1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

74 683 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 515,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thái Nguyên, ngày 1 tháng 6 năm 2014 Sinh viên Trang 4 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và g

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ VÂN

Tên đề tài:

§¸nh gi¸ thùc tr¹ng nghÌo th«ng qua ph−¬ng ph¸p tiÕp cËn nghÌo ®a chiÒu vµ gi¶i ph¸p gi¶m nghÌo bÒn v÷ng

t¹i x· QuÕ T©n, huyÖn QuÕ Vâ, tØnh B¾c Ninh

KhãA LUËN tèt nghiÖp §¹I HäC

Chuyên ngành : Kinh tế Nông nghiệp Khoa : KT - PTNT

Khoá học : 2010 - 2014

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ VÂN

Tên đề tài:

§¸nh gi¸ thùc tr¹ng nghÌo th«ng qua ph−¬ng ph¸p tiÕp cËn nghÌo ®a chiÒu vµ gi¶i ph¸p gi¶m nghÌo bÒn v÷ng

t¹i x· QuÕ T©n, huyÖn QuÕ Vâ, tØnh B¾c Ninh

KhãA LUËN tèt nghiÖp §¹I HäC

Chuyên ngành : Kinh tế Nông nghiệp

Khoa : KT - PTNT Khoá học : 2010-2014 Giảng viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Mạnh Thắng

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh Tế & Phát Triển Nông Thôn, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong xuốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Tôi đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Th.s Nguyễn Mạnh Thắng - Giảng viên khoa Kinh Tế & Phát Triển Nông Thôn

đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ, Đảng viên, UBND xã Quế Tân cùng các hộ nông dân xã Quế Tân đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công việc trong thời gian thực tập tại địa phương

Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân

đã giúp đỡ tôi trong xuốt quá trình thực tập

Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cho nên Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 1 tháng 6 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Vân

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh”, là Khóa luận do

chính bản thân tôi thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa

học của Ths Nguyễn Mạnh Thắng Các số liệu, bảng và những kết quả

trong khóa luận là trung thực, các nhận xét, phương hướng đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm hiện có Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

BQ : Bình quân BVTV : Bảo vệ thực vật

SX : Sản xuất THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông

TM - DV : Thương mại - Dịch vụ UBND : Ủy ban nhân dân XĐGN : Xóa đói giảm nghèo UNDP : Phát triển liên hợp quốc

WB : Ngân hàng thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.2: Kích thước sử dụng trong chỉ số nghèo đa chiều 11

Bảng 3.1: Chỉ tiêu số lượng mẫu điều tra 22

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Quế Tân năm 2011 - 2013 25

Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động xã Quế Tân năm 2011 - 2013 27

Bảng 4.3: Kết quả sản xuất các ngành kinh tế ở xã Quế Tân năm 2011 - 2013 30

Bảng 4.4: Tình hình thu nhập bình quân của xã Quế Tân các năm 2011 - 2013 31

Bảng 4.5: Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo trong xã các năm 2011 - 2013: 33

Bảng 4.6: Tình hình nhân khẩu, lao động và dân tộc của các hộ năm 2013 35

Bảng 4.7: Đặc điểm bằng cấp cao nhất của 1 thành viên trong gia đình của các hộ điều tra năm 2013: 37

Bảng 4.8: Tình hình giáo dục của các hộ điều tra năm 2013 38

Bảng 4.9: Tình hình sức khỏe các hộ điều tra năm 2013 39

Bảng 4.10: Đặc điểm về tiếp cận nguồn vốn của 60 hộ điều tra: 40

Bảng 4.11: Số hộ thuê đất canh tác nông nghiệp năm 2013 41

Bảng 4.12: Đặc điểm về kiểu nhà của các hộ điều tra năm 2013 42

Bảng 4.13: Đặc điểm về chỉ báo vốn vật chất của các hộ điều tra năm2013……….……….43

Bảng 4.14: Đặc điểm nhu cầu sinh hoạt của các hộ điều tra năm 2013 44

Bảng 4.15: Tình hình vốn tài chính năm 2013 45

Bảng 4.16: Đặc điểm vốn tâm lý của các hộ gia đình 2013 46

Bảng 4.17: Tỷ lệ hộ nghèo tính theo thu nhập năm 2013 47

Bảng 4.18: Tỷ lệ hộ nghèo qua tiếp cận đa chiều năm 2013 49

Bảng 4.19: So sánh tỷ lệ hộ nghèo qua tiếp cận nghèo đa chiều so với nghèo đơn chiều năm 2013 50

Bảng 4.20: Tỷ lệ các nhóm đối tượng nghèo đa chiều năm 2013 51

Trang 7

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4 Bố cục của đề tài 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Khái niệm nghèo 4

2.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói 5

2.1.3 Khái niệm nghèo đa chiều 8

2.1.4 Chuẩn nghèo đa chiều 10

2.1.5 Các quan niện về giảm nghèo bền vững 13

2.1.6 Các khía cạnh của đói nghèo 15

2.2 Cơ sở thực tiễn 17

2.2.1 Đặc điểm nghèo đói ở nước ta 17

CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20

3.2 Nội dung nghiên cứu 20

3.3 Câu hỏi nghiên cứu 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu 21

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 21

3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 23

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24

4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Quế Tân 24

4.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội của xã Quế Tân 26

Trang 8

4.1.3 Thuận lợi và khó khăn điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội

trong quá trình giảm nghèo của xã Quế Tân 32

4.2 Thực trạng nghèo của xã Quế Tân 33

4.2.1 Tình hình nghèo đói của xã Quế Tân 33

4.2.2 Tình hình nghèo của các hộ điều tra 34

4.2.3 Đánh giá nghèo thông qua tiếp cận đơn chiều 47

4.2.5 So sánh tỷ lệ hộ nghèo của phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều với nghèo đơn chiều 49

4.2.6 Phân loại các nhóm đối tượng nghèo đa chiều và nguyên nhân nghèo 50

4.2.7 Phân tích SWOT đối với quá trình giảm nghèo bền vững 54

4.2.8 Giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 56

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

1 Kết luận 61

2 Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 9

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghèo là một trong những vấn đề gay gắt và mang tính toàn cầu, còn trầm trọng hơn khi nó vẫn còn tồn tại trên phạm vi vô cùng rộng lớn Nghèo

là nỗi bất hạnh của nhiều người, là nghịch lý trên con đường phát triển chung của xã hội Trong một thời gian khá dài chúng ta thường nói về nghèo như là một bộ phận dân chúng, những người có mức thu nhập trung bình thấp hơn 1USD (quy đổi)/ngày vào những năm 90 của thế kỷ 20 và hiện giờ là nhỏ hơn 2USD/ngày/người theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) Như vậy,

rõ ràng chúng ta chỉ nhìn vào các con số để đánh giá nghèo mà đã vô tình quên đi các nguyên nhân gây ra nghèo, trong đó quan trọng nhất là “sự bất bình đẳng” và “chênh lệch quyền lực” giữa các cá nhân và giữa các nhóm người trong xã hội Nếu nghĩ nghèo dưới góc độ kinh tế, tài chính thì phải chăng để xoá nghèo, chúng ta chỉ việc tập trung nâng cao vốn kinh tế, tài chính làm cho người nghèo tăng trưởng về thu nhập?

Dựa trên quan điểm này, khái niệm “nghèo đa chiều” đã ra đời trong

đó xác định rõ nghèo không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận đến sức khỏe, giáo dục và mức sống

Trong những năm gần đây xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã áp dụng nhiều các giải pháp giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đạt được những thành tựu nhất định Tỷ lệ người dân được tiếp cận với các dịch

vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng được cải thiện rõ rệt, đời sống người nghèo được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể Kết quả giảm nghèo tuy đạt được những mục tiêu đề ra nhưng chưa thực sự bền vững Tỷ lệ hộ cận nghèo, hộ phát sinh còn lớn, tư tưởng trông chờ, ỷ lại không muốn thoát nghèo còn diễn ra phổ biến ở một

bộ phận người dân, chênh lệch người nghèo giữa các vùng và giữa các đối tượng còn lớn, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát với mức chuẩn nghèo, nguy cơ tái nghèo cao Do vậy, cần có một chương trình thoát nghèo một cách

Trang 10

nghiêm túc và khoa học Chúng ta không nên nhìn nghèo chỉ với một khía cạnh

đó là theo thu nhập, không xem nghèo là một hiện tượng đơn lẻ mà là hiện tượng

đa khía cạnh, phức tạp, chồng chéo bao gồm nhiều yếu tố khác nhau Phương pháp đo lường nghèo đổi từ đơn chiều (theo thu nhập) sang đa chiều để tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng Trong thời kì đổi mới, hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế Bắc Ninh, nền kinh tế huyện Quế Võ, cũng như nền kinh tế xã Quế Tân có những chuyển đổi rất mạnh theo hướng CNH - HĐH Vấn đề cấp thiết cần được đề ra là nghiên cứu, phân tích, đánh giá nghèo một cách đúng đắn,

từ đó đưa ra các phương pháp để phát huy các thế mạnh và hạn chế các thế yếu, nhằm đưa xã Quế Tân thoát nghèo bền vững có hiệu quả Hiện nay, các nghiên cứu về nghèo đa chiều hầu như chưa có Vì vậy, để hệ thống hóa cũng như đánh giá được thực trạng nghèo theo hướng đa chiều là rất cần thiết

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh”

1.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu

* Mục tiêu chung:

Trên cơ sở đánh giá thực trạng nghèo tại địa bàn xã Quế Tân, thông qua tiếp cận nghèo đa chiều đưa ra phân tích, đánh giá nghèo một cách chính xác Từ đó rút ra các giải pháp cụ thể nhằm giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân Góp phần cho việc giảm nghèo, thoát nghèo và tránh tái nghèo

* Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá được thực trạng nghèo của xã Quế Tân thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đơn chiều và đa chiều

- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới nghèo trong địa bàn xã Quế Tân

- So sánh được tỷ lệ hộ nghèo của phương pháp tiếp cận đa chiều so với phương pháp tiếp cận đơn chiều

- Phân tích được những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong quá trình thoát nghèo tại xã Quế Tân

- Đề xuất được các giải pháp nhằm thoát nghèo bền vững

Trang 11

1.3 Ý nghĩa của đề tài

* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này

- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế

- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này

* Ý nghĩa trong thực tiễn

- Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo đánh giá thực trạng nghèo của địa phương thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững của xã Quế Tân Ngoài ra, từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu có thể cho địa phương có một cái nhìn tổng thể cũng như chi tiết hơn về thực trạng nghèo của xã Qua đó, phần nào giúp định hướng những kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm giúp địa phương giảm nghèo bền vững

- Xác định được các yếu tố gây ảnh hưởng đến nghèo của các hộ trong

xã Từ đó, nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của các hộ và đề ra các giải pháp giải quyết các nhu cầu trước mắt của người dân Góp phần thúc đẩy kinh

tế, văn hóa, giáo dục của địa phương, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân trên địa bàn xã

1.4 Bố cục của đề tài

Chương 1: Đặt vấn đề

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết luận và kiến nghị

Trang 12

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm nghèo

Việt Nam thừa nhận quan điểm về đói nghèo của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kok - Thái Lan vào tháng 9/1993 Khái niệm đói nghèo được thể hiện như sau:

“Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và

thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà các nhu cầu này đã được

xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương” (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) [1]

Nói một cách cụ thể hơn, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống ở mức tối thiểu, không thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người Nhu cầu ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp, v.v…

“Đói là một bộ phận của những người nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu như: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không duy trì cuộc sống”

(Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) [1]

“Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng

thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống Trên thực tế một bộ phận lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu ăn” (Nguyễn Thị

Trang 13

Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác

định như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận trong một thời gian dài (cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo tình thế do thất nghiệp

do thiên tai, rủi do hay do con người gây ra) (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]

Vể giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ Mặc dù trong

gia đình, nam giới là chủ nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng của nghèo (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]

Về không gian: Nghèo diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng

sâu, vùng xa, v.v… Dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa, dân

cư ở các vùng kể trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]

Về môi trường: Hầu hết những người nghèo đều phải sống trong môi

trường khắc nhiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo không

đủ khả năng và điều kiện gìn giữ, đảm bảo và cải thiện môi trường sống (Nguyễn

Vũ Phúc, 2012) [3]

Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do các cách tiếp cận khác nhau nên

có những ý kiến khác nhau, nghèo là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi Các chỉ số xác định giới hạn nghèo không phải là cứng nhắc và bất biến Nó biến đổi tùy theo sự chênh lệch, sự khác biệt giữa các vùng, miền, quốc gia

2.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói

* Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới:

Để đánh giá nghèo đói Liên hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên

cơ sở phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định Nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính là: Đem chia dân số của 1 nước, 1 châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: rất giàu, giàu, trung bình, nghèo, rất nghèo Theo cách tính này vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất

Trang 14

chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% thu nhập toàn thế giới

Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD

Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại:

+ Trên 25.000USD/người/năm là nước cực giàu

+ Từ 20.000 dến dưới 25.000UDS/người/năm là nước giàu

+ Từ 10.000 đến dưới 20.000USD/người/năm là nước khá giàu

+ Từ 2.500 đến dưới 10.000USD/người/năm là nước trung bình

+ Từ 500 đến dưới 2.500USD/người/năm là nước nghèo

+ Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo

Theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội Do đặc điểm của nền KT - XH và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là 14USD/người/ngày Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia

là 28USD/người/tháng, Srilanca là 17USD/người/tháng, v.v… Ở Việt Nam, GDP bình quân khoảng 600USD/người/năm, nên so diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó Do đó, không thể lấy mức nghèo của WB để xác định nghèo của Việt Nam (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]

* Xác định tiêu trí chuẩn nghèo của Việt Nam:

- Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kì Lúc đầu, nghèo được xác định dựa trên các chỉ tiêu nhu cầu, sau đó chuyển sang

Trang 15

chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 5 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau (bảng 2.1):

Bảng 2.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)

Cận nghèo (KV nông thôn) Từ 401.000 - 520.000 đồng

(Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH, chương tình mục tiêu quốc gia về XĐGN)

Trang 16

Đầu năm 1998, cả nước có 2,65 triệu hộ với khoảng 14 triệu dân nghèo đói, chiếm 17,7% dân số Trong đó có 300.000 hộ thường xuyên nghèo đói;

có 1.498 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên và 1.168 xã thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu (điện, đường, trường, trạm xá, chợ, nước sạch, v.v…), 2/3 số xã nghèo là các xã miền núi, khoảng 1,2 triệu người ở 978 xã cần được định canh, định cư và 15 vạn đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần được

hỗ trợ phát triển Đến cuối năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo ở thành thị còn 6% và nông thôn 11,2% Đầu năm 2001 khi thay đổi chuẩn nghèo đói, nước ta còn khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,11%) đến cuối năm 2005 còn khoảng 1,6 triệu hộ nghèo, chiếm khoảng 9,5% (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]

2.1.3 Khái niệm nghèo đa chiều

Nghĩ đến nghèo, chắc hẳn mỗi chúng ta nghĩ đến đầu tiên sự thiếu thốn

về tiền và thu nhập Và đó là cách nghĩ phổ biến, vậy nghèo đa chiều là gì?

Nghèo đa chiều (multidimensional poverty): Đã ra đời trong đó xác

định rõ nghèo không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội

và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ về: sức khỏe, giáo dục và mức sống Như vậy, sự nghèo khó không chỉ đơn thuần là một cá thể mà nó bao gồm các yếu tố kìm hãm cá thể

đó không tiếp cận được các nguồn lực hoặc không biết và không thể tìm ra các giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng hiện có [13]

Chưa có định nghĩa thống nhất về khái niệm nghèo đa chiều, nhưng nó có đặc tính cơ bản là: không nhìn nghèo với con mắt một chiều mà nhiều chiều; không xem nghèo là một hiện tượng đơn lẻ mà là hiện tượng đa khía cạnh, phức tạp, chồng chéo, bao gồm nhiều yếu tố khác nhau Nghèo đa chiều là sự thiếu hụt tổng hợp của hai hay nhiều loại vốn khác nhau của một người hoặc nhóm người: vốn sức khoẻ, vốn tâm lý, vốn thông tin, vốn con người, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn tự nhiên… Ta sẽ đi tìm hiểu về từng loại vốn để thấy được tầm quan trọng của chúng và có các biện pháp giảm nghèo thích hợp [13]

* Vốn tự nhiên (natural capital): NN chính là hoạt động chủ yếu

trong nông thôn Vì vậy, vốn tự nhiên là tài sản vô cùng quan trọng Bao gồm

Trang 17

đất đai và nguồn nước tưới tiêu Thiếu vốn tự nhiên có nghĩa là thiếu hoặc không có đất hoặc có nhưng đất đai cằn cỗi, không thể canh tác được Thiếu vốn tự nhiên tức là thiếu tư liệu sản xuất và kìm hãm sự phát triển kinh tế (Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2]

* Vốn vật chất (physical capital): Vốn vật chất của hộ được chia làm

3 nhóm là tài sản sản xuất, tài sản tiêu dùng và một số chỉ số khác như điều kiện nhà ở, điện nước sạch và nhà vệ sinh Diện tích nhà ở, giá trị nhà ở và kiểu nhà là các biến đại diện cho điều kiện nhà ở Sự hiện diện của vườn cây lâu năm, gia súc cày kéo, chuồng trại chăn nuôi, máy cày, máy kéo, thuyền máy, máy bơm nước, máy say, máy sát, v.v… được coi là chỉ báo của tài sản sản xuất Trong khi sở hữu các phương tiện khác như xe ô tô, xe máy, điện thắp sáng, điện thoại, máy vi tính, tủ lạnh, máy giặt, điều hòa, v.v… là những chỉ báo cho tài sản tiêu dùng Vốn vật chất thể hiện quy mô làm ăn, nếu thiếu các phương tiện SX cũng làm giảm thu nhập trong gia đình (Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2]

* Vốn tài chính (financial capital): Có 3 chỉ báo có thể phản ánh vốn tài

chính là giá trị nhà, giá trị món vay tín dụng và số tiền gửi nhận được trong năm

Từ nguồn vốn tài chính ta có thể đánh giá lượng tiền luân chuyển trong năm (Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2]

* Vốn sức khoẻ (capital health): Sức khoẻ là yếu tố vô cùng quan

trọng đối với sự thành công của mỗi con người Nếu không có sức khoẻ, thì con người sẽ không thể lao động, sáng tạo và làm việc được Hiện nay, nhiều

tổ chức đã đo lường chỉ số dinh dưỡng và tỉ lệ tử vong của trẻ em, tỷ lệ người lớn và trẻ em mắc các bệnh hiểm nghèo để xem xét vấn đề nghèo đa chiều Thực tế, việc suy dinh dưỡng và bệnh tật ở trẻ em đã làm ảnh hưởng xấu tới gia đình Chi phí khám chữa bệnh và thuốc thang chiếm một phần rất lớn nhu cầu chi tiêu của gia đình Bên cạnh đó, điều này cũng ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ của thế hệ tương lai Một cộng đồng yếu kém về sức khoẻ thì nguy cơ nghèo là rất cao Do vậy, sức khoẻ kém cũng chính là nghèo (Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2]

* Vốn con người (human capital): Là một nguồn vốn đạt được trong

quá trình giáo dục và các hoạt động trong cuộc sống Các giá trị, chuẩn mực

Trang 18

của xã hội, các mô hình ứng xử, các thói quen tốt, các kiến thức, kinh nghiệm,

kỹ năng để thực hiện các hoạt động kinh tế là những nội dung cực kỳ quan trọng mà vốn này mang lại cho con người Một con người thiếu vốn giáo dục

là thiếu hụt đi nền tảng để thích ứng được với cuộc sống của xã hội (Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2]

* Vốn tâm lý (psychological capital): Tâm lý cũng là một loại vốn Điều

này có vẻ mới lạ Chúng ta thường nghĩ vốn là tiền bạc, là vật chất, là đất đai Nhưng không nghĩ rằng tâm lý là một loại vốn Chính những chuyên gia của Ngân hàng Thế giới như Alsop và Đồng sự (2005) cũng công nhận tâm lý đóng vai trò rất quan trọng trong “khả năng nhận biết thay đổi” Thiếu hụt tâm lý, dẫn tới đánh mất sự tự tin, khả năng dám tham gia, dám thay đổi những cái lạc hậu hay khả năng chuyển đổi những sự lựa chọn của mình thành hiện thực (Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2]

* Vốn thông tin (capital information): Cũng như vốn tâm lý, thông tin

thường không được xem là một tài sản Nhưng đó là một sai lầm Thông tin là sức mạnh Nó càng quan trọng hơn trong thời đại công nghệ thông tin, nơi mà thông tin được bán như các hàng hoá khác Vốn thông tin ở một người, nhóm người chính là ở khả năng được nghe, biết thông tin từ các kênh truyền thông như radio, loa phát thanh của xã, huyện, tờ thông tin, ti vi, mạng internet, v.v, Có được thông tin chính là có được khả năng để hiểu và tham gia vào chương trình, dự án (Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2]

2.1.4 Chuẩn nghèo đa chiều

Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) được tổ chức Sáng kiến phát triển con người và nghèo đói của Đại học Oxford (OPHI) cùng UNDP sử dụng trong Báo cáo Phát triển Con người (Human Development Report), công bố vào ngày 02/11/2011 Chỉ số MPI được xây dựng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007) bao gồm ba chiều đo lường là sức khỏe, giáo dục và mức sống với 10 chỉ báo với các trọng số khác nhau [10]

Chỉ số sử dụng cùng ba kích thước là: sức khỏe, giáo dục và mức sống Đây là những thước đo bằng cách sử dụng các chỉ số 10 [10]

Trang 19

Bảng 2.2: Kích thước sử dụng trong chỉ số nghèo đa chiều

(Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người, 2011)

Mỗi chỉ số trong một chiều hướng là bằng nhau tương ứng với mỗi trọng số trong chiều khác nhau

Công thức tính chỉ số MPI: MPI = H x A

H: Tỷ lệ % những người nghèo đa chiều trong một cộng đồng (tỷ lệ nghèo đói đa chiều)

A: Cường độ trung bình thiếu hụt các chỉ số của những người nghèo đa chiều (%) Biểu thị tỷ lệ các chỉ số trong đó bị thiếu hụt A càng lớn thì tỷ lệ thiếu hụt các chỉ số càng cao

Các chỉ số mười sau đây được sử dụng để tính chỉ số MPI:

* Giáo dục (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/6):

1.Năm học: Bị thiếu 1/6 trọng số nếu không có thành viên nào trong hộ gia đình đã hoàn thành cấp độ tiểu học

2.Trẻ em đi học: Bị thiếu 1/6 trọng số nếu trong gia đình có độ tuổi đi học ở trẻ em không được đi học đến lớp 9

* Sức khỏe (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/6):

Trang 20

3.Tỷ lệ tử vong trẻ em: Bị thiếu 1/6 trọng số nếu có trẻ em đã chết trong gia đình

4 Dinh dưỡng: Bị thiếu1/6 trọng số nếu trong gia đình có trẻ em hoặc người lớn mắc các bệnh hiểm nghèo hoặc trong gia đình có trẻ em bị suy dinh dưỡng

* Mức sống (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/18):

5.Điện: Bị thiếu 1/18 trọng số nếu hộ gia đình không có điện

6.Nhà vệ sinh: Bị thiếu 1/18 trọng số nếu nhà vệ sinh của hộ gia đình chưa được cải thiện hoặc cải thiện nhưng không đảm bảo Nhà vệ sinh đảm bảo theo quy định của Bộ Y tế (QĐ 08/2005/QD-BYT), bao gồm các yêu cầu về cách ly chất thải chưa xử lý, tiêu diệt các kí sinh trùng gây bệnh trong phân và tránh ô nhiễm môi trường Nhà tiêu hợp lý gồm các nhà vệ sinh tự hoại, nhà vệ sinh 2 ngăn Nhà tiêu không hợp lý là các nhà xí chất thải chưa được cách ly và xử lý gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và môi trường

7 Nước uống: Bị thiếu 1/18 trọng số nếu hộ gia đình không được tiếp cận với nước uống an toàn, hợp vệ sinh Hiện nay, nhiều hộ sử dụng giếng khoan, giếng đào để lấy nước ăn uống và sinh hoạt rất phổ biến Hầu hết hộ

sử dụng nước chỉ dựa vào mắt thường để đánh giá chất lượng nước, chỉ cần thấy nước trong, không mùi, không vị là được Hiện nay, mạch nước ngầm ở một số nơi đã bị ô nhiễm nặng, nên nước giếng khoan, nước máy cũng chưa hợp vệ sinh và tiêu chuẩn nước sạch được Nước bơm lên phải qua các công đoạn xử lý ngiêm ngặt, đạt tiêu chuẩn (QCVN 01/2009) của Bộ Y tế Do vậy,

hộ sử dụng nước uống được đánh giá là hợp vệ sinh là hộ được tiếp cận với các loại nước lọc đã qua các công đoạn xử lý, hộ có máy lọc nước tại gia đình hoặc mua nước ở các cơ sở sản xuất để lấy nước ăn uống và sinh hoạt Các nguồn nước từ sông, suối, ao, hồ, nước giếng đào, nước giếng khoan, nước máy chưa được qua các công đoạn xử lý theo têu chuẩn là nước chưa an toàn

và chưa hợp vệ sinh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người

Trang 21

8 Nhà: Bị thiếu 1/18 trọng số nếu nhà của hộ gia đình không đảm bảo chất lượng sinh hoạt Các hộ sử dụng nhà tạm, nhà bán kiên cố được xây với kiến trúc giảm đơn, không sạch sẽ là hộ có nhà ở chưa đảm bảo

9 Nhiên liệu nấu ăn: Bị thiếu 1/18 trọng số nếu gia đình vẫn nấu ăn bằng rác, gỗ hoặc than chưa đảm bảo vệ sinh và chất lượng trong ăn uống, chưa được tiếp cận với các loại bếp như bếp từ, bếp điện, bếp ga… trong sinh hoạt

10 Tài sản sở hữu: Bị thiếu 1/18 trọng số nếu gia đình không sở hữu

nhiều hơn một tivi, điện thoại, xe đạp, xe máy, v.v… hoặc tủ lạnh, máy giặt và không sở hữu một chiếc xe hơi hoặc xe tải nào Là những hộ rất nghèo nàn về tài sản tiêu dùng, tài sản của hộ rất thô sơ và kém chất lượng, nhu cầu sinh hoạt rất thấp và vô cùng thiếu thốn

Tổng thiếu hụt của tất cả các chỉ số trong nghèo đa chiều là 100%, một người được coi là nghèo đa chiều nếu họ bị thiếu trong ít nhất 33,33% của các chỉ số có trọng số Cường độ nghèo đa chiều biểu thị tỷ lệ của các chỉ số trong

đó họ bị thiếu hụt [10]

Chỉ số nghèo đa chiều bao quát được trực tiếp hơn sự túng thiếu, tổn thất trong các tác động đến sức khỏe, giáo dục và mức sống thiết yếu như nước sạch, vệ sinh, điện, năng lượng… Ở một số nước các nguồn này được cung cấp miễn phí hoặc với một giá rất thấp trong khi một số nơi chúng trở nên vượt quá mức so với thu nhập của người lao động [10]

Các nhà nghiên cứu của OPHI (Oxford Poverty and Human Development Initiative) đã thống kê số liệu từ 104 nước với dân số khoảng 5,2 tỷ người (chiếm 78% tổng dân số toàn cầu), có khoảng 1,7 tỷ người đang sống trong tình trạng nghèo khổ đa chiều (chiếm khoảng 1/3 tổng dân số) Con số này vượt quá 1,3 tỷ người cùng ở các nước này nếu tính theo ngưỡng 1,25USD/ngày - phương pháp được chấp nhận phổ biến đo lường nghèo cùng cực [12]

2.1.5 Các quan niện về giảm nghèo bền vững

Nghèo bền vững (sustainable poverty): Khi đã có thế xác định được

các vấn đề của nghèo khó hay của “những người sống trong nghèo khó” thì các Quốc gia, trong nỗ lực XĐGN của mình thường áp dụng các giải pháp cho các nhóm đối tượng cụ thể sau đây:

Trang 22

Nhóm thứ nhất: Những người có trong tay nhiều tài nguyên hơn, chấp

nhận các mạo hiểm, bóc lột tài nguyên và lờ đi các rủi ro để đạt được lợi nhuận lớn trong một thời gian rất ngắn đưa cá nhân hay cộng đồng thoát khỏi tình trạng nghèo khó - đây chính là phát triển không bền vững mà các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) thường mắc phải Nạn phá rừng bừa bãi, giúp cho người dân có lợi nhuận lớn ở mức độ hiện tại Họ không biết hoặc biết nhưng cố tình làm, tác hại của nó vô cùng lớn gây sạt lở đất, lũ lụt, hạn hán khắp nơi, ảnh hưởng môi trường, mất mùa dẫn đến đói nghèo Tuy nhiên họ không chấp nhận

đi theo hướng khác mà vẫn tiếp tục tìm kiếm cơ hội bằng cách thức này [11]

- Nhóm thứ hai: Do một phần bị hạn chế về nguồn lực và tài nguyên

nên nhóm này thường chọn giải pháp an toàn cho mình thông qua các loại hình sinh kế it rủi ro và đầu tư cũng ít hơn Chăn nuôi quy mô nhỏ và sản xuất lúa gạo (với diện tích đất vừa và nhỏ) là một ví dụ điển hình của cách thức này Do không có các đột biến lớn nên điều kiện sống có thể được cải thiện đôi chút nhưng vẫn luôn ngấp nghé cái ngưỡng “nghèo” nên nhóm này có thể gọi là “nghèo bền vững” với rất ít các rủi ro và vì vậy cái sự nghèo này có tính bền vững cao Để cân bằng cả hai cách tiếp cận này cho cả hai nhóm đối tượng, người ta đang đi tìm một cách tiếp cận phù hợp hơn cho các bên, được gọi là các chính sách giảm nghèo bền vững [11]

Theo nhận xét của nhiều chuyên gia và theo đánh giá trong nhiều báo cáo của Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), thì trong khoảng 20 năm mở cửa vừa qua, tuy Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào về phát triển kinh tế và XĐGN, nhưng phần lớn “hàm lượng tăng trưởng” đều có sự đóng góp rất đáng kể của các nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn đang bị khai thác một cách ồ ạt và thiếu

sự kiểm soát Đất nước chúng ta đang đi trên một con đường gập ghềnh và thiếu tính bền vững Nếu chúng ta không thay đổi nhanh và đi theo hướng dùng hàm lượng trí tuệ để đầu tư cho các sản phẩm trong nước thì chỉ ít năm tới chúng ta sẽ nhìn thấy ngay sự đổ vỡ của nền kinh tế [11]

Đi theo hướng thứ hai nghĩa là không mạo hiểm, ít rủi ro và đầu tư thấp, chúng ta sẽ ít nhiều có khả năng đảm bảo an ninh lương thực và nâng lên chút ít đời sống của nhân dân theo hướng lâu dài và ổn định Tuy nhiên, nếu xét trong bối cảnh thế giới ngày nay khi mà KH - CN tiến nhanh như vũ

Trang 23

bão thì mô hình này sẽ dần dần bị phá sản bởi một lý do rất đơn giản Do các nước khác tiến quá nhanh nên nếu bạn tiến chậm hoặc không tiến thì bạn sẽ giống như đi thụt lùi và trở nên tụt hậu [11]

Cần phải có một giải pháp dung hòa để đảm bảo đất nước ta vẫn tiến lên theo hướng bền vững hơn, nhưng tài nguyên không bị cạn kiệt nhanh chóng và khái niệm bền vững sẽ có thể được hiểu như là đích đến của quá trình thoát nghèo Khi một cộng đồng hay một cá thể nào đó thoát khỏi tình trạng nghèo khó thì sự thoát nghèo đó phải thực sự bền vững thông qua việc nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc của thị trường trong bất cứ hoàn cảnh nào, thoát nghèo 1 cách bền vững, khó có thể tái nghèo trở lại Các

hộ thoát nghèo phải vươn lên ở mức khá, tỷ lệ hộ cận nghèo giảm, khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp Có như vậy các nỗ lực thoát nghèo mới thực

sự hữu ích và người dân sẽ không bị quay trở lại ranh giới nghèo một cách dễ dàng khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra

2.1.6 Các khía cạnh của đói nghèo

* Về thu nhập: Đa số những người nghèo thường có cuộc sống khó

khăn cực khổ, mức thu nhập thấp, điều này do tính chất công việc đem lại Người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cực nhọc nhưng thu nhập lại thấp Hơn thế nữa, công việc thường bấp bênh, không ổn định, công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao, liên quan đến thời tiết (chẳng hạn mưa, lũ lụt, hạn hán, v.v…) Các nghề thuộc về nông, lâm, ngư nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này Do thu nhập thấp, việc chi tiêu trong cuộc sống gia đình trở nên hạn chế Hầu hết, các nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người như ăn, mặc, ở chỉ được đáp ứng với mức

độ rất thấp, thậm trí là không đủ Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức khỏe, do đó làm giảm năng xuất lao động, giảm thu nhập Cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo, mà người

nghèo rất khó thoát ra được Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản

Thiếu tài sản, người nghèo sẽ dần bị cô lập và khó có thể hòa nhập vào cộng đồng và khó có thể nhận được các khoản viện trợ, từ các nhóm xã hội, tổ chức khi gặp khó khăn (Nguyễn Vũ Phúc) [3]

Trang 24

* Y tế - giáo dục:

Người nghèo thường mắc phải các căn bệnh như ốm đau, bệnh hiểm nghèo, tình trạng sức khỏe không tốt, do ăn uống không đảm bảo và lao động cực nhọc Do điều kiện không tốt nên người nghèo thường sống trong những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế hạn chế Dẫn đến tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh trong nhóm hộ nghèo, số trẻ bị suy dinh dưỡng và số bà mẹ mang thai thiếu máu rất cao Những điều này là do họ không có đủ khoản tiền chi cho những khoản có chi phí lớn cũng như các chi phí thuốc men khác Thêm vào đó, do đối xử bất bình đẳng trong xã hội, người nghèo không được quan tâm chữa trị nên tỷ lệ tiếp xúc với các dịch vụ y tế rất thấp Bên cạnh đó, họ thường không quan tâm tới sức khỏe của mình, khiến bệnh càng trở nên trầm trọng hơn

Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng quan tâm Hầu hết, người nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn Tỷ lệ thất học ở hộ nghèo rất cao Tình trạng này cho thấy: Thứ nhất là do gia đình không thể trang trải được các khoản phí về học tập của con cái như tiền học phí, tiền sách vở; Thứ 2 là do tâm lý của 1 số người nghèo vẫn còn cổ hủ, lạc hậu không cho con cái của họ đến trường vì như vậy sẽ mất đi một lao động trong gia đình; Thứ 3 là do hiện nay một số hộ nghèo đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đến trường, việc học thức ảnh hưởng tới nghèo đói, tuy nhiên, vấn đề học phí của con em họ quả là vấn đề khó khăn tình hình tài chính của gia đình (Nguyễn Vũ Phúc) [3]

Tóm lại, y tế - giáo dục là một vấn đề được nhiều người nghèo quan tâm, họ cũng đã hiểu được tầm quan trọng của các yếu tố này ảnh hưởng lớn tới bản thân cũng như gia đình của họ trong tương lai Nhưng do thu nhập quá thấp, không đủ trang trải học phí, viện phí đành phải chấp nhận để con cái thôi học, người bệnh không được khám chữa chạy kịp thời và đúng mức

Ở người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm với

sự khó khăn về vật chất lẫn con người Nguy cơ đó là họ phải đối mặt với nhiều loại rủi do, bị đánh đập, thiên tai, bị thôi học, bị thôi việc Nói cách khác, những rủi do mà người nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của họ chính là nguyên nhân khiến họ dễ bị tổn thương Khi có rủi do như

Trang 25

mất mùa, gia đình có người ốm đau, phải chạy chữa một khoản tiền lớn hay

bị thất nghiệp, v.v… họ dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng làm đảo lộn cuộc sống gia đình phải mất một thời gian sau mới có thể khắc phục được Nguy

cơ dễ bị tổn thương đã tạo nên 1 tâm lý chung của người nghèo là sự đối mặt với rủi do Vì vậy, người nghèo luôn né tránh với những vấn đề mang tính rủi ro cao, kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành công (ví dụ như khi đầu tư vào giống lúa mới, áp dụng KH – CN vào sản xuất NN, v.v…), chính vì điều này làm cho người nghèo tách biệt với xã hội,

bị cô lập với guồng quay của thị trường và làm cho cuộc sống của họ càng trở nên bần cùng hơn (Nguyễn Vũ Phúc) [3]

* Không có tiếng nói và quyền lực

Người nghèo thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề của

xã hội, do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân Thường có tâm lý sống phụ thuộc, nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ty không kiểm soát được cuộc sống của mình Đó chính là nguyên nhân không

có tiếng nói và quyền lực đem lại Không có tiếng nói còn thể hiện ở những người phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình (Nguyễn Vũ Phúc) [3]

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Đặc điểm nghèo đói ở nước ta

* Giảm nghèo bấp bênh:

Bộ trưởng Bộ LĐ - TB&XH thừa nhận: "Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn Đó là tốc độ giảm nghèo không đồng đều, chưa bền vững và thiếu tính tập chung cao” Tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc nhưng nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt còn trên 60 - 70%; tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm 47% tổng số hộ nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân của

hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước; khoảng cách chênh lệch giàu nghèo tăng 9,2 lần (năm 2010) lên khoảng 9,4 - 9,5 lần (năm 2012) [11]

Trang 26

Đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) từ cuối năm 2012 cũng phản ánh một thực tế là tình trạng phân hóa giàu - nghèo tại Việt Nam đang chuyển dần từ mức tương đối bình đẳng (năm 2002) sang mức chênh lệch thu nhập ngày càng tăng giữa các nhóm dân cư Số liệu thống kê cho thấy, 20% nhóm giàu được hưởng phúc lợi xã hội nhiều hơn so với 20% nhóm nghèo Điều đó chứng tỏ rằng người càng giàu thì càng được hưởng lợi nhiều hơn so với người nghèo [11]

Theo các chuyên gia trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì phân hóa giàu - nghèo càng diễn ra phức tạp và tất nhiên, nhóm hộ vừa mới thoát nghèo lại có xu hướng lâm vào tình trạng thoát nghèo không bền vững,

dễ dàng tái nghèo trở lại [11]

* Nghèo không chỉ nghèo về tiền bạc

Đánh giá công tác giảm nghèo, Bộ LĐ - TB&XH cho biết, trên thực tế Việt Nam đã thực hiện các giải pháp giảm nghèo với nhiều chính sách hỗ trợ đồng bộ như các hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, vay vốn, v.v… Tuy nhiên, có điểm khác biệt là Việt Nam vẫn dùng thu nhập làm thước đo để xác định đối tượng nghèo Từ chuẩn đó mới xem xét, tìm ra nguyên nhân nghèo là vì cái gì

và đưa ra các chính sách hỗ trợ

Lâu nay công tác giảm nghèo ở Việt Nam tiến hành theo kiểu "thiếu thứ gì thì hỗ trợ cái đó” là rất sai lầm Nó đã vô tình tạo ra tâm lý ỷ lại không muốn thoát nghèo Từ trước tới nay, nhiều địa phương áp dụng phương pháp đo lường nghèo đơn chiều vì thế đã dẫn tới những hạn chế không làm rõ được từng đối tượng Chúng ta cứ nghĩ thay cho người nghèo Họ thiếu thứ gì thì hỗ trợ thứ đó dẫn tới chính sách không minh bạch, tham vọng quá lớn nên hiệu quả không cao Việc chuyển đổi phương thức tiếp cận sang nghèo đa chiều sẽ giúp Nhà nước hoạch định đúng chính sách, trúng đối tượng để từ đó giảm nghèo hiệu quả hơn Cách chuyển đổi này có một ý nghĩa rất lớn vì trước hết, chúng ta xác định đối tượng và trên

cơ sở đó xây dựng chính sách cho từng nhóm đối tượng phù hợp

"Nghèo đa chiều” đang được xem là "chìa khóa” tháo gỡ cho thực trạng

"nghèo - tái nghèo - nghèo” ở Việt Nam Việc chuyển đổi phương pháp tiếp

Trang 27

cận sang nghèo đa chiều để thực sự đem lại hiệu quả thì còn rất nhiều việc phải làm Nhất là khi sự bình đẳng tuyệt đối giữa giàu - nghèo là rất khó, đặc biệt việc kéo gần khoảng cách giữa người giàu và người nghèo không hề đơn giản Chính vì vậy, cùng với việc thực hiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội thì Nhà nước cũng cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ khác như cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đại học và dạy nghề, chăm lo tốt đời sống người có công Tuy nhiên, khi chuyển sang phương pháp nghèo đa chiều, không thể phủ nhận tác động của việc đo nghèo bằng thu nhập Phương pháp tiếp cận đa chiều chỉ là bổ sung cùng với phương pháp đo nghèo theo thu nhập giúp cho việc xác định đối tượng nghèo và giám sát nghèo hiệu quả hơn [11]

Trang 28

CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ gia đình trong cộng đồng xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

3.1.2.1 Phạm vi không gian nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu là xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Gồm 3 thôn: thôn Lạc Xá, thôn Xuân Thủy, thôn Lê Độ

3.1.2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài sử dụng nguồn thông tin, số liệu thứ cấp trong thời gian 3 năm 2011- 2012 - 2013 Nguồn thông tin, số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2013

Đề tài thực hiện từ ngày 07/01/2014 đến 23/05/2014

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Quế Tân ảnh hưởng đến nghèo

- Đánh giá chung thực trạng nghèo của xã Quế Tân thông qua tiếp cận nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều

- So sánh tỷ lệ hộ nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều so với phương pháp tiếp cận nghèo đơn chiều

- Những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức trong giảm nghèo bền vững

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân

3.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Quế Tân có những thuận lợi và khó khăn gì trong quá trình giảm nghèo?

- Thực trạng nghèo của xã Quế Tân như thế nào thông qua tiếp cận nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều?

- So sánh tỷ lệ hộ nghèo của tiếp cận nghèo đa chiều so với nghèo đơn chiều khác nhau như thế nào?

Trang 29

- Quá trình giảm nghèo bền vững ở xã Quế Tân có những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức nào?

- Có những định hướng và giải pháp nào để giảm nghèo bền vững ở xã Quế Tân trong những năm tới?

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu

Chọn điểm nghiên cứu trên 3 thôn là: Lạc Xá, Xuân Thủy, Lê Độ

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu được thu thập từ các nguồn có sẵn, đó chính là các số liệu đã qua xử lý, tổng hợp Thu thập các số liệu thứ cấp từ nguồn thông tin công bố chính thức của các cơ quan nhà nước, các số liệu và báo cáo đánh giá tổng kết của Sở NN & PTNT, Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Ninh, của UBND xã Quế Tân Các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về tình hình SXNN, kinh tế nông thôn, kinh tế hộ nông dân và các tổ chức KT - XH, tình hình nghèo đói của xã Quế Tân trong những năm 2011-2013, mạng internet, v.v…

3.4.2.2 Thu thập tài liệu sơ cấp

Số liệu được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu Cụ thể, số liệu

sơ cấp được thu thập từ các hộ điều tra trên địa bàn xã Quế Tân Để thu thập được số liệu phải tiến hành phỏng vấn trực tiếp hộ bằng bảng phiếu điều tra được lập sẵn

Đến địa bàn nghiên cứu để quan sát thực tế, phỏng vấn chính thức các hộ gia đình để biết được tình hình nghèo đói của địa phương Vai trò giảm nghèo bền vững đối với phát triển kinh tế của hộ Từ đó nắm được một cách tương đối thông tin về tình hình cơ bản như thu nhập, nhân khẩu, lao động, đất đai, chi phí sản xuất, tài sản, nguồn vốn của hộ, những thuận lợi và khó khăn để giúp hộ gia đình thoát nghèo bền vững

* Phương pháp điều tra hộ

Chọn mẫu điều tra: Toàn xã có 6 thôn, để phản ánh một cách trung thực, chính xác nhất thực trạng nghèo của các hộ tại xã Quế Tân, huyện Quế

Trang 30

Võ, tỉnh Bắc Ninh Tôi đã tiến hành điều tra 60 hộ trên 3 thôn đại diện cho xã

từ đó có thể suy rộng ra toàn xã, trong đó:

- Chọn 1 thôn có tình hình kinh tế phát triển nhất xã (thôn Lạc Xá)

- Chọn 1 thôn có tình hình phát tiển kinh tế thuộc loại trung bình (thôn Xuân Thủy)

- Chọn 1 thôn có tình hình phát triển kinh tế khó khăn (thôn Lê Độ)

Bảng 3.1: Chỉ tiêu số lượng mẫu điều tra

Chỉ tiêu Khá Trung bình Cận nghèo Nghèo

(Nguồn: Quá trình chọn mẫu)

-Điều tra 60 hộ tương ứng 100% số mẫu trên 3 thôn, mỗi thôn 20 hộ (33,33% tổng số phiếu điều tra)

-Phân bổ đều 60 hộ theo các chỉ tiêu:

- Nội dung phiếu điều tra:

Phiếu điều tra có các thông tin như: nhân khẩu, tuổi, lao động, v.v… Điều tra về tiếp cận nguồn vốn của hộ: vốn con người, vốn sức khỏe, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn tâm lý, vốn vật chất, vốn thông tin v.v…

Trang 31

Cơ cấu nghề nghiệp của hộ: NN và phi NN

Tính chỉ số đa chiều cho từng hộ gia đình về sức khỏe, giáo dục và mức sống

Điều tra về nguyên nhân nghèo đói của hộ

- Phương pháp điều tra:

Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp linh hoạt, phỏng vấn số hộ điều tra đã chọn, kiểm tra tính thực tiễn thông tin qua quan sát trực tiếp trên địa bàn nghiên cứu

Sử dụng phương pháp kiểm tra thông tin chéo giữa các hộ để có chính xác thông tin điều tra

3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu

3.4.3.1 Phương pháp so sánh

Sau khi các số liệu được tổng hợp và phân tích chúng ta có thể sử dụng phương pháp này để so sánh tỷ lệ hộ nghèo đa chiều so với hộ nghèo đơn chiều theo thu nhập để thấy được sự khác biệt giữa hai loại hình nghiên cứu và suy rộng ra được vấn đề nghiên cứu

3.4.3.2 Phương pháp thống kê mô tả

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tiến hành thu thập thông tin trong một khoảng thời gian đề tài nghiên cứu Từ các số liệu và các thông tin thu thập được tiến hành phân tích những yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến nghèo

để thấy được xu hướng và đưa ra những giải pháp giảm nghèo bền vững

3.4.3.3 Phương pháp Swot

Sử dụng phương pháp swot để tiến hành thu thập thông tin về thuận lợi,

khó khăn, cơ hội và thách thức trong giảm nghèo bền vững

Trang 32

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Quế Tân

4.1.1.1 Vị trí địa lí, địa hình

Xã Quế Tân là một xã nằm ở phía Đông của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Trung tâm xã cách thị trấn Phố Mới 3,5km, có tổng diện tích tự nhiên 807,23ha

- Phía Bắc giáp với sông Cầu

- Phía Đông giáp với xã Phù Lương

- Phía Tây giáp xã Bằng An

- Phía Nam giáp xã Việt Hùng

Xã nằm trong vùng Đồng bằng châu thổ nên địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp chuyên canh lúa và nuôi trồng thủy sản

4.1.1.2 Thời tiết, khí hậu, thủy văn

Là xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt

+ Mùa mưa: Nóng từ tháng 4 - 10, lượng mưa trung bình từ 100 - 300mm phân bố không đều trong năm, mưa chủ yếu từ tháng 5 - 9, lượng mưa chiếm 80% lượng mưa cả năm, mưa lớn tập trung gây nhiều khó khăn cho sản xuất, gây úng lụt ở những chân ruộng thấp và sói mòn rửa trôi màu

mỡ ở những chân ruộng cao Trong mùa hè nhiệt độ thường rất cao, nhiệt độ trung bình tháng từ 23,7- 29,10C rất phù hợp cho SXNN

+ Mùa khô: Lạnh từ tháng 11 - 3 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 20 - 56% tổng lượng mưa cả năm nên về mùa này thường gây hạn, khó khăn cho sản xuất Nhiệt độ thường thấp, nhiệt độ trung bình từ 16- 210C bình quân 1 năm có 2 đợt rét nhiệt độ dưới 100 C kéo dài trên 3 ngày

4.1.1.3 Điều kiện về đất đai và tình hình sử dụng

Xã Quế Tân với tổng DT đất tự nhiên là 807,23ha và không đổi qua

3 năm (2011 - 2013) trong đó DT đất NN toàn xã năm 2011 là: 486,55ha, chiếm 60,27% và do quá trình công nghiệp hóa nông thôn nên diện tích đất

Trang 33

NN có xu hướng giảm dần qua các năm Năm 2013, DT đất NN là 445,45ha, chiếm 55,18% BQ từ năm 2011 - 2013, DT đất giảm 4,24% Số liệu được cụ thể hóa trong bảng sau:

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Quế Tân năm 2011 - 2013

Stt Loại đất

2011 2012 2013 So sánh (%) Diện tích

(ha)

Diện tích (ha)

Diện tích (ha)

2013 TỔNG DIỆN TÍCH

1.1 Đất lúa nước 447,75 410,85 408,73 91,76 99,48 95,62

1.2 Đất nuôi trồng thủy sản 38,8 36,72 36,72 94,64 100 97,32

2 Đất phi nông nghiệp 305,08 344,06 346,18 112,78 100,62 106,70

2.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình

sự nghiệp 0,06 0,38 0,38 633,33 100 366,67 2.1 Đất sản xuất vật liệu xây

dựng, gốm sứ 26,41 26,41 26,41 100 100 100 2.3 Đất xử lý, chôn lấp chất thải

2.4 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 0,56 0,56 0,56 100 100 100 2.5 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 5,85 5,85 5,85 100 100 100 2.6 Đất có mặt nước chuyên dùng 20,02 38,37 38,37 191,66 100 145,83 2.7 Đất sông, suối 56,37 56,37 56,37 100 100 100 2.8 Đất phát triển hạ tầng 118,05 112,93 114,09 95,66 101,03 98,35 Trong đó:

Đất cơ cở giáo dục -

Trang 34

(Nguồn: Địa chính xã Quế Tân)

Qua bảng 4.1: DT đất NN chiếm tỷ trọng lớn nhất (chủ yếu là đất trồng lúa nước), đang có xu hướng giảm dần tỷ lệ đất NN và tăng tỷ lệ đất phi NN Cụ thể: Năm 2011 DT đất NN là 486,55ha; Năm 2012 là 447,57ha, giảm 8,01%, tương ứng giảm 38,98ha; Năm 2013 là 445,45ha, giảm 2,12ha, tương ứng giảm 0,47% Trong đó, DT đất trồng lúa nước có xu hướng giảm dần và có tốc độ giảm dần qua 3 năm 2011- 2013 là 4,38%, tương ứng 39,02ha; DT đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản giảm trong năm 2011- 2012, tốc độ giảm là 5,36%, tương ứng giảm là 2,08ha và không đổi trong năm 2012 - 2013

Trong khi đất NN giảm và có xu hướng chuyển mục đích sử dụng sang đất phi NN Năm 2011, đất phi NN là 305,08ha, chiếm 37,79%; Năm 2012 tăng lên đến 344,06ha, chiếm 42,62%, tăng 12,78% so với năm 2011, tương ứng tăng 38,98ha; Năm 2013 là 346,18ha, tăng 0,62% so năm 2012, tương ứng tăng 2,12ha Tốc độ tăng BQ năm 2011 - 2013 là 6,7%, tương ứng tăng 41,1ha Trong đất phi

NN thì diện tích đất sông, suối, đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm xứ, đất bưu chính viễn thông, đất cơ sở văn hóa, đất cơ sở y tế, đất cơ sở GD - ĐT, thể thao có

xu hướng không đổi qua các năm Đất phi NN khác có xu hướng thay đổi trong đó

có đất xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại đến năm 2012 mới được xây dựng với DT

là 0,15ha và có xu hướng không đổi đến năm 2013 Đất ở có xu hướng tăng mạnh đảm bảo nhu cầu nhà ở cho nhân dân, tăng 16.72% Đất chưa sử dụng không đổi qua các năm là 15,6ha, chiếm 1,93% tổng DT đất tự nhiên

Xu hướng đến năm 2020 của xã Quế Tân là DT đất chưa sử dụng được đưa vào sử dụng là 15,6ha, trong đó chuyển sang đất NN 6,88ha; chuyển sang đất phi NN 8,72ha Đến năm 2020 xã không còn diện tích đất chưa sử dụng

4.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội của xã Quế Tân

4.1.2.1 Dân số và lao động

Năm 2013, xã Quế Tân có 1691 hộ, 6679 nhân khẩu, tốc độ tăng dân

số BQ trong 3 năm (2011 - 2013) là 2,07%, tương ứng tăng 268 người Trong

đó, toàn xã có 2848 người trong độ tuổi LĐ, chiếm 42,64% tổng số dân (năm

Trang 35

2013); tốc độ LĐ tăng BQ năm (2011 - 2013) là 1,66% đây là nguồn nhân lực dồi dào tạo thuận lợi cho các điều kiện phát triển KT của địa phương

Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động xã Quế Tân năm 2011 - 2013

4.2 Lao động chưa qua đào tạo Người 2441 2421 2410 99,18 99,55 99,37

(Nguồn: Phòng thống kê xã Quế Tân)

Bảng 4.2 ta thấy: Là xã NN nên số LĐ SXNN chiếm đại đa số khoảng 75% (năm 2013) KCN Quế Võ đi vào hoạt động đã thu hút một lượng lớn số

LĐ vào làm việc làm cho tỷ lệ LĐ trong lĩnh vực CN - XD và DV - TM có xu hướng tăng, tốc độ LĐ tăng BQ trong 3 năm (2011 - 2013) của ngành CN -

XD là 26,33%, tương ứng tăng 199 người; tốc độ BQ tăng trong 3 năm (2011

- 2013) của số LĐ ngành DV - TM là 18,75%, tương ứng tăng 52 người

Tổng số hộ của xã năm 2013 là 1691 hộ, năm 2011- 2013 tăng BQ là 1,24%, trong đó hộ NN giảm BQ năm 2011 - 2013 là 5,3%; hộ phi NN năm 2011

- 2013 tăng BQ là 19,43%

Trình độ LĐ qua đào tạo tăng nhanh, tỷ lệ LĐ đã qua đào tạo chiếm 11,43% (năm 2011); năm 2013 chiếm 15,38% Tốc độ tăng là 17,92%, tương ứng 123 người Trình độ LĐ tăng góp phần nâng cao trình độ dân trí và nâng cao hiệu quả LĐ cho người dân

Trang 36

4.1.2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng, giao thông

* Hệ thống giao thông: Trên địa bàn xã Quế Tân có 7,8km đường

sông Đây là tuyến đường giao thông đường sông quan trọng nối sang cảng biển Hải Phòng giúp giao lưu và phát triển kinh tế Hiện nay, có khoảng 4km đường liên xã được trải nhựa, tuy nhiên còn hẹp và đã xuống cấp nên cần có

kế hoạch mở rộng và nâng cấp Có khoảng 11km đường liên thôn, liên xóm chất lượng tốt, đi lại thuận tiện Đường nội đồng có chiều dài 22km chủ yếu là đường đất, lầy lội vào mùa mưa Ngoài ra, có 7km tuyến đường cao tốc 398

đi qua địa bàn xã Tuyến đường nối từ KCN Quế Võ 3 qua địa bàn xã nối sang thành phố Bắc Giang là tuyến đường góp phần không nhỏ vào việc vận chuyển, giao lưu phát triển kinh tế

* Hệ thống thủy lợi: Theo số liệu thống kê đất đai năm 2010 xã có

67,24ha đất thủy lợi, trên địa bàn hiện có sông Cầu chảy qua cùng với hệ thống kênh mương dài khoảng 38km và 3 trạm bơm điện 3000m3/h, các hệ thống mương, ao, hồ đủ để cung cấp nước tưới tiêu cho toàn bộ DT đất canh tác của

xã và tiêu úng cho khoảng 300ha diện tích bị ngập úng trong mùa mưa

* Hệ thống đồng ruộng: Hiện nay, toàn xã đã thực hiện chính sách

“dồn điền đổi thửa” trên tất cả các đồng ruộng thuộc địa bàn xã Do áp dụng chính sách này, ruộng của các hộ được quy mô, tập chung, gần bờ, gần

mương, rất dễ canh tác

* Hệ thống điện: Toàn xã có 4 trạm biến thế điện tổng công suất

100KVA Số hộ dùng điện đạt 100% tổng số hộ toàn xã

* Hệ thống chợ: Trong xã có các địa điểm buôn bán tập chung, quy mô

nhỏ và lẻ Là nơi cung cấp thức ăn, lương thực, thực phẩm chủ yếu hàng ngày cho người dân

4.1.2.3 Văn hóa - xã hội, thể dục - thể thao và môi trường

* Giáo dục - đào tạo: Toàn xã có 3 trường học: 1 trường THCS, 1

trường tiểu học và 1 trường mầm non trên tổng DT 1,64ha Hiện trường tiểu học và trường THCS của xã đã đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) đạt 98,9%

Trang 37

* Y tế: Xã Quế Tân có 1 trạm y tế DT khuôn viên 0,07ha, chiếm 0,08%

DT đất tự nhiên.Với dãy nhà 2 tầng khang trang, sạch sẽ với 15 phòng chức năng Đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường cả về chất lượng và số lượng Hiện nay, có 7 cán bộ trong đó có 1 bác sĩ, 3 y sĩ đa khoa, 1 nữ hộ sinh, 1 dược sỹ, 1 cán bộ dân số Tại các thôn đều có mạng lưới y tế đáp ứng đủ nhu cầu khám, chữa bệnh ban đầu cho gần 7000 người dân

* Hệ thống văn hóa - xã hội: Năm 2010 xã có 1,37ha đất cơ sở văn

hóa, chiếm 0,17% DT đất tự nhiên Có hệ thống thông tin truyền thanh ở các thôn đáp ứng yêu cầu thông tin tuyên truyền trong nhân dân Hàng năm, có 85% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa, 5 thôn giữ vững danh hiệu làng văn hóa cấp tỉnh

* Môi trường: Hiện nay toàn xã có 98,9% hộ dân sử dụng nước sạch

hợp vệ sinh Tỷ lệ hộ có 3 công trình (nhà tắm, nhà xí, bể nước) đạt chuẩn 87,6% Các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp được phát động thường xuyên

4.1.2.4 Điều kiện kinh tế

Thực hiện kế hoạch phát triển KT - XH năm 2013 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ nhân dân xã Quế Tân phát huy những kết quả đã đạt được trong các lĩnh vực mục tiêu KT - XH cùng với sự phát triển KT - XH của cả nước nói chung và của xã Quế Tân nói riêng Năm 2013, thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng bởi đợt mưa to kéo dài, rét đậm, rét hại gây ảnh hưởng đến SX, dịch bệnh làm giảm số lượng lớn đàn gia súc, gia cầm Giá cả vật tư, hàng hóa tiêu dùng tăng cao, ruộng đất manh mún, áp dụng tiến bộ KH - KT chuyển dịch CC KT còn chậm đã tác động trực tiếp đến sự phát triển KT - XH và đời sống của nhân dân

Song với sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu của các cấp ủy, chính quyền và các tầng lớp nhân dân các chỉ tiêu cơ bản đạt kế hoạch đề ra và đạt một số kết quả như sau:

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Quế Tân năm 2011 - 2013 - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Quế Tân năm 2011 - 2013 (Trang 33)
Bảng  4.3:  Tổng  GTSX  của  xã  Quế  Tân  tăng  dần  qua  3  năm  2011  - - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
ng 4.3: Tổng GTSX của xã Quế Tân tăng dần qua 3 năm 2011 - (Trang 38)
Bảng 4.5: Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo trong xã các năm 2011 - 2013: - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4.5 Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo trong xã các năm 2011 - 2013: (Trang 41)
Bảng 4.7: Đặc điểm bằng cấp cao nhất của 1 thành viên trong gia - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4.7 Đặc điểm bằng cấp cao nhất của 1 thành viên trong gia (Trang 45)
Bảng 4.9: Tình hình sức khỏe các hộ điều tra năm 2013 - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4.9 Tình hình sức khỏe các hộ điều tra năm 2013 (Trang 47)
Bảng 4.10: Đặc điểm về tiếp cận nguồn vốn của 60 hộ điều tra: - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4.10 Đặc điểm về tiếp cận nguồn vốn của 60 hộ điều tra: (Trang 48)
Bảng 4.12: Đặc điểm về kiểu nhà của các hộ điều tra năm 2013 - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4.12 Đặc điểm về kiểu nhà của các hộ điều tra năm 2013 (Trang 50)
Bảng 4.14: Thể hiện mức sống tối thiểu của con người. Số liệu trên cho  thấy, đây là các hộ điều tra bị thiếu hụt 1 trong các kích thước chỉ số về mức  sống - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4.14 Thể hiện mức sống tối thiểu của con người. Số liệu trên cho thấy, đây là các hộ điều tra bị thiếu hụt 1 trong các kích thước chỉ số về mức sống (Trang 53)
Bảng 4.17: Tỷ lệ hộ nghèo tính theo thu nhập năm 2013 - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4.17 Tỷ lệ hộ nghèo tính theo thu nhập năm 2013 (Trang 55)
Bảng 4.19: So sánh tỷ lệ hộ nghèo qua tiếp cận nghèo đa chiều so với - Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4.19 So sánh tỷ lệ hộ nghèo qua tiếp cận nghèo đa chiều so với (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w