Lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Khải Cùng với sự ra đời của hàng loạt tác phẩm nghệ thuật khẳng định tài năng sáng tác của Nguyễn Khải, người đọc có thể tìm thấy một số lượng khá
Trang 1mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Tự sự là một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng Nó đã xuất hiện
từ rất lâu như Roland Barthes nói: “Đã có bản thân lịch sử loài người thì đã có tự sự” Trong các hình thức tự sự, tự sự văn học là phức tạp nhất Nó đáng nghiên cứu nhất và là đối tượng chủ yếu của tự sự học Theo GS.TS Trần Đình Sử : “Lý thuyết tự
sự có thể coi như một bộ phận không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học hôm nay, và nói theo ngôn ngữ của Thomas Kunh, thì đó là một bộ phận cấu thành của hệ hình lý luận hiện đại.” [81] Nghiên cứu văn học từ phương diên tự sự cũng
là một hướng tiếp cận cần thiết nhằm khám phá sâu hơn cấu trúc văn bản - đặc biệt
là cấu trúc tiểu thuyết với những dấu hiệu đặc thù của nghệ thuật trần thuật
Thời điểm sau năm 1975, đất nước Việt Nam bước sang trang mới, lẽ đương nhiên nền văn học của chúng ta cũng bước vào một chặng đường mới Đặc biệt, từ
sau đại hội Đảng VI, năm 1986, văn học đã thực sự được “cởi trói” Văn học lúc
này đứng trước một tình thế thuận lợi cho sự phát triển: cá tính sáng tạo được tôn trọng và có điều kiện để bộc lộ tối đa, giao lưu quốc tế được mở rộng, tinh thần, tình cảm, trình độ văn hoá, sự hiểu biết của con người được nâng cao Hiện thực tuy ngổn ngang, bề bộn nhưng phong phú là mảnh đất màu mỡ của văn chương
Trên thực tế, ở Việt Nam, thời kỳ đổi mới với dấu mốc 1986 đã đánh dấu sự chuyển hướng của văn học Sự đổi mới tư duy nghệ thuật đã tạo tiền đề cho sự cách tân thể loại, trong đó có tiểu thuyết Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật tiểu thuyết ở các giai đoạn khác nhau và của các tác giả khác nhau, nhưng khám phá tính hiện đại, sự mới mẻ của tiểu thuyết từ phương diện trần thuật, đặc biệt là phương diện người kể chuyện vẫn là vấn đề còn để ngỏ
Nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã có những chuyển biến đáng ghi nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểu thuyết Trong sự vận động chung của
nền văn học, tiểu thuyết – một loại hình tự sự cỡ lớn, “cỗ máy cái” của nền văn học
hiện đại đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời
đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả Không khí dân chủ của môi
Trang 2trường sáng tạo đã giúp nhà văn ý thức sâu sắc hơn về tư cách nghệ sĩ nơi mình Chưa bao giờ những quan niệm về văn chương, về nhà văn, về hiện thực và con người, về đổi mới tư duy nghệ thuật lại cởi mở, dân chủ như lúc này Nhiều cây bút viết tiểu thuyết đã có ý thức cách tân trong cách nhìn và trong lối viết, có những tác phẩm thành công hoặc đang trên đường tìm tòi, thể nghiệm, song điều đáng nói ở
đây là tất cả đều hướng tới hệ quả: làm mới, làm hấp dẫn văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng
Nguyễn Khải sinh năm 1932, tại Hà Nội, mất năm 2008, tại Thành phố Hồ Chí Minh, là một trong số rất ít nhà văn mà sự nghiệp sáng tác đã phản ánh rõ nét sự vận
động của nền văn học trước 1975 và sự tìm tòi, đổi mới của văn học sau năm 1975
Ông là một cây bút bền bỉ trong nghề với khoảng thời gian sáng tác dài Đi qua hơn nửa thế kỷ lao động, tìm tòi, khám phá sáng tạo, Nguyễn Khải đã có một khối lượng tác phẩm khá lớn: trên 70 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết và khoảng trên 60 tác phẩm tạp văn
Nguyễn Khải là cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại từ sau cách mạng tháng Tám Ông thuộc số ít các nhà văn sớm xác định cho mình một quan niệm độc
đáo về nghệ thuật, về vai trò của văn học và trách nhiệm của nhà văn Ông thuộc số
ít các nhà văn có sức viết dẻo dai, bền bỉ và luôn có mặt ở những nơi “mũi nhọn”
của cuộc sống Nguyễn Khải vẫn tự coi mình là “một giọt nắng nhạt” nhưng sáng
tác của ông luôn bám sát từng bước đi của đời sống với niềm hứng thú đặc biệt
hướng vào “cái hôm nay” để nghiên cứu, phân tích và đối thoại Sáng tác của ông
vừa nóng hổi tính thời sự, vừa có tầm khái quát về những vấn đề thiết cốt đặt ra từ
đời sống xã hội và con người đương thời Tác phẩm của ông , vì thế, luôn được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm luận bàn và đông đảo bạn đọc hào hứng đón nhận
Đúng như ý kiến của Vương Trí Nhàn trong Lời giới thiệu tuyển tập Nguyễn
Khải: “Ông là một trong những nhà văn dẫn đầu thời đại Sáng tác của ông luôn
đánh dấu những bước chuyển của xã hội Với cuộc cách mạng này, những năm tháng đấu tranh gian khổ này, tác phẩm của ông là một bằng chứng, một tài liệu tham khảo thực sự Và muốn hiểu con người thời đại với tất cả những cái hay, cái dở của họ, đời sống tinh thần của họ phải đọc Nguyễn Khải” [63] Với ngòi bút hiện
Trang 3thực đặc sắc, năng lực quan sát và óc phân tích sắc sảo, Nguyễn Khải đã đem đến cho người đọc những trang văn mang hơi thở của cuộc sống đất nước và con người
đương thời Trong hơn nửa thế kỷ cầm bút, ông để lại cho đời 9 tiểu thuyết Sự kết tinh của nghệ thuật và độ “chín” của văn nghiệp Nguyễn Khải được ghi nhận khá rõ nét ở các tiểu thuyết ông viết ở thời kỳ đổi mới
Việc chọn đề tài: “Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ
đổi mới” của chúng tôi là bắt nguồn từ tầm quan trọng của Tự sự học trong nghiên
cứu văn học những năm gần đây Điều đó cũng giúp người viết nhận diện sâu sắc hơn sự phát triển của nghệ thuật Tự sự, bước chuyển mình của tiểu thuyết Việt Nam nói chung, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới nói riêng Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cũng muốn thấy được những thành tựu đổi mới của Nguyễn Khải, khẳng định các giá trị sáng tác của nhà văn trong thời kỳ này, góp phần thiết thực vào việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải, đồng thời góp phần xác lập giá trị trong nghệ thuật tự sự mà Nguyễn Khải đã cống hiến cho văn học và cuộc
đời
Nguyễn Khải là một trong số các nhà văn có tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông Hướng nghiên cứu này, theo đây, sẽ góp một phần không nhỏ giúp người giáo viên có thể khai thác sâu hơn chất lượng nghệ thuật của tác phẩm, qua đó, cũng nâng cao chất lượng bài giảng của mình Thực hiện đề tài kể trên, chúng tôi mong muốn và hi vọng sẽ mang lại những đóng góp khoa học nhất
định đối với công tác nghiên cưú và giảng dạy văn chương
Số lượng tác phẩm và chất lượng sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Khải trong suốt nửa thế kỷ đã xếp ông vào vị trí xứng đáng của nền văn học nước nhà Từ những sáng tác ra đời ở thời kỳ mới vào nghề như: Xung đột, Mùa lạc Nguyễn Khải đã được giới nghiên cứu, phê bình đánh giá là một ngòi bút thông minh, sắc sảo trong khám phá và nắm bắt hiện thực Sự mẫn cảm với cái hàng ngày, với những
gì đang diễn ra, với những vấn đề hôm nay đã khiến những trang viết sắc sảo, đầy
“chất văn xuôi” của Nguyễn Khải không những luôn luôn có độc giả mà còn khơi gợi được hứng thú tranh luận, trở thành nơi “giao tiếp đối thoại” với đông đảo bạn
đọc
Trang 41.1 Lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Khải
Cùng với sự ra đời của hàng loạt tác phẩm nghệ thuật khẳng định tài năng sáng tác của Nguyễn Khải, người đọc có thể tìm thấy một số lượng khá lớn, khá phong phú những bài nghiên cứu, phê bình về Nguyễn Khải được công bố dưới nhiều dạng khác nhau và đề cập đến nhiều phương diện sáng tác khác nhau của sáng tác Nguyễn Khải
Nghiên cứu một cách khái quát và toàn diện về tác gia, tác phẩm Nguyễn Khải có bài viết của Phan Cự Đệ trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945 – 1975 (tập II), của Đoàn Trọng Huy trong Giáo trình văn học Việt Nam 1945 – 1975 ( phần
tác giả) Ngoài ra còn phải kể đến “Lời giới thiệu” của Vương Trí Nhàn trong
Tuyển tập Nguyễn Khải (3 tập) và bài Nguyễn Khải: một đời gắn bó với thời đại
và dân tộc của Bích Thu
Những công trình nghiên cứu trên đã cho người đọc một hình dung khá cụ thể về Nguyễn Khải cả ở sự nghiệp sáng tác, giá trị tác phẩm cùng phong cách riêng của ông Hầu hết các tác giả đều khẳng định: Nguyễn Khải là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam từ sau 1945 Chiếm số lượng nhiều nhất là các bài viết về từng tác phẩm cụ thể hoặc đi vào các phương diện sáng tác của Nguyễn Khải Các bài viết về Nguyễn Khải có giá trị của nhiều nhà nghiên cứu phê bình đăng trên các báo, tập san, tạp chí được tập hợp lại trong công trình Nguyễn Khải – về tác gia và tác phẩm ( do Hà Công Tài và Phan Diễm Phương tuyển chọn và giới thiệu)
Tác giả Nguyễn Văn Hạnh trong bài Vài ý kiến về tác phẩm Nguyễn Khải đã
nhận ra cái nhìn đặc trưng của nhà văn: “Nhà văn có một cái nhìn nhạy bén, thấu suốt vào một số những mặt chủ yếu, những vấn đề khá phức tạp của cuộc sống” [21, tr.53]
Thống nhất với ý kiến của tác giả Nguyễn Văn Hạnh, tác giả Chu Nga trong
bài viết Đặc điểm ngòi bút hiện thực Nguyễn Khải đã khẳng định: “Với con mắt sắc sảo của mình, nhìn vào ngõ ngách của cuộc sống, Nguyễn Khải cũng có thể rất nhanh nhạy phát hiện ra những vấn đề phức tạp” [57, tr.65]
Để công và dồn khá nhiều tâm huyết nghiên cứu về con người và văn chương Nguyễn Khải là nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn Với bài viết Nguyễn Khải trong
Trang 5sự vận động của văn học cách mạng từ sau năm 1975, nhà nghiên cứu đã giúp người đọc nhận ra nét căn bản trong sáng tác của Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới là:
“Cái nhìn sắc sảo vốn có từ sớm và khao khát có mặt trong ngày hôm nay Đối thoại với chính mình và tự phát hiện trở lại – một phong cách vừa dân dã vừa hiện
đại” [64]
1.2 Lịch sử nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Nguyễn Khải
và tiểu thuyết của Nguyễn Khải
Nguyễn Thị Bình trong bài viết Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết đã chỉ
ra một hình tượng người kể chuyện đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Khải: “ Có một người kể chuyện đóng vai tác giả là nhà văn, nhà báo, là “ chú Khải” cùng với rất nhiều chi tiết tiểu sử như biểu hiện nhu cầu nhà văn muốn nói về mình, muốn coi mình là đối tượng của văn chương ( ) Nhân vật này góp phần tạo ra giọng điệu tự nhiên, chân thành mà vẫn phóng túng trên các trang văn Nguyễn Khải” [15, tr.141] Vương Trí Nhàn cũng cho rằng:“Trong những trường hợp thành công nhất của mình, Nguyễn Khải hiện ra như một người kể chuyện thông minh, la cà khắp nơi chia sẻ với mọi người mọi vui buồn khi quan sát việc đời” [ 63, tr.120]
Tác giả Đào Thuỷ Nguyên trong cuốn Phương pháp tiếp cận sáng tác của Nguyễn Khải trong giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại đã lưu ý tới cái nhìn xoáy sâu vào nhiều vấn đề của đời sống con người đương thời: con người trong thời gian và lịch sử; con người trong các khả năng lựa chọn và thích ứng; con người trong quan hệ gia đình; con người trong mâu thuẫn và tiếp nối giữa các thế hệ
Nhà nghiên cứu Đoàn Trọng Huy trong bài viết Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải đã nhận ra tính chất đa giọng điệu trong sáng tác Nguyễn
Khải: “Ngôn ngữ của Nguyễn Khải giàu chất sống, chất văn xuôi, là ngôn ngữ hiện thực Đặc bịêt là tính chất nhiều giọng điệu Nhà văn thường đứng ở nhiều góc độ, nhiều bình diện để tả và kể Không chỉ kể bằng giọng của mình, bằng lời của người dẫn truyện, tác giả còn biết biến hoá thành nhiều giọng điệu phong phú khác nhau”
[30, tr.92-93] Như vậy, yếu tố giọng điệu - một trong những yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả đã được nhà Nghiên cứu Đoàn Trọng Huy đề cập đến
Trang 6Trong chuyên luận Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải những năm 80 đến nay, nhà nghiên cứu Bích Thu đã tập trung sự chú ý vào một
yếu tố quan trọng tạo nên phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khải: “Sức chinh phục của truyện ngắn Nguyễn Khải những năm gần đây một phần đáng kể là do nghệ thuật kể chuyện, trong đó giọng điệu trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn trong các sáng tác tự sự của nhà văn” [98, tr.122] Tác
giả đã chỉ ra sự phức hợp giọng điệu được thể hiện trong sáng tác của Nguyễn Khải như: giọng triết lý, tranh biện; giọng điệu thể hiện sự trải nghiệm cá nhân, tâm tình, chia sẻ; giọng hài hước hóm hỉnh Kết thúc bài viết, tác giả khẳng định: Sáng tác
của Nguyễn Khải từ những năm 80 cho đến nay không “chệch ra khỏi quy luật tiếp nối và đứt đoạn của văn học Một giọng điệu trần thuật chịu sức hút của chủ nghĩa tâm lý, kết hợp kể, tả, phân tích một cách linh hoạt, thông minh và sắc sảo Lời văn nghệ thuật Nguyễn Khải là lời nhiều giọng, được cá thể hoá mang tính đối thoại của
tự sự hiện đại” [98, tr.132]
Ngoài ra còn một vài luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp, báo cáo khoa học
đề cập đến một vài khía cạnh trong sáng tác Nguyễn Khải như:
Cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật trong sáng tác Nguyễn Khải – Luận án tiến sĩ - Đào Thuỷ Nguyên
Triết luận trong truyện ngắn Nguyễn Khải – Luận văn thạc sĩ – Nguyễn Thị Huấn
Chất triết lý trong văn xuôi Nguyễn Khải ( qua Xung đột, Mùa lạc, Hãy
đi xa hơn nữa và Người trở về ) – Báo cáo Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học- 2010- Phạm Trọng Đạt, Đỗ Thị Nhung
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải (sau 1975) – Luận văn thạc sĩ – Kiều Thu Huyền - Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Đổi mới về nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Khải trong truyện ngắn sau 1980 – Lê Thị Ngọc Huyền – NCS khoa Ngữ văn ĐHSPHN
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Khải – Luận án tiến sĩ - Trần Văn Phương
- ĐHSPHN
Trang 7
Trên cơ sở khảo sát các bài viết, các bài nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Khải
và các sáng tác của ông thời kỳ đổi mới, chúng tôi có thể sơ bộ rút ra những nhận xét sau:
1 Số lượng các bài viết, các ý kiến đánh giá về tác phẩm của ông rất phong phú Hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định Nguyễn Khải là một nhà văn sắc sảo, xông xáo, nhạy bén, đề cập đến nhiều vấn đề của cuộc sống, có nhiều tìm tòi, sáng tạo và đổi mới trong cách viết
Các bài viết, các ý kiến đề cập đến tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới
đều chỉ ra những điểm mới trong cách thể hiện của tác giả từ cách nhìn, giọng điệu cho đến ngôn ngữ Nhìn chung các bài viết đều khẳng định: Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của Nguyễn Khải góp phần quan trọng trong việc đổi mới nền văn học nước nhà
2 Song, văn chương vốn là thế giới vô cùng, muôn màu, muôn vẻ nên việc khám phá vẻ đẹp của văn chương không bao giờ có điểm dừng Mặc dù các nhà nghiên cứu đã đề cập đến một số khía cạnh của góc nhìn tự sự, về nghệ thuật trần thuật của tác phẩm Nguyễn Khải nhưng vấn đề mà luận văn chúng tôi quan tâm thì chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu và có hệ thống Trên tinh thần tiếp thu, phát triển thành tựu nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi mạnh dạn góp phần
nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thời
kỳ đổi mới
2 Mục đích nghiên cứu
Qua công trình nghiên cứu Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới, chúng tôi nhằm hướng tới những mục đích cụ thể như sau:
2.1 Cảm thụ tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới một cách sâu sắc hơn,
đồng thời chỉ ra được nét riêng đặc sắc từ góc nhìn tự sự, trên trục người kể chuyện,
từ đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khải
2.2 Khẳng định sự đóng góp to lớn của Nguyễn Khải trên thi đàn văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
2.3 Nâng cao khả năng cảm thụ, tiếp nhận vấn đề cho giáo viên trong quá trình giảng dạy tác phẩm Nguyễn Khải ở trường THPT
Trang 83 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới”,
chúng tôi tập trung xem xét các tài liệu, các vấn đề cơ bản sau:
3.1.1 Những tài liệu và công trình nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới
3.1.2 Những bài viết và công trình nghiên cứu về Nguyễn Khải và các tiểu thuyết của ông thời kỳ đổi mới
3.1.3 Xem xét nghệ thuật trần thuật, trên trục người kể chuyện trong các tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của Nguyễn Khải
3.1.4 Những sáng tác của Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới và một số sáng tác của các nhà văn khác nhằm thấy rõ sự chuyển hướng trong nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Khải
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung khai thác, tìm hiểu, khẳng định mối quan hệ thống nhất hữu cơ giữa các yếu tố nổi trội:
4.1.1 Một số vấn đề lý luận chung về người kể chuyện
4.1.2 Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới
4.1.3 Ngôn ngữ và giọng điệu của người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới
Mỗi phần tương ứng với một chương của Luận văn
Trang 9từ Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985) Do vậy, để làm rõ yêu cầu đặt ra, luận văn tiến hành nghiên cứu và khảo sát các tiểu thuyết sau:
Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra thì không thể nào thấy được sự tất yếu phải thay đổi, phải chuyển hướng của văn học nghệ thuật trong giai đoạn này Sử dụng phương pháp lịch sử – xã hội sẽ giúp cho việc lý giải những cơ sở thực tiễn và nguyên nhân
sự chuyển hướng của nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Khải
5.4 Phương pháp phân tích
Phương pháp này giúp chúng tôi đi sâu khám phá giọng điệu của người kể chuyện
5.5 Phương pháp so sánh
Văn học chịu sự chi phối trực tiếp và hết sức mạnh mẽ của hoàn cảnh xã hội
Sự chuyển biến đổi mới của văn học gắn với quá trình vận động đổi mới đang diễn
ra trên toàn xã hội Việc sử dụng phương pháp so sánh (lịch đại, đồng đại) giúp
Trang 10chúng tôi có điều kiện so sánh sự chuyển hướng về nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới cũng như đặc điểm nổi trội đặc sắc của nghệ thuật trần thuật nói chung, người kể chuyện nói riêng của tiểu thuyết Nguyễn Khải so với tiểu thuyết của các tác giả cùng thời
Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng tiến hành sử dụng phương pháp thống kê, khảo sát, phân loại cùng một vài thao tác của thi pháp học như một phương pháp hỗ trợ
6 Dự kiến đóng góp của luận văn
6.1 Góp phần quan trọng trong việc ứng dụng lý thuyết tự sự học vào việc tìm hiểu các tác phẩm văn học, cụ thể là các tiểu thuyết Nguyễn khải thời kỳ đổi mới
6.2 Xác lập thêm tính vững chắc của khái niệm người kể chuyện, một
phương diện trọng yếu của Tự sự học
6.3 Góp phần làm sáng tỏ cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khải trong việc cách tân tiểu thuyết trên bình diện nghệ thuật trần thuật Từ
đó, khẳng định vị trí, vai trò của nhà văn trong sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trang 11Nội dung Chương I khái lược chung về người kể chuyện
1.1 Giới thuyết về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự
1.1.1 Khái niệm “người kể chuyện”
Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Mỗi tác phẩm văn
học chính là một hiện tượng, một lát cắt của đời sống con ngươì được thể hiện qua
cái nhìn, qua con mắt, qua sự cảm nhận, đánh giá mang tính chủ quan của nhà văn Vì thế, tác phẩm văn học bao giờ cũng thể hiện thái độ, quan điểm, lập trường, tư tưởng và sự sáng tạo của nhà văn đối với cuộc sống
Nếu như trong loại hình trữ tình, những cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ chủ quan của nhà thơ được thể hiện trực tiếp qua những lời lẽ, tâm tình, bộc bạch và thể hiện thành nội dung chủ yếu của tác phẩm thì ở trong loại hình tự sự, một loại hình giàu tính khách quan thì những điều đó được thể hiện khá rõ qua hình tượng nhân vật người kể chuyện
Cũng như nhiều khái niệm lý luận văn học khác, khái niệm“người kể chuyện” cho đến nay dường như vẫn chưa được các nhà lý luận thống nhất hoàn toàn Ngay trong tên gọi cũng có những cách gọi khác nhau, có người gọi là “người trần thuật”, có người lại gọi là “người kể chuyện” và có người đã cho là hai khái
niệm này khác nhau Sự phân biệt này cũng đều có cái lý riêng Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi xem đây là những khái niệm đồng nghĩa
Thuật ngữ “người kể chuyện” lâu nay có nhiều công trình nghiên cứu gọi là
“người trần thuật” Theo Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học: “Người trần thuật là một người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người được chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [18, tr.88] Tác giả cũng khẳng định: “ Các phương thức trần thuật cực kỳ nhiều vẻ Hình thức phổ biến nhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hóa, mà
đằng sau là tác giả Nhưng người trần thuật hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác
Trang 12phẩm với hình thức một cái “tôi” nào đó Những người trần thuật được nhân vật hóa như vậy, kể câu chuyện từ ngôi “thứ nhất” của chính mình có thể gọi một cách
tự nhiên là “ người kể chuyện” [18, tr.92]
Định nghĩa “người kể chuyện”, Tz Todorov cho rằng: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhật vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt” [85,
tr.79] Trong khi đó, W Kayser viết về người kể chuyện như một vai trò ước định:
“Trong nghệ thuật kể, người kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay chưa từng biết đến, mà là một vai trò được tác giả nghĩ ra và ước định” [ 85, tr.79] Và với
ông, đó cũng là một khái niệm mang tính chất cực kỳ hình thức: “Người trần thuật-
đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học
ở nghệ thuật kể không bao giờ người trần thuật là vị tác giả đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [ 85, tr.245]
Giáo sư Trần Đình sử cho rằng: “Mọi nội dung tư tưởng, ý đồ sáng tạo đều do tác giả nghĩ ra, nhưng anh ta không trực tiếp đứng ra trần thuật, mà sáng tạo ra một người trần thuật để thay mình làm điều đó Khi sang tác, nhà văn như người chép hộ lời lẽ của người trần thuật do mình tạo ra” [81, tr.145] Ông cũng khẳng định rằng:
văn bản trần thuật có thể có nhiều người trần thuật Lúc đó xuất hiện tầng bậc trần thuật Ví dụ trong Nghìn lẻ một đêm, người kể chuyện kể chuyện Quốc vương và nàng Sêhêradat Đến lượt mình, nàng Sêhêradat lại kể các chuyện cụ thể, các nhân vật cụ thể khác nhau lại tự kể chuyện mình
1.1.2 Các kiểu “người kể chuyện”
Trong tác phẩm tự sự, người kể chuyện đóng vai trò quyết định, là người sắp
đặt, môi giới, gợi mở giữa câu chuyện trong tác phẩm với người đọc Người trần thuật phải chọn cho mình một chỗ đứng thích hợp Từ chỗ đứng, người trần thuật có
điểm nhìn, cách kể đối với câu chuyện sao cho lôi cuốn, hấp dẫn và theo ý đồ sáng
Trang 13tạo của mình Điều đó không chỉ đem lại vai trò mà còn làm nên một gương mặt của người kể chuyện
Dựa theo các tiêu chí khác nhau ta có thể có những cách phân loại khác nhau
về loại hình người kể chuyện Nếu dựa vào sự bộc lộ hay hàm ẩn của người kể chuyện trong tác phẩm ta có thể phân thành người kể chuyện ngôi thứ nhất và người
kể chuyện ngôi thứ ba; nếu dựa vào thái độ của người kể chuyện đối với cái được kể
ta có người kể chuyện khách quan và người kể chuyện chủ quan; nếu dựa vào mối quan hệ giữa người kể chuyện với người đọc ta có người kể chuyện đáng tin cậy và người kể chuyện không đáng tin cậy; nếu dựa trên tiêu chí điểm nhìn của người kể thì ta có người kể chuyện theo điểm nhìn biết hết và người kể chuyện theo điểm nhìn hạn chế
1.2 Chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Việc tác giả lựa chọn kiểu người kể chuyện nào để kể hoàn toàn không phải
là một sự ngẫu nhiên mà nó mang tính quan niệm nhằm mục đích chuyển tải tư tưởng, nội dung một cách hiệu quả nhất Ta hiểu vì sao tác giả của những khúc ngâm rất đậm chất tự sự như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm là đàn ông nhưng người kể chuyện trong những tác phẩm này lại là nữ Có lẽ chỉ có thể người kể chuyện là nữ thì mới có thể nói được một cách sâu sắc, chân thực nhất tâm trạng của mình khi hạnh phúc bị chia ly không trọn vẹn Thử hỏi nếu Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm được kể theo điểm nhìn của một người kể chuyện đứng từ bên ngoài thì tâm lý nhân vật có được miêu tả chân thực, tinh tế như thế hay không? Hay trong những năm gần đây ta thấy trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai- một nhà văn nữ lại thấy hay xuất hiện trong tác phẩm của chị hình tượng người kể chuyện xưng tôi là nam Phải chăng Trần Thùy Mai muốn đi sâu khám phá bản chất phụ nữ qua con mắt đàn ông? Hay phải chăng nhà văn nữ này muốn khám phá thế giới bí
ẩn của đàn ông, muốn thử nghiệm những cảm xúc của đàn ông? Như vậy, người kể chuyện trong tác phẩm tự sự mang tính chất chức năng Vì người kể chuyện là nhân vật trung gian nối liền giữa nhà văn – tác phẩm – bạn đọc nên nghiên cứu chức năng người kể chuyện ta cũng phải xem xét trong ba mối quan hệ này
Trang 141.2.1 Người kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm
Mỗi tác phẩm văn học có thể có nhiều khả năng kết cấu; mỗi khả năng kết cấu thích hợp với một quá trình khái quát nghệ thuật của người nghệ sĩ Người kể chuyện phải thay mặt nhà văn cố gắng tìm cho mình một kết cấu tối ưu để làm cho câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Vai trò tổ chức kết cấu tác phẩm của người
kể chuyện được thể hiện trên những bình diện sau:
Trước hết là tổ chức hệ thống hình tượng nhân vật Người kể chuyện có thể tổ
chức các quan hệ của nhân vật theo hình thức đối lập, đối chiếu, tương phản hoặc bổ sung Chẳng hạn trong Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, người kể chuyện đã lựa chọn quan hệ đối chiếu, tương phản để làm cho nhân vật hiện lên sắc nét hơn Đó là Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc: Cả hai đều sống theo tiếng gọi của con tim, đều có tư tưởng tiến bộ nhưng về cá tính thì họ lại dường như trái ngược nhau Giả Bảo Ngọc xốc nổi, Lâm Đại Ngọc thâm trầm; Giả hồn nhiên, cởi mở, Lâm quanh co, kín
đáo; Giả tin người và rộng lượng còn Lâm đa nghi và có phần hẹp hòi Đó là Phượng Thư và Thám Xuân: Cả hai đều sắc sảo, đáo để nhưng chính Phượng Thư đã nhận ra Thám Xuân thận trọng hơn và có học thức hơn Tình Văn và Tập Nhân cũng vậy: Cả hai đều là những người hầu xinh đẹp, có tình cảm sâu sắc với cậu chủ nhưng tính cách của Tình Văn đáng yêu hơn, tình cảm của Tình Văn trong sáng hơn Quan hệ gữa
Đônkihôtê và Panxa (Xecvantex); giữa Anh béo và Anh gầy (Sêkhốp); giữa Thúy Kiều và Thúy Vân (Nguyễn Du) đều được người kể chuyện tổ chức theo lối này
Thứ hai là tổ chức hệ thống sự kiện, liên kết chúng lại để tạo thành truyện
Truyện ngắn Anh hùng bĩ vận của Nguyễn Khải là một ví dụ tiêu biểu cho sự nối kết khéo léo và tài hoa của người kể chuyện Tác phẩm gồm nhiều câu chuyện khác nhau, có vẻ như không liên quan đến nhau Đó là một câu chuyện đáng buồn của một xã đã từng lừng lẫy tiếng tăm với đủ thứ luận chứng cờ thưởng nay lâm vào khủng hoảng, bị dồn vào ngõ cụt Câu chuyện thứ hai kể về nghề viết văn trong thời kinh tế thị trường Bản thảo đã bị trả lại, cuộc sống của người cầm bút trở nên lao
đao, mất ổn định Câu chuyện thứ ba kể về gia đình ông Cậy – chủ một gia đình trước đây đã từng làm ăn rất phát đạt, bây giờ sa sút, thua lỗ, con cái phải tha hương khắp nơi Chính người kể chuyện với sự tài tình khéo léo của mình đã kết nối các sự
Trang 15kiện riêng rẽ ấy thành một mạch truyện thống nhất, liền mạch để làm nổi bật vấn đề
“anh hùng bĩ vận”
Với các cách kể khác nhau, cách tổ chức hệ thống sự kiện khác nhau, người
kể chuyện sẽ hình thành nên các dạng cốt truyện khác nhau: truyện tuyến tính, cốt truyện tâm lý, cốt truyện “chuyện lồng trong chuyện” Có tác phẩm chỉ có một người kể chuyện và cũng và cũng chỉ kể một câu chuyện (Đồng hào có ma – Nguyễn Công Hoan) Có tác phẩm chỉ có một người kể chuyện nhưng kể nhiều câu chuyện khác nhau (Đất kinh kỳ – Nguyễn Khải) Có tác phẩm trong đó nhiều người
kể chuyện cùng kể về một câu chuyện (Khách ở quê ra – Nguyễn Minh Châu) Cũng có tác phẩm trong đó nhiều người kể chuyện kể nhiều câu chuyện khác nhau (Người đàn bà trên chuyễn tàu tốc hành – Nguyễn Minh Châu)
Chức năng tổ chức tác phẩm của người kể chuyện còn được thể hiện ở cách
tạo nên kết cấu văn bản nghệ thuật Đó có thể là việc sắp xếp bố cục của trần thuật,
việc tạo nên độ lệch giữa phạm vi đầu cuối của trần thuật so với cốt truyện để tạo cho trần thuật những khả năng biểu hiện lớn (Chí phèo – Nam Cao) Đó cũng có thể
là việc lựa chọn kết hợp các thành phần trần thuật Trong Bà Bôvary, người kể chuyện bên cạnh việc sử dụng thành phần lời kể đã đưa vào rất nhiều lời miêu tả,
chẳng hạn đó là lời miêu tả ngoại hình nhân vật Saclơ: “Tóc hắn cắt dựng lên trên trán, như một tay hát lễ ở thôn quê, vẻ người phải chăng và rất lúng túng Tuy vai hắn không rộng, chiếc áo lễ lai vét bằng dạ màu be cài khuy chắc làm hắn khó chịu vì kích hẹp ” (Bà Bôvary- Flôbe – Trung Đức dịch – Nxb Văn học, 1980, tr.23)
Với cách miêu tả này, người kể chuyện đã chỉ ra những nét hài hước của Saclơ trước cuộc sống Saclơ vừa nghèo vừa chậm chạp, lố bịch nên mặc dù được nuôi dưỡng trong một gia đình có lối giáo dục tư sản với những khát vọng ngoi lên để dành một
địa vị trong xã hội thì anh ta vẫn luôn là người bất lực bị vùi dập và lấn át Đó còn là việc tổ chức điểm nhìn trần thuật Trong Vụ án (Kafka), người kể chuyện dứng ở
ngôi thứ ba từ bên ngoài nhưng lại nương theo điểm nhìn của nhân vật K để kể Người đọc bị lôi tuột vào nỗi hoảng sợ mơ hồ của K, vào cái mê cung không lối thoát, vào cái tòa án bẩn thỉu trên gác xép tầng 5, vào những quán trọ lố nhố người
và mùi bia rượu
Trang 16Tóm lại, người kể chuyện có vai trò rất lớn trong việc tổ chức kết cấu tác
phẩm Chính Timofev cũng khẳng định: “Hình tượng này có tầm quan trọng hết sức
to lớn trong việc xây dựng tác phẩm bởi các quan niệm, các biến cố xảy ra, cách
đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân người kể chuyện”
[46, tr.44]
1.2.2 Người kể chuyện với chức năng dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật của tác phẩm
Gorki khẳng định: “Trong tiểu thuyết, trong truyện ngắn, những con người
được tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả; tác giả luôn bên cạnh họ, tác giả mách cho người đọc hiểu rõ cần phải hiểu như thế nào, giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩa thầm kín, những động cơ bí ẩn ở phía sau những hành động của nhân vật được miêu tả” [48, tr.117] “Tác giả” mà Gorki nói đến ở
đây chính là người kể chuyện Bởi tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm nhưng tác giả không bao giờ xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà lại hư cấu ra người kể
chuyện để thay mặt mình dẫn dắt người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật
Trước hết, người kể là người môi giới, gợi mở, giúp người đọc tiếp cận với nhân vật, hiểu được những động cơ thầm kín trong những hành động của nhân vật,
rút ngắn khoảng cách giữa nhân vật với mình Trong Anna Karênina (Lep Tônxtôi), người kể chuyện đã vừa kể, vừa tả, vừa giải thích, bình luận giúp người
đọc hiểu rõ hơn về nhân vật Anna Mặc dù trong quan niệm của xã hội thượng lưu phong kiến Anna là một người phụ nữ sa đọa, đáng lên án nhưng trong cái nhìn của
người kể chuyện nàng là một người phụ nữ “đáng thương chứ không đáng tội”, một
phụ nữ đáng tôn trọng Để người đọc hiểu thêm, yêu mến thêm nhân vật Anna, người kể chuyện đã miêu tả nàng qua cái nhìn của nhiều nhân vật khác trong tác
phẩm Đối với Lêvin thì “Anna là người đàn bà tế nhị, cởi mở ngoài cái thông minh, duyên dáng, nàng còn là người thẳng thắn nữa” Với nữ công tước Oblonskaya, một người thẳng tính và sỗ sàng thì “Anna đã làm cái điều mà tất cả những người đàn bà, trừ tôi ra, đều là vụng trộm Chị ấy không muốn lừa dối và đã
xử sự tốt” Người kể chuyện cứ dắt dẫn, gợi mở và truyền đến cho người đọc một sự
cảm thông đối với số phận của Anna
Trang 17Không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn, sâu hơn về nhân vật mà người kể
chuyện còn hướng người đọc cùng suy ngẫm, chia sẻ và đồng cảm với những chiêm nghiệm, những suy nghĩ của mình về cuộc đời Đọc Chiếc áo khoác cuả Gôgon, qua
lời kể vừa mỉa mai, vừa thương cảm của người kể chuyện, người đọc cảm thấy xót
xa cho số phận nhỏ bé của người viên chức trong bộ máy quan liêu của nước Nga Hình ảnh chiếc áo khoác đã trở thành món ăn tinh thần, nó đã làm thay đổi cuộc
sống của bác Akaki Akakievits, nó làm cho “cuộc sống của bác có phần đầy đủ hơn Bác trở nên linh lợi hơn, cương quyết hơn” Chỉ một ước mơ rất nhỏ bé cũng đủ
soi sáng phần đời còn lại của con người tội nghiệp này Hay như đọc Biến dạng của Kafka, người đọc lại bị ám ảnh bởi thân phận cô đơn, bi đát, thân phận bị lưu đày của con người trong nền văn minh kĩ trị của xã hội hiện đại Grego Samsa bị lưu đày giữa thế gian, lưu đày trong cả gia đình mình bởi thái độ thờ ơ, lạnh nhạt của những người thân Bà mẹ luôn muốn đóng cửa phòng anh lại, em gái bưng chậu thức ăn cho anh, dùng vải lót tay, ông bố thì xua đuổi anh một cách tàn nhẫn tất cả mọi người đều muốn giũ bỏ anh, họ muốn giải thoát cho chính mình Khát khao dược trở
lại làm người của Samsa hoàn toàn bị cự tuyệt Và cuối cùng anh quyết định “biến mất”, quyết định giải thoát mình khỏi chốn lưu đày
Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, người kể chuyện thường kể những chuyện phi lý, phi lôgic, thường cố tình đưa vào trong câu chuyện mình kể những chi tiết mâu thuẫn với nhau, vênh nhau một cách lộ liễu để kích thích sự phản ứng của người đọc, buộc người đọc phải lên tiếng, phải đối thoại Trong Kiếm sắc, Đặng Phú Lân đã bị Gia Long chém chết bằng chính thanh bảo kiếm của mình Nhưng sau
đó người kể chuyện lại điềm nhiên kể: “Lân và Hoa trốn lên Đà Bắc, giả làm người Mường, về sau lại lập trại sinh con ở đấy lại trở thành tổ phụ của ông Quách Ngọc Minh” Trong truyện Phẩm tiết, người kể lại đưa ra kết thúc khác về số phận của Ngô Thị Vinh Hoa: “ ít lâu sau, ở vùng huyện lị Đà Bắc, người ta vớt được một xác phụ nữ quý tộc nổi trên sông, trên tay có bế một đứa bé còn sống Quan sở tại báo cáo cáo về triều đình Vua Gia Long cho người lên xem xét nhận ra người chết giống hệt Ngô Thị Vinh Hoa” Người kể chuyện đã đẩy người đọc vào những tình huống
Trang 18hỗn độn buộc người đọc không thể tin cậy hoàn toàn vào những lời anh ta kể mà phải tìm tòi để đưa ra một cách kiến giải của riêng mình
Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Khải là một người rất có ý thức trong việc lôi kéo người đọc cùng tham gia vào câu chuyện, buộc họ phải phản ứng Ngôn ngữ của người kể chứa nhiều đối thoại ngầm Trong Anh hùng bĩ vận, lời kể như là lời đối thoại của hai ý thức độc lập – người kể chuyện xưng tôi đã phân thân
để đối thoại với chính mình về nghề viết: “Anh viết chính trị quá, cao siêu quá, bạn
đọc sẽ khó mua Bạn đọc nào? Bạn đọc của tôi vẫn trung thành với tôi mà? Bạn đọc quen thuộc của anh đã tới tuổi về hưu rồi, đã về hưu tiền ăn còn chả đủ lấy đâu tiền mua sách” Có nhiều khi lời kể mang tính khiêu khích người đọc: “Này các bạn trẻ, các bạn chớ có vội cười, các bạn chớ có nghĩ một cách tự phụ rằng chỉ có lứa tuổi các bạn mới biết mãnh lực tình yêu Không nên chủ quan như thế! Các bà nội trợ cũng vẫn có, nếu như cái ma lực ấy các cụ không tiêu xài quá phung phí lúc thiếu thời” Không còn là các bạn đọc chung chung nữa, người kể chuyện hướng đích
danh tới các bạn trẻ buộc họ phải nhập cuộc, đồng tình hoặc phản đối
1.2.3 Người kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày những quan điểm về cuộc sống, nghệ thuật
Động lực của mỗi nhà văn đến với nghệ thuật có thể khác nhau thậm chí đối lập nhau Mặc dù vậy, tất cả những nhà văn chân chính đều gặp nhau ở một điểm là mong muốn thể hiện một quan niệm, một tư tưởng về cuộc sống, về con người Tuy nhiên khác các nhà tư tưởng, các nhà văn không trình bày tư tưởng của mình bằng những lời phát biểu trực tiếp mà trình bày một cách nghệ thuật thông qua các hình tượng do mình hư cấu nên trong đó có hình tượng người kể chuyện
Qua nhân vật người kể chuyện ta phần nào đó thấy được tư tưởng, quan niệm
về cuộc sống của nhà văn Trong tập Giamilia - Truyện núi đồi và thảo nguyên, qua thái độ, quan niệm của người kể chuyện xưng Tôi, ta thấy được tư tưởng của nhà văn Aimatop Trước hết đó là một thái độ phê phán quyết liệt đối với những hủ
tục lạc hậu của lối sống gia trưởng, lên án tư tưởng coi thường phụ nữ, coi “hạnh phúc người phụ nữ chỉ là sinh con đẻ cái, trong nhà dư dật” Gắn với thái độ lên án
những hủ tục lạc hậu đó, người kể chuyện trong tập truyện ngắn này còn bày tỏ một
Trang 19sự nâng niu, trân trọng, thông cảm đối với người phụ nữ Người kể chuyện trong truyện ngắn Giamalia đã bày tỏ một cách trực tiếp tình cảm của mình đối với người chị dâu, đã ca ngợi vẻ đẹp của chị, đồng cảm với việc chị dám vượt lên cuộc sống,
dám bước qua những tập tục “quái gở” để đi tìm hạnh phúc chân chính, đích thực
của mình Dù cho dân bản coi Giamalia là kẻ phản bội thì người kể chuyện vẫn
khẳng định: “có một mình tôi không chê trách Giamalia Tôi không phản bội chân
lý, chân lý của cuộc sống, chân lý của hai người đó” Sự đồng tình của người kể
chuyện đối với tình yêu của Giamalia cũng chính là tấm lòng nhân đạo của tác giả,
là tư tưởng tiến bộ của tác giả
Trong truyện ngắn của Lỗ Tấn, nhà văn đã thông qua nhân vật người kể chuyện để bày tỏ thái độ phê phán, phẫn nộ của mình đối với chế độ phong kiến ăn thịt người Trong Cố Hương, nhân vật người kể chuyện xưng tôi thể hiện thái độ
đau buồn vì xã hội thối nát đã làm vẩn đục tình cảm con người, tạo nên một bức
tường ngăn cách người vời người: “Tôi đã lớn tiếng yêu cầu xóa bỏ sự ngăn cách người lao động với trí thức, đạp đổ bức tường do chế độ phong kiến dựng lên”
Trong Nhật ký người điên, nhân vật người kể chuyện xưng tôi đã phê phán những
kẻ ăn thịt người; đã kêu gọi xã hội hãy “cứu lấy trẻ em”
Bên cạnh quạn niệm về cuộc sống, qua nhân vật người kể chuyện ta còn thấy quạn niệm của nhà văn về văn chương nghệ thuật Đọc truyện ngắn Nam Cao, nếu ta tập hợp những suy nghĩ của nhân vật người kể chuyện lại thì có thể thấy được quan niệm văn chương tương đối hoàn chỉnh, hệ thống và nhất quán của nhà văn Đó là
quan niệm về mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực: “Nghệ thuật không cần là
ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu
đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than” (Trăng sáng) Đó là quan niệm về tính sáng tạo độc đáo của văn chương nghệ thuật: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp
được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chua ai có” (Đời thừa) Người kể chuyện trong Những chuyện không muốn viết đã chế giễu những nhà văn a dua, chạy theo mốt thời thượng, “thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào” Và trong truyện ngắn Nhỏ nhen, cũng qua
Trang 20lời người kể chuyện, Nam Cao bộc lộ quan điểm coi trọng vai trò của chủ thể trong
sáng tạo văn học: “Nhà văn phải biết cách dùng những câu chuyện chẳng có gì để nói những cái sâu sắc”
Qua nhân vật Thuấn - người kể chuyện xưng Tôi trong Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp đã nói được cảm nhận của mình về bản chất của sự sáng tạo
nghệ thuật Thuần “cứ mơ hồ cảm thấy những nghệ sĩ trác tuyệt là những con người cô đơn khủng khiếp” Người kể chuyện trong Giọt máu cũng “mơ hồ hiểu rằng học
đòi văn chương là bước vào một cõi mà ở đấy không thể nương tựa vào bất cứ cái gì ngoài bản thân mình” Trong Đất kinh kỳ, Nguyễn Khải cũng đã gửi gắm một quan niệm khá sâu sắc về văn chương qua lời người kể chuyện: “Văn chương đâu phải là thứ để dành được ướp lạnh được, không dùng trước thì dùng sau hoặc dùng dần Nó
là sự sống mà lại là phần thiêng liêng mong manh dễ vỡ nhất của sự sống”
Từ sự phân tích trên ta có thể khẳng định: người kể chuyện là nhân tố tích cực trong việc tổ chức tác phẩm, dẫn dắt định hướng và khơi gợi khả năng đối thoại, tranh luận của người đọc Ngoài ra, người kể chuyện còn là một điểm tựa để tác giả bộc lộ những quan điểm của mình về cuộc sống, nghệ thuật Chính vì người kể chuyện có chức năng quan trọng đặc biệt như thế nên nhà văn khi sáng tác rất có ý thức trong việc lựa chọn cho mình một người kể chuyện thích hợp
1.3 Các tiêu chí để nhận diện người kể chuyện
1.3.1 Điểm nhìn kể chuyện
1.3.1.1 Khái niệm “điểm nhìn trần thuật”
Khi xây dựng tác phẩm văn học, có lẽ điều khó khăn và quan trọng đối với nhà văn là phải lựa chọn cho mình một chỗ đứng thích hợp, tức là điểm nhìn để kể chuyện Việc tìm chỗ đứng thích hợp là để xác lập cho người kể chuyện một điểm nhìn trần thuật để từ đó câu chuyện được bắt đầu Người kể chuyện chỉ có thể kể
được những điều họ cảm thấy, nghe thấy, nhìn thấy trong không gian, thời gian Việc gắn kết vấn đề điểm nhìn với vấn đề người kể chuyện là một việc làm vô cùng cần thiết
Điểm nhìn trần thuật là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sáng tạo văn học nói riêng và trong nghệ thuật tự sự nói chung Việc xác định điểm nhìn để tái hiện
Trang 21cuộc sống cũng giống như việc khai phá một con đường để đi vào khu rừng rậm Nếu xác định đúng sẽ tạo cho người đi cái thế nhìn xa, nhìn sâu, đưa họ đến cái đích cảm thụ tác phẩm mà nhà văn mong muốn
Một trong những tìm tòi đổi mới kỹ thuật viết tiểu thuyết hiện đại là việc tăng thêm các điểm nhìn trần thuật Hiện nay đang có nhiều quan niệm về nội hàm thuật
ngữ “điểm nhìn trần thuật” không chỉ trong giới nghiên cứu văn học thế giới mà
ngay cả trong giới nghiên cứu văn học Việt Nam Flubbock là một trong những
người đầu tiên chỉ ra mối liên hệ giữa người kể chuyện với điểm nhìn: “Tôi cho rằng mọi vấn đề rắc rối về phương pháp nghệ thuật sáng tác phụ thuộc vấn đề điểm nhìn – vấn đề thái độ của người kể chuyện đối với việc trần thuật” [81, tr.117] Từ xưa
tới nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về điểm nhìn M Bakhtin khi bàn về
tiểu thuyết Đôxtôiepxki đã xem điểm nhìn như là “cái lập trường mà xuất phát từ
đó câu chuyện được kể, hình tượng được miêu tả hay sự việc được thông báo” [49, tr.86] Theo Paul Rieour thì: “Khái niệm điểm nhìn đánh dấu điểm tột cùng của một
sự nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa sự phát ngôn và cái phát ngôn” Nên vấn đề điểm nhìn cũng được phân biệt rõ trong lời nói giao tiếp và trong truyện Theo P.G.S Nguyễn Thái Hòa : “Điểm nhìn của lời nói giao tiếp là tọa độ của hai trục: lơì nói hiển ngôn và hành vi giao tiếp và do thao tác suy ý người nhận có thể tiếp nhận được” [31, tr.88] Còn“điểm nhìn nghệ thuật trong truyện về cơ bản cũng
được suy ý từ văn bản và hành động kể chuyện, nhưng văn bản là hệ thống rất phức tạp gồm nhiều tầng bậc và hành động kể (phát ngôn) cũng thể hiện ở nhiều thủ pháp khác nhau Tuy vậy, đó là mối quan hệ giữa Người viết – Văn bản – Người nhận ở cả hai bậc hiển ngôn và hàm ẩn” [ 31, tr.95-96]
Giáo sư Phùng Văn Tửu quan niệm: “Điểm nhìn được xác nhận trong hệ đa phương không gian, thời gian tạo thành góc nhìn Điểm nhìn là kỹ thuật chọn chỗ
đứng để nhìn và kể” [103, tr.178] Trong Từ điển thuật ngữ văn học, điểm nhìn nghệ
thuật được coi là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người
Từ góc độ thi pháp học, tác giả Trần Đình Sử quan niệm: “Điểm nhìn văn bản là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giớ tính của tác giả Khái niệm điểm nhìn mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi
Trang 22nhận thức, đánh giá, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới, Nó là cái vị trí dùng để quan sát, cảm nhận đánh gía bao gồm cả khoảng cách chủ thể và khách thể, cả phương diện vật lý, tâm lý, văn hóa” [ 842,tr.149]
Như vậy điểm nhìn nghệ thuật chính là vị trí đứng để kể chuyện của người
kể Nó là một cấu trúc nghệ thuật hàm ẩn được người đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý thông qua các mối quan hệ người kể và cốt truyện, người kể với nhân vật, người kể và lời kể, người kể và người đọc hàm ẩn Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật Có được điểm nhìn, người kể chuyện dễ dàng giao tiếp với bạn đọc và người tiếp nhận có thể khám phá được những tầng nghĩa hàm ẩn trong tác phẩm Nghệ thuật tự sự thể hiện trước hết ở những nét đắc sắc trong việc sử dụng điểm nhìn tự sự của nhà văn Nếu vận dụng linh hoạt các điểm nhìn trần thuật sẽ góp phần tạo nên tính sinh động và sự hấp dẫn
đặc biệt cho tác phẩm
Nếu không có điểm nhìn sẽ không thể có nghệ thuật “Nghệ sĩ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện về đời sống được, nếu không xác định cho mình một
điểm nhìn đối với sự vật, hiện tượng: nhìn từ góc độ nào xa hay gần, cao hay thấp,
từ bên trong ra hay từ bên ngoài vào ” [45, tr.310] Điểm nhìn thể hiện sự chú ý,
quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật Chính giá trị của sáng tạo nghệ thuật đã góp phần đem lại cho người thưởng thức cái nhìn mới
mẻ về cuộc sống Điểm nhìn tạo nên sự đổi thay cho nghệ thuật Theo Iu Lốtman, vấn đề điểm nhìn văn bản bao giờ cũng là vấn đề quan hệ giữa người sáng tạo và sản
phẩm sáng tạo “Nó không chỉ là điểm nhìn thuần túy quang học như khái niệm tiêu
cự, tụ tiêu mà còn mang nội dung quan điểm, lập trường tư tưởng, tâm lý con người”
[82, tr.191] Điểm nhìn cấp cho văn bản sự định hướng nhất định về chủ thể, vị thế của tác giả Theo lời Ephim Đôbin thì lúc đầu L.Tônxtoi kể chuyện Phục sinh từ
điểm nhìn người trần thuật, bắt đầu từ kỳ nghỉ hè Nêkhliuđôp về thăm dì và gặp Maxlova, quyến rũ cô rồi bỏ rơi Việc trần thuật bằng phẳng, nhạt nhẽo, và tác giả quyết định thay đổi điểm nhìn, bắt đầu từ bi kịch của Maxlova, từ nạn nhân, dưới con mắt Nêkhliuđôp, kẻ gây ra sự lỡ làng cho cô gái Sự việc được hồi tưởng trong cái nhìn mổ xẻ, hối hận Tội ác và trừng phạt cuả Đôtxtoiepxki, Lâu đài của
Trang 23Kapfka lúc đầu được kể bằng ngôi thứ nhất, sau suy tính lại, nhà văn chuyển sang ngôi thứ ba Những ví dụ này cho thấy điểm nhìn giúp nhà văn sắp xếp bố cục, phát triển nội dung câu chuyện gắn với tư tưởng của nhà văn
Như vậy, nhà văn muốn phản ánh được thế giới quanh mình thì phải tạo cho mình một chỗ đứng, một điểm nhìn để từ đó quan sát và phản ánh V.E Khalidev
cho rằng: “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật, hay nói cách khác là điểm nhìn của người trần thuật với những gì mà anh ta miêu tả” [88, tr.50] Điều đó chứng tỏ điểm nhìn có tính chất
quyết định thành công của tác giả đối với đứa con tinh thần của mình Điểm nhìn chi phối cách tư duy, sự nhạy bén và chiều sâu tư tưởng của nhà văn với cuộc đời Điểm nhìn chi phối cảm hứng sáng tác và bộc lộ cá tính sáng tạo của nhà văn Chọn được
điểm nhìn thích hợp nhà văn sẽ tạo được cho mình ấn tượng riêng, độc đáo trong từng trang viết, làm nên phong cách không thể trộn lẫn với bất cứ một phong cách nào
1.3.1.2 Các kiểu “điểm nhìn trần thuật”
Bản chất của khái niệm điểm nhìn là sự phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể ngôn từ, tức người kể chuyện và khách thể ngôn từ là đối tượng được kể lại Nó là một vấn đề khá phức tạp Trước đây, người ta thường chú ý tới ngôi trần thuật, nhưng đó chỉ là một biểu hiện ngữ pháp Điểm nhìn nghệ thuật tuy gắn bó trực tiếp với ngôi kể nhưng rộng hơn ngôi kể Vì có trường hợp truyện kể theo ngôi thứ ba, nhưng nhiều khi ngôi thứ ba kết hợp với điểm nhìn của nhân vật Ví dụ trong đoạn
trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du) điểm nhìn thể hiện trong từ ngữ: người, kẻ là điểm nhìn bên ngoài, còn muôn dặm một mình, in gối chiếc, soi dặm trường là điểm nhìn bên trong của Thúy Kiều Do đó, vấn đề người
kể chuyện chỉ có thể tìm hiểu thấu đáo khi gắn với điểm nhìn Xung quanh vấn đề
điểm nhìn đã có rất nhiều ý kiến bàn luận Có người cho rằng khái niệm điểm nhìn
quá rộng, quá chung đã đề xuất khái niệm nhãn quan (vision), có người đề nghị dùng khái niệm điểm quan sát (post of observation), có người lại muốn dùng khái niệm tiêu cự trần thuật (focus of narrative) Theo giáo sư Trần Đình Sử: “Khái niệm điểm nhìn dễ hiểu hơn và nội dung phong phú hơn” [ 82, tr.191]
Trang 24Tuy có các ý kiến khác nhau nhưng hầu hết các ý kiến đều thống nhất với nhau ở chỗ xem điểm nhìn của người kể chuyện chính là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của anh ta Nói tới
điểm nhìn của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, ta thường nói tới mấy loại
điểm nhìn sau
Thứ nhất là hình thức điểm nhìn biết hết Trong trường hợp này, người kể
chuyện là người thông tuệ, có khả năng am hiểu hoàn toàn về thế giới mình kể, am hiểu cả hành động bên ngoài lẫn nội tâm bên trong của nhân vật Người kể chuyện luôn biết nhiều hơn và nói nhiều hơn bất cứ nhân vật nào trong tác phẩm Người kể chuyện trong văn học trung đại thường kể theo hình thức này Người kể chuyện thường giống như một vị thần, có khả năng thấy nhân vật làm, nghe nhân vật nói, hiểu hết mọi điều nhân vật nghĩ, theo dõi đầy đủ những đoạn đường, những đoạn rẽ ngoặt của nhân vật Với cái nhìn thông suốt đó, người kể chuyện kể lại với một thái
độ khách quan, trung tính: “Triều Lê Trang tông Dụ Hoàng đế trung hưng cơ nghiệp
ở sông Tất Mã Bấy giờ Thế Tổ Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm làm phụ chính, giúp vua dẹp yên được đảng họ Mạc và trở lại Kinh đô cũ rồi từ đó họ Trịnh đời đời
kế tiếp tước Vương, nắm giữ hết quyện bính trong tay, hoàng gia mỗi ngày một suy yếu dần.” (Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô Gia Văn Phái) Và hình thức người kể
chuyện này tiếp tục được các nhà văn hiện đại sử dụng để kể chuyện Lép Tônxtôi khi mới đặt bút viết Cái chết của Ivan Ilich nhà văn có ý định sử dụng theo cách kể của một viên chức trong tay anh ta có cuốn nhật ký của Ivan Ilich Sau đó ông đã quyết định kể lại câu chuyện theo điểm nhìn biết hết của người kể chuyện từ ngôi
thứ ba Trong thư gửi con gái, ông đã nhấn mạnh: “Cần phải viết từ điểm nhìn biết hết của ngôi thứ ba, nếu không sẽ bị lúng túng” [50, tr.168] Với Lép Tônxtôi, nghệ
thuật là sự chọn lựa các khả năng thay thế và trong sự lựa chọn đầy khổ cực ấy có sự lựa chọn điểm nhìn kể chuyện Trong tác phẩm này, người kể không xuất đầu lộ diện, anh ta dường như đứng trên tất cả các mối quan hệ của nhân vật để ghi lại một cách chi tiết, tỉ mỉ về những buồn vui, sướng khổ, suy tư của Ivan Ilich Kết thúc
tác phẩm, người kể chuyện đã bày tỏ sự đánh giá của mình: “Câu chuyện về cuộc
Trang 25đời đã qua của Ivan Ilich là câu chuyện đơn giản nhất, bình thường nhất và khủng khiếp nhất”
Thứ hai là hình thức điểm nhìn bên trong, người kể chuyện hạn chế điểm nhìn của mình vào điểm nhìn của nhân vật Anh ta thâm nhập vào cảm xúc, suy nghĩ, ấn
tượng của nhân vật, nhìn thế giới theo con mắt của nhân vật Với điểm nhìn này, người kể chuyện có khả năng thâm nhập sâu vào đời sống bên trong của nhân vật, có thể biết được nhân vật đang nghĩ gì, sự hiểu biết của người kể chuyện hoàn toàn bằng với sự hiểu biết của nhân vật Kể chuyện theo điểm nhìn bên trong thường có hai dạng biểu hiện cơ bản:
Dạng biểu hiện thứ nhất là người kể chuyện xưng Tôi, tự thú nhận, bộc bạch chuyện của mình, kể về những tâm trạng, cảm giác mà mình đã nếm trải Toàn bộ
tác phẩm Người tình của M.Duras là những hồi ức của nhân vật Tôi về người tình
của mình – một chàng trai Trung Hoa Có thể nói, chỉ dưới hình thức người kể
chuyện xưng tôi, tự bạch, tự phô diễn phần sâu thẳm của tâm hồn mình, Người tình mới có thể có lời nói tối hậu về con người, mới có thể “khám phá con người trong con ngươì” Đọc tác phẩm Cát đợi của Nguyễn Thị Thu Huệ ta bắt gặp người kể
chuyện xưng tôi đang giãi bày về tâm trạng đợi chờ người yêu một cách tuyệt vọng của mình Nguyễn Thị Thu Huệ đã khai thác triệt để điểm nhìn bên trong để phô bày, bộc bạch những gì sâu thẳm nhất của đời sống tâm hồn Đó là những trạng thái cảm xúc hạnh phúc và đau khổ, hi vọng và thất vọng, những đam mê và rụt rè, những hành động có ý thức và cả những ám ảnh vô thức của nhân vật Tôi Người
đọc cũng như bị lôi cuốn vào những đợt sóng tình cảm của nhân vật Chính bằng việc sử dụng điểm nhìn bên trong của nhân vật Tôi để kể chuyện, nhà văn đã tạo nên
ở người đọc ảo tưởng về tính chân thật của câu chuyện vì họ cứ nghĩ đây chính là lời thú nhận của chính người trong cuộc
Một dạng biểu hiện nữa của người kể chuyện theo điểm nhìn bên trong là người kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba từ bên ngoài nhưng lại tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể Trong tác phẩm Chân dung một nghệ sĩ thời trẻ, Jemes Joào cũng sử dụng hình thức kể chuyện này Người kể chuyện đã nhập vai vào nhân vật Stephen, nhập vào cảm xúc, hồi tưởng, suy nghĩ của nhân vật, nhìn nhận thế giới theo những
Trang 26cảm nhận của nhân vật và thuật lại bằng chính giọng điệu của nó Cách di chuyển
điểm nhìn vào bên trong này được tiến hành một cách hết sức tự nhiên và linh hoạt Câu trước vừa là giọng điệu khách quan của người kể chuyện ở ngôi thứ ba, câu sau
đã chuyển sang điểm nhìn bên trong của chính nhân vật: “ Mẹ nó đã dặn nó không
được nói chuyện với những đứa học trò thô lỗ ở trường Mẹ thật tuyệt vời!” “Nó làm như là không thấy mẹ nó đang khóc Mẹ là một người đẹp tuyệt vời nhưng mẹ không đẹp khi mẹ khóc” Rõ ràng hai câu đầu trong hai dẫn chứng kể trên là lời của
người kể chuyện nhưng hai câu sau lại là của chính nhân vật Stephen Khoảng cách giữa người kể chuyện với nhân vật luôn bị thu hẹp đến mức nhân vật được trải lòng mình ra trực tiếp Người đọc có thể cảm nhận được những rung cảm tinh tế nhất, mơ
hồ nhất trong cõi lòng nhân vật Chính vì thế chân dung Stephen hiện lên toàn diện hơn, chân thực hơn
Thứ ba là hình thức điểm nhìn bên ngoài Trong trường hợp này, người kể
chuyện hoàn toàn xa lạ với thế giới mà anh ta kể lại; anh ta chỉ là người ngoài cuộc
và chỉ có thể kể về những hành động, lời nói thể hiện ra bên ngoài của nhân vật chứ
không có khả năng am hiểu đời sống nội tâm bên trong của chúng Truyện Rặng đồi tựa đàn voi trắng (Hêminhwây) được kể theo điểm nhìn này Sự tham gia của người
kể chuyện vào truyện là cực nhỏ Anh ta thuân tuý chỉ là người quan sát và ghi lại cuộc đối thoại của hai nhân vật: Một người đàn ông Mĩ và một cô gái chứ không có một lời giải thích, bình luận nào Nhân vật hoạt động trước mắt mà người kể chuyện
không bao giờ biết được tư tưởng, tình cảm của họ “ Nó tối tăm như một câu đố”
[38] Trong truyện Mười một người con trai của Kafka, người kể chuyện quan sát
và kể lại những điều mà mình thấy chứ không bộc lộ thái độ chủ quan gì, nếu có thì
cũng chỉ là những chi tiết rất nhỏ: “Thực ra tôi hạnh phúc vì có được đứa con như thế”; “Mặc dù tự hào về mười một người con như vậy nhưng tôi vẫn muốn giữ kín nó” Những lời bình luận, đánh giá hiếm hoi này không đủ để ta hiểu gì hay đánh
giá về thái độ của người kể chuyện Có lẽ chính vì điểm nhìn bên ngoài này mà đọc truyện Kafka ta thường có cảm giác người kể chuyện rất mờ nhạt và dường như vắng bóng
Trang 27Sự phân biệt trên đây chỉ hoàn toàn có ý nghĩa tương đối Hầu như không có tác phẩm nào chỉ sử dụng điểm nhìn bên trong hoặc bên ngoài từ đầu đến cuối mà thông thường các tác giả thường phối hợp các điểm nhìn với nhau Vấn đề là ở tác phẩm này thì điểm nhìn bên trong đóng vai trò chủ đạo còn ở tác phẩm kia lại là
điểm nhìn bên ngoài hoặc là điểm nhìn biết hết
Đình Sử cũng đã phân biệt rất rõ giữa ngôn ngữ người kể chuyện - lời gián tiếp với
ngôn ngữ các nhân vật khác - lời trực tiếp: “Lời gián tiếp là lời văn đảm đương chức năng trần thuật, giới thiệu miêu tả, bình luận của con người và sự kiện, phân biệt với lời trực tiếp được đặt trong ngoặc kép hoặc sau gạch đầu dòng” Từ các ý kiến
trên ta có thể hiểu: Ngôn ngữ kể chuyện là phương tiện cơ bản dùng để kể chuyện,
miêu tả và bình giá của ngôn ngữ kể chuyện là rất lớn, nó “không chỉ tái hiện cái
được kể mà còn tái hiện người kể”, nó “mang dấu ấn về cách cảm thụ thế giới và cuối cùng là mang tư chất trí tuệ và tình cảm của người kể chuyện, mang tính cách của anh ta” Nói đến ngôn ngữ kể chuyện ta thường nói đến ba thành phần cơ bản:
lời kể, lời miêu tả và lời bình luận
Thứ nhất là thành phần lời kể Lời kể trong tác phẩm F Kafka mang tính
trung hòa, vô âm sắc Đó có thể là lời kể về một sự biến hóa dị thường: “Một sáng tỉnh giấc băn khoăn, Gregor Samsa nằm trên giường thấy mình biến thành một con côn trùng khổng lồ” (Hóa thân) Đó cũng có thể là lời kể về một vết thương khủng khiếp: “ Máu đỏ tươi luôn luôn thay đổi hình dạng đen ngòm ở dưới đáy, sáng hơn khi ở quanh miệng những hạt máu đỏ mịn, xen lẫn với những cục máu đen dị thường bày ra trông như thể miệng của một hầm mỏ trong ánh sáng ban ngày” (Một thầy
thuốc nông thôn) Người kể chuyện không hề để lộ một xúc cảm nào qua lời kể Kafka đã triệt tiêu trong truyện ngắn của mình các tính từ biểu đạt cảm xúc Tần số xuất hiện các tính từ trong tác phẩm của ông rất ít, nếu có thì cũng chỉ là các từ ở độ
Trang 28trung tính như “băn khoăn”, “khắc khoải”, cao hơn nữa là “day dứt”, “buồn bực” Lời kể mang tính trung hòa, vô âm sắc này là một phương tiện rất hữu hiệu để
thể hiện tư tưởng của người kể chuyện về một thế giới hỗn loạn, cái quái dị xen lẫn với cái bình thường
Đọc truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, người đọc bắt gặp một lối sử dụng ngôn ngữ kể chuyện rất giản dị thân mật, suồng sã của đời thường Đó là ngôn ngữ của đám học trò, của người trẻ tuổi Các từ ngữ dùng để xưng hô không còn mang tính trang trọng, cung kính nữa mà rất suồng sã Người kể chuyện trong vai một đứa
học trò có thể gọi cô giáo là bà thầy; “Cho bà thầy dạy Anh văn để hòn non bộ”
(Hội chợ) Tính chất đời thường, giản dị của lời kể trong truyện Phan Thị Vàng Anh còn thể hiện ở việc người kể chuyện đã đưa vào nhiều ngôn ngữ nược ngoài như
tiếng Anh, tiếng Pháp “Anh ấy không giám dùng từ Cafe”(Hội chợ) “Tôi đặt lên bàn, giữa sách vở, cassette” ( Khi người ta trẻ) Chính qua ngôn ngữ kể chuyện
này ta hình dung được gương mặt người kể chuyện- một con người trẻ trung, gần gũi, cập nhật với đời sống đương thời đặc biệt là đời sống lớp trẻ
Thành phần thứ hai của ngôn ngữ kể chuyện là lời miêu tả Đó có thể là những lời miêu tả thiên nhiên Đọc Epghenhi Ônhighin của Puskin ta thấy người
kể chuyện đã miêu tả một cách nên thơ sống động thiên nhiên Nga, đã khám phá thấy cái đẹp trong những cảnh bình thường nhất, đơn sơ nhất, chân thật của nó Đó
là cảnh một buổi sáng mùa đông với con đường tuyết phủ, bầu trời trong xanh, cảnh mùa xuân với những lộc non vừa mới nhú, những con ong đầu tiên bay đi tìm mật Trong Chiến tranh và hòa bình ( Lép Tonxtoi), qua những lời miêu tả của người kể chuyện ta thấy thiên nhiên hiện lên như một nhân vật sống Hầu như mỗi nhân vật trong tác phẩm đều được người kể chuyển dành riêng cho một bầu trời Bầu trời Auxtecslit mênh mông, thăm thẳm của Andray; bầu trời Ôtratnoie ngập tràn ánh trăng của Natas; bầu trời có ngôi sao chổi rực rỡ của Pie; Bầu trời trong trẻo huyền
ảo và đầy tiếng nhạc của Pêchia Bầu trời đã thực sự trở thành biểu tượng cho một cái gì cao cả, vĩnh hằng mà các nhân vật này khao khát vươn tới
Bên cạnh lời miêu tả thiên nhiên, ta còn phải kể tới những lời miêu tả về nhân vật thường nhấn mạnh hoặc lặp đi lặp lại một chi tiết bên ngoài để làm nổi bật cá
Trang 29tính của họ Đó là “cái nhìn uể oải và chán nản” của Andray ở phòng khách nhà See, là “nụ cười lịch thiệp một cách giả tạo” của Napoleong, là “đôi mắt to và sáng” của Maria, là “ hàng lông tơ trên môi hơi ngắn”của Lida Ai đã từng đọc Người
trong bao của Sêkhop chắc cũng sẽ không thể nào quên được những lời người kể chuyện miêu tả nhân vật Biêlicop Ngày nào cũng như ngày nào, dù mưa hay nắng,
“lão cũng đeo kính đen, mặc áo bành to bẻ cổ lên, đi giày cao su ra ngoài giày thường được để nơi ẩm ướt, nhét bông vào tai, che ô ”.Tất cả đồ dùng của lão, từ
lớn chí nhỏ đều được đựng trong những cái bao Biêlicop muốn lấy vợ nhưng rồi lão
lại lo sợ đến nỗi “gầy rộc đi, xanh xao vàng vọt Sau khi lão chết, nằm trong quan tài, lão có vẻ mặt hiền lành, dịu dàng có thể nói còn tươi tỉnh nữa,như là lão lấy làm thỏa dạ vì cuối cùng, người ta đã đặt lão vào một cái bao” Thông qua những lời
miêu tả này, người kể chuyện đã xây dựng được một hình tượng thể hiện tính trì trệ, tâm lí sợ hãi cái mới, muốn đóng khung cuộc sống của mình trong một hình thức
chết cứng là “cái bao”
Thành phần thứ ba là lời phân tích, bình luận của người kể chuyện Với bộ phận ngôn ngữ này, người kể chuyện có thể trực tiếp bộc lộ những tư tưởng, tình cảm, quan niệm của mình đối với cuộc sống và nhân vật Đọc Những linh hồn chết của Gogon ta thấy thành phần bình luận, đánh giá cũng xuất hiện với tần số khá cao Người kể chuyện dù là đang kể hay tả thì cũng thường dừng lại để bình luận, để trực tiếp bày tỏ sự đánh giá của mình về nhiều vấn đề khác nhau: từ thói quỵ lụy cấp bậc
đến cách đặt biệt hiệu, từ những kỉ niệm thời niên thiếu đến những suy nghĩ về hai loại nhà văn, từ số phận của nông nô Nga đến hình ảnh tươi mát của chiếc vườn hoang, từ tiếng hát dân gian đầy sức quyến rũ cho đến hình ảnh chiếc xe tam mã tượng trưng cho nước Nga Qua những lời trữ tình ngoại đề ta cảm nhận được khá sâu sắc sự cảm thông đối với nhân dân Nga, sự mỉa mai, lên án đối với những cái xấu xa đáng kinh tởm của chế độ nông nô và niềm tin tưởng, hi vọng vào một tương lai tươi sáng, tốt đẹp của người kể chuyện
Ba thành phần lời kể, lời miêu tả và lời phân tích, bình luận trong ngôn ngữ
kể chuyện không tách rời nhau mà hài hòa với nhau bổ sung cho nhau, cùng góp phần tăng thêm sự hấp dẫn cho câu chuyện được kể
Trang 301.3.3 Giọng điệu kể chuyện
Trong đời sống hàng ngày, giọng điệu được hiểu là giọng nói, lối nói biểu thị một thái độ nhất định Giọng điệu thường phản ánh rất rõ tâm trạng, thái độ của người nói Khi vui, giọng điệu thường vang, rõ; khi buồn, giọng điệu thường lắng xuống, thấp xuống Giọng điệu nghệ thuật bắt nguồn và có liên quan mật thiết với giọng điệu đời sống Giọng điệu biểu thị cảm xúc, tư thế của người nghệ sĩ để nhận diện người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, ta không thể không căn cứ vào giọng
điệu kể chuyện Nói đến giọng điệu người kể chuyện là nói đến “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của người kể chuyện thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm ” Có nhiều yếu tố làm nên giọng
điệu của người kể chuyện trong đó yếu tố quan trọng mang tính quyết định chính là cảm hứng chủ đạo của anh ta Chẳng hạn trong các tác phẩm đậm chất sử thi như
Đất nước đứng lên (Nguyễn Ngọc), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi) ta bắt gặp một giọng điệu kể chuyện là cao cả, trang trọng vì cảm hứng của người kể chuyện là hướng về cái cao cả Ngược lại, trong một số tác phẩm văn học hiện thực trước 1945 như Mất cái ví (Nguyễn Công Hoan), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng) do người kể chuyện có cảm hứng chính luận phê phán, bất mãn với thực tại nên anh ta sẽ chọn cho mình một giọng điệu mỉa mai, tố cáo Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà ta có những cách phân loại giọng điệu kể chuyện khác nhau, nếu phân chia theo sắc thái tình cảm, ta có giọng trang trọng hay thân mật, mạnh mẽ hay yếu ớt, tha thiết hay gay gắt Nếu phân chia theo sắc thái thẩm mĩ, ta có giọng bi hay hài, trữ tình hay châm biếm Nếu phân theo khuynh hướng tình cảm ta lại có giọng thương cảm hay lên án, phê phán hay ngợi ca Các bình diện trên đây không tách rời nhau, vì vậy hệ thống giọng điệu kể chuyện của tác phẩm có thể hết sức đa dạng và phức tạp ở đây chúng tôi chỉ điểm qua một số giọng điệu kể chuyện quen thuộc mà ta thường gặp
Trước hết là giọng triết lí, suy ngẫm Đọc truyện ngắn Sêkhôp, ta thấy giọng
điệu kể chuyện này chiếm vai trò chủ đạo Người kể chuyện hướng cái nhìn của mình tới những con người bình thường trong nếp sống bình thường, thông qua
những chuyện vụn vặt của những con người bình thường- những con người “ không
Trang 31lên Bắc Cực để đánh nhau với hải cẩu mà ở nhà để ăn súp bắp cải và cãi nhau với vợ”, người kể chuyện đã suy ngẫm và khám phá ra “tính bi kịch vĩnh cửu của đời sống”, đã triết lí về những vấn đề to lớn của nhân sinh Đó có thể là triết lí về nỗi khổ ở đời: “ Không kiếm đủ cơm ăn- cái khổ cũng do đấy mà ra Một người mà cả người cả ngựa đều no bụng thì chẳng có điều gì làm cho người đó lo nghĩ.” (Nỗi nhớ) Đó có thể là triết lí về lẽ công bằng: “Nói đến chuyện công lí, há chẳng buồn cười lắm sao khi mà mọi sự cưỡng bức đều được xã hội coi như sự tất yếu, phải chăng và hợp lý Sự công bằng thời nay là ở chỗ người ta dùng chức vụ huân chương không phải để thưởng cho đức hạnh mà để cho người làm việc nhà nước nói chung, bất kỳ làm việc như thế nào” (Phòng số 6) Bên cạnh triết lý về cuộc đời, giọng điệu triết lý của người kể chuyện còn được thể hiện qua những lời triết lý về con người: “
Có những người bao giờ cũng chỉ nói những lời nói thông minh và tốt lành nhưng người ta vẫn cảm thấy đó là kẻ đần độn” ( Phòng số 6) “Rõ ràng là kẻ hạnh phúc cảm thấy mình sung sướng chỉ vì tin rằng những người bất hạnh đã im lặng chịu
đựng gánh nặng đè lên đầu lên cổ mình, không có sự im lặng ấy thì không thể có hạnh phúc cho người kia” Chính giọng triết lý của người kể chuyện đã khiến cho
tác phẩm của Sêkhop đi vào lòng người đọc buộc họ phải cùng suy nghĩ, cùng thao thức với những vấn đề mà người kể chuyện đặt ra trong tác phẩm
Giọng điệu kể chuyện mang tính trải nghiệm, da diết cũng thường được các nhà văn sử dụng để góp phần làm cho câu chuyện thêm phần sâu sắc, chân thực Người kể chuyện trong truyện ngắn sau năm 1975 của Nguyễn Khải thường kể chuyện bằng giọng điệu này Xuyên suốt truyện ngắn Cái thời lãng mạn là những suy tư của người kể chuyện về những sai lầm ấu trĩ mà bản thân mình đã từng nếm
trải: “Mới biết thời thế đã đổi thay một đời người ngắn ngủi Đã ngắn lại còn những giấc mộng háo huyền, những tham vọng vớ vẩn, những việc làm vô ích và buồn cười” Trong truyện Hai ông già ở đồng Tháp Mười, từ cuộc đời thăng trầm chìm
nổi của hai ông già, người kể chuyện đã khái quát về cái được mất của đời người: “
Tới lúc bị đẩy xuống vực mới biết thế nào cái mặn chát của một kiếp người khắc nghiệt đến cùng nhưng không phải không có cái bao dung Mỗi lần bưng bát cơm
Trang 32ăn, nước mắt lại muốn ứa ra vì cái khắc nghiệt của đời người cũng có mà cái bao dung đời người cũng có” Chính bằng giọng điệu trải nghiệm cá nhân chứa đầy nỗi
niềm suy tư, người kể chuyện như kéo người đọc lại gần để tâm sự giãi bày Mỗi người đọc dường như cũng tìm được sự đồng điệu bởi những cảnh ngộ, tâm trạng mà người kể chuyện đã nếm trải Chính vì thế mối quan hệ giữa người kể chuyện và người đọc trở nên bình đẳng hơn, dân chủ hơn
Một loại giọng điệu kể chuyện khá quen thuộc nữa mà chúng tôi muốn đề cập đến ở đây là giọng giễu nhại Loại giọng này xuất hiện khá nhiều trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 mà tiêu biểu là trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
Trong Chút thoáng Xuân Hương, người kể chuyện đã đưa ra quan điểm: “ Trong cõi nhân gian, mọi sự nghiêm chỉnh cũng là khôi hài nên có cơ hội phải cười ngay”
Chính vì thế, dù đã cố gắng giữ một thái độ khách quan, bình thản nhưng nhiều khi người kể chuyện vẫn không giấu được sự giễu nhại, khôi hài Vấn đề thế giới quan
của một con người được người kể chuyện kể lại: “ Hắn bắt một con thạch sùng rồi
để lên bàn Hắn trình bày thế giới bằng cách miêu tả con thạch sùng ấy Thượng tầng kiến trúc là đầu, hạ tầng cơ sở là chân, khúc đuôi là đạo đức Hắn cho rằng
đạo đức rụng rồi lại mọc, đạo đức có thể ngoe nguẩy một mình, còn toàn bộ sự sống chuồn mất ” (Mưa) Bằng giọng điệu giễu nhại này, người kể chuyện đã bóc trần những cái lố bịch, những thói đạo đúc giả của con người: “Hàng tháng, Hạnh trả cho ông chú họ một khoản tiền nhà Khoản tiền này cứ tăng lên bất chấp sự cố gắng cải thiện tình cảm ruột rà mà y cố công vun đắp Ông chú họ xử thế với y khá là giản dị theo tinh thần câu ngạn ngữ “đã quen phải lèn cho đau” (Huyền thoại
phố phường) Qua giọng giễu nhại này ta có thể thấy người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một người sắc sảo, cá tính, không chấp nhận các quy
phạm cứng nhắc: một con người “vừa trải đời, vừa chán đời và không còn hi vọng
dễ dãi vào đời” (Vương Trí Nhàn)
Tóm lại, giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của nhân vật người kể chuyện trong tác phẩm tụ sự Giọng điệu kể chuyện là chỗ dựa quan trọng để các yếu tố của tác phẩm qui tụ lại và định hình, thống nhất với nhau trong một âm hưởng chung, một khuynh hướng chung
Trang 33chương 2 người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết NGuyễn khải thời kỳ đổi mới
2.1 Sự chuyển biến của người kể chuyện giai đoạn trước và sau thời kỳ đổi mới trong tiểu thuyết Nguyễn Khải
Nguyễn Khải tự chia sáng tác của mình thành hai thời kỳ lớn: “Từ năm 1955
đến năm 1977, tôi sáng tác theo một cách Từ năm 1978 đến nay, sáng tác theo một cách khác Càng về sau càng cố thích hợp với những vận động của xã hội” [39]
Điều này cũng đúng với những sáng tác tiểu thuyết của ông mặc dù từ năm1974 đến năm 1978 ông không xuất bản tiểu thuyết mà tập trung cho các thể loại khác Sự vận
động của người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải gắn với sự vận động của sáng tác Nguyễn Khải nói chung ở mỗi thời kỳ, người kể chuyện lại tập trung chú ý
vào những vấn đề phù hợp với những yêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống trong thời kỳ đó
2.1.1 Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải trước thời kỳ đổi mới
Những năm đầu của công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cùng đề cập đến sự kiện sửa sai cải cách ruộng đất có một loạt tác phẩm như: Những ngày bão táp của Hữu Mai, Thôn Bầu thắc mắc của Sao Mai, Sắp cưới của Vũ Bão, Ông lão hàng xóm của Kim Lân… , nhưng khi Xung đột xuất hiện
người đọc mới thấy hết tính chất quyết liệt, căng thẳng, thậm chí có thể “một mất một còn” của cuộc đấu tranh giai cấp ở một vùng đạo gốc thuộc một huyện ven biển
tỉnh Nam Định Người kể chuyện trong tác phẩm đã phản ánh một cách đúng đắn và sâu sắc cái hiện thực chằng chịt mâu thuẫn của nông thôn miền Bắc sau những xáo lộn của cải cách ruộng đất Và từ trên cái nền hiện thức ấy xuất hiện những cán bộn nhạy bén, quyết đoán, đủ sức đương đầu với những thế lực thù địch, mượn áo thầy tu
điên cuồng chống phá cách mạng Đại biểu xứng đáng nhất cho lớp cán bộ này là Môn (chủ tịch xã) bên cạnh những nhân vật khác như Nhàn, Tụy và sau đó là Tùng
Họ là những mẫu nhân vật đáp ứng rất tốt các yêu cầu của cuộc đấu tranh chính trị lúc bấy giờ, được người kể chuyện xây dựng dựa trên những dữ kiện có thật - Không
Trang 34phải vô cớ mà Nguyển Khải chỉ coi đây là tập “ghi chép” với lý do “những nhân vật trong đó chưa phát triển hết, chưa bộc lộ hết tính cách, chưa đủ để có một kết luận dứt khoát” [112,tr.154] – Bằng sự nhạy cảm của một nghệ sĩ khát khao đi tìm hiểu
sự thật lòng người, người kể chuyện trong Xung đột lặn ngụp vào trong mớ bùng nhùng của những sự kiện, sự việc để lần ra cái sợi dây bí ẩn đã cột chặt người dân xứ
Hỗ với nhà thờ, kể cả với những cán bộ kiên trung nhất ở đây có một sự thật mà người kể chuyện đã tiên cảm được là tận đáy sâu tâm hồn con người, ở trong cõi tâm linh vẫn luôn ngự trị niềm tin vào một tôn giáo đích thực Vì vậy phải làm sao đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng lành mạnh của con người khi cái môi trường tín ngưỡng đã
bị bọn cha cố phản động làm vẩn đục Còn người dân ở đấy “họ sống theo bản năng, theo thói quen, theo các nền nếp đã được định sẵn từ ngày khai hoang lập ấp” [112,
tr.130] Sự ngu dốt, mê muội biến họ thành những con chiên mù quáng Bọn phản
động khoác áo cha cố đã lợi dụng niềm mù quáng này để dụ dỗ, kích động họ thành
những kẻ cuồng tín sãn sàng “ tử vì đạo” để dùng làm công cụ phục vụ cho những
ẩm mưu thâm độc của chúng Chính vì vậy mà vấn đề nhức nhối tác phẩm đặt ra là
phải bằng mọi cách “ kéo họ từ dưới đáy vực sâu thăm thẳm của sự ngu dốt, mê muội, đưa họ lên trên mặt đất để nhìn mọi vật dưới ánh sáng thực của ban ngày”
[112, tr.131], hay nói cách khác là cần phải giải phóng họ ra khỏi những mê muội tôn giáo, phục chế tâm hồn cho con người Sự phát hiện của người kể chuyện về vấn
đề con người và đề xuất các biện pháp hữu hiệu để phục chế tâm hồn con người không chỉ là vấn đề thời sự đặt ra đối với một vùng nông thôn công giáo trong những năm đầu đi lên chủ nghĩa xã hội, mà còn thấm nhuần một chủ nghĩa nhân đạo tích cực mang ý nghĩa triết học và đạo đức nhân sinh sâu sắc
Bên cạnh đó Xung đột còn đặt ra một số vấn đề phụ như vấn đề đoàn kết trong nội bộ lãnh đạo, sự suy thoái cuả một bộ phận cán bộ đảng viên, những biểu
hiện của tư tưởng công thần và sự “dài tay” khuynh loát tập thể của người lãnh đạo
chủ chốt Ngay như Môn được người kể chuyện coi là nhân vật tích cực của mình nhưng người kể chuyện cũng không ngần ngại chỉ ra những giới hạn và hạn chế của
con người này: “Môn là một người đã được đào luyện thuần thục trong đấu tranh giai cấp, tuy nhiên không phải bất cứ trong điều kiện nào anh cũng giữ được sự sáng
Trang 35suốt cần có” [112, tr.206] Những vấn đề ấy cho thấy sự tiên cảm của người kể
chuyện về một cuộc sống chưa hề ngưng kết, cho nên người kể chuyện cũng chưa
thể đưa ra “một kết luận dứt khoát” được
Người kể chuyện ở thời kỳ này còn hướng tới vấn đề người cán bộ phải luôn luôn đấu tranh không ngừng vượt qua chính mình để thích ứng với hoàn cảnh mới
Điều này được người kể chuyện phát hiện ra từ cuối Xung đột Người kể chuyện tiếp tục đề cập với những góc độ khác nhau trong Người trở về, Gia đình lớn, Tầm nhìn xa, nhưng đến Chủ tịch huyện thì vấn đề này mới được đặt ra một cách cấp thiết hơn bao giờ hết Bởi vì tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh các hợp tác xã đã bước qua quá trình xác lập, đi vào nề nếp ổn định và bắt đầu tiến lên hợp tác xã cấp cao Khi các thành tựu của khoa học kỹ thuật được đem ứng dụng vào nông nghiệp một cách phổ biến và nó đáng có xu hướng trở thành một lực lượng sản xuất thực sự thì vấn đề cấp bách đặt ra là phải có một dội ngũ cán bộ lãnh đạo như thế nào để đáp ứng với những yêu cầu của thực tiễn cách mạng Hơn nữa việc tiến hành xây dựng mô hình hợp tác xã cấp cao lại diễn ra trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã bắt đầu lan rộng ra miền Bắc đòi hỏi người cán bộ phải có đầu
óc tổ chức sản xuất sao cho phù hợp với tình hình thời chiến Đó là nỗi trăn trở
thường trực của một Chủ tịch huyện: chúng ta “đánh giặc đã nhiều đời nên giặc đến
là ai cũng đánh được, đánh rất thạo, rất quen, nhưng xây dựng kinh tế thì quả còn chưa quen (…) Sản xuất nhỏ thì quen nhưng theo một quy mô lớn thì quả còn chưa quen, chưa làm bao giờ nên chua quen” [114, tr.157] Vì chưa có mô hình trong
thực tế nên đành phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vừa làm vừa tự điều chỉnh và người cán bộ nông thôn cũng theo hướng đó mà tự hoàn thiện mình Trong tác phẩm người kể chuyện tập trung xây dựng một mẫu Bí thư tỉnh ủy chủ yếu theo hướng lý tưởng hóa Còn các nhân vật cán bộ cấp huyện, cấp xã người kể chuyện lại dùng nét bút hiện thực Chẳng hạn như cán bộ cấp xã có An, Đàm, Khang, Mộc…mỗi người một vẻ hiện ra một cách sinh động An, Đàm tiêu biểu cho những Chủ tịch xã vừa có tài vừa có tật: giỏi giang tháo vát nhưng hay khuynh loát tập thể; tự tin, quyết đoán nhưng lại chủ quan, tùy tiện; rất thích người khác ca ngợi mình nhưng lại không biết giữ gìn thể diện cho người khác…Còn Mộc, Khang (Bí thư) thì trái lại: đức độ, nhân
Trang 36hậu, liêm khiết nhưng yếu về năng lực tổ chức điều hành Bộ ba cán bộ chủ chốt cấp huyện cũng trái ngược nhau về tính cách và phương pháp lãnh đạo: Tạo (Bí thư huyện ủy) không quá say mê ai mà cũng không thành kiến với ai thì Hiệp (Chủ tịch huyện) ngược lại Trong phương pháp lãnh đạo Tạo mềm mỏng, khôn ngoan, thích
sự yên ổn nên không dám mạnh dạn đổi mới Hiệp nhạy bén với thời cuộc, quả quyết trong hành động, hết lòng ủng hộ những cán bộ xã có năng lực nhưng lại để cho tình cảm riêng lấn át nguyên tắc lãnh đạo Còn Vang (Thường vụ huyện ủy phụ
trách tổ chức ) thì cởi mở, thẳng thắn, nhiều khi bỗ bã, trong ba người “chỉ có riêng Vang được các Bí thư xã xưng hô cậu tớ” và trong họp bàn Vang “luôn luôn ủng hộ
và tán thưởng những nhận định của Hiệp về bất cứ vấn đề gì” [114, tr.52]… Đưa ra
những mẫu nhân vật huyện, xã như vậy, người kể chuyện dường như muốn khẳng
định rằng thật khó có thể tìm được người cán bộ toàn diện mọi mặt Vì thế đối với Chủ tịch huyện cần có cái nhìn biện chứng và nhân bản trong đánh giá, sắp xếp cán bộ: trong hoạt động ai mà chả có lúc vấp váp, tuổi trẻ càng dễ vấp váp Những vấp váp ấy là dĩ nhiên nhưng cũng thật cần thiết Bởi vì đó sẽ là cơ hội tốt để tự nhìn lại mình, suy nghĩ về cái hay, cái dở của mình, chuẩn bị trí tuệ và nghị lực để lao vào cuộc chiến đấu mới…
Tuy nhiên do bị chi phối bởi cách nhìn và đánh giá đời sống của người kể chuyện trên bình diện chính trị cho nên các nhân vật trong Chủ tịch huyện nói riêng, trong các tác phẩm viết về nông thôn của Nguyễn Khải nói chung vẫn chưa vượt ra khỏi phạm vi con người xã hội, chính trị, đạo đức cách mạng Chính vì thế nhiều vấn đề chính luận trong sáng tác của nhà văn thường chỉ có giá trị thời sự nhất thời, chưa vượt ra khỏi hạn chế có tính lịch sử, đặc biệt cách giải quyết vấn đề không sao tránh khỏi công thức hoặc mang nặng tinh thần giáo huấn Sau này nhìn nhận lại,
chính tác giả tự coi giai đoạn sáng tác này là “Cái thời lãng mạn”, bởi vì như ông nói:
Có những trang viết thời này là đúng, thời khác chưa hẳn đã đúng” [115, tr.196]
Nội dung chính luận – triết luận của tiểu thuyết Nguyễn Khải về đề tài chủ
nghĩa anh hùng cách mạng đều châu tuần, tập trung lý giải một vấn đề lớn là vì sao
chúng ta lại chiến thắng trong cuộc chiến tranh với đế quốc Mỹ? Phương hướng
phấn đấu của ông trong sáng tác ở giai đoạn này là “Biết tìm những vấn đề riêng
Trang 37trong sự thống nhất chung và có phương án giải quyết có hiệu quả nhất” [113,
tr.157] Trong sự thống nhất chung của một nền văn xuôi chiến đấu, người kể chuyện trong sáng tác của mỗi nhà văn cũng đều có một lối thể hiện riêng phù hợp với cảm hứng và sở trường của mình Người kể chuyện trong tác phẩm của Nguyễn
Đình Thi và Hữu Mai bị thu hút bởi các chiến sĩ không quân trẻ tuổi với tâm hồn trong sáng hướng về những tình cảm cao cả Người kể chuyện trong tác phẩm
Nguyễn Minh Châu say mê tìm kiếm “cái hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con người” Nó đã theo Dấu chân người lính thám hiểm Những vùng trời khác nhau
để có được một Mảnh trăng cuối rừng làm say đắm những tâm hồn trẻ tuổi Còn người kể chuyện trong tác phẩm Nguyễn Khải say sưa với những khám phá trí tuệ tìm cách cắt nghĩa về chủ nghĩa anh hùng cách mạng có trong mỗi chiến sĩ, bởi vì
đối với ông: “Tìm hiểu cái bên trong, cái bề dày, cái chiều sâu của mỗi người luôn luôn là một nhu cầu, một hứng thú” [32, tr.46]
Đi vào từng tác phẩm cụ thể, người kể chuyện ở Đường trong mây và Ra
đảo thường nổi bật lên ở những suy nghĩ, trăn trở tìm lời giải đáp cho những vấn đề thuộc về đạo đức, lẽ sống, lối sống của con người trong hoàn cảnh chiến tranh Đứng trước những thử thách gay go ác liệt, hàng ngày mỗi cán bộ chiến sĩ đều phải xét duyệt lại một cách nghiêm khắc độ bền vững của lý tưởng, của niềm tin và nghị lực Mỗi con người đều có một tiềm lực rất lớn Nó được huy động cao độ, được nhân lên gấp bội khi chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp, và qua đó nó tạo cho con người
có khả năng vượt qua tất cả những thử thách gay go ác liệt nhất ở hai tác phẩm này yếu tố triết luận thường hiện ra có khi là một nhận xét khá sắc sảo về tâm lý, có khi là một cách giải thích, một lời bình luận thông minh, có khi là một triết lý nảy ra từ một chiêm nghiệm thực tế nào đó đã tạo ra những hứng thú trí tuệ thẩm mỹ ở người đọc
Đến Chiến sĩ cảm hứng chính luận - triết luận đã chi phối mạnh mẽ vào nội dung tác phẩm thể hiện ở việc người kể chuyện bình luận, triết lý và khối lượng nghị luận chiếm một tỷ lệ đáng kể Có thể coi Chiến sĩ là một tập khảo luận độc đáo về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Nguyễn Khải Người kể chuyện lật xuôi lật ngược vấn đề để xem xét nó từ nhiều chiều, từ nhiều phía Trước hết, người kể chuyện dựng lên một loạt chân dung tinh thần của các chiến sĩ trong những hoàn
Trang 38cảnh thử thách khác nhau để trình bày sự gắn bó giữa các cá nhân với tập thể, triết
luận về mối quan hệ máu thịt giữa “cái Tôi” và “cái Chúng ta” Sau đó, người kể
chuyện còn mở rộng thêm một tầng nữa: khi cá nhân thuộc về tập thể không có nghĩa là cá nhân bị hòa tan vào trong tập thể Chủ nghĩa anh hùng tập thể không thủ tiêu vai trò bản lĩnh cá nhân nếu cá nhân ấy có bản lĩnh và niềm tin vào chính mình
Chẳng hạn như Đang (nhà thơ) từng bị cả đại hội chế giễu vì: “Một anh pháo thủ xe tăng ở tận chân mây góc núi đêm ngày vẫn mơ mộng sẽ có lúc được cả thiên hạ biết
đến, quả thật vừa gàn vừa phiêu lưu”[119, tr.234] Hay như Thùy-một-mắt: Thùy bị
thương mất một bên mắt, trở thành thương binh Đó là cơ hội để anh hãnh diện trở
về hậu phương Nhưng anh vẫn âm thầm tập luyện với nỗ lực phi thường để được
tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội Anh bị mọi người chê là gàn: “không giống như mọi người tức là gàn, chứ là gì” [119, tr.234] Hòa nhập nhưng đừng để bị hòa tan
vào cái tầm thường của đám đông, đấy là một phát hiện của người kể chuyện qua
nhân vật Đang: “Hình như con người hôm nay còn cô độc kia sẽ thắng! Vì hắn có sức mạnh của lòng tin, của ý chí, của cả niềm vui nữa Còn sức mạnh của chúng tôi? Xét cho cùng đó là sức mạnh của những quan niệm dễ được công nhận Của cái tầm thường” [119, tr.235]
Để thể hiện bản lĩnh và trách nhiệm cá nhân, người kể chuyện còn đặt nhân vật của mình vào những tình huống cá biệt để nghiên cứu, xem xét Huy (xe trưởng
xe tăng) đi trinh sát bị lạc vào đơn vị bộ binh trở thành chiến sĩ vây ép Trong trường hợp ấy Huy có thể cứ việc đi tìm đơn vị Nhưng ý thức trách nhiệm cá nhân người chiến sĩ buộc Huy tham gia chiến đấu như một chiến sĩ bộ binh thực thụ Đến cuối tác phẩm anh lại bị lạc một lần nữa: một mình lang thang trong rừng với vết thương khá nặng trên vai Anh lâm vào hoàn cảnh đơn độc hoàn toàn, tự mình phụ trách lấy mình và đối mặt với những khó khăn nguy hiểm rợn ngợp Anh có thể là người tự do hoàn toàn? Nhưng lương tâm, trách nhiệm của người chiến sĩ không cho phép anh buông lỏng kỷ luật quân đội, tự chịu trách nhiệm về mình trước tổ chức, trước tập thể đồng đội đang chiến đấu ở phía xa kia Và anh đã lập nên kỳ tích phi thường trong hoàn cảnh rất trớ trêu như thế! Nhấn mạnh đến vai trò, bản lĩnh và ý thức trách nhiệm cá nhân trong thời điểm bấy giờ là việc làm rất có ý nghĩa Bởi vì lúc đó
Trang 39người ta hay nhấn mạnh đến sức mạnh tập thể, lãnh đạo tập thể,tình thần tập thể và thường dè dặt mỗi khi nói đến ý thức, trách nhiệm cá nhân Sự quan tâm của người
kể chuyện đến mỗi cá nhân con người trong mối quan hệ giữa “cái Tôi” và “cái Chúng ta” là một việc làm đạt đến chiều sâu triết học và nhân bản Thực ra sự quan
tâm muôn đời của văn học vẫn là con người, và người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải đã góp phần phát hiện ra nhân tố con người trong chiến tranh cách mạng
2.1.2 Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới (từ năm 1978 trở đi)
Sang thời kỳ này, người kể chuyện lại hướng tới vấn đề đối thoại giữa tôn
giáo và chủ nghĩa xã hội Trở lại với những vấn đề “chưa đủ để có một kết luận dứt khoát” trong Xung đột, người kể chuyện tiếp tục kể về tôn giáo Đã qua rồi thời kỳ
mâu thuẫn giữa hai ý thức hệ chuyển thành đấu tranh xã hội đối đầu quyết liệt đã khiến không ít người nghĩ rằng tôn giáo (gắn với nguyên nhân họa xâm lược phương Tây) nhất định phải bị xóa bỏ trên bước đường tiến lên chủ nghĩa xã hội cộng sản Tuy nhiên với tư cách là một tồn tại lịch sử, tôn giáo vẫn tiếp tục có mặt trên đất đai
xã hội chủ nghĩa, và nó cũng không hẳn chỉ là “thuốc phiện” đầu độc con người khi
dân trí đã cao Vì vậy vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu tôn giáo một cách nghiêm túc
để có thể đi đến những kết luận thỏa đáng, khách quan về nó Và cũng không quên
rằng vấn đề “xung đột” giữa hai ý thức hệ vẫn chưa chấm dứt, nó chỉ bộc lộ ra hay
không bộc lộ ra mà thôi Cha và con và…có lẽ đã được sinh ra từ những suy nghĩ
đó của người kể chuyện? Triển khai tác phẩm theo hướng nghiên cứu quá trình diễn biến tư tưởng nhân vật chính nhằm đi tới những khái quát lớn về tôn giáo với dân tộc, tôn giáo với chủ nghĩa xã hội, tôn giáo với quá trình vận động để tồn tại của chính nó, đấy là mục đích đặt ra của người kể chuyện (khác với mục đích của Xung
đột và các cuốn tiểu thuyết khác về tôn giáo) Với mục đích như vậy người kể chuyện đã mở ra một xu thế đối thoại giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội theo chiều hướng dân chủ cùng bàn bạc Muốn thấy rõ thực chất vấn đề cần nhìn từ phía bên trong tôn giáo Là một hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc, bản thân tôn giáo cũng như các lĩnh vực khác phải luôn tự vận động, đổi mới để phù hợp với sự phát triển mau lẹ, phong phú của đời sống xã hội loài người nếu không muốn bị gạt
Trang 40ra bên lề cuộc sống như một thực tế khách quan không tránh khỏi Chẳng hạn như giáo lý, giáo luật có còn phù hợp hay đã lỗi thời? Tôn giáo có gắn với dân tộc và nhân dân hay đi ngược lại lợi ích của họ? Những vấn đề ấy vang lên trên các trang sách chi phối bước đường tư tưởng của cha Thư: một vị linh mục trẻ hết lòng vì chúa, không một phút xa rời đức tin Lẽ sống và niềm đam mê duy nhất theo đuổi suốt đời ông là thực hiện sứ mệnh của một đấng chăn chiên kiểu mẫu: chăn sóc phần linh hồn, thắp sáng đức tin của những con chiên trong xứ đạo của mình phụ trách Nhưng ông lại gặp phải một thực tế không giống như mơ tưởng Cái khó lớn nhất của ông là đạo cũng không tin mà đời cũng chưa đủ cơ sở để tin Tình thế ấy buộc ông phải suy nghĩ dữ dội, truy tìm những nguyên nhân ngay từ bên trong tôn giáo để cuối cùng đưa ra một giải pháp hữu hiệu có thể hòa giải được các bổn phận Giải pháp đó là: đi với giáo hữu, tuân theo ý muốn của họ là sẽ hòa hợp được tất cả
Sự thức nhận : “Chúa ở cùng và ở trong những người trung thực chất phác, những người lao động chịu đựng mọi khó nhọc” [117, tr.217] thấm nhuần tư tưởng nhân dân sâu sắc đã “cách mạng hóa” những giáo lý, kinh sách và các quan điểm của nhà thờ Từ nhận thức đến hành động “rửa tội lại” ở trang kết thúc mang tính tượng
trưng thể hiện sự lựa chọn quyết liệt và dứt khoát đứng hẳn về phía nhân dân của cha Thư, cũng là dụng ý kết thúc tác phẩm một cách trọn vẹn Tuy nhiên cái nhìn tôn giáo ở tác phẩm này vẫn bị chi phối chủ yếu bởi nhãn quan chính trị Vả lại, trong
bài “Văn xuôi trước yêu cầu của cuộc sống” (đăng trên Văn nghệ quân đội số 1/1984) chính tác giả đã nói rõ ra rằng: “Cái gì chưa có hoặc là còn hiếm hoi trong thực tế, người đọc muốn có trong tác phẩm nghệ thuật” Vì vậy có thể xem Cha và con và… là một tập khảo luận triết học hướng về “cái cần có” trong thời điểm cụ
thể lúc bấy giờ Còn đến nay thì tình hình đã nhiều đổi khác
Vấn đề lựa chọn để hòa nhập vào cuộc sống và thúc đẩy cuộc sống phát triển
được người kể chuyện thể hiện trong Gặp gỡ cuối năm Cái mô típ người trí thức cũ hoài nghi do dự, bị nhiều nhầm lẫn, thậm chí có thể nhầm lẫn đáng tiếc, nhưng rút cuộc họ vẫn đi đến với cách mạng từng xuất hiện trong văn chương Xô -Viết vẫn hấp dẫn người đọc Đây cũng là truyện kết thúc có hậu: gấp sách lại coi như mọi chuyện đã hoàn tất, số phận nhân vật đã được định đoạt, còn chân lý cách mạng