vốn ưu đãi, tạo công ăn việc làm, để tăng thêm thu nhập Tuy nhiên do là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp nên tỷ lệ nghèo vẫn còn cao
Vì là xã vùng cao của huyện nên Đảng và nhà nước có các chính sách quan tâm, ưu tiên như 135, cấp BHYT cho người dân tộc thiểu số
Tóm lại nhìn chung tình hình kinh tế ở xã Côn Lôn vẫn còn gặp nhiều khó khăn Đời sống nhân dân đang dần được cải thiện, mức tăng trưởng kinh
tế có xu hướng tăng theo cơ chế thị trường nhưng chậm
- Nông Nghiệp:
Trồng trọt: Tại Côn Lôn lúa và ngô là hai loại cây trồng chủ đạo
Công thức canh tác là: lúa xuân + lúa mùa, ngô ruộng + lúa mùa, ngô xuân + ngô mùa, ngô mùa + đỗ đậu, rau màu
Sản lượng lương thực có hạt khá lớn Đã nhiều năm dùng giống mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nên sản lượng lương thực hàng năm tăng ( từ 1.113,62 /1.240,3 tấn năm 2013 đạt 97% kế hoạch)
Ngoài lúa và ngô là hai loại trồng chính, Côn Lôn còn là vùng trồng màu: lạc, mía, đậu tương, đậu xanh …đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân
Chăn nuôi: xã hiện có 798 con trâu, 39 con bò, 1.904 con lợn, 6.584 con gia cầm các loại
Trang 33Chăn nuôi đại gia súc, gia cầm nhìn chung có biến động nhưng không nhiều vì xã Côn Lôn là một xã vùng cao của huyện Na Hang nên người dân ở
đây ít tiếp cận với KH- KT, máy móc chủ yếu vẫn làm ruộng thủ công cày,
kéo bằng trâu, bò nên số lượng đàn trâu tăng đáng kể
Diện tích nuôi trồng thủy sản là 0,3 con giống nuôi trồng chủ yếu là giống cá trắm, chép, cá trôi
Hiện nay toàn bộ đất rừng đã được giao cho các hộ gia đình quản lý Rừng được khoanh nuôi, bảo vệ Chương trình phủ xanh đồi núi trọc của chính phủ đang được đẩy mạnh Độ che phủ rừng hiện nay chiếm trên 65%, bảo đảm cân bằng sinh thái
Ngoài cây mọc tự nhiên, xã còn trồng nhiều loại cây ăn quả: trám, mận,
mơ, xoài, na, vải thiều, hồng, chuối, … và trồng các loại cây công nghiệp, cây lấy gỗ như: keo, bạch đàn, mỡ, lim, lát, tre, mai, trúc, xoan…
Các loại cây trồng nói trên có diện tích chưa nhiều, chưa có sản phẩm hàng hoá lớn bán ra thị trường
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất các ngành của xã Côn Lôn 3 năm (2011- 2013)
Ngành
Giá trị CC Giá trị CC Giá trị CC
12/11 13/12 BQ (Tr Đ) (%) (Tr Đ) (%) (Tr Đ) (%)
Nông lâm - thủy sản 10.630 79,71 18.410 77,78 19.190 76,10 112,94 103,75 108,25
CN - TTCN - XD 2.700 13,20 3.360 14,20 3.800 15,14 124,44 113,10 118,63 Dịch vụ 1.450 7,09 1.900 8,03 2.200 8,76 131,03 115,79 123,17
Nguồn: UBND xã Côn Lôn
Qua bảng trên ta thấy trong tổng giá trị của ngành nông lâm - thủy sản chiếm tỷ lệ lớn nhất Năm 2011 nông lâm - thủy sản đóng góp 79,71% trong tổng giá trị sản xuất các ngành Tuy nhiên giá trị từ năm 2011 - 2013 của
Trang 34ngành nôn lâm - thủy sản tăng lên nhưng cơ cấu của ngành này lại giảm từ 79,71% xuống 76,10% Do giá trị của CN -TTCN - XD và dịch vụ phát triển nhanh hơn
Tại địa bàn xã Côn Lôn các hoạt động CN - TTCN - XD, dịch vụ đang dần phát triển đóng góp của hai ngành này trong tổng giá trị sản xuất các ngành rất quan trọng, năm 2013 CN- TTCN- XD chiếm 15,14%, dịch vụ 8,76%
3.1.2.2 Tình hình xã hội
Các tổ chức chính trị cơ sở xã đã được củng cố và hoàn thiện, cán bộ chủ chốt, cán bộ cốt cán các đầu ngành đều có trình độ học vấn 10/10 và 12/12, đã trải qua công tác chiến đấu và trưởng thành, có kinh nghiệm lãnh đạo, một số cán bộ chủ chốt cũng đã được đào tạo qua những lớp Trung cấp, cao đẳng, đại học được cấp bằng và chứng chỉ, trình độ văn hoá của nhân dân, cơ bản được nâng lên Đặc biệt từ những năm trở lại đây, trình độ văn hoá của nhân dân
được nâng cao rõ rệt, việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất đời sống
ngày càng được hoàn thiện Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin, hầu hết các hộ gia đình trên xã đều
có ti vi hoặc máy rađiô, để nghe và theo dõi thông tin thời sự hàng ngày, chương trình cải cách kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Song cũng còn không ít một số hộ dân chưa am hiểu, nhận thức còn quá kém tuy đã được học tập, giải thích phát tờ rơi song còn mang tính chất thuần thuý, cục bộ
3.1.2.3 Tình hình dân số và lao động
đến ngày 31/12/2013 cả xã có 464 hộ tương ứng với 2122 nhân khẩu
Dân tộc:
Xã Côn Lôn có các dân tộc cùng nhau sinh sống đó là: Kinh, Tày, H’Mông, Dao Trong đó:
Trang 35Bảng 3.3: Cơ cấu hành phần dân số và dân tộc trên địa bàn xã Côn Lôn STT Dân Tộc Số lượng (người) Cơ cấu (%)
Nguồn: UBND xã Côn Lôn
Qua bảng trên ta thấy tại địa bàn xã Côn Lôn chủ yếu là dân tộc Tày chiếm
đến 81,48%, tiếp đến là dân tộc H’Mông chiếm 9,80% Dân tộc Dao xếp thứ 3
chiếm 8,20% Thấp nhất là dân tộc Kinh có11 người chiếm 0,52% dân tộc trên toàn xã
Lao động và nhân khẩu:
Bảng 3.4: Tình hình lao động và nhân khẩu Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Nguồn: UBND xã Côn Lôn
Từ năm 2011 đến năm 2013 tình hình dân số trên địa bàn xã Côn Lôn có
xu hướng tăng lên, cụ thể năm 2013 lên 57 người so với năm 2011 Số lượng hộ cũng có xu hướng tăng lên từ 442 hộ lên 464 hộ tức năm 2013 tăng 22 hộ so với năm 2011 Số lao động trong địa bàn xã có xu hướng tăng từ năm 2011 đến 2012 tăng 20 người, từ năm 2012 đến 2013 giảm thêm 24 người Là xã thuộc huyện vùng cao nên việc nhận thức và thực hiện chính sách Kế hoạch hóa gia đình chậm nên bình quân nhân khẩu trên hộ giảm chậm năm 2011là 4,67 người và đang có
xu hướng giảm dần
Lao động và việc làm:
Trang 36Bảng 3.5: Tình hình lao động việc làm của xã Côn Lôn năm 2013
Chỉ tiêu
SL (hộ)
CC (%)
SL (lao động)
CC (%)
Nguồn: UBND xã Côn Lôn
Tại địa bàn xã Côn Lôn do diện tích đất sản xuất nông nghiệp khá lớn nên
số hộ nông- lâm nghiệp chiếm tới 76,94%, tuy nhiên cũng do trình độ học vấn có hạn nên số hộ và lao động tham gia vào các ngành thương mại và dịch vụ cũng khá thấp chỉ khoảng 5,60% tổng số hộ và 11,29% tổng lao động tham gia vào ngành này Còn lại lao động trong địa bàn xã tham gia vào ngành công nghiệp - xây dựng như: hồ, xây dựng, sửa chữa điện nước Các ngành nghề công nghiệp xây dựng là các công việc đòi hỏi sự lao động bằng chân tay
Xã có 1 trạm điện biến áp: Ở thôn 3 Hiện tại 100% số hộ trong xã có điện
tương đối tốt đặc biệt là về hệ thống điện 100% hộ dân trong xã đều có điện
để sử dụng, đây là một điều kiện rất thuận lợi để các hộ có thể chạy các loại
máy móc cũng như các tiện nghi sinh hoạt trong gia đình Điện là một trong những điều kiện tất yếu để hộ có động cơ trang bị cho hộ những máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất, hay đơn giản là để có thể chạy được các thiết
Trang 37bị vô tuyến giúp hộ kịp thời cập nhật các thông tin về thị trường cũng như phương thức sản xuất có hiệu quả
- Điểm bưu điện văn hóa xã được xây dựng kiên cố, địa điểm gần trụ sở UBND và trạm y tế
- Hệ thống thuỷ lợi:
Tổng số công trình phai đập trên địa bàn xã là 13 công trình Trong đó:
Đập thuỷ lợi kiên cố 7 công trình, phai tạm 06 công trình, tổng số chiều dài
kênh mương là 12,67km Tuy vậy lượng nước từ các suối chảy vào mương không nhiều, không đều vì ít nước và chất lượng kênh mương còn kém, cần
được bê tông hóa Đất nông nghiệp phân bố rải rác, không tập trung, manh
mún là khó khăn trong việc canh tác, làm đất hay lấy nước Hệ thống mương máng trong xã hàng năm được nạo vét, tu sửa tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất của hộ, một số thửa ruộng chỉ có thể cấy một vụ nhờ mưa, trồng các cây sống cạn như lạc, đậu tương, ngô cho năng suất không cao
- Trường học: Trên địa bàn xã có 1 trường mầm non và 1 trường cấp I+II, đáp ứng nhu cầu học tập của con em trong xã Hệ thống trang thiết bị học tập càng ngày càng được cải thiện, đội ngũ giáo viên giảng dạy có trình
độ chuyên môn cao
3.2 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra
3.2.1 Khảo sát thu nhập và phân nhóm hộ nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu và thực tế kết quả điều tra tại các hộ,
từ danh sách thu nhập của các hộ nông dân tại vùng khảo sát, có thể sắp xếp, phân loại nhóm hộ theo thu nhập lần lượt từ thấp đến cao Mục đích chính của việc phân nhóm hộ theo mức thu nhập này là để chỉ ra được các yếu tố chính
ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của các nhóm hộ tại khu vực nghiên cứu
Khảo sát thu nhập của các hộ điều tra có thống kê sau:
Trang 38Bảng 3.6: Khảo sát thu nhập của các hộ điều tra
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Giá trị trung bình của hộ nông dân là 53.663,18 đồng Độ lệch chuẩn 45.861,165 Dựa trên giá trị trung bình và độ lệch chuẩn để tiến hành phân nhóm hộ nông dân Tiêu chí để tiến hành phân nhóm
Trang 39Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu phân nhóm hộ theo thu nhập
Sau khi tổng hợp, phân tích thống kê cho thấy số hộ có thu nhập ở mức khá chiếm tỷ lệ cao nhất 48,89%, nhóm hộ có thu nhập thấp chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm thu nhập cao
3.2.2 Phân tích nguồn lực của các hộ điều tra
3.2.2.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn sinh kế cho người dân trong xã bởi lẽ trong bất kì loại hình sản xuất nào thì yếu tố con người luôn là sự quan tâm hàng đầu Con người là trung tâm, là nguồn vốn vô tận để tạo ra của cải vật chất, chính con người quyết định nên hình thức lao động Yếu tố con người trong sản xuất cũng được đánh giá bởi nhiều khía cạnh: độ tuổi, trình độ, số lượng lao động
Chủ hộ là người trụ cột trong gia đình, quyết định mọi việc trong gia
đình vì thế độ tuổi của chủ hộ sẽ có ảnh hưởng đến việc lựa chọn sinh kế của
hộ Qua số liệu điều tra cho thấy độ tuổi trung bình của chủ hộ là 49,91 tuổi Với kết cấu độ tuổi như vậy thì người trụ cột trong gia đình sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc quản lý và lựa chọn sinh kế cho cả gia đình
Trình độ học vấn là một khía cạnh rất quan trọng để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Một nguồn nhân lực được xem là có chất lượng cao khi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kĩ năng lao động thành thạo