Xuất phát từ ý nguyện bản thân và được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế & PTNT tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hiệu quả kinh
Trang 1NGUYễN NGọC TOảN
Tờn đề tài:
Đánh giá hiệu quả kinh tế hộ nông dân trồng mía trên địa bàn
xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
KhóA LUậN tốt nghiệp ĐạI HọC
Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Kinh tế Nụng nghiệp
Khoa : KT - PTNT Khoỏ học : 2010-2014 Giảng viờn hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Hiền Thương
Thỏi Nguyờn, năm 2014
Trang 2giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và PTNT, cảm ơn các thầy
cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của ThS Nguyễn Thị Hiền Thương đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp một cách đầy đủ Xuất phát từ ý nguyện bản thân và được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế & PTNT tôi đã tiến hành thực hiện
khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hiệu quả kinh tế hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng”
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ Ủy ban nhân dân xã Cách Linh cùng toàn thể các hộ nông dân ở xã Cách Linh đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành công việc trong thời gian thực tập tại địa phương
Cuối cùng tôi bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Đây là lần đầu tiên tôi thực hiện khóa luận nên trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 06 , năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Toản
Trang 3nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng” là khóa luận do chính bản thân tôi thực hiện và dựa trên cơ sở nghiên cứu
lý thuyết, kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Nguyễn Thị Hiền Thương
Các số liệu bảng, biểu, và những kết quả trong khóa luận là trung thực, các nhận xét, phương hướng đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm hiện có
Một lần nữa em xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Toản
Trang 4Bảng 1: Tình hình sản xuất Mía đường của các khu vực trên thế giới 12
Bảng 1.2 Dự báo cung cầu đường thế giới niên vụ 2012-2013 13
Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng mía Việt Nam trong ba năm 15
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng mía tại một số xã 18
Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Cách Linh qua 3 năm 2011-2013 27
Bảng 3.2 Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng của xã Cách Linh năm 2013 30
Bảng 3.3: Tình hình hộ, khẩu và lao động của xã qua 3 năm 2011-2013 32
Bảng 3.4 Diện tích, năng suất, sản lượng mía của xã Cách Linh qua 3 năm 2011 – 2013 36
Bảng 3.5 Trình độ văn hóa của 45 hộ điều tra 37
Bảng 3.6 Diện tích, năng suất, sản lượng mía của các nhóm hộ điều tra năm 2014 38
Bảng 3.7 Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha của các nhóm hộ điều tra 40
Bảng 3.8 Kết quả sản xuất một ha mía của các nhóm hộ điều tra 42
Bảng 3.9 Hiệu quả sử dụng vốn 43
Bảng 3.10: So sánh chi phí sản xuất một ha cây mía và cây ngô của các hộ điều tra 44
Bảng 3.11 So sánh kết quả và hiệu quả sản xuất cây mía và cây ngô 45
Trang 5XĐGN Xoá đói giảm nghèo HQKT Hiệu quả kinh tế
Trang 6MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
4 Đóng góp của đề tài 3
5 Bố cục của khóa luận 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất mía 4
1.1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1 Tình hình sản xuất mía ở Thế giới 11
1.2.2 Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam 14
1.2.3 Tình hình sản xuất mía ở huyện Phục Hòa 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Trả lời cho nội dung nghiên cứu 20
2.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 21
2.4.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 22
2.4.3 Phương pháp phân tích thông tin 22
Trang 72.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất mía 24
2.5.3 Các chỉ tiêu bình quân 24
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 25
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29
3.2 Thực trạng phát triển sản xuất mía của xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng 35
3.2.1 Tình hình phát triển sản xuất mía ở xã Cách Linh 35
3.2.2 Tình hình chung của nhóm hộ nghiên cứu 37
3.2.3 Tình hình sản xuất mía của các nhóm hộ điều tra 38
3.2.4 Phân tích hiệu quả sản xuất một ha mía của các nhóm hộ điều tra 43
3.2.5 So sánh hiệu quả kinh tế của cây mía với cây ngô 44
3.2.7 Một số khó khăn trong sản xuất mía của hộ nông dân 46
3.2.8 Một số nhận xét về tình hình phát triển sản xuất mía của hộ nông dân 47
CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÍA 49
4.1 Quan điểm, mục tiêu 49
4.1.1 Quan điểm phát triển 49
4.1.2 Mục tiêu phát triển 49
4.2 Phương hướng và một số giải pháp phát triển cây mía của xã Cách Linh 49
4.2.1 Giải quyết tốt khâu giống 49
4.2.2 Tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân 49
4.2.3 Giải quyết tốt vấn đề vốn vay cho hộ nông dân 50
4.2.4 Tìm kiếm thị trường đầu ra 50
4.2.5 Phát huy những lợi thế về điều kiện tự nhiên và xã hội 50
4.2.6 Giải pháp về công tác khuyến nông 50
4.2.7 Giải pháp về bảo vệ thực vật 51
Trang 8KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời kỳ hội nhập cùng với những chuyển biến tích cực của nền kinh tế Việt Nam thì ngành nông nghiệp luôn được coi là ngành quan trọng hàng đầu Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư và quan tâm nhiều hơn tới nông nghiệp Song nông nghiệp đang gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn như khả năng cạnh tranh so với các nước trong khu vực, gặp nhiều rủi ro, bất lợi
do thời tiết, thị trường, thể chế chính sách, những rủi ro bất lợi này tác động rất lớn tới người nông dân Xét một cách toàn diện người nông dân luôn là những người chịu nhiều thiệt thòi và luôn gặp khó khăn nhất trong cuộc sống
Đối với nông dân Việt Nam hiện nay thu nhập của họ chủ yếu từ những cây trồng, vật nuôi phù hợp và dễ phát triển trên vùng đất của mình Ngày xưa cây mía tạo ra thu nhập (TN) cho người nông dân với các sản phẩm mật mía, đường mía thì ngày nay, cây mía và ngành mía đường tại Việt Nam được xác định không chỉ là ngành kinh tế với mang lại lợi nhuận mà còn là một ngành kinh tế xã hội do nó có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống của hàng nghìn người nông dân Trong những năm qua Chính Phủ đã triển khai nhiều chương trình, quyết định liên quan đến phát triển mía đường như “Chương trình quốc gia 1 triệu tấn đường”, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về việc tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng Quyết định 28/2004/QĐ-TTg về việc tổ chức lại và thực hiện một số giải pháp xử lý khó khăn đối với các nhà máy, công ty đường và người trồng mía Ngoài ra, Chính Phủ ban hành quyết định số 26/2007/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch phát triển mía đường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với tổng diện tích trồng mía 300.000 ha; sản lượng 19,5 triệu tấn/năm Các chương trình quyết định nhằm tạo việc làm cho lao động nông nghiệp và lao động công nghiệp trong các nhà máy đường, các nhà máy cơ khí đường, góp phần xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho các vùng nông thôn, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân ở vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa [11]
Cách Linh với đơn vị hành chính bao gồm 18 xóm, hầu hết nông dân sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu Trong những năm gần đây thì cây mía trở thành cây chủ đạo trong công tác XĐGN và nâng cao TN cho nông dân
Trang 10trong xã Tuy nhiên, người trồng mía vẫn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất
do điều kiện thời tiết khí hậu của vùng khắc nghiệt, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, giá cả thị trường không ổn định và giá cả vật tư nông nghiệp phục
vụ hoạt động sản xuất mía tương đối cao Do đó, người nông dân không dám mạnh dạn đầu tư thâm canh dẫn đến hiệu quả sản xuất mía thấp Xuất phát từ thực tế đó, việc xem xét tình hình sản xuất mía của địa phương, đánh giá chính xác HQKT của cây trồng là một trong những cơ sở để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất mía để giúp nông hộ sản
xuất mía có hiệu quả hơn Đó là lý do tôi chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế hộ nông dân trồng mía tại xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế trong việc sản xuất cây mía trên cơ sở đó đưa ra những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất mía trên địa bàn xã, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ cây mía tại xã
- Đánh giá hiệu quả sản xuất cây mía tại xã
- Đề ra giải pháp phát triển cây mía địa phương
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Củng cố lý thuyết cho sinh viên
- Giúp rèn luyện kĩ năng, trang bị kiến thức thực tiễn, làm quen với công việc, phuc vụ tích cực cho quá trình công tác sau này
- Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về hiệu quả kinh tế sản xuất cây mía tại địa phương
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nắm bắt được tình hình sản xuất mía và vị trí của cây mía trong sự phát triển kinh tế địa phương Đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển cũng như hiệu quả kinh tế của cây mía
Trang 11- Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển việc trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh trong những năm tới, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp nông hộ
4 Đóng góp của đề tài
- Thấy được sản xuất mía tại xã Cách Linh đã dần chiếm ưu thế hơn các loại cây trồng khác tại địa phương
- Thấy được hiệu quả kinh tế của cây mía cao hơn nhiều so với cây ngô
- Đánh giá được khó khăn của người dân trong sản xuất mía từ đó đưa
ra giải pháp phù hợp
5 Bố cục của khóa luận
Khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Các giải pháp
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất mía
1.1.3.1 Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất mía
Mía là một trong những cây trồng quan trọng của nước ta Trong những năm qua, cây mía đã giúp nhiều địa phương xoá đói giảm nghèo Đối với nông dân Việt Nam hiện nay thu nhập của họ chủ yếu từ những cây trồng, vật nuôi phù hợp và dễ phát triển trên vùng đất của mình Ngày xưa cây mía tạo ra thu nhập cho người nông dân với các sản phẩm mật mía, đường mía thì ngày nay, cây mía và ngành mía đường tại Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng của người dân Do nó có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng nghìn người nông dân Ngoài ra mía còn là một thức uống Theo đông y dược thảo, cây mía tên khoa học là Sa officinarum, họ Lúa (Gramineal) Khi bón đủ phân nước, mía cao 2,5 ÷ 3
m Khi trổ cờ ở ngọn, đó chính là hoa mía, chứa chất đường đã chuyển hóa thành men rượu, cũng là vị thuốc có tác dụng diệt khuẩn trực trùng đường ruột, lọc sạch mô mỡ có trong máu.[7]
Viện sức khỏe cộng đồng Mỹ cho biết, cứ 100ml nước mía chứa 10% đường saccarose, 22% protein, 0,5% lipit, sáp, 0,05% cacbon, 0,5% tro muối cali, natri, mangan, silic, sắt và magiê
1.1.3.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất mía
a, Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
* Khí hậu:
- Nhiệt độ: Thích hợp trong phạm vi 20 - 250C Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường và giảm tốc độ quang hợp Thời kỳ đầu, từ khi đặt hom đến mọc mầm thành cây con, nhiệt độ thích hợp
từ 20 - 250C Thời kỳ đẻ nhánh (cây có 6 - 9 lá), nhiệt độ thích hợp 20-300C.Ở thời kỳ mía làm dóng vươn cao, yêu cầu nhiệt độ cao hơn để tăng cường quang hợp, tốt nhất là 30 - 320C
Trang 13- Ánh sáng: Rất cần cho sự quang hợp để tạo đường cho cây mía Khi cường độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của bộ lá cũng tăng Thiếu ánh sáng cây mía phát triển yếu, hàm lượng đường thấp và cây mía dễ bị sâu bệnh Trong suốt chu kỳ sinh trưởng, cây mía cần khoảng 2.000 - 3.000 giờ chiếu sáng, tối thiểu cũng 1.200 giờ trở lên
- Lượng nước và ẩm độ đất: Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây mía Trong thân cây mía chứa nhiều nước (70% khối lượng) Lượng mưa thích hợp 1.500 - 2.000 mm/năm, phân bố trong khoảng thời gian từ 8-10 tháng, từ khi cây mía mọc mầm đến thu hoạch Cây mía là loài cây trồng cạn, có bộ rễ ăn nông nên rất cần nước nhưng không chịu ngập úng Ở vùng đồi gò đất cao cần tưới nước trong mùa khô Nơi đất thấp cần thoát nước tốt trong mùa mưa Thời kỳ cây mía làm dóng vươn cao rất cần nhiều nước, ẩm độ thích hợp khoảng 70-80%, ở các thời kỳ khác cần ẩm độ 65-70%
* Đất: Mía có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất pha cát, đất xám đến đất sét nặng Riêng đối với một số loại đất như: Đất nhiều cát, ít chất mùn, ít giữ nước - phân, đất chua, nhiều phèn (sắt và nhôm); đất mất chất hữu cơ, đất
bị chai do tập quán đốt lá mía sau thu hoạch, ta phải tiến hành cải tạo bằng cách bón phân chuồng (trâu, bò), tro rơm, tro trấu Có thể luân canh hoặc trồng xen canh cây họ đậu để làm đất tốt hơn
b, Nhóm yếu tố về kỹ thuật
- Thời vụ: Thời vụ trồng mía thường vào đầu và cuối mùa mưa
- Làm đất: Tiến hành vệ sinh đồng ruộng để diệt trừ cỏ dại, mầm mống sâu
bệnh, làm cho đất tơi xốp thông thoáng Cày đất là khâu quan trọng giúp bộ rễ mía
ăn sâu, chịu hạn, chống đổ và tăng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây
Khoảng cách hàng trồng khoảng 0,8 - 1 m Đào hộc: Rộng 20 - 30 cm, sâu 20 - 30 cm Bón lót toàn bộ phân nền hữu cơ, phân lân và thuốc Basudin
trước khi đặt hom 1 - 2 ngày
- Chuẩn bị hom mía: Chọn hom ta nên chọn hom không sâu bệnh,
không lẫn giống, không xây xát, không quá già và cũng không quá non (tốt nhất là từ 6 -8 tháng tuổi) Hom mía phải có từ 2-3 mầm tốt Ngâm hom trong nước 8-24 giờ đối với giống nảy mầm chậm Tiến hành chặt mỗi hom hai mắt
Trang 14mầm, chặt ngang giữa lóng, không chặt sát mầm Hom chặt xong đem trồng ngay là tốt nhất
- Đặt hom: Giống chuẩn bị xong là có thể đặt ngay Hom đặt thành một
hàng giữa rãnh mía, hai hom cách nhau từ 10 - 20 cm (tùy theo giống) Đối với nền đất ẩm khi đặt hom nên ấn nhẹ cho lún xuống nửa thân hom, để giữ
ẩm cho mầm và rễ dễ phát triển Ở nền đất khô, hom đặt xuống phải lấp một lớp đất mỏng để cố định hom và giữ ẩm
- Chăm sóc: Sau khi trồng 1 - 1,5 tháng tuổi nếu phát hiện có chết hom
(dài hơn 50cm) nên tiến hành trồng giặm để đảm bảo mật độ bên cạnh đó nên làm sạch cỏ ở giai đoạn cây con để cỏ không cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng với mía Thực hiện kết hợp với 2 lần bón phân
+ Đánh lá mía: Có thể đánh lá 3 lần cho mía tương ứng lúc mía
khoảng 3, 6, 9 tháng tuổi (lúc này mía chuẩn bị thu hoạch).[8]
- Thu hoạch: Khi thu hoạch phải chặt sát gốc và không được làm dập gốc, không được thu hoạch vào lúc đất quá ướt để khỏi ảnh hưởng xấu đến vụ lưu gốc
c, Nhóm nhân tố về kinh tế
Cây mía đã thực sự góp phần tạo việc làm cho lao động nông thôn, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống cho nhân dân Hiệu quả kinh tế từ cây mía là đòn bẩy vững chắc, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho nhiều hộ gia đình ở địa phương
+ Thị trường
- Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại của người dân trồng mía, của các đơn vị thu mua mía trong nền kinh tế thị trường: Mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân đều phải trả lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, mang tính định hướng Để trả lời được câu hỏi này người sản xuất phải tìm kiếm thị trường, tức là xác định nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hoá mà họ sẽ sản xuất ra Thị trường đóng vai trò là khâu trung gian nối giữa sản xuất và tiêu dùng Trong sản xuất mía nguyên liệu, người dân tìm
Trang 15kiếm thị trường là các nhà máy sản xuất đường, hoặc các công ty thu mua mía nguyên liệu phục vụ cho xuất khẩu
- Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được là tối đa còn việc giải quyết vấn đề sản xuất cho ai, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ được thị trường, xác định rõ được khách hàng, giá cả và phương thức tiêu thụ Muốn vậy phải xem xét quy luật cung cầu trên thị trường
+ Giá cả
Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung, của người trồng mía nói riêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá cả trên thị trường; giá cả không ổn định ảnh hưởng tới tâm lý người trồng mía
- Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người sản xuất Do đó việc ổn định giá cả, mở rộng thị trường tiêu thụ là hết sức cần thiết cho sự phát triển lâu dài của ngành mía đường
1.1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
1.1.2.1 Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế
Các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
• Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản xuất sản phẩm xã hội hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả cao khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Một nền kinh tế có hiệu quả khi nó nằm trên đường giới hạn năng lực sản xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của nền kinh
tế, sự chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng thực tế và sản lượng thực tế là sản lượng tiềm năng mà xã hội không sử dụng được phần bị lãng phí
Trang 16• Quan điểm thứ hai: Hiệu quả là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng là đại diện cho mức sống của nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội
• Quan điểm thứ ba: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh về chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó
• Quan điểm thứ tư: Hiệu quả của một quá trình nào đó, theo nghĩa chung là mối quan hệ tỷ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi phí sử dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó
Tóm lại: Hiệu quả kinh tế là thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí nguồn lực bỏ ra Khi kết quả đạt được chỉ bằng với chi phí bỏ
ra là lãng phí nguồn lực, khi sử dụng tiết kiệm nguồn lực để đạt được một kết quả nhất định là hiệu quả kinh tế cũng khác nhau nhưng vẫn phải dựa trên nguyên tắc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí nguồn lực bỏ ra
1.1.2.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường đang khuyến khích mọi ngành, mọi lĩnh vực sản xuất tham gia sản xuất kinh doanh để tìm kiến cơ hội với yêu cầu, mục đích khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là tìm kiếm lợi nhuận Nhưng làm thế nào để có HQKT cao nhất, đó là sự kết hợp các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra trong điều kiện sản xuất, nguồn lực nhất định Ngoài ra còn phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu khoa học kỹ thuật và việc áp dụng vào trong sản xuất, vốn, chính sách, quy luật khan hiếm nguồn lực trong khi đó nhu cầu của xã hội về hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng và trở nên đa dạng hơn,
có như vậy mới nâng cao được HQKT
Quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra, là biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả và HQ sản xuất Kết quả
là một đại lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể Khi xác định HQKT không nên chỉ quan tâm đến hoặc là quan hệ so sánh (phép chia) hoặc là quan hệ tuyệt đối (phép trừ) mà nên xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng
Trang 17tuyệt đối HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối:
- Quy luật cung - cầu
- Quy luật năng suất cận biên giảm dần
HQKT là một đại lượng để đánh giá, xem xét đến hiệu quả hữu ích được tạo ra như thế nào, có được chấp nhận hay không Như vậy, HQKT liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất
Việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKT trong sản xuất nông nghiệp
là rất đa dạng vì ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí vật chất, lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất Việc đánh giá phần lớn phụ thuộc vào quy trình sản xuất là sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào và khối lượng đầu ra, nó là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong việc đánh giá HQKT Tùy thuộc vào từng ngành, quy mô, đặc thù của ngành sản xuất khác nhau thì HQKT được xem xét dưới góc độ khác nhau, cũng như các yếu tố tham gia sản xuất Xác định các yếu tố đầu ra, các mục tiêu đạt được phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải được trao đổi trên thị trường, các kết quả đạt được là: Khối lượng, sản phẩm, lợi nhuận, Xác định các yếu tố đầu vào đó là những yếu tố chi phí về vật chất, công lao động, vốn,
Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:
Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao, phân
bổ chi phí, hạch toán chi phí, Yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ
Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra: Việc xác định các kết quả
về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất, không thể lượng hóa được
Bản chất của HQKT xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội Muốn như vậy thì quá trình sản xuất phải phát triển không ngừng cả về chiều sâu và chiều rộng như: Vốn, kỹ thuật, tổ
Trang 18chức sản xuất sao cho phù hợp nhất để không ngừng nâng cao HQKT của quá trình sản xuất
Để hiểu rõ phạm trù HQKT chúng ta cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù kết quả và HQ:
Kết quả là phạm trù phản ánh những cái thu được sau một quá trình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó Như vậy kết quả có thể biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị Các đơn vị hiện vật cụ thể được sử dụng tùy thuộc vào đặc trưng sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ, kg, m2, m3, lít,… các đơn vị giá trị có thể là đồng, triệu đồng, ngoại tệ,…
Trong khi đó HQ là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất Trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất không thể đo lường bằng các đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị mà nó mang tính tương đối Ta có thể tính toán trình độ lợi dụng nguồn lực bằng số tương đối là tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực
Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối: Phạm trù này chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả của quá trình kinh doanh không bao giờ phản ánh được trình độ lợi dụng nguồn lực sản xuất
1.1.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Hoạt động sản xuất của nền kinh tế - xã hội được diễn ra ở các phạm vi khác nhau, đối tượng tham gia vào các quá trình sản xuất và các yếu tố sản xuất càng khác nhau thì nội dung nghiên cứu HQKT càng khác nhau Do đó,
để nghiên cứu HQKT đúng cần phân loại HQKT
Có thể phân loại HQKT theo các tiêu chí sau:
* Phân loại theo phạm vi và đối tượng xem xét HQKT được phân theo các khía cạnh sau:
- HQKT quốc dân: Là HQKT tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội của một quốc gia
- HQKT ngành: Là HQKT tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất nhất định như công nghiệp, nông nghiệp,
Trang 19- HQKT theo lãnh thổ: Tính riêng cho từng vùng, từng địa phương
- HQKT của từng quy mô tổ chức sản xuất - kinh doanh: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình,
- HQKT từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố đầu vào sản xuất
* Phân loại hiệu quả theo bản chất, mục tiêu:
- HQKT phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra, nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế của hoạt động kinh tế mang lại
- HQ xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả của các lợi ích về mặt xã hội do hoạt động sản xuất mang lại
- HQ kinh tế - xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả tổng hợp
về mặt kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó như bảo
vệ môi trường, lợi ích công cộng,
- HQ phát triển và bền vững: Là HQ kinh tế - xã hội có được do tác động hợp lý để tạo ra nhịp độ tăng trưởng tốt nhất và bảo đảm những lợi ích kinh tế - xã hội lâu dài
* Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất các nguồn lực và hướng tác động vào sản xuất thì chia HQKT thành:
- HQ sử dụng đất đai
- HQ sử dụng lao động
- HQ sử dụng các yếu tố tài nguyên như năng lượng, vốn,
- HQ việc áp dụng khoa học - kỹ thuật như HQ làm đất, HQ bón phân,
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất mía ở Thế giới
1.2.1.1 Tình hình sản xuất
Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp
Quốc (FAO, 2011), hiện nay có 111 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trồng mía và chế biến đường từ mía, hàng năm sản xuất được 1.683 triệu tấn mía Sản lượng mía toàn thế giới năm 2009 gấp 3,75 lần sản lượng năm 1961 Trong đó tăng nhiều nhất là vùng Nam Mỹ với 7,73 lần, chiếm 47,65% sản lượng thế giới, tiếp đến là Châu Á với 3,48 lần, chiếm 35,76% sản lượng thế
Trang 20giới, trong khi đó sản lượng mía ở Châu Âu năm 2009 giảm chỉ còn 1,63% sản lượng năm 1961
Bảng 1: Tình hình sản xuất Mía đường của các khu vực trên thế giới
(Nguồn: FAO)
Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 quốc gia sản xuất đường mía trong đó 78% tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới và tiểu nhiệt đới của khu vực phía nam bán cầu Theo số liệu của FAO năm 2012, sản lượng Mía đường của thế giới đạt 1832.54 triệu tấn tăng 1.73% so với năm 2010 Trong đó các nước đang phát triển năm 2012 sản lượng đường Mía là 202.87 triệu tấn tăng 9.75% so với năm 2010, còn các nước kém phát triển
có sản lượng mía rất thấp là 54,26 triệu tấn chie chiếm 2.47% sản lượng mía thế giới, Nhưng so với năm 2010 sản lượng mía đường vẫn tăng 5.05% qua đó thể hiện tình hình sản xuất mía đường trên thế giới đang có sự tăng lên rõ rệt, cả đối với cấc nước kém phát triển nhất thì sản xuất mía đường cũng đang có sự tăng lên mỗi năm [10]
Trang 21Bảng 1.2 Dự báo cung cầu đường thế giới niên vụ 2012-2013
(ĐVT: triệu tấn)
Niên vụ
2012/2013
Dự trữ đầu kỳ Sản lượng NK XK
Tiêu thụ nội địa
Dự trữ cuối kỳ
Trang 22Tại Brazil- nước xuất khẩu đường lớn nhất thế giới, ước tính sản lượng mía tại trung nam Brazil, nơi trồng chính có thể tăng 26 triệu tấn lên 538 triệu tấn vào vụ tới Dự báo sản lượng đường niên vụ 2012/2013 đạt 32,3 triệu tấn
so với 31,3 triệu tấn niên vụ trước đó Bên cạnh đó, không chỉ Brazil mà nhiều nước sản xuất khác dự báo cũng đạt sản lượng đường lớn năm nay Tổ chức Đường thế giới (ISO) dự báo nguồn cung đường toàn cầu năm nay sẽ thặng dư năm thứ 3 liên tiếp Ước tính, nguồn cung đường toàn cầu năm nay
sẽ vượt cầu khoảng 6 triệu tấn
Thái Lan- Sản lượng đường Thái – nước xuất khẩu đường lớn thứ hai thế giới - có thể đạt mức cao kỷ lục đối với năm thứ ba trong niênvụ bắt đầu
từ tháng 11/2012 do các nhà máy nghiền đã mở rộng công suất để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong khu vực Dự báo sản lượng đường Thái Lan niên vụ 2012- 2013 đạt 10,8 triệu tấn
Philippine – nước xuất khẩu đường chủ yếu của châu Á – có thể tăng một lượng nhỏ đường trong vụ thu hoạch tháng 8/2013 sau khi mưa không ngừng xuống cánh đồng mía, Regina Bautista-Martin – Giám đốc quản lý điều hành đường (SRA) của đất nước này cho biết Dự báo sản lượng vụ thu hoạch vào tháng 8/2013 đạt khoảng 2,2-2,4 triệu tấn
Australia – nước xuất khẩu đường thô lớn thứ ba thế giới – có thể gia tăng sản lượng lên 4,8 triệu tấn niên vụ 2012/13 so với 3,86 triệu tấn niên vụ trước, trong đó dự kiến xuất khẩu 3,5 triệu tấn đường niên vụ 2012/2013
Trong khi đó Trung Quốc- nước tiêu thụ đường lớn thứ hai thế giới dự kiến sẽ thu hoạch vụ mùa lớn thứ 2 từ trước đến nay vào tháng 10-2012, sản lượng dự kiến tăng 19% so với vụ trước, có thể đạt 13,7 triệu tấn Dự báo, niên vụ 2012-2013, Trung Quốc chỉ nhập thêm 1,95 triệu
1.2.2 Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam
Cây mía và nghề làm mật, đường ở Việt Nam đã có từ xa xưa (khoảng
250 năm trước Công nguyên), nhưng công nghiệp mía đường mới được bắt đầu từ thế kỷ thứ XX Đến năm 1994, cả nước mới có 9 nhà máy đường mía, với tổng công suất gần 11.000 tấn mía ngày và 2 nhà máy đường tinh luyện công suất nhỏ, thiết bị và công nghệ lạc hậu Năm 1995, với chủ trương “Đầu
Trang 23tư chiều sâu, mở rộng các nhà máy đường hiện có, xây dựng một số nhà máy
có quy mô vừa và nhỏ ở những vùng nguyên liệu nhỏ Ở những vùng nguyên liệu tập trung lớn, xây dựng các nhà máy có thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại, kể cả liên doanh với nước ngoài, sản lượng đường năm 2000 đạt khoảng một triệu tấn Chương trình mía đường được chọn là chương trình khởi đầu để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp
Cho đến nay ngành mía đường của Việt Nam đã góp phần vào sự tăng trưởng nền kinh tế quốc dân và phần quan trọng hơn là góp phần lớn về mặt xã hội giải quyết việc làm cho hàng triệu nông dân trồng mía Trong những năm vừa qua tình hình sản xuất mía cũng có sự thay đôi thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng mía Việt Nam trong ba năm
Diện tích(Nghìn ha) Sản lượng(Nghìn tấn)
Trang 24( Nguồn: tổng cục thống kê 2014)
Qua bảng số liệu thì diện tích mía của cả nước năm 2012 là 19040,8 ha tăng 1501 ha so với vụ trước Diện tích tăng thêm chủ yếu ở Cao bằng, Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Yên, Gia lai…Do các tỉnh này có diện tích đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ lớn, đất đai phù hợp cho cấy mía phát triển
Năng suất mía của cả nước là 297,9 nghìn tấn tăng 15,7 nghìn tấn so với năm trước Trong đó khu vực sản lượng mía nhiều nhất là ở Thanh Hóa, Nghệ An
Phú Yên, Gia Lai do các tỉnh này có diện tích mía nhiều nhất cả nước Mặc dù những năm qua Việt Nam đã nhập nội và chọn tạo trong nước được một số giống mới có năng suất và chất lượng tốt như: MEX 105, K88-
65, VN84-1427, VN84-422, VD93-159, QD94-119, Liễu Thành 00-236, Việt
Trang 25Đường 55… Tuy nhiên, do hệ số nhân giống thấp và thiếu nguồn nhân lực nên đến nay diện tích canh tác các giống mía này còn rất khiêm tốn
Sản suất mía đường là nói đến hai mảng gồm mảng công nghiệp chế biến và mảng nông nghiệp Mảng công nghiệp chế biến thường thực hiện khá tốt, tuy nhiên, mảng này chỉ chiếm khoảng 20 – 25 % giá thành phẩm Trong khi mảng nông nghiệp lại chiếm tỷ lệ lớn từ 70 – 80% trong cơ cấu giá thành nên rất cần có những chủ trương, chính sách nhất quán của nhà nước để hình thành nên các vùng mía nguyên liệu tập trung, từ đó đưa cơ giới hóa cùng với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt nhằm tăng hàm lượng chữ đường trong cây mía để từ đó tăng sức cạnh tranh cho ngành mía đường Việt Nam [10]
1.2.3 Tình hình sản xuất mía ở huyện Phục Hòa
Với điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết phù hợp cho việc trồng mía, cây mía được trồng ở Phục Hòa từ lâu, trong những năm gần đây diện tích trồng mía phát triển mạnh, tập trung ở một số xã Cách Linh, Lương Thiện, Đại Sơn, Hòa Thuận sau đó được mở rộng trồng tại các xã Mỹ Hưng, Tiên Thành, Triệu Ẩu
Do có thể luân canh với cây lúa nước và các cây trồng khác nên cây mía góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân và tận dụng đất một cách tối đa
* Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng mía tại huyện Phục Hòa năm 2011 – 2013
Năm 2011: Diện tích đạt 1.600 ha, sản lượng 94.400 tấn bằng 226% kế hoạch tỉnh giao, bằng 402,6% so với cùng kỳ năm 2010 Diện tích tăng cao hơn
so với năm 2010 là có tác động rất lớn về giá cả của vụ mía năm 2010 giá mía lên đến 900đ/1kg, đồng thời Hội đồng nhân dân huyện khuyến khích phát triển cây mía trên địa bàn, cùng với nỗ lực chỉ đạo của các cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở và sự đầu tư của các Doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn
Năm 2012: Diện tích là 1.928 ha, sản lượng là 124,356 tấn, diện tích tăng so với năm 2011 là 328 ha, nguyên nhân nhiều hộ gia đình trong xã mới trồng mía thấy được hiệu quả cây mía mang lại nên đã mở rộng trồng diện tích trồng
Trang 26Năm 2013: Diện tích là 2.000 ha, sản lượng là 118,000 tấn, diện tích giảm 72 ha so với năm 2012 Nguyên nhân nhiều lao động trên địa bàn đi làm
thuê, bốc vác hàng hóa qua biên giới nên ảnh hưởng đến sản xuất đặc biệt là
cây mía
Ngoài những hạn chế nguyên nhân ở trên còn có nguyên nhân chủ quan trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa
thật sự quan tâm chỉ đạo, các tổ chức đoàn thể cơ sở chưa làm tốt công tác
tuyên truyền vận động các hội viên, đoàn viên trong phát triển kinh tế, chuyển
đổi cơ cấu cây trồng nên hiệu quả chuyển đổi chưa đạt kế hoạch đề ra
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng mía tại một số xã Đơn
DT (ha)
NS (tấn/ha) SL (tấn)
DT (ha)
NS (tấn/ha) SL (tấn)
Mỹ
Hưng 178,05 56 9.970,80 180,24 54 9.732,96 185,04 58 10.732,32 Cách
Linh 198,64 58 11.521,12 227,94 62 14.132,28 241 60 14.460,00 Triệu
Ẩu 158,14 55 8.697,70 161,10 51 8.216,10 165,45 53 8.768,85
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Phục Hòa)
Trong 3 xã trồng nhiều mía của huyện Phục Hòa thì xã Cách Linh là
xã có diện tích trồng nhiều nhất, diện tích và năng suất của xã có tăng lên (từ
198,64 ha năm 2011 lên 241 ha năm 2013) Năng suất mía của các xã có tăng
lên qua các năm làm cho năng suất bình quân của toàn huyện cũng tăng lên
* Về công tác giống và kỹ thuật
Trong những năm gần đây, việc sử dụng giống mới đã được nhiều người dân quan tâm, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều hộ sản xuất tự để giống cho
vụ sau, sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật và không thực hiện theo đúng
quy trình sản xuất mà cán bộ khuyến nông hướng dẫn nên chất lượng mía
chưa thực sự cao như mong muốn
Trang 27Các giống mía được người dân sử dụng là giống truyền thống người dân
tự để, quế hồng, rốc 22,… Trên địa bàn huyện vẫn còn rất nhiều hộ sử dụng giống cũ và tự để giống khiến cho năng suất thu hoạch thấp Các cấp chính quyền có có những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế cây mía
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân trồng mía ở xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
+ Đề tài được triển khai nghiên cứu đánh giá từ 2/2014 – 4/2014
2.2 Trả lời cho nội dung nghiên cứu
• Thực trạng về sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng?
• Hiệu quả kinh tế của cây mía và so sánh với hiệu quả kinh tế của cây ngô trên địa bàn xã?
• Có những giải pháp chủ yếu nào nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã?
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra sơ lược về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của
xã Cách Linh
- Phân tích thực trạng sản xuất mía tại xã Cách Linh
- Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất mía ở các hộ điều tra, từ đó so sánh với hiệu quả kinh tế sản xuất ngô
- Một số định hướng, giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất
mía tại xã Cách Linh
Trang 292.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
2.4.1.1 Thông tin thứ cấp
Đó chính là khai thác thông tin, tài liệu có sẵn trong sổ sách, báo cáo của cán bộ thống kê, cán bộ dân số,… Các thông tin thứ cấp được thu thập trong đề tài này liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện như khí hậu, đất đai, dân số,…
2.4.1.2 Thông tin sơ cấp
- Thu thập số liệu sơ cấp:
Việc thu thập số liệu mới được thực hiện thông qua:
+ Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Thông qua việc đi thực địa để quan sát thực tế, phỏng vấn không chính thức các cán bộ và những người dân sống tại địa phương, thu lượm những tài liệu thông tin đã có tại thời điểm nghiên cứu
+ Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Tiếp xúc trực tiếp với người dân tai thời điểm nghiên cứu, khơi dậy sự tham gia vào những vấn đề hiểu biết của họ, về những khó khăn gặp phải cũng như các giải pháp để vượt qua khó khăn đó
+ Phương pháp điều tra hộ:
Khi tiếp xúc với hộ điều tra chúng tối tiến hành: Giới thiệu về mục đích thăm hỏi, các câu hỏi về tình hình chung của hộ, tìm hiểu kỹ về kỹ thuật sản xuất, sản lượng và doanh thu… của các hộ tham gia sản xuất mía
Việc thu thập số liệu sơ cấp chủ yếu dựa trên cơ sở điều tra hộ nông dân trồng mía Các mẫu điều tra được trọn ngâu nhiên theo danh sách các hộ tham gia trồng cây mía
Như đã đề cập trên tôi đã chọ điều tra 3 xóm của xã Cách Linh huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng để nghiên cứu là xóm Khưa Đa, Lăng Hoài Trong, Khuổi Luông là 3 xóm có diện tích mía lớn nhất xã Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu trong thời gian cho phép và theo điều kiện của địa phương tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên 45 hộ trồng mía trong 3 xóm, sau khi trọn mẫu điều tra tôi tiến hành phỏng vấn theo mẫu phiếu điều tra đã xây dựng
Trang 30Nội dung phiếu điều tra bao gồm những thông tin chủ yếu: Nhân khẩu, lao động, trình độ văn hóa, tư liệu sản xuất, vốn… Tình hình sản xuất của hộ, tình hình đời sống, thu, chi phục vụ sản xuất của hộ
2.4.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
* Đối với thông tin thứ cấp:
Sau khi thu thập được thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin Đối với các thông tin là số liệu thì lập bảng biểu
* Đối với thông tin sơ cấp:
Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel để tiến hành tổng hợp, xử lý
2.4.3 Phương pháp phân tích thông tin
+ Thống kê mô tả: là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế,
xã hội bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được Phương pháp được sử dụng để phân tích thực trạng sản xuất và tình hình tiêu thụ mía
+ Phương pháp so sánh: Là phương pháp được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau Dùng để so sánh các yếu tố định lượng hoặc định tính, so sánh các chỉ số chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội đã được lượng hóa có cùng nội dung, tính chất tương tự nhau để xác định mức độ biến động của các nội dung Phương pháp này được sử dụng trong đề tài để so sánh tình hình sản xuất thuốc lá qua các năm, so sánh giữa các nhóm hộ điều tra là nhóm hộ khá, trung bình và nghèo về các phương diện: chi phí sản xuất, kết quả sản xuất
Sử dụng phương pháp này ta tiến hành lập bảng để xét mức độ biến động tăng hay giảm của các chỉ tiêu theo thời gian, dùng số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân chung để xem xét
2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.5.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ
- Giá trị sản xuất GO: (Gross Output): Là giá tính bằng tiền của
toàn bộ các loại sản phẩm vật chất và dịch vụ lao động nông nghiệp được
Trang 31tạo ra tính trên một đơn vị diện tích trong thời gian một năm hay một chu
Pi Qi.
Trong đó:
Qi: Là khối lượng sản phẩm thứ i
Pi: Là đơn giá sản phẩm thứ i
i: Là số lượng chủng loại sản phẩm
- Chi phí trung gian IC: (Intermediate cost) : Là toàn bộ chi phí vật chất
và dịch vụ trong quá trình sản xuất ra sản phẩm
IC = ∑
=
n
l i
Pj Ci.
Trong đó: Cj : Số lượng đầu vào thứ j được sử dụng
Pj : Đơn giá đầu vào thứ j
- Giá trị gia tăng VA:(Value Added): Là phần giá trị tăng thêm của người
sản xuất khi sản xuất trên một đơn vị diện tích trong một chu kì sản xuất
VA = GO – IC
- Thu nhập hỗn hợp MI: (Mix Inconme): Là phần thu nhập thuần tuý
của người sản xuất bao gồm thu nhập của người lao động và lợi nhuận thu được trên một đơn vị diện tích
MI = VA – A – T
Trong đó : A : Giá trị khấu hao tài sản cố định
T : Thuế đất nông nghiệp
- Lợi nhuận Pr: Là phần lãi ròng trong thu nhập hỗn hợp khi sản xuất trên một đơn vị diện tích
Pr = GO - TC
Trong đó:
+ GO: Là tổng giá trị sản xuất
+ TC: Là tổng chi phí
Trang 322.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất mía
- Chỉ tiêu hiệu quả phản ánh sản xuất/ 1 đơn vị diện tích:
GO/ha: Tổng giá trị sản xuất trên 1 ha
VA/ha: Giá trị gia tăng trên 1 ha
- Chỉ tiêu hiệu quả vốn:
GO/IC: giá trị sản xuất trên 1 đồng chi phí trung gian
VA/IC: giá trị gia tăng trên 1 đồng chi phí trung gian
MI/IC: Thu nhập hỗn hợp trên 1 đồng chi phí trung gian
Pr/IC: Lợi nhuận trên 1 đồng chi phí trung gian
- Chỉ tiêu hiệu quả lao động:
GO/CLĐ: Giá trị sản xuất trên 1 ngày công lao động
VA/CLĐ: Giá trị gia tăng trên 1 ngày công lao động
MI/CLĐ: Thu nhập hỗn hợp trên 1 ngày công lao động
Pr/CLĐ: Lợi nhuận trên 1 ngày công lao động
* Về giá cả sử dụng trong tính toán: Tôi sử dụng giá cả bình quân trên thị trường trong thời gian nghiên cứu
2.5.3 Các chỉ tiêu bình quân
Công thức tính số bình quân:
n
Xi X
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Cách Linh là một xã miền núi nằm ở phía Đông Bắc huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm huyện khoảng 6,5 km và cách thị xã Cao Bằng khoảng 57,5 km Bao gồm 18 thôn, xóm, dân số 3095 người với tổng diện tích đất tự nhiên 3.412,44 ha Ranh giới hành chính được xác đinh như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Triệu Ẩu, Hồng Đại
+ Phía Đông giáp Trung Quốc
+ Phía Nam giáp với Xã Đại Sơn
+ Phía Tây giáp xã Hồng Quang, huyện Quảng Uyên
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình xã khá phức tạp được chia thành 3 khu vực chính: Địa hình đồi đất đỏ vàng, địa hình thung lũng và địa hình núi đá vôi
Địa hình núi đất đỏ vàng chủ yếu phân bổ về phía Bắc của xã giáp với
xã Triệu Ẩu có độ cao trung bình khoảng 300 m, đây là vùng đất có nhiều tiềm năng lâm nghiệp nhất của xã
Khu vực núi đá vôi phân bổ về phía Tây và phía Nam của xã giống như khối đá hình cánh cung ngăn giữa xã Cách Linh với 2 xã tiếp giáp là Đại Sơn
và Hồng Quang
Địa hình dạng thung lũng nằm xen giữa hai khu vực đồi và núi đá vôi
có hướng kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam bao gồm các cánh đồng lúa màu, nơi sản xuất lương thực chính của xã
Nhìn chung do điều kiện địa hình chia cắt phức tạp nên điều kiện lưu thông kinh tế, văn hóa với những vùng lân cận và bên ngoài còn nhiều hạn chế đặc biệt là giao thông trong mùa mưa lũ
3.1.1.3 Đặc điểm thời tiết và khí hậu
Xã Cách Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia làm hai mùa rõ rệt:
Trang 34+ Mùa đông: Lạnh, khô bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau, nhiết độ trung bình từ 150C đến 200C Lạnh nhất là tháng 12, tháng 1, tháng 2 nhiệt độ trung bình dưới 150C
+ Mùa hè: Nóng ẩm, mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm, nhiệt độ trung bình từ 250C đến 270C
- Nhiệt độ trung bình năm: 21,60C
- Độ ẩm trung bình năm: 80%
- Lương mưa trung bình năm: 1442-1482 mm
- Lượng mưa trung bình cao nhất: 3316 mm
- Lượng mưa trung bình thấp nhất: 920 mm
Hướng gió chủ đạo của xã là gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, tốc độ gió trung bình 1,8m/s
Gió Đông Bắc bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau, đây
là loại gió lạnh làm cho nhiệt độ không khí không xuống thấp thường gây ra các đợt rét và đôi khi có xương muối
Gió Tây Nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10, đây là loại gió mang theo nhiều hơi ẩm nên thường đem lại lượng mưa dồi dào