C: Chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh chi phí bỏ ra để đạt được kết quả K Như vậy ta nhận thấy rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh chất lượng hoạt động sản
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN THỊ HIỂU
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HIỂU
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI CHIM BỒ CÂU
TẠI XÃ ĐỨC HÒA, SÓC SƠN, HÀ NỘI”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khóa học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Mạnh Hà
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan khóa luận này là do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của Thầy giáo: TS.Nguyễn Mạnh Hà
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa
hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào
Các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều đã được chỉ rơ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiểu
Trang 4Để hoàn thành khóa luận này trước tiên tôi xin chân trọng cảm ơn Ban
giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn
đã tạo mọi điều kiện để em nghiên cứu và thực hiện khóa luận này
Tôi đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm
sâu sắc của thầy giáo TS.Nguyễn Mạnh Hà đã giúp đỡ em trong suốt thời
gian thực hiện, để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn, Ủy ban nhân dân xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và toàn bộ người dân trong xã đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điều tra và nghiên cứu tại cơ sở
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Trong quá trình nghiên cứu do có những lý do chủ quan và khách quan nên không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để giúp tôi hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp được tốt hơn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiểu
Trang 5
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa của đề tài 4
3.1 Ý nghĩa khoa học 4
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
4 Bố cục của khóa luận 4
Chương 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Khái niệm và bản chất của HQKT 5
1.1.2 Bản chất của HQKT 11
1.1.3.Phân loại HQKT 13
1.1.4 Hệ thống chỉ tiêu về HQKT 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả nuôi chim bồ câu tại một số địa phương 16
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng và nâng cao hiệu quả nuôi chim bồ câu 18
1.2.3 Nhóm nhân tố kỹ thuật 20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 22
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.3.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 24
2.3.3 Phương pháp chuyên gia 24
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKT chăn nuôi chim bồ câu 24
2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ của chăn nuôi 24
2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình kết quả chăn nuôi của hộ 25
2.4.3 Những chỉ tiêu phản ánh HQKT nuôi chim bồ câu 26
Trang 6Chương 3 28
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Đức Hòa 28
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 28
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 31
3.2 Thực trạng chăn nuôi chim bồ câu trên địa bàn xã Đức Hòa năm 2011-2013 38
3.2.1 Hiện trạng chăn nuôi 38
3.2.2 Tình hình sử dụng giống 40
3.2.3 Tình hình sử dụng các kỹ thuật chăn nuôi 42
3.2.4 Tình hình tiêu thụ 43
3.3 Đánh giá những HQKT từ nuôi chim bồ câu 44
3.3.1 Tình hình đầu tư trong chăn nuôi chim bồ câu tại xã Đức Hòa 44
3.3.2 Kết quả và thu nhập từ chăn nuôi chim bồ câu 46
3.3.3 So sánh HQKT giữa chăn nuôi chim bồ câu với chăn nuôi gà, lợn 47
3.3.4 Đánh giá HQKT chăn nuôi chim bồ câu theo quy mô tại xã Đức Hòa 49
3.4 Hiệu quả về tận dụng lao động 50
3.5 Hiệu quả về mặt văn hóa, xã hội 52
Chương 4 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HQKT CHĂN NUÔI CHIM BỒ CÂU TẠI XÃ ĐỨC HÒA 55
4.1 Quan điểm, mục tiêu, phương hướng về nâng cao HQKT chăn nuôi chim bồ câu tại xã 55
4.2 Giải pháp nâng cao HQKT chăn nuôi chim bồ câu ở xã Đức Hòa 55
4.2.1 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi 55
4.2.2 Giải pháp mở rộng quy mô, tăng hiệu quả chăn nuôi chim bồ câu 56
4.2.3 Giải pháp tăng cường vốn đầu tư và áp dụng khoa học kĩ thuật cho chăn nuôi chim bồ câu 57
4.3 Kiến nghị 62
4.3.1 Đối với các cấp chính quyền địa phương 63
4.3.2 Đối với hộ nông dân nuôi chim bồ câu 63
KẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 7Chữ viết tắt Nghĩa
Trang 8Bảng 2.1: Số lượng hộ nuôi chim bồ câu ở ba thôn điều tra 23
Bảng 3.1: Cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp xã Đức Hòa 30
Bảng 3.2: Cơ cấu đất phi nông nghiệp 30
Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế theo ngành tại xã Đức Hòa 31
Bảng 3.4: Bảng tình hình sản xuất một số cây trồng chính tại xã Đức Hòa qua 3 năm (2011 – 2013) 32
Bảng 3.5: Tình hình chăn nuôi tại xã Đức Hòa năm 2013 33
Bảng 3.6: Hiện trạng giao thông trên địa bàn xã 37
Bảng 3.7: Tình hình nuôi chim bồ câu tại xã Đức Hòa năm 2011 - 2013 38
Bảng 3.8: Cơ cấu giống chim bồ câu được nuôi ở các hộ điều tra 40
tại xã Đức Hòa (n = 25) 40
Bảng 3.9: Cơ cấu nguồn giống chim bồ câu được nuôi ở các hộ điều tra 41
tại xã Đức Hòa (n = 25) 41
Bảng 3.10: Chi phí chăn nuôi chim bồ câu, gà, lợn của các hộ điều tra năm 2013 45
Bảng 3.11: Hiệu quả chăn nuôi kinh doanh chim bồ câu theo quy mô 46
Bảng 3.12: So sánh kết quả, HQKT của chăn nuôi chim bồ câu với gà, lợn tại xã Đức Hòa trung bình một hộ chăn nuôi năm 2013 48
Bảng 3.13: HQKT chăn nuôi chim bồ câu theo quy mô tại xã Đức Hòa năm 2013 49
Bảng 3.14: So sánh hiệu quả sử dụng lao động theo quy mô chăn nuôi chim bồ câu 51
Bảng 3.15: So sánh hiệu quả sử dụng lao động giữa hộ chăn nuôi chim bồ câu với chăn nuôi gà, lợn 52
Trang 9Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu lao động theo ngành của xã Đức Hòa năm 2013 35 Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu đàn chim bồ câu tại xã Đức Hòa 39
năm 2011 – 2013 39 Hình 3.3: Sơ đồ tiêu thụ chim bồ câu thương phẩm xã Đức Hòa 43
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp, do lịch sử quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước nên phần lớn dân cư nước ta sống quần tụ theo từng dòng
họ và theo phạm vi làng, xã Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa đã diễn ra khá mạnh mẽ nhưng vẫn còn gần 70% dân số sinh sống và hơn 54% lao động làm việc ở nông thôn
Cùng với xu thế phát triển nông nghiệp hàng hoá hội nhập một yêu cầu bức thiết với nền nông nghiệp nước ta cần phải đa dạng các sản phẩm nông nghiệp, thay đổi cơ cấu vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng các vật nuôi có hiệu quả kinh tế (HQKT) cao, để làm sao cùng với diện tích đó nhưng có thể mang lại HQKT gấp rất nhiều lần Do đó, ngành chăn nuôi không thể thiếu việc phát triển và nâng cao hiệu quả chăn nuôi nói chung và chim bồ câu nói riêng theo thế mạnh của từng vùng
Chim bồ câu là vật nuôi có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao, đang được xem
là đối tượng quan trọng nhằm chuyển đổi cơ cấu vật nuôi trong nông nghiệp
Chim bồ câu là loài vật nuôi quen thuộc ở nông thôn và một số nơi ở thành thị Nó dễ nuôi, hiền lành và thân thiện với con người Bồ câu hiện nay được nuôi theo 3 hướng là: nuôi lấy thịt, nuôi làm cảnh và nuôi để đưa
thư Bồ câu là loại động vật thuộc họ chim gáy, tên khác là bồ câu nhà, chim
câu, là loài chim được nhân dân nuôi rộng rãi Có nhiều giống rất khác nhau
về kích thước và màu sắc, trong đó các giống bồ câu Pháp, Mỹ, Thái được người nuôi ưa chuộng, có thể nuôi theo nhiều hình thức khác nhau như nuôi theo kiểu công nghiệp, bán công nghiệp, nuôi theo kiểu hoang dã
Với một nước có dân số lớn như nước ta thì nhu cầu về dinh dưỡng phục
vụ sức khỏe con người đặc biệt ở các vùng tập trung dân cư đông và có mức sống cao như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Cần
Trang 11Thơ Điều đó đã đặt ra cho ngành chăn nuôi của nước ta phải phát triển mạnh hơn, không những chỉ nhằm phục vụ nhu cầu trong nước mà còn phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu
Ăn thịt chim bồ câu có thể kích thích ăn uống, tăng khả năng tuần hoàn
máu, giúp tinh thần sảng khoái, thể lực sung măn, da dẻ mịn màng, phòng chống được lão hoá và tóc bạc sớm
Thịt bồ câu ăn ngon, bổ dưỡng, nhất là chim non ra ràng Do thịt chim
bồ câu dễ tiêu hoá hơn các loại thịt gia cầm khác nên đối với người cao tuổi chức năng tiêu hoá kém và trẻ em, tác dụng bổ dưỡng của chim bồ câu càng
rõ rệt Thành phần chủ yếu của thịt bồ câu có protein 22,14%, lipit, các chất canxi, photpho, sắt, nhiều loại muối khoáng khác và vitamin Ngoài giá trị dinh dưỡng, bồ câu còn là vị thuốc quý được Đông y dùng từ lâu đời để chữa nhiều bệnh Thịt chim bồ câu có tên thuốc là cáp điểu nhục là một vị thuốc bổ dưỡng quý, có vị mặn, tính bình, hơi ấm, không độc, có tác dụng bổ ngũ tạng, tăng cường khí huyết, mạnh dương, trừ cam tích, kích thích tiêu hoá Thịt bồ câu thích hợp với thể tạng người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em, dùng dưới dạng nấu cháo chim ăn nóng ngon và bổ
Chính từ yêu cầu đó việc phát triển nuôi chim bồ câu nhằm phát huy lợi thế
so sánh của từng vùng đang nhận được sự quan tâm chú trọng đặc biệt của các
địa phương Đức Hòa là một xã thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội Dân số xã là
8.200 người (hơn 1750 hộ gia đình) đang sinh sống Xã có diện tích là 717 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 431ha Tuy nhiên, để chim bồ câu được thị trường chấp nhận và có thương hiệu thực sự thì không đơn giản, đồng thời vẫn chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng hiệu quả kinh tế còn chưa cao
So với tiềm năng của địa phương, thì việc chăn nuôi, kinh doanh chim
bồ câu còn bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém Quy mô chăn nuôi chưa được mở rộng, chủ yếu là chăn nuôi theo hộ gia đình, giá cả còn thấp, thay đổi thường xuyên Mặt khác phương thức sản xuất của người dân còn mang tính nhỏ lẻ
Trang 12thủ công, dựa vào kinh nghiệm là chính Chưa áp dụng khoa học – kĩ thuật chưa hiệu quả, dẫn tới HQKT chưa cao
Chính vì vậy tôi đã lựa chọn khóa luận nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả
kinh tế nuôi chim bồ câu tại xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, Hà Nội” với
mong muốn sẽ là cơ sở để góp phần đánh giá đúng thực trạng, HQKT và thấy
rơ được các tồn tại để từ đó đề ra các giải pháp phát triển chăn nuôi chim bồ
câu hợp lý mang lại HQKT cao hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu và đánh giá HQKT nuôi chim bồ câu trên cơ sở thực tiễn tại
xã Đức Hòa, Sóc Sơn, Hà Nội Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao HQKT nuôi chim bồ câu, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã Đức Hòa
- Đánh giá những mặt tích cực và những khó khăn, hạn chế ảnh hưởng
đến sự phát triển nuôi chim bồ câu và những phương hướng phát triển, những
ý kiến, kiến nghị, mong muốn của các hộ nuôi,…
- Xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến hiệu quả nuôi chim bồ câu của các hộ nuôi tại xã Đức Hòa
- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm phát triển nghề nuôi chim bồ câu trên địa bàn xã
Trang 133 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Củng cố kiến thức đã học với thực tiễn trong quá trình đi thực tập tại cơ sở
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời bổ sung những kiến thức thực tế cho bản thân
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Là tài liệu tham khảo giúp xã Đức Hòa xây dựng quy hoạch phát triển nuôi chim bồ câu Có ý nghĩa thiết thực cho quá trình nuôi chim bồ câu tại xã
Đức Hòa và đối với các địa phương có điều kiện tương tự
4 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 4 chương chính:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 4: Các giải pháp và kiến nghị nâng cao HQKT nuôi chim bồ câu
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm và bản chất của HQKT
- Hiệu quả theo nghĩa phổ thông, phổ biến trong cách nói của mọi người:
“Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại hiệu quả” [12]
- Xét góc độ thuật ngữ chuyên môn, hiệu quả theo nghĩa kinh tế nó là
“Mối quan hệ giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch
vụ, có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả kĩ thuật hoặc theo chi phí thì được gọi là hiệu quả kinh tế Khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng như một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được thị trường phân phối như thế nào” [5]
Ngày nay, người ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về hiệu quả Ở mỗi góc độ, lĩnh vực khác nhau thì hiệu quả cũng được xem xét, nhìn nhận khác nhau và thông thường khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì chúng
ta xem xét vấn đề hiệu quả trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội Tương
ứng ta có 3 phạm trù: hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị, hiệu quả xã hội
- Hiệu quả kinh tế: Nếu xét trên phạm vi từng khía cạnh, từng yếu tố, từng ngành thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế Có thể hiểu hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kết quả thu và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Kết quả thu về đề cập trong khía niệm này có thể là doanh thu, lợi nhuận, tổng sản phẩm công nghiệp,…Hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố
đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh [9]
- Hiệu quả chính trị, xã hội: Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì ta có hai phạm trù hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hôi Hai phạm trù này phản ánh ảnh hưởng của hoạt đông sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế
Trang 15xã hội Và hai loại hiệu quả này có vị trí quan trọng trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững Hiệu quả chính trị, xã hôi phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý, mức sống bình quân.[9]
Phải luôn có sự cân đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị, xã hội Đây là nguyên tắc để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một cách liên tục và lâu dài Bất kì một sự mất cân đối nào cũng sẽ dân dến những hậu quả nghiêm trọng
Mặc dù đã có sự thống nhất rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chưa có sự thống nhất quan điểm về hiệu hiệu quả sản xuất kinh doanh Các nhà kinh tế
và thống kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh
do điều kiện lịch sử và góc độ nghiên cứu là không giống nhau
- “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa”[2].Theo quan điểm này thì hiệu quả là tốc độ tăng của kết quả đạt được như: tốc độ tăng của doanh thu, của lợn nhuận Như vậy hiệu quả đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả hay với nhịp độ tăng của các chỉ tiêu ấy Quan điểm này thực sự không còn phù hợp với các điều kiện ngày nay Kết quả sản xuất có thể tăng chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất) Nếu hai doanh nghiệp có cùng một kết quả sản xuất tuy có hai mức chi phí khác nhau, theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của chúng là như nhau
- “Hiệu quả được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm mà xã hội hoặc thu nhập quốc dân” [2] Xét trên phạm vi của doanh nghiệp, theo quan
điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhịp độ tăng giá trị tổng sản
lượng là một Nhìn trên một góc độ nào đó thì quan điểm này cũng gần giống như quan điểm trên Nó cũng không đề cập tới chi phí bỏ ra để đạt được giá trị tổng sản lượng đó Nếu tốc độ của chi phí sản xuất được các nguồn lực
Trang 16được huy động tăng nhanh hơn nhịp độ tăng giá trị tổng sản lượng thì sao
Hơn nữa, việc chọn năm gốc có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả so sánh Với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta lại có mức hiệu quả khác nhau của một năm nghiên cứu
- “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó” [7] Nhìn nhận quan điểm này dưới góc độ doanh nghiệp thì tình hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả khi nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó Giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp được xác định bằng giới giá trị tổng sản lượng tiềm năng, là giá trị tổng sản lượng cao nhất có thể đạt
được ứng với tình hình công ghệ và nhân công nhận định Theo quan điểm
này thì hiệu quả thể hiện ở sự so sánh mức thực tế và “tối đa” về sản lượng
Tỷ lệ so sánh càng gần 1 thì càng có hiệu quả Mặt khác ta thấy quan điểm này tuy đã đề cập đến các yếu tố đầu vào nhưng lại đề cập không đầy đủ
- “Hiệu quả kinh tế nền sản suất xã hội là mức độ hữu ích của sản phẩm
được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải là giá trị”[2]
Theo tác giả của quan điểm này, mức độ thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào các tác dụng vật chất cụ thể chứ không phải giá trị trừu tượng nào đó Tuy nhiên quan điểm này gặp phải trở ngại là khó tính được tính hữu ích của sản phẩm
được sản xuất ra Và nếu vậy thì chúng ta không thể so sánh được tính hữu
ích giữa các sản phẩm, do đó cũng không đánh giá được tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
- “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của
đại lượng kết quả và chi phí” [3]
Công thức biểu diễn phạm trù này:
Trang 17
: Phần gia tăng của kết quả sản xuất
: Phần gia tăng của chi phí sản xuất
H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Quan điểm này phản ánh hiệu quả chưa đầy đủ và trọn vẹn Nó chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần gia tăng của kinh doanh sản xuất và phần gia tăng của chi phí sản xuất chứ chưa đề cập toàn bộ phần tham gia đầu vào quá trình sản xuất, kinh doanh Xét trên quan điểm triết học Mác Lênin thì mọi sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ, độc lập sản xuất kinh doanh không nằm ngoài quy luật này, các yếu tố “tăng thêm” giảm
đi có liên hệ với các yếu tố sẵn có Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới
kết quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là kết quả tổng hợp của toàn bộ phần tăng thêm trong khái niệm hiệu quả là chưa đầy
đủ, thiếu chính xác
- “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” [3] Quan điểm này cho rằng, nói đến hậu quả kinh tế tức là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Nó được tính bằng các chi phí và lời lãi Và cũng nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được
và chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đợn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đông vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh
- “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một quá trình kinh tế) phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn) để đạt
được mục tiêu xác định” [10]
Công thức để biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Trang 18Trong đó:
H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh
K: Kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh
C: Chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh (chi phí bỏ ra để đạt được kết quả K)
Như vậy ta nhận thấy rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Còn kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) thì phản
ánh số lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh Vậy khi xem xét, đánh giá
hoạt động của một doanh nghiệp thì phải quan tâm cả kết quả cũng như hiệu
quả của doanh nghiệp đó
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn
lực mọi điều kiện “động” của hoạt động sản xuất kinh doanh
Việc tính toán hiệu quả hoàn toàn có thể thực hiện được trong sự vận
động và biến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh, không phụ
thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng
Ngoài ra, để xác định hiệu quả thì K và C cũng được xác định theo
những quan niệm khác nhau, tùy theo yêu cầu nghiên cứu: [6]
K có thể là:
+ Tổng giá trị sản xuất (GO) + Giá trị tăng thêm (VA = GO – IC) + Thu nhập hỗn hợp ( MI = VA – T – A) Trong đó: T là thuế; A là khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ
+ Lợi nhuận (Pr = VA – chi phí lao động gia đình)
C có thể là:
+ Tổng chi phí (TC)
Trang 19+ Chi phí biến đổi (VC) + Chi phí cố định (FC) + Chi phí một yếu tố đầu vào nào đó như đất đai, lao động, vốn,…
Tùy từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn cách biểu hiện K và C sao cho phù hợp
Các quan điểm truyền thống chưa thật toàn diện khi xem xét hiệu quả kinh tế: [4]
- Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa
cả các yếu tố khác nữa Và có những phần thu lợi hoặc những khoản khác nữa Và có những phần thu lợi hoặc nhưng khoản chi phí lúc đầu không hoặc khó lượng hóa được nhưng nó là những con số không phải là nhỏ thì lại không được phản ánh ở cách tính này [4]
Trang 201.1.2 Bản chất của HQKT
- HQSXKD phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, máy móc, vốn, nguyên vật liệu) để đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp Bản chất của HQSXKD của hộ là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian
Yêu cầu cao nhất của việc nâng cao HQSXKD là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu (thời gian hao phí lao động thấp nhất) Điều này có ý nghĩa là với mức chi phí nhất định thì hộ phải đạt kết quả tối đa hoặc ngược lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù HQKT của hoạt động SXKD cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động SXKD Trước đây trong lý luận cũng như trong thực tiễn đã tồn tại sự nhầm lẫn giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả của hoạt động SXKD, khi đó đã coi kết quả là mục đích và hiệu quả là mục tiêu Từ quan niệm nhầm lẫn đó dẫn đến sự hạn chế trong phương pháp luận giải quyết vấn
đề, đôi khi người ta hay coi đạt được kết quả là đạt được hiệu quả và rõ ràng điều đó có nghĩa là không cần chú ý đến HQSXKD Đây là quan niệm sai lầm
và cần phải được thay đổi
- Hiện nay, chúng ta có thể hiểu kết quả hoạt động SXKD của hộ là những gì mà hộ đạt được sau một quá trình SXKD nhất định, kết quả cần đạt bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của hộ, có thể là những đại lượng có thể cân đong, đo, đếm được như: số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận…và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như: uy tín, chất lượng sản phẩm…Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của hộ Trong khi đó khía niệm về HQSXKD người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá HQSXKD Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị
Trang 21hiện vật và đơn vị giá trị Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định HQSXKD sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường, còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường tiền tệ Vấn đề được đặt ra là HQSXKD là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trước tiên, HQSXKD phản ánh việc thực hiện mục tiêu của hộ đạt được ở trình độ nào Nhưng xem xét HQKT không chỉ dừng ở đó mà thông qua đó có thể phân tích, tìm ra các nhân tố cho phép nâng cao HQSXKD Từ đó có thể có các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp ở mức độ cao hơn với chi phí về nhân lực, vật lực và vốn ít hơn Như vậy, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết khả năng tiến tới mục tiêu cần đạt kết quả
Như đã đề cập trên, bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh là hiệu quả của lao động xã hội, được so sánh giữa chất lượng, kết quả thu được với lượng hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn hiệu quả hoạt động kinh doanh là tối đa hóa kết quả hoặc tối thiểu hóa chi phí trên nguồn vốn sẵn có Hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được trên cơ sở nâng cao năng suất lao động và chất lượng công tác Để đạt hiệu quả ngày càng cao và vững chắc, đòi hỏi hộ kinh doanh không những nắm chắc các tiềm năng và tiềm ẩn về lao động, vốn, kĩ thuật…mà còn phải nắm vững tình hình cung cầu hàng hóa trên thị trường,
đối thủ cạnh tranh,…hiểu được thế mạnh, thế yếu của hộ để khai thác hết mọi
tiềm năng hiện có, tận dụng những cơ hội vàng của thị trường, ngoài ra nghiên cứu và nhận thức một cách đầy đủ bản chất và các quan điểm đánh giá HQSXKD Từ việc đánh giá đúng hiệu quả, cho phép hộ phát hiện khả năng
và tìm đúng biện pháp để nâng cao HQSXKD
Trang 22Hiệu quả kinh tế là tiền đề vật chất của hiệu quả xã hội Nếu HQKT giảm tức là hộ mất đi khả năng cạnh tranh, thiếu sức sống và trở thành gánh nặng cho nhà nước Vì thế, hộ không thể đạt được mục tiêu xã hội
- Về mặt định lượng: Biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được
so với chi phí bỏ ra, chênh lệch giữa các kết quả thu về và chi phí đã bỏ ra thì các kết quả thu về càng cao và ngược lại
- Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự
cố gắng, nỗ lực, trình độ và năng lực quản lý ở các khâu, các cấp quản lý và
sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những
yêu cầu mục tiêu chính trị - xã hội [8]
Khi xem xét bản chất HQKT không được phép đồng nhất giữa các kết quả và hiệu quả Vì kết quả chỉ làm cơ sở để tính toán hiệu quả
1.1.3.Phân loại HQKT
HQKT được phân chia theo nhiều cách khác nhau tùy theo khía cạnh cần phản ánh mà ta phân loại như sau: [6]
phối và hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế kỹ thuật: là số lượng sản phẩm đạt được trên một
đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản phẩm trong những kiện
cụ thể về kỹ thuật hay công nhệ áp dụng vào sản xuất
+ Hiệu quả phân bố: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm
và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm được trên một
đồng chi tiêu thêm về đầu vào hay nguồn lực Như vậy hiệu quả phân bố là
hiệu quả kỹ thuật có tính đến yếu tố giá cả đầu vào và đầu ra
+ Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố Chúng có mối quan hệ như sau:
Hiệu quả kinh tế = Hiệu kỹ thuật x Hiệu quả phân phối
- Theo mức độ khái quát, hiệu quả kinh tế chia ra :
Trang 23+ Hiệu quả kinh tế: là so sánh giữa các kết quả kinh tế với chi phí bỏ để
đạt được kết quả đó
+ Hiệu quả xã hội: là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh công ích, phục vụ lợi ích chung cho xã hội như tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội,…
+ Hiệu quả môi trường: thể hiện bảo vệ tốt hơn môi trường như tăng độ che phủ mặt đất, giảm ô nhiễm đất, nước, không khí,…
Trong các loại hiệu quả kinh tế là quan trọng nhất nhưng không thể bỏ qua hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Vì vậy khi nói tới hiệu quả kinh
tế, người ta thường có ý bao hàm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
-Theo phạm vi, hiệu quả kinh tế chia ra:
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân
+ Hiệu quả kinh tế ngành, tính riêng từng ngành: trồng trọt, chăn nuôi,
và hẹp hơn
+ Hiệu quả kinh tế vùng: tính cho từng vùng
+ Hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực, các yếu tố đầu vào
1.1.4 Hệ thống chỉ tiêu về HQKT
* Nguyên tắc khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu về HQKT
- Phải đảm bảo tính thống nhất, thể hiện ở nội dung các chỉ tiêu và phương pháp xác định tính toán
- Phải đảm bảo tính toàn diện của hệ thống, bao gồm chỉ tiêu tổng quát chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu phản ánh trực tiếp và chỉ tiêu bổ sung
- Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ của chủ hộ chăn nuôi chim bồ câu Xét về mặt nội dung HQKT có mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, nó so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Kết quả kinh tế phản ánh hoạt động cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh, còn HQKT là tỷ số chênh lệch giữa kết quả quá trình sản xuất và chi
Trang 24phí bỏ ra để có kết quả đó (là mối quan hệ so sánh giữ kết quả và chi phí của nền sản xuất)
H: Hiệu quả kinh tế;
Q: Kết quả sản xuất thu được;
K: Chi phí nguồn lực;
Q: Phần tăng lên của kết quả;
∆K: Phần tăng lên của chi phí
Chỉ tiêu này có thể tính theo hiện vật, hoặc tính theo giá trị (tiền)
Vấn đề cần thống nhất cách xác định Q và K để tính toán HQKT
- Q có thể biểu hiện là: Tổng giá trị sản xuất (GO); Tổng giá trị gia
tăng (VA); Thu nhập hỗn hợp (MI); Lợi nhuận (Pr); Phần tăng lên của kết quả
(∆Q)
- K có thể biểu hiện là: Tổng chi phí sản xuất (TC); Chi phí cố định
(FC); Chi phí biến đổi (VC); Chi phí trung gian (IC); Chi phí lao động (LĐ);
Phần tăng lên của chi phí (∆K)
Phương pháp xác định kết quả sản xuất (Q) và chi phí sản xuất (K) nêu trên là chung nhất, từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất và ở những điều kiện
cụ thể nhất định vận dụng cho thích hợp Đánh giá HQKT trong sản xuất kinh doanh là việc làm hết sức phức tạp, vì vậy để phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, toàn diện thì ngoài những chỉ tiêu trên, cần quan tâm đến một số chỉ tiêu khác như:
Trong quá trình đánh giá, phân tích không chỉ đơn thuần phân tích,
đánh giá HQKT mà phải chú ý đến hiệu quả xã hội,…Đồng thời phải chú ý
Trang 25đến hiệu quả môi trường sinh thái như giảm gây ô nhiễm môi trường, đa dạng
hóa sinh học, bảo vệ nguồn nước,…Trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả nuôi chim bồ câu tại một số địa phương
1.2.1.1 Ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Tỉnh Bắc Giang có rất nhiều mô hình phát triển kinh tế cho thu nhập cao đến cả trăm triệu đồng/năm, tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động Nhưng, có một mô hình ít người làm mà lại cho thu nhập cao, với chi phí thấp, ít tốn công, đó là mô hình nuôi chim bồ câu
Đến Bắc Giang rất dễ để tìm hiểu các mô hình nuôi chim bồ câu ở các
huyện như : Tân Yên, Hiệp Hòa, Yên Dũng,…
Từ việc nuôi chơi đến làm giàu, bồ câu là vật nuôi sinh trưởng và phát triển nhanh, từ khi nở cho đến khi bồ câu non ra ràng là 45 ngày, trong khoảng thời gian ấy bồ câu mẹ có thể vừa đẻ vừa nuôi con Bình quân mỗi tháng gia đình anh xuất bán hơn 200 cặp chim giống với giá thấp nhất là 180.000 đồng/cặp Giá bán bồ câu thịt anh bán hện nay là 120.000 đồng/cặp Sau khi trừ các chi phí thức ăn, gia đình anh thu về trên 25 triệu đồng tiền lãi/tháng nếu chỉ bán giống, nếu chỉ bán chim thịt thì anh cũng được lãi khoảng 14 triệu/tháng một mức thu nhập rất hấp dẫn tại một vùng nông thôn
Hiệu quả nuôi chim bồ câu cao hơn nhiều so với nuôi các loại gia súc, gia cầm khác do chi phí đầu tư không quá cao, không phải tốn nhiều công sức để chăm sóc lại thu hồi vốn nhanh Bên cạnh đó, diện tích để nuôi chim
bồ câu không cần phải lớn Đây là một hướng đi rất phù hợp với những hộ nông dân nghèo [17]
Ngoài nuôi bồ câu, gia đình anh còn nuôi thêm: gà thả vườn, lợn thịt, nuôi bò, kết hợp làm nông nghiệp để tăng thêm thu nhập Mỗi năm trừ chi phí, gia anh thu lãi trên 200 triệu đồng Mô hình nuôi chim bồ câu của anh đã
Trang 26trở thành địa chỉ tin cậy để nhiều nông dân trong xã cũng như trong tỉnh đến thăm quan, học tập kinh nghiệm và mua con giống
1.2.1.2.Ở tỉnh Lâm Đồng
Trong khi nghề nuôi heo (lợn) đang gặp nhiều khó khăn do giá thức ăn cao, giá sản phẩm không ổn định khiến người chăn nuôi thường xuyên thua lỗ hoặc không có lãi, thì nghề nuôi chim bồ câu Pháp theo hướng công nghiệp
đầu tư ít mà lại nhanh thu hồi vốn, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đang là một
hướng đi mới đầy tiềm năng đối với bà con ở tỉnh Lâm Đồng [18]
Nhiều hộ gia đình đã thành công với mô hình còn khá mới mẻ này ở địa phương Họ bắt đầu nuôi chim bồ câu từ năm 2008, với 50 cặp, đến nay trong chuồng nuôi của nhiều hộ đã có tới 500 cặp chim bồ câu sinh sản và hơn 250 chim bồ câu nuôi để bán
Loài chim bồ câu người dân nơi đây đang nuôi thuộc giống bồ câu Pháp, là giống chuyên nuôi lấy thịt, mỗi năm mỗi cặp có thể đẻ từ 8 - 9 lứa, mỗi lứa đẻ 2 trứng, trọng lượng chim xuất chuồng bán thịt đạt từ 500 - 550g Giống chim này có ưu điểm là thích ứng tốt với điều kiện khí hậu địa phương
và tỷ lệ nuôi sống cao
Để nuôi chim bồ câu đạt hiệu quả, khâu chọn giống là quan trọng nhất,
chọn chim bồ câu giống có lông bụng dày mượt, không có dị tật, lanh lợi Ngoài ra, chuồng nuôi cần phải thông thoáng, có đủ ánh sáng mặt trời, có mái che, có ổ cho chim mái đẻ trứng, cần thường xuyên vệ sinh chuồng trại Nếu nuôi chim để làm giống thì tiến hành tách chim non khỏi chim mẹ khi chúng
được 30 ngày tuổi, đối với nuôi chim lấy thịt là 18 ngày tuổi Mật độ nuôi
chim sinh sản 6 con/m2, chim trưởng thành 10 con/m2 [18]
Về thức ăn cho chim, tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng của chim mà có thể dùng nhiều loại thức ăn như: đậu, lúa, gạo Cho chim ăn 2 lần trong ngày, buổi sáng lúc 8 giờ và buổi chiều vào lúc khoảng 15 giờ Cần cho chim ăn thêm thức ăn công nghiệp, nhằm bổ sung khoáng chất và vitamin
Trang 27Nước uống cho chim phải sạch sẽ và thay hàng ngày Vào đêm có thời tiết lạnh, có thể lắp thêm đèn để sưởi ấm cho chim Chim bồ câu ít bị bệnh, cần chú ý tẩy giun cho chim 2 lần/năm
Chim bồ câu dễ nuôi, không tốn nhiều thời gian chăm sóc, chi phí nuôi thấp, mà lợi nhuận thu về rất khả quan Sau 18 ngày nuôi, chim nuôi bán lấy thịt có giá khoảng 90.000 đồng/cặp; còn đối với bồ câu nuôi bán làm giống, thời gian nuôi trên 30 ngày, có giá từ 250.000 đồng/cặp trở lên Sau khi trừ chi phí, gia đình chị thu lãi hơn 15 triệu đồng/tháng từ việc bán bồ câu thịt và
bồ câu giống “Cũng nhờ nuôi chim bồ câu nên tôi mới có điều kiện sửa sang lại căn nhà, cuộc sống gia đình bây giờ đã ổn định hơn trước rất nhiều” [18]
Hiện nay, mặt hàng bồ câu thịt đang hút hàng, sản lượng cung ứng không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường Do đó, việc nhân rộng mô hình nuôi chim bồ câu pháp này ở các nông hộ tại thời điểm này là thích hợp nhất Sắp tới, nhiều hộ sẽ mở rộng chuồng trại, tăng số lượng chim nuôi, phát triển nghề nuôi bồ câu theo hướng công nghiệp…[18]
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng và nâng cao hiệu quả nuôi chim bồ câu
1.2.2.1 Thị trường tiêu thụ
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhà sản xuất phải trả lời đúng chính xác ba vấn đề cơ bản của một tổ chức kinh tế đó là sản xuất, kinh doanh cái gì? Sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Có như vậy, cơ sở sản xuất, kinh doanh mới có thể thu được kết quả và HQKT cao Như vậy, trước khi quyết
định sản xuất, nhà sản xuất phải nghiên cứu kỹ thị trường và nắm vững dung
lượng thị trường, nhu cầu thị trường và môi trường kinh doanh sẽ tham gia.[1]
Trong nông nghiệp, do yêu cầu của thị trường, giá cả sản phẩm là đòi hỏi tất yếu để lựa chọn cơ cấu chăn nuôi để đạt lợi nhuận và HQKT cao nhất
Trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế, nhu cầu về sản phẩm có những đòi hỏi khác nhau Khi thu nhập ngày càng tăng, nhu cầu
về vật chất và tinh thần cũng thay đổi theo hướng vừa tăng về số lượng, chất
Trang 28lượng và giá cả lúc này có tính cạnh tranh cao Đặc biệt là thị trường xuất khẩu thì yêu cầu về chất lượng sản phẩm lại càng khắt khe và nghiêm ngặt, tuy vậy nếu ta đáp ứng được các quy định, yêu cầu đó thì kết quả và HQKT thu được sẽ rất cao
1.2.2.2 Giá cả
Trong kinh tế thị trường giá luôn thay đổi đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và HQKT chăn nuôi chim bồ câu Tác động của thị trường đến sản xuất kinh doanh trước hết là thị trường đầu ra (tiêu thụ sản phẩm) chưa ổn định đối với các loại sản phẩm chăn nuôi vì chăn nuôi ở nước ta chưa đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường đầu ra Song, thị trường đầu vào cũng có ảnh hưởng tới kết quả và HQKT chăn nuôi chim bồ câu, đó là: giá các yếu tố đầu vào như: giống, thức ăn, thuốc thú y, vốn và lao động, có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển chăn nuôi, hình thành giá cả sản phẩm, là nhân tố trực tiếp làm thay đổi trạng thái chăn nuôi, nâng cao chất lượng và khối lượng sản phẩm, gây tác động lớn tới kết quả và HQKT
1.2.2.3 Vốn
Vốn giúp cho các hộ chăn nuôi chim bồ câu có điều kiện mở rộng quy
mô, nâng cao chất lượng sản phẩm, trên cơ sở đó mới có điều kiện giảm chi phí chăn nuôi và nâng cao HQKT Phát triển chăn nuôi chim bồ câu ở xã Đức Hòa hiện nay chủ yếu ở các hộ nông dân có kinh tế giàu, khá và trung bình do vậy muốn phát triển nhanh về số lượng, quy mô chăn nuôi chim bồ câu đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn như: cho vay với lãi suất ưu đãi, trợ giá con giống, Mặt khác cần mở ra và đẩy nhanh bảo hiểm vật nuôi, giúp
đỡ các hộ nông dân chăn nuôi chim bồ câu khi gặp rủi ro như: dịch bệnh, giá
bán thấp,…
1.2.2.4 Lao động
Lao động là yếu tố quyết định đối với mỗi quá trình sản xuất Việc chăn nuôi và chăm sóc chim bồ câu có yêu cầu kỹ thuật riêng, đòi hỏi người lao
Trang 29động phải có trình độ học vấn, trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm chăn nuôi nhất định như: hiểu biết về chế độ, kỹ thuật chăm sóc, thức ăn, chuồng trại, ánh
sáng hợp lý, khi nào cần chăm sóc, cho ăn nhiều, những loại thức ăn ở từng thời kì đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bồ câu, phòng chống dịch bệnh, giữ cho chim non phát triển tốt, không để ảnh hưởng đến sinh lý của chim
1.2.2.5 Tổ chức sản xuất và chính sách
Chim bồ câu là loài vật có tập tính sống theo kiểu bầy đàn Vì vậy, cần phát triển mô hình dạng kinh tế theo hình thức trang trại là mô hình thích hợp Quy mô chăn nuôi, vốn, lao động và sách lược kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau Quản lý chất lượng ngay từ khâu chọn giống, chăn nuôi và chăm sóc, cần tiêu chuẩn hoá chăn nuôi, tiêu chuẩn hoá sản phẩm, sản phẩm chất cao là yêu cầu cấp thiết của tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất
Ngoài những yếu tố trên ảnh hưởng đến kết quả và HQKT trong chăn nuôi chim bồ câu còn một số nhân tố khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đó là: Chính sách vĩ mô của Nhà nước về vốn, đất đai, chính sách phát triển nông nghiệp,…có tác động tích cực để phát triển chăn nuôi và nâng cao hiệu quả chăn nuôi chim bồ câu
1.2.3 Nhóm nhân tố kỹ thuật
- Giống: Chọn những giống có số lứa/năm cao, trọng lượng cao, ổn
định, khỏe mạnh, lông mượt, không có bệnh tật, dị tật, lanh lợi, không dịch bệnh, phẩm chất tốt, tỷ lệ trứng nở cao nhằm nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩm, từ đó tăng doanh thu từ sản phẩm
- Chuồng nuôi: Chuồng nuôi chim bồ câu phải thoáng mát thì chim mới
mau lớn Nếu là nuôi thả tự do thì chuồng nuôi yêu cầu phải có mái che mưa, nắng, có ổ cho chim mái đẻ trứng Nếu nuôi chim để sinh sản và khai thác thịt cần có chuồng nuôi khác nhau
- Chăm sóc: Tuỳ thuộc vào nguồn lực, tuổi chim, giai đoạn sinh đẻ mà
có chế độ chăm sóc cũng như thức ăn thích hợp Hiện nay người ta thường
Trang 30cho chim ăn kèm thức ăn hỗn hợp với ngô, gạo say (gạo sát vẫn còn nhiều thóc) nhằm tăng dinh dưỡng cho chim, tạo cho chim có khả năng đề kháng tốt khỏi dịch bệnh và sinh sản ổn định
- Phòng trừ dịch bệnh: Cần phải phòng trừ dịch bệnh kịp thời Khi phát
hiện bệnh thì cần xem xét kỹ lưỡng để chọn loại thuốc sao cho phù hợp và
điều trị đúng liều lượng, không ảnh hưởng đến chất lượng sinh sản của chim
bố mẹ và chất lượng thịt của chim non
- Đổi mới công nghệ: Đổi mới công nghệ là cải tiến trình độ kiến thức
sao cho nâng cao được năng lực sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhiều hơn với một số lượng đầu vào như trước hoặc có thể làm ra một lượng sản phẩm
như cũ với khối lượng đầu vào ít hơn [1]
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
- Các vấn đề về HQKT và nâng cao HQKT trong chăn nuôi chim bồ câu của các hộ chăn nuôi chim bồ câu trên địa bàn xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, Hà Nội
- Chim bồ câu nuôi tại các hộ ở xã Đức Hòa
- Phỏng vấn, điều tra trực tiếp 25 hộ dân nuôi chim bồ câu tại xã Đức Hòa
- Các nguồn lực đầu tư nuôi chim bồ câu của các hộ
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn xã Đức Hòa, huyện Sóc
Sơn, Hà Nội
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/1/2014 đến tháng 1/5/2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng chăn nuôi chim bồ câu trên địa bàn xã Đức Hòa
- Đánh giá những HQKT nuôi chim bồ câu theo kết quả điều tra:
+ Tình hình đầu tư trong chăn nuôi chim bồ câu tại xã Đức Hòa;
+ Kết quả và thu nhập từ nuôi chim bồ câu;
+ So sánh HQKT giữa chăn nuôi chim bồ câu với chăn nuôi gà, lợn; + Đánh giá HQKT chăn nuôi chim bồ câu theo quy mô chăn nuôi tại xã
Đức Hòa
- Đánh giá hiệu quả về tận dụng lao động trong chăn nuôi chim bồ câu
- Đánh giá hiệu quả về mặt văn hóa – xã hội từ việc nuôi chim bồ câu mang lại
Trang 32- Giải pháp nhằm nâng cao HQKT trong chăn nuôi chim bồ câu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu đã được công bố liên quan
đến vấn đề nghiên cứu tại UBND xã Đức Hòa
+ Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Đức Hòa
+ Số liệu thống kê của UBND xã Đức Hòa
+ Các số liệu từ báo, tài liệu các trang Website trên internet, các báo cáo nghiên cứu chuyên đề có liên quan tới đề tài
2.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Thu thập số liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp tiếp cận có sự cùng tham gia của người dân (PRA) thông qua phỏng vấn trực tiếp người dân bằng
bộ câu hỏi đã được lập sẵn, từ đó thống nhất các số liệu đã được thu thập
- Toàn xã có 7 thôn, trong đó 5/7 thôn có hộ nuôi chim bồ câu và tập trung chủ yếu ở 3 thôn: thôn Trung, thôn Thượng và thôn Bến Vì vậy, tôi tập trung nghiên cứu ở 3 thôn trên theo quy mô chăn nuôi của hộ như sau:
+ Quy mô nhỏ: Hộ có số đôi chim <20 đôi;
+ Quy mô vừa: Hộ có số đôi chim từ 20 – 50 đôi;
+ Quy mô lớn: Hộ có số đôi chim >50 đôi
Số hộ nuôi chim bồ câu ở ba thôn cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Số lượng hộ nuôi chim bồ câu ở ba thôn điều tra
Trang 33Dựa vào bảng số liệu trên tôi tiến hành lấy mẫu mỗi nhóm hộ điều tra 30% tức là điều tra 15 hộ thuộc nhóm có quy mô nhỏ, 9 hộ thuộc nhóm có quy mô vừa và 1 hộ có quy mô lớn
Đồng thời tiến hành điều tra các hộ chăn nôi gà và lợn ở địa phương
nhằm so sánh HQKT chăn nuôi chim bồ câu với chăn nuôi gà và lợn Trong
đó 15 hộ nuôi lợn mà không nuôi chim bồ câu và 15 hộ nuôi gà mà không
nuôi chim bồ câu
- Quan sát trực tiếp: Cùng với cán bộ cấp xã đi thăm quan, quan sát trực tiếp tình hình tại địa phương
2.3.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
- Công cụ xử lý và tính toán chủ yếu sử dụng phần mềm Exel để xử lý các số liệu đã thu thập được
- Phương pháp dự báo: Là phương pháp dựa vào điều kiện thực tế và khả năng phát triển của cơ sở cũng như diễn biến về kinh tế xã hội Căn cứ vào thực trạng của địa bàn nghiên cứu, tiến hành đánh giá và đề ra các phương hướng phát triển cho thời gian tới
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Số liệu thu thập được tổng hợp, phân tích và trình bày trên Word
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
Đề tài có tham khảo ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu:
Các cán bộ khuyến nông, hộ chăn nuôi điển hình Đồng thời sử dụng một số kết quả có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKT chăn nuôi chim bồ câu
2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ của chăn nuôi
- Số tuyệt đối: Số lượng, năng suất, sản lượng chim bồ câu từ năm (2011-2013) của xã Đức Hòa
- Số tương đối: So sánh số lượng chim bồ câu qua các năm
- Số bình quân: Số lượng bình quân, số lứa đẻ bình quân/năm, giá bán
bình quân con non, con giống
Trang 342.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình kết quả chăn nuôi của hộ
Do tính phức tạp của vấn đề đánh giá HQKT chăn nuôi chim bồ câu đòi hỏi phải có một hệ thống chỉ tiêu đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân và ngành nông nghiệp; đảm bảo tính toàn diện và hệ thống; đảm bảo tính khoa học và dễ tính toán Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng một số hệ thống chỉ tiêu như sau:
- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross Output): Được tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm trên một hộ chăn nuôi trong một giống nhất định hoặc nó là giá trị bằng tiền của các sản phẩm chăn nuôi trong một mô hình kinh tế gồm
cả giá trị để lại tiêu dùng và giá trị bán ra thị trường trong một chu kỳ chăn nuôi nhất định thường là một năm Với chim bồ câu thì giá trị sản xuất được tính bằng số lượng bán ra nhân với giá bán thực tế ở địa phương
- Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất
và dịch vụ thực tế đã chi ra của các ngành trồng trọt, chăn nuôi [6] Chi phí trung gian thường xuyên bằng tiền mà chủ thể phải bỏ ra để thuê, mua các yếu
tố đầu vào và dịch vụ được sử dụng trong quá trình chăn nuôi ra một khối lượng sản phẩm như: giống, thức ăn, thuốc thú y, lãi suất tiền vay,…
- Giá trị gia tăng (VA - Value Added) là chênh lệch giữa giá trị sản xuất
và chi phí trung gian của ngành nông nghiệp[6] Nó chính là phần giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
- Thu nhập hỗn hợp (MI - Mix Income) là phần thu nhập thuần tuý của toàn
bộ chu kì nuôi gồm cả công lao động của gia đình và lợi nhuận có thể nhận được trong một chu kì sản xuất sau khi đã trừ đi chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố
định, thuế [6]
A: Giá trị khấu hao; T: Giá trị thuế nông nghiệp (nếu có)
- Lợi nhuận (Pr - Profit): Là phần lãi ròng trong thu nhập hỗn hợp trừ
đi công lao động gia đình [6]
Trang 35Pr =MI - L x Pi (2.3) Trong đó: L: Số công lao động của gia đình;
Pi: Giá ngày công lao động ở địa phương
2.4.3 Những chỉ tiêu phản ánh HQKT nuôi chim bồ câu
- Hiệu quả của chi phí sản xuất, thể hiện việc bỏ ra một đồng chi phí sản xuất sẽ thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất hoặc bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp [9]
Các công thức tính:
+ Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí trung gian (TGI): là tỷ số giá trị sản xuất số lượng chim bồ câu thu được trong một chu kì nuôi so với chi phí trung gian
TGI = (2.4)
+ Tỷ suất Giá trị sản xuất/Chi phí cố định (TGF):
TGF = (2.5) + Tỷ suất Thu nhập hỗn hợp/Chi phí trung gian (TMI):
TMI = (2.6) + Tỷ suất Thu nhập hỗn hợp/Chi phí cố định (TMF):
TMF = (2.7)
b Hiệu quả sử dụng lao động: Thể hiện giá trị sản xuất hoặc thu nhập hỗn hợp của một ngày người lao dộng hoặc của một lao động gia đình trong một năm
Các công thức tính:
+ Giá trị sản xuất/lao động/năm (TGL):
TGL = (2.8) + Thu nhập hỗn hợp/lao động/năm (TML):
TML = (2.9)
c Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: Được tính bằng giá trị sản xuất hoặc thu nhập hỗn hợp trên một đơn vị diện tích nuôi trồng/năm
Trang 36+ Thu nhập hỗn hợp/diện tích đất nuôi trồng:
2.4.4 Đánh giá chung về hiệu quả xã hội
- Đánh giá về lao đông, việc làm
- Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy yếu tố con người, nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế, ổn định và lành mạnh xã hội, đáp ứng nhu cầu bức xúc của nhân dân
- Đánh giá về kinh tế, xã hội khác
- Đánh giá về vấn đề môi trường
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Đức Hòa
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Sóc Sơn nằm ở phía Bắc thành phố Hà Nội Diện tích 306,5 km2 Gồm 1 thị trấn (Sóc Sơn - huyện lị), 25 xã (Tân Dân, Thanh Xuân, Minh Trí, Minh Phú, Hiền Ninh, Quang Tiến, Phú Cường, Phú Minh, Mai
Đình, Phù Lỗ, Đông Xuân, Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, Trung Giă, Tân
Hưng, Bắc Phú, Việt Long, Xuân Giang, Đức Hoà, Xuân Thu, Kim Lũ, Phù Linh, Tân Minh, Tiên Dược) Dân số 254.100 (2001) Địa hình đồng bằng nhiều đất bạc màu, xen đồi thoải Sông Cầu, Cà Lồ chảy qua Có nhiều hồ Trồng thuốc lá, đậu tương, khoai tây, lúa, rừng sinh thái Giao thông: quốc lộ
2, 3, tỉnh lộ 402, 131; đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên chạy qua; sân bay quốc tế Nội Bài Khu di tích văn hoá đền Sóc Sơn Huyện thành lập từ 5.7.1977 do hợp nhất các huyện Đa Phúc, Kim Anh, thị trấn Xuân Hoà, lấy tên Sóc Sơn thuộc tỉnh Vĩnh Phú; từ 29.12.1978, thuộc thành phố Hà Nội
Đức Hòa là một xã thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Việt Nam Xã có
diện tích là 716,59 ha, được phân bố trên 7 thôn: Thanh Huệ Trại, Thanh Huệ
Đình, thôn Thượng, thôn Chùa, thôn Trung và thôn Bến, trong đó đất nông
nghiệp chiếm 439,98 ha Trung tâm xã cách trung tâm của huyện Sóc Sơn gần 7km, có tứ cận tiếp giáp như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Xuân Giang;
+ Phía Đông giáp sông Cà Lồ và tỉnh Bắc Ninh;
+ Phía Nam giáp xã Kim Lũ;
+ Phía Tây giáp xã Đông Xuân
Trang 383.1.1.2 Địa hình, khí hậu
Xã có gần 3km sông Cà Lồ chảy qua địa phận, có 2,5km đê cấp 3 đã
được bê tông hóa, kết hợp làm đường giao thông quan trọng với các xã lân
cận Ngoài ra còn có gần 5km đường giao thông từ trung tâm xã đi các đường quốc lộ và tỉnh lộ (quốc lộ 3, quốc lộ 16, tỉnh lộ 131)
*Địa hình
Xã mang tính đặc thù chung của vùng ven sông đồng bằng Bắc Bộ, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, phù hợp cho nuôi trồng thủy sản, canh tác lúa nước, cây màu và cây lâu năm khác
*Khí hậu, thủy văn
Là một xã thuộc huyện giáp danh giữa đồng bằng và trung du nên Đức Hòa vừa mang khí hậu của vùng đồng bằng Bắc Bộ, vừa mang khí hậu của vùng trung du miền núi phía Bắc Khí hậu được chia làm hai mùa rõ rệt là:
Nhiệt độ trung bình là 26oC Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500mm – 1.600mm/năm
Xã có sông Cà lồ chảy qua và một số hồ, đầm với diện tích nhỏ, đây
là nguồn nước chủ yếu để phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã
3.1.1.3.Tài nguyên
*Đất đai
Diện tích đất tự nhiên của xã là 716,59ha, được phân bổ cụ thể qua các bảng sau:
Trang 39Bảng 3.1: Cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp xã Đức Hòa
(Nguồn: Thống kê UBND xã Đức Hòa năm 2013) [14]
Bảng số liệu cho thấy hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, Hà Nội năm 2013 Trong đó đất trồng lúa hai
vụ có diện tích lớn nhất với diện tích là 368,02ha, chiếm 83,64% tổng diện tích đất nông nghiệp Do địa hình bằng phẳng nên phần lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp được sử dụng để trồng lúa
Đất trồng cây lâu năm có diện tích nhỏ nhất là 0,49ha, chiếm 0,11%
trên tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã
Bảng 3.2: Cơ cấu đất phi nông nghiệp
(ha)
Cơ cấu (%)
Trang 40Diện tích đất phi nông nghiệp là khá lớn, 303,07ha, trong đó diện tích
đất công cộng chiếm diện tích lớn nhất, chiếm 30,2% tổng diện tích đất phi
nông nghiệp Đất tôn giáo có diện tích thấp nhất là 1,82ha, chiếm 0,6% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Diện tích đất dùng cho sản xuất, kinh doanh chiếm tỷ lệ thấp, 1,2% tổng diện tích đất phi nông nghiệp
Diện tích đất chưa sử dụng tuy chiếm tỷ lệ nhỏ, 2,4% nhưng vẫn là một con số lớn, 7,4ha, so với tổng diện tích đất tự nhiên nhỏ hẹp của xã
Trước đây dân trong xã chủ yếu sống bằng nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp và làm dịch vụ nhỏ lẻ Hiện nay, một số khá lớn lao động trong xã xuất khẩu sang các nước và tại các khu công nghiệp, cuộc sống của những người dân trong xã được nâng lên đáng kể
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm kinh tế của xã Đức Hòa
Nền kinh tế gồm ba ngành chính là nông nghiệp; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thương mại, được thể hiện cụ thể qua bảng 4.3 như sau:
Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế theo ngành tại xã Đức Hòa
(Nguồn: Thống kê UBND xã Đức Hòa năm 2013) [14]
Bảng 3.3 cho thấy, ngành dịch vụ, thương mại của xã khá phát triển, chiếm tỷ trọng cao nhất là 45% cơ cấu kinh tế ngành của xã Tuy nông nghiệp
là ngành chiếm tỷ lệ lao động cao và là hoạt động sản xuất chủ yếu của địa phương nhưng giá trị sản xuất lại chiếm tỷ trọng thấp, chiếm 41% cở cấu kinh
tế ngành của xã Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất là 14%