1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.

65 428 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 535,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng - Cao

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM

BÙI KIM CÚC

Tờn đề tài:

Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013

khóa luận tốt nghiệp đại học

Chuyờn ngành : Địa chớnh Mụi trường Khoa : Quản lý Tài nguyờn Khoỏ học : 2010-2014

Thỏi Nguyờn, năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM

BÙI KIM CÚC

Tờn đề tài:

Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013

khóa luận tốt nghiệp đại học

Chuyờn ngành : Địa chớnh Mụi trường

Khoa : Quản lý Tài nguyờn Khoỏ học : 2010-2014

Giảng viờn hướng dẫn : ThS Hoàng Hữu Chiến

Thỏi Nguyờn, năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ

và chỉ bảo nhiệt tình của các Thầy, Cô giáo trong khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, các đoàn thể đã tạo điều kiện để em hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này

Trước hết em xin nói lời cảm ơn chân thành nhất tới Thầy giáo - ThS Hoàng Hữu Chiến đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập

cũng như thực hiện đề tài và hoàn thành báo cáo này

Em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, chỉ bảo ân cần của các Thầy, các Cô giáo trong Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên trong suốt thời gian thực tập

Em xin chân thành cảm ơn UBND phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng - tỉnh Cao Bằng là đơn vị trực tiếp giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm đề tài tại địa phương

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Em xin kính chúc các Thầy, các Cô giáo và các Cô, Chú luôn mạnh khỏe và công tác tốt

Thái Nguyên, ngày…tháng 05 năm 2014

SINH VIÊN THỰC HIỆN

Bùi Kim Cúc

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn 19

Bảng 4.1 Tình hình biến động dân số của phường Đề Thám giai đoạn 2010 -2013 32

Bảng 4.2 Dự báo dân số, lao động phường Đề Thám đến năm 2020 33

Bảng 4.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 34

Bảng 4.4 Sự biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015 37

Bảng 4.5 Kết quả giao đất ở phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 38

Bảng 4.6 Kết quả thu hồi đất ở phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 39

Bảng 4.7 Tình hình biến động đất đai của phường Đề Thám từ năm 2010 đến năm 2013 41

Bảng 4.8 Một số thông tin cơ bản về các chủ hộ 42

Bảng 4.9 Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi 43

Bảng 4.10 Tình hình nghề nghiệp của hộ trước và sau đô thị hóa 44

Bảng 4.11 Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình đô thị hóa 45

Bảng 4.12 Tình hình sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai của hộ 46

Bảng 4.13 Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của đô thị hóa 47

Bảng 4.14 Ý kiến của các hộ điều tra về kế hoạch trong thời gian tới 48

DANH MỤC CÁC BIỂU Trang Biểu đồ 4.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 34

Biểu đồ 4.2 Cơ cấu sử dụng tiền bồi thường đất đai của hộ 46

Trang 5

iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

iv

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: MỞ ĐẦU 7

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 7

1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 8

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 8

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 8

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9

2.1 Căn cứ pháp lý 9

2.1.1 Các văn bản của Trung ương 9

2.1.2 Các văn bản của tỉnh Cao Bằng 9

2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa 9

2.2.1 Khái niệm về đô thị 9

2.2.2 Phân loại và phân cấp quản lý đô thị 10

2.2.3 Chức năng của đô thị 11

2.2.4 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 11

2.3 Lý luận về đô thị hóa 12

2.3.1 Khái niệm về đô thị hóa 12

2.3.2 Tính tất yếu của đô thị hóa 13

2.3.3 Quan điểm của đô thị hóa 13

2.3.4 Các tiêu chí đánh giá mức độ và quá trình đô thị hóa 13

2.4 Đất đô thị và quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa 14

2.4.1 Quan niệm về đất đai đô thị 14

2.4.2 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa 15

2.5 Thực tiễn đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam 18

2.5.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới 18

2.5.2 Thực tiễn đô thị hoá ở Việt Nam 20

2.6 Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam 21

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

Trang 7

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

3.3 Nội dung nghiên cứu 23

3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Đề Thám ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp 23

3.3.2 Ảnh hưởng của ĐTH đến sử dụng đất nông nghiệp 23

3.3.3 Ảnh hưởng của ĐTH đến đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp 23 3.3.4 Đánh giá chung tác động của ĐTH 24

3.3.5 Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng - Cao Bằng 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu 24

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 24

3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 25

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 26

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng đô thị hoá 32

4.1.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa của phường Đề Thám 34

4.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến biến động diện tích đất nông nghiệp tại phường Đề Thám 36

4.2.1 Thực trạng của quá trình chuyển mục đích sử dụng đất 36

4.2.2 Thực trạng của công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất 38

4.2.3 Sự biến động về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại Phường Đề Thám 40

4.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân tại phường Đề Thám 41 4.3.1 Đô thị hoá với kinh tế hộ nông dân mất đất nông nghiệp 41

Trang 8

vi

4.3.2 Đánh giá sự ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế - xã hội của các

hộ thông qua các câu hỏi định tính 47

4.3.3 Kế hoạch của hộ nông dân phường Đề Thám trong thời gian tới 48

4.4 Đánh giá chung tác động của đô thị hóa tới sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn phường Đề Thám 49

4.4.1 Tác động tích cực 49

4.4.2 Tác động tiêu cực 50

4.5 Định hướng phát triển đô thị và một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống kinh tế hộ, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại phường Đề Thám 51

4.5.1 Định hướng phát triển không gian đô thị phường Đề Thám tới năm 2020 51 4.5.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế mất đất nông nghiệp và đảm bảo đời sống hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá tại phường Đề Thám 51

4.5.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa ở phường Đề Thám 56

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Kiến nghị 59

Trang 9

Phần 1:

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là

tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được đối với các ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nền tảng cho sự sống của con người và nhiều sinh vật khác

Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển của thế giới thì quá trình đô thị hoá (ĐTH) đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới vấn đề sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Hòa theo xu thế đó, tốc độ ĐTH cũng đã và đang phát triển mạnh mẽ tại tỉnh Cao Bằng và ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp

Năm 2012, thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III chính thức trở thành thành phố Cao Bằng Tốc độ ĐTH diễn ra mạnh mẽ kể từ đây Trong chiến lược phát triển Thành phố, phường Đề Thám là nơi được chọn để tập trung phát triển làm trung tâm hành chính của thành phố Cao Bằng với khu đô thị mới Km5 ĐTH đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Cao Bằng nói chung và phường Đề Thám nói riêng Quá trình ĐTH đã làm cho diện tích đất nông nghiệp tại phường Đề Thám có những thay đổi đáng kể: diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn bị thu hẹp dần nhường cho diện tích đất khu đô thị tăng lên nhanh chóng, quan hệ kinh tế đất đô thị cũng được tiền tệ hóa theo quy luật của kinh tế thị trường Quan hệ sử dụng đất đô thị có những phát sinh phức tạp mà nhiều khi đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước - đó là tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, sự quá tải của hạ tầng kỹ thuật đô thị; ô nhiễm môi trường; thiếu vốn đầu tư… Đặc biệt đô thị phát triển không đúng định hướng, mục tiêu của Nhà nước do công tác xây dựng và quản lý quy hoạch chưa tốt Giá cả đất đô thị trên thị trường bất động sản có những biến động rất phức tạp, gây ra những khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội Do biến động của quan hệ sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa, tình hình chính trị xã hội cũng có những biểu hiện xấu như: khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn; tình trạng khiếu kiện ngày càng gia tăng, đặc biệt khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai chiếm tỷ lệ lớn…

Trang 10

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông

lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn trực tiếp của Thầy giáo - ThS Hoàng

Hữu Chiến, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013”

1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đánh giá được những tác động và mức độ ảnh hưởng của quá trình ĐTH đến

sử dụng đất nông nghiệp, đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở địa phương theo các mục tiêu của phát triển bền vững

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Đề Thám ảnh hưởng đến sử dụng đất

- Nêu lên được thực trạng của quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp của phường Đề Thám

- Đánh giá được ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân tại phường Đề Thám

- Đề ra được các giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ nông dân, tăng cường vai

trò quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại phường Đề Thám

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: là cơ hội cho bản thân củng

cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội cho bản thân tiếp cận với vấn đề ĐTH

- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: tìm ra những mặt hạn chế và tích cực của quá trình ĐTH ảnh hưởng tới vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, từ đó đề xuất ra những giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương góp phần đẩy nhanh quá trình này trong thời gian tới

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Căn cứ pháp lý

2.1.1 Các văn bản của Trung ương

- Luật Đất đai 2003

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ

về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư

- Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ

về việc phân loại đô thị

- Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30 tháng 09 năm 2009 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ về phân loại đô thị

- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình

tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

2.1.2 Các văn bản của tỉnh Cao Bằng

- Quyết định số 06/2013/QĐ-UBND ngày 21 tháng 05 năm 2013 của UBND tỉnh Cao Bằng về việc sửa đổi, bổ sung quy định ban hành kèm theo Quyết định số 3336/2009/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2009 và Quyết định số 638/2011/QĐ-UBND ngày 9 tháng 4 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Quyết định số 05/2013/QĐ-UBND ngày 21 tháng 05 năm 2013 của UBND tỉnh Cao Bằng về việc ban hành bảng giá nhà ở và các công trình xây dựng gắn liền với đất

để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [9]

2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa

2.2.1 Khái niệm về đô thị

Ở Việt Nam, theo Nghị đinh số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu chuẩn sau [3]:

Trang 12

Thứ nhất: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc

gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định

Thứ hai: đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000

người trở lên

Thứ ba: Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng

loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn

Thứ tư: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội

thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động

Thứ năm: Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ

tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:

- Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và

có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị;

- Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững

Thứ sáu: Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải

theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên

2.2.2 Phân loại và phân cấp quản lý đô thị

Theo điều 4 Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ Đô thị được phân thành 6 loại gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận

1 Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc

2 Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành

3 Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị

Trang 13

4 Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị

5 Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn [3]

2.2.3 Chức năng của đô thị

Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khác nhau, nhìn chung đô thị có các chức năng chủ yếu sau [1]:

* Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị Sự phát triển kinh

tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và CSHT tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hoá tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra

bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị

* Chức năng xã hội: chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại,… là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường Chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y

tế, đi lại,… thay đổi

* Chức năng văn hoá: ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giải trí và giáo dục cao Do đó, ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn

* Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân Do đó, Nhà nước phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị

2.2.4 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất

kỹ thuật và văn hoá [1]

Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy CNH nhanh chóng Đô thị tối ưu hoá việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường linh hoạt có năng suất cao Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản

Trang 14

phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước

Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồng nông thôn đi trên con đường tiến bộ văn minh

2.3 Lý luận về đô thị hóa

2.3.1 Khái niệm về đô thị hóa

Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình ĐTH và đưa

ra không ít định nghĩa cùng với những định giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai của quá trình này

“Đô thị hóa (Urbanization) là quá trình tập trung dân số vào các đô thị và sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu công nghiệp hóa Trong quá trình này có sự biến đổi về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang

thành thị” [2]

“Đô thị hóa là thay đổi trật tự sắp xếp một vùng nông thôn theo các điều kiện của thành phố Đây là một trong những biện pháp biến nông thôn thành những nơi làm việc hấp dẫn, có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đáp ứng những nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội, góp phần làm tăng GDP nhưng

điều này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng” [2]

Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật

* Sự phát triển của đô thị hóa

Quá trình ĐTH thực chất cũng là một quá trình phát triển kinh tế xã hội, hơn nữa nó còn là quá trình phát triển về văn hoá và không gian kiến trúc Nó gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới Quá trình ĐTH có thể theo hai xu hướng:

- ĐTH tập trung: là toàn bộ công nghiệp và dịch vụ công cộng tập trung vào các thành phố lớn, hình thành và phát triển các đô thị lớn, khác biệt nhiều với nông thôn

- ĐTH phân tán: là hình thái mạng lưới điểm dân cư có tầng bậc phát triển cân đối công nghiệp và dịch vụ công cộng, bảo đảm cân bằng sinh thái, tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư đô thị và nông thôn Hình thành

Trang 15

mạng lưới đô thị vừa và nhỏ trên các vùng, có vai trò thúc đẩy phát triển nông thôn giảm khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn

2.3.2 Tính tất yếu của đô thị hóa

Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đường CNH thì đều gắn liền với ĐTH

Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH

tư bản chủ nghĩa và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hướng HĐH: tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP Nhìn chung, từ góc độ kinh tế, ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển

Như vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm, tình hình chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và không thể đảo ngược của sự phát triển xã hội ĐTH là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới

2.3.3 Quan điểm của đô thị hóa

CNH và cùng với nó là ĐTH trở thành xu thế chung của mọi quá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp Vấn đề quan trọng đặt ra là làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực của ĐTH, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của nó Điều này cũng đồng nghĩa với việc quá trình ĐTH phải gắn liền với khái niệm “phát triển bền vững”

Như vậy, ĐTH phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo môi trường tự nhiên trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội Tuy rằng tăng trưởng kinh tế là yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất của quá trình ĐTH song nó vẫn chỉ là một nhân tố, một phương tiện hơn là một mục tiêu tối thượng Mục tiêu của ĐTH là phải không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người, tức là phát triển đô thị lấy con người làm trọng tâm [2]

2.3.4 Các tiêu chí đánh giá mức độ và quá trình đô thị hóa

Quá trình ĐTH sẽ được đánh giá thông qua một số tiêu chí sau:

1) Tốc độ tăng dân số cơ học: ĐTH gắn liền với tăng dân số khu vực thành thị, tuỳ theo số lượng dân số kết hợp với CSHT của khu vực thành thị đó mà được Nhà nước quy định cấp độ đô thị theo 5 loại từ loại 1 đến loại 5 Như vậy, có thể thấy tốc độ tăng dân số cơ học là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ ĐTH

Trang 16

2) Tỷ lệ dân số nông nghiệp/tổng dân số: chúng ta biết ĐTH gắn liền với CNH do vậy số nhân khẩu, lao động sống bằng các nguồn thu chính từ nông nghiệp

và phi nông nghiệp sẽ giúp ta đánh giá được mức độ ĐTH của một địa phương, thông thường với các khu đô thị lớn tỷ lệ dân số nông nghiệp/tổng số dân là rất nhỏ

3) Cơ cấu thu nhập: một chỉ tiêu quan trọng khác để đánh giá mức độ ĐTH

đó là tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp trong tổng thu nhập của một địa phương, thường quá trình ĐTH tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của tỷ trọng thu nhập của các ngành nghề phi nông nghiệp trong tổng thu nhập

2.4 Đất đô thị và quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa

2.4.1 Quan niệm về đất đai đô thị

Đất đô thị là phần diện tích đất có giới hạn bao gồm đất liền, khu vực mặt nước và khoảng không gian được sử dụng để quy hoạch xây dựng thành phố như: xây dựng nhà ở, trụ sở cơ quan, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: xây dựng đường giao thông, mạng lưới điện chiếu sáng, điện sinh hoạt, điện sản xuất, mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống cấp và thoát nước, quảng trường và các công trình công cộng, sông ngòi, công viên và diện tích đất dùng cho cây xanh môi trường, đất sử dụng cho mục đích an ninh quốc phòng và các mục đích đa dạng khác

Đất đô thị có thể phân thành hai loại:

- Đất đai thành phố: là đất nội thành, nội thị được sử dụng để xây dựng các khu đô thị, các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các công trình đô thị khác

- Khu quy hoạch phát triển đất đai thành phố: bao gồm diện tích đất nông nghiệp, đất khu vực dân cư nông thôn lân cận ngoại ô thành phố và các loại đất khác nằm trong quy hoạch dự kiến chuyển thành đất thành phố

Theo quy định tại điều 1 nghị định số 91/NĐ-CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ về việc “ban hành điều lệ quản lý quy hoạch đô thị”, đô thị bao gồm các thành phố, thị xã, thị trấn Theo quy định này, đất đô thị là diện tích đất nằm trong ranh giới hành chính của các thành phố, thị xã, thị trấn Nghị định số 88/NĐ-CP ngày 07/08/1994 của Chính phủ về quản lý và sử dụng đất đô thị còn quy định: “Đất ngoại thành, ngoại thị đã có quy hoạch, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để phát triển đô thị cũng được quản lý như đất đô thị” Xét về góc độ kinh tế chính trị, đất đô thị là loại đất chủ yếu được dùng để xây dựng và phát triển các công trình đô thị, đó là loại đất đã chứa những khoản đầu tư lớn trong quá trình khai thác đất đai thành thị, vì vậy có sức sản xuất cao, có giá trị sử dụng rất lớn Xu

Trang 17

hướng phát triển và quy mô của đất đô thị liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ giữa QHSX và LLSX, mà cốt lõi là chế độ sở hữu nói chung, trong đó có sở hữu đất đai được, quy định bởi chế độ kinh tế chính trị xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đất đô thị là loại đất mang lại địa tô chênh lệch cao cho chủ sở hữu đất, trong khi phát triển đô thị là nhu cầu tất yếu của quá trình CNH-HĐH đất nước Khi nói về đất đô thị, C.Mác viết: “Thật ra người ta có thể tập trung một nền sản xuất lớn trên một khoảng không gian nhỏ so với sự phân tán của thủ công nghiệp,

và chính đại công nghiệp đã làm như vậy” [2] và khi nền sản xuất đại công nghiệp

đã đạt đến giới hạn của việc sử dụng chiều cao không gian thì “việc mở rộng sản xuất cũng đòi hỏi mở rộng diện tích đất đai” [2] Đối với những đô thị như phường

Đề Thám, quá trình ĐTH diễn ra khá nhanh ở cả hai khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển Trong các khu vực đô thị cũ, quá trình ĐTH (sắp xếp và cải tạo đô thị) nhằm HĐH đô thị, trên cơ sở cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị kết hợp với phân bố lại quỹ đất và bố trí hợp lý các công trình đô thị Đồng thời với việc nâng cấp, HĐH các khu đô thị cũ là quá trình xây dựng các khu đô thị mới, quá trình này đòi hỏi chuyển một diện tích đất từ các loại đất khác thành đất đô thị để phát triển đô thị, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH Tuy nhiên quá trình ĐTH không phải

là quá trình chuyển mục đích SDĐ của toàn bộ diện tích đất khác thành đất phi nông nghiệp, một phần diện tích đất nông nghiệp vẫn được giữ lại nhằm đảm bảo môi trường sinh thái cho đô thị và tạo ra không gian thẩm mỹ cho đô thị Như vậy QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH không chỉ đơn thuần là quản lý đất đô thị mà còn bao gồm diện tích đất quy hoạch phát triển đô thị và diện tích đất nông nghiệp trong đô thị Tuy vậy, đến thời điểm hiện nay, chưa có văn bản quy định nào đưa ra tiêu chuẩn về cơ cấu giữa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp trong đô thị

2.4.2 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa

Do quá trình ĐTH, dân số đô thị tăng lên cùng với nhu cầu phát triển của các ngành, các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; diện tích đất phải thu hồi, chuyển mục đích sử dụng để xây dựng đô thị tăng lên làm phát sinh nhiều biến động phức tạp trong quan hệ sử dụng đất đô thị Nhà nước vừa thực hiện chức năng là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước như tất

cả các Nhà nước khác trên thế giới, đồng thời với bản chất của Nhà nước XHCN, Nhà nước còn có nhiệm vụ rất quan trọng là phục vụ và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Do đó, quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình ĐTH không

Trang 18

chỉ nhằm mục tiêu phát triển đô thị mà còn phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu đời sống của dân cư đô thị Mặt khác trong quá trình ĐTH, quan hệ đất đai có nhiều biến động mạnh về cả quyền chi phối, quyền quản lý và quyền sử dụng, do chức năng đặc biệt quan trọng của đô thị là chức năng về kinh tế tác động Vì vậy, trong quá trình ĐTH vấn đề tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai là xuất phát từ nhân tố khách quan do thực tiễn phát triển của đất nước đặt ra

ĐTH là quá trình tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Nhân tố quan trọng và là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình ĐTH là trong quá trình CNH, người dân ở các vùng quê đổ ra thành phố để mong kiếm được cơ hội việc làm tốt hơn, thoát khỏi đói nghèo Làn sóng người nhập cư ồ ạt đã khiến các thành phố trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường sống và làm cho việc xây dựng trong các đô thị trở nên lộn xộn, vô tổ chức, gây ra những khó khăn bức xúc trong công tác quản lý của Nhà nước đối với đô thị

Dân số đô thị là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đô thị Ở nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) dân số là cơ sở để phân loại đô thị trong công tác quản lý và xác định quy mô đất đai của đô thị Quy

mô của đô thị được đánh giá qua số lượng dân số đô thị chứ không phải qua diện tích đất đai đô thị Dân số đô thị là cơ sở để xác định số lượng, diện tích nhà ở cần xây dựng, hệ thống cơ sở hạ tầng kiến trúc cho đô thị cũng như việc hoạch định các chính sách phát triển và kế hoạch đầu tư cho đô thị Tuy vậy, tỷ lệ gia tăng dân số

đô thị ở các nước đang phát triển chưa phản ánh đúng tốc độ CNH, như trường hợp của các nước phát triển ở châu Âu hoặc ở Mỹ, Nhật Bản Ở các nước phát triển, tốc

độ tăng trưởng dân số đô thị do nhập cư từ nông thôn vào là không lớn, còn ở các nước đang phát triển thì tỷ lệ này lại là chủ yếu, mà lý do chính là sức hấp dẫn từ sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn Ví dụ như ở Trung Quốc, thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 1995 là 6.463 Nhân dân tệ thì ở các thành phố lớn là 11.369 Nhân dân tệ

So sánh tốc độ phát triển hiện nay của Mỹ và các nước phát triển khác trong nhóm G8, tốc độ tăng trưởng của Mỹ vẫn đứng đầu và khá ổn định Trong khi đó ở các nước phát triển khác, kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nay, tốc độ phát triển dân số giảm dần và có nguy cơ không đáp ứng được lao động cho nhu cầu sản xuất xã hội Theo dự báo đến năm 2050 dân số của Mỹ sẽ tăng lên đến khoảng

550 triệu trong khi dân số châu Âu là 360 triệu vào thời điểm đó

Trang 19

Ở nước ta tình hình biến động dân số cũng không nằm ngoài quy luật chung của thế giới Theo số liệu thống kê, vào năm 1930 cả nước có 17,6 triệu dân, đến năm 1960 cả nước có 30,2 triệu dân, sau 25 năm dân số nước ta đã tăng gấp đôi: 60 triệu dân vào năm 1985 Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2005, dân số cả nước

đã là hơn 83 triệu người Mức tăng trưởng dân số đô thị cũng có mức thay đổi đáng

kể Nếu năm 1990 tỷ lệ tăng dân số đô thị là 2,8% thì năm 1998 con số này là 4,58% và năm 2005 đã đạt gần 5% theo báo cáo của Bộ Xây dựng vào năm 1986, dân số đô thị nước ta là 11,87 triệu người, đến năm 1999 dân số đô thị đã là 18 triệu người, đến năm 2005 là hơn 23 triệu người, nâng tỷ lệ ĐTH từ 19,3% lên 25%

Để tránh tình trạng đất đai bị chuyển mục đích sử dụng trái phép, sử dụng không đúng quy hoạch, kế hoạch, nguồn tài nguyên đất đô thị bị lãng phí, cùng với

đó là tình trạng đô thị được xây dựng lộn xộn và tình trạng đói nghèo ở đô thị… Đòi hỏi tăng cường vai trò của Nhà nước trong hoạt động quản lý đối với đất đai trong quá trình ĐTH Khi quy mô của đô thị tăng lên, các nguồn lực tài chính cần thiết để xây dựng mới và duy trì hệ thống CSHT và dịch vụ đô thị là vô cùng lớn Yêu cầu các biện pháp chiến lược cũng như kế hoạch cụ thể để huy động có hiệu quả các nguồn lực, phải hết sức năng động và sáng tạo Điều đó đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đô thị, nhằm khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực đất đai đô thị với chức năng cung cấp vốn đầu tư cho sự phát triển của đô thị Nếu Nhà nước buông lỏng quản lý đất đai, tập trung quá cao dân số ở các thành phố lớn và cực lớn (chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển), vấn đề nhà ở sẽ không được giải quyết một cách đầy đủ Đặc biệt các khu nhà dành cho người lao động thường thiếu tổ chức, chắp vá, hình thức nghèo nàn, điều kiện sống không đầy

đủ, thiếu vệ sinh, môi trường sống đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vào thời điểm tháng 8 năm 2005 cả nước có 135 KCN

đã được phê duyệt thành lập, trong đó có 81 KCN đang được vận hành với tổng diện tích 17.705 ha Theo quy hoạch được Chính phủ phê duyệt vào tháng 8/2005, đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 cả nước có khoảng 80.000 ha đất dành cho các khu công nghiệp Vấn đề đặt ra cho hoạt động quản lý Nhà nước là cùng với mở rộng diện tích các KCN, diện tích đất đô thị sẽ tăng lên với tốc độ và quy

mô rất lớn, đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnh vực trong đó đặc biệt quan trọng là quản lý đất đai đô thị, đáp ứng yêu cầu của dân cư

đô thị tăng lên rất nhanh trong quá trình CNH Đồng thời tình trạng đầu cơ đất nảy sinh đã làm cho giá đất tại các thành phố cao vọt (tạo ra những cơn sốt đất giả tạo)

Trang 20

gây thiệt hại rất lớn cho Nhà nước trong bồi thường GPMB Mật độ xây dựng trong các khu đô thị cao, các công trình kiến trúc cũng phải phát triển theo chiều cao, dẫn tới khủng hoảng về xây dựng trong đô thị, đô thị sẽ thiếu đất trống để trồng cây xanh và các công trình công cộng phúc lợi xã hội Ở hầu hết các nước trên thế giới, người ta đã phải tiến hành cải tạo hàng loạt các đô thị với chi phí rất lớn như: Pari (Pháp), Băng Cốc (Thái Lan), Thượng Hải (Trung Quốc),… gây quá tải cho ngân sách Nhà nước Ở nước ta, tình trạng này cũng khá phổ biến ở hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ảnh hưởng rất lớn tới việc đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của cả nước, buộc Chính phủ và Chính quyền các thành phố phải có nhiều biện pháp mạnh để ngăn chặn

2.5 Thực tiễn đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam

Tiến trình ĐTH gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của lịch sử nhân loại Quá trình này vừa là sản phẩm của nền văn minh, vừa là động lực của những bước tiến

kì diệu mà nhân loại đã đạt được trong mấy thiên niên kỷ qua

Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp truyền thống với thực tế ĐTH thấp

và chậm trong lịch sử đang bước vào thời kỳ mới của nền kinh tế thị trường, thời kỳ CNH - HĐH, việc nghiên cứu tìm hiểu diễn biến của quá trình ĐTH trên thế giới càng có ý nghĩa to lớn cả về mặt nhận thức, lý luận cũng như giá trị thực tiễn

2.5.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới

Theo các nhà sử học, lịch sử loài người đã chứng kiến hai cuộc cách mạng đô thị

Cuộc cách mạng đô thị lần thứ nhất diễn ra từ 8000 năm trước Công

Nguyên, vào thời kỳ đồ đá mới, khi lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện một khu định cư kiểu đô thị Đó là “thành phố” Jenricho, nằm ở phía bắc biển Chết, thuộc vùng đất Ixrael ngày nay, với dân số khoảng 600 người - một thị trấn nhỏ, hết sức nghèo nàn so với tiêu chuẩn hiện nay

`Cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII ở châu Âu

và sau đó lan sang Bắc Mỹ Là hệ quả tất yếu của quá trình CNH tư bản chủ nghĩa,

từ thời điểm này quá trình ĐTH đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong lịch sử phát triển của nhân loại

Ngày nay các nhà khoa học còn nói đến cuộc cách mạng đô thị lần thứ ba,

đang diễn ra trong các nước thuộc thế giới thứ 3, nơi mà hiện tại tỷ lệ dân số đô thị chiếm khoảng 30% trong tổng dân số Cuộc cách mạng đô thị lần thứ 3 dường như

là sự lặp lại cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai, song nó có những nét độc đáo của những điều kiện không gian và thời gian mới

Trang 21

Như vậy, theo thời gian, có thể hình dung ĐTH trên thế giới là một quá trình lịch sử xuyên suốt ba cuộc cách mạng đô thị này Những hiện tượng nổi bật của quá trình ĐTH là: dòng di cư mạnh mẽ từ nông thôn vào thành thị khiến cho tỷ lệ dân

đô thị tăng nhanh, số lượng các đô thị ngày một nhiều, các đô thị lớn lên, phình to

ra, đời sống xã hội dần mang tính đô thị hơn là nông thôn

ĐTH là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày một tăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển Theo các chuyên gia nghiên cứu về ĐTH thì trong tiến trình ĐTH từ nửa sau thế kỷ XX có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỷ lệ dân số đô thị trên tổng dân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển

Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỷ lệ dân số đô thị toàn thế giới từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17,8% lên đến 40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% đến 76,1%

Hiện tại tỷ lệ ĐTH ở châu Á là 35%, châu Âu 75%, châu Phi 45%, Bắc Mỹ 90% và 80% ở Mỹ La Tinh Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong 1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống ở các đô thị [2]

Bảng 2.1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn

(Nguồn: World Urbanzation prospect: 1996, New York 1997)

Theo “dân số và tiến trình đô thị hoá động thái phát triển và triển vọng” của phó tiến sĩ Trần Cao Sơn, số lượng các tụ điểm được coi là lớn nhất các thành phố

có số dân 10 triệu trở lên cũng tăng lên nhanh chóng Năm 1950 chỉ có New York (Mỹ) đạt mức độ này nhưng 20 năm sau (1970) có thêm Tokyo (Nhật Bản) và

Thượng Hải (Trung Quốc), con số này còn tăng lên 13 thành phố vào năm [2]

Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH-HĐH Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống

Trang 22

con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng,… Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:

- Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra thành thị trong đó yêu cầu nhất thiết phải nâng cao mức sống nông thôn

- Khi tập trung quá tải cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng CSHT, có cơ sở xã hội thoả đáng…

2.5.2 Thực tiễn đô thị hoá ở Việt Nam

Là một trong những nước nghèo (tính theo GDP bình quân đầu người) trong

số các nước phát triển, Việt Nam không thoát khỏi những đặc trưng có tính quy luật

của quá trình ĐTH quá tải Hơn nữa còn có những “đặc thù Việt Nam” Ta có thể

điểm sơ lược qua quá trình ĐTH ở Việt Nam qua các thời kỳ sau:

* Thời kỳ trước đổi mới

Trong giai đoạn này, quá trình ĐTH hầu như không có biến động, phản ánh nền kinh tế còn trì trệ

* Thời kỳ từ sau đổi mới

Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thị trường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động, nghề nghiệp cũng như khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những biến đổi quan trọng

Quá trình ĐTH đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trong những năm gần đây tình hình CNH đang diễn ra mạnh mẽ Tốc độ ĐTH ở Việt Nam đang diễn ra khá nhanh: 18,5% (năm 1989), 20,5% (năm 1997), 23,65% (năm 1999) và 25% (năm

2004 [1] Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến

năm 2000 đã có 703 đô thị, trong đó: 2 đô thị có quy mô dân số trên 3 triệu người, 15 đô thị quy mô dân số từ 25 vạn đến 3 triệu người, 74 đô thị có quy mô dân số từ 5 vạn đến

25 vạn người và các đô thị còn lại có quy mô dân số dưới 5 vạn [2]

Tuy vậy ĐTH ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới ĐTH cũng làm nảy sinh những mặt tiêu cực sau:

- Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội Nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp,

Trang 23

khu đô thị, CSHT, mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển

mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm [2]

- Dân số đô thị tăng nhanh đã làm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bị quá tải, đặc biệt là tình trạng yếu kém của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn…

- Tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị đã vượt khả năng điều hành của Chính quyền địa phương

- Vấn đề đói nghèo và thất nghiệp đang diễn ra ở các đô thị Sự thiếu hiểu biết của người dân kéo theo sự mất an toàn xã hội

Trước những thách thức trên, quá trình ĐTH đã được Chính phủ quan tâm kịp thời Ngày 23 tháng 1 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong quyết định số 10/1998/QĐ - TTg, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển các đô

thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng [2]

2.6 Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các hình thái đô thị và quá trình ĐTH trên thế giới và khu vực

Từ cuối thế kỷ XIX, Cerda - kỹ sư người Catalan vẽ quy hoạch thành phố Barcelone, đặt ra thuật ngữ “urbanisacion” (sau này đã có trong tiếng Pháp:

“urbanization” - ĐTH) Ông tin rằng ĐTH là một kế hoạch và tồn tại nhiều nguyên

lý cơ bản chi phối sự kiến thiết một đô thị Ông cũng ý thức về tầm quan trọng của việc quản lý thành phố một cách toàn diện với sự huy động kế hoạch về nhiều lĩnh

vực của quản lý đô thị [2] Trong nửa đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu khoa học

đã có những quyết định khác nhau về các mô hình đô thị Năm 1925, nhà xã hội học Ernest Burgess (Mỹ) đã đem ra “mô hình làn sóng điện” Theo mô hình này thì thành phố chỉ có một trung tâm và 5 vùng đồng tâm Đặc điểm chung của mô hình

đô thị này là tất cả các lĩnh vực đều có xu hướng mở rộng “Mô hình thành phố đa cực” được hai nhà địa lý Marris và Ullman đưa ra vào năm 1945 Mô hình chủ yếu tính đổi các dạng đô thị mới phát sinh do sự phát triển của phương tiện giao thông

[2] Vào năm 1939, “mô hình phát triển theo khu vực” do chuyên gia địa chính

Hamer Hoyt đưa ra chủ yếu tính đến các dạng đô thị phát triển với sự HĐH các quá trình giao thông và nhiều thành phần phát triển theo kiểu khu phố Có thể nói đây là

hệ thống hoàn chỉnh nhất vì nó đã tính đến các trục giao thông lớn

Trang 24

Có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình phát triển đô thị Francois Perrous với quan điểm “thuyết kinh tế chủ đạo” hay còn gọi là “thuyết về các cực tăng trưởng” Ông cho rằng chỉ ở trung tâm đô thị của hai vùng có sự phát triển các ngành công nghiệp, có sức bành chướng mạnh mới có khả năng tăng trưởng lớn nhất Nông nghiệp trọng tâm đô thị ấy là những cực tăng trưởng Đây chính là quan điểm phát triển đô thị lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm Tuy nhiên, theo nghiên cứu của David C Korkn cần phát triển đô thị lấy con người làm trung tâm Ông cho rằng “phát triển là một tiến trình quá trình qua đó các thành viên của xã hội tăng được khả năng cá nhân và định chế của mình để huy động các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững và được phân phối công bằng nhằm cải thiện chất lượng

cuộc sống phù hợp với cuộc sống của họ” [2]

Trong những năm gần đây các ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng đã

có những công trình nghiên cứu về ĐTH ở Việt Nam Đó là các nghiên cứu về “tác động kinh tế xã hội và môi trường của quá trình ĐTH đối với các vùng nông thôn xung quanh các đô thị lớn”, nghiên cứu “tri thức, thái độ hành vi ứng xử của cộng

đồng đối với vấn đề rác thải, môi trường đô thị…” [2]

Những đề tài nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc hoạch định cuộc sống, kế hoạch và quá trình phát triển đô thị nói riêng và cuộc sống, quan hệ phát triển kinh tế - xã hội nói chung Tháng 11/2004,

Bộ Xây dựng đã tổ chức các hội nghị nhằm trao đổi chiến lược phát triển đô thị gắn với xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam, đây là một chiến lược quan trọng mà Việt

Nam đang tích cực triển khai thực hiện [2]

Trang 25

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những vấn đề về lý luận và thực tiễn về đô thị, ĐTH và ảnh hưởng của nó tới phát triển kinh tế xã hội của phường Đề Thám

- Quá trình ĐTH tại phường Đề Thám

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: địa bàn phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng - Cao Bằng

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 05 năm 2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Đề Thám ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp

- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên của phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng - Cao Bằng

- Đặc điểm về tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng ĐTH tại phường Đề Thám

- Đánh giá tiềm năng, cơ hội và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển kinh tế - xã hội và ĐTH của phường Đề Thám

3.3.2 Ảnh hưởng của ĐTH đến sử dụng đất nông nghiệp

- Ảnh hưởng của đô thị hóa đến biến động diện tích đất nông nghiệp:

+ Thực trạng của quá trình chuyển mục đích sử dụng đất

+ Thực trạng của công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất + Vấn đề chuyển mục đích sử dụng giữa các loại đất trong quá trình ĐTH

3.3.3 Ảnh hưởng của ĐTH đến đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp

- Ảnh hưởng của ĐTH tới đời sống kinh tế - xã hội của hộ gia đình:

+ Ảnh hưởng của ĐTH tới biến động đất đai của hộ

Trang 26

+ Ảnh hưởng của ĐTH tới nghề nghiệp của hộ

+ Ảnh hưởng của ĐTH tới thu nhập của hộ

+ Tình hình sử dụng tiền bồi thường đất đai của hộ

- Đánh giá sự ảnh hưởng của ĐTH tới đời sống kinh tế - xã hội của các hộ thông qua các câu hỏi định tính

- Tìm hiểu và đánh giá kế hoạch của hộ trong tương lai

3.3.4 Đánh giá chung tác động của ĐTH

3.3.5 Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng - Cao Bằng

- Định hướng phát triển đô thị phường Đề Thám tới năm 2020

- Những giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế mất đất nông nghiệp và đảm bảo đời sống kinh tế hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp trong khu vực ĐTH

+ Các giải pháp chung

+ Các giải pháp từ phía Nhà nước

+ Nhóm giải pháp liên quan tới Chính quyền địa phương

+ Giải pháp đưa ra cho các hộ nông dân

- Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình ĐTH tại phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng - Cao Bằng

+ Nâng cao nhận thức pháp luật trong quan hệ quản lý sử dụng đất

+ Sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách đất đai phù hợp với quá trình đô thị hóa trong điều kiện nền kinh tế thị trường

+ Điều chỉnh những điểm bất hợp lý và quản lý chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất

+ Tăng cường chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà

nước đối với đất đai

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

3.4.1.1 Chọn địa điểm nghiên cứu

Chọn địa điểm nghiên cứu đại diện phường Đề Thám nằm trong quá trình ĐTH trên phương diện điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm sinh thái của vùng

Trong khi khảo sát, ngoài việc thu thập thông tin từ phỏng vấn, còn sử dụng thêm phương pháp quan sát và ghi chép để từ đó chọn ra các hộ điều tra phù hợp với nội dung nghiên cứu và có tính đại diện cao cho vùng

Trang 27

3.4.1.2 Phương pháp thu thập tài liệu thông tin

Việc thu thập tài liệu thông tin bao gồm việc sưu tầm và thu thập những tài liệu, số liệu liên quan đã được công bố và những tài liệu, số liệu mới tại địa bàn nghiên cứu

b Tài liệu sơ cấp (điều tra các hộ có sản xuất nông nghiệp):

Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài Những số liệu này được thu thập từ việc điều tra các hộ có sản xuất nông nghiệp Các số liệu này được sử dụng để phân tích tình hình hiện trạng sản xuất nông nghiệp của các hộ, tình hình mất đất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tình hình chuyển đổi nghề nghiệp của các hộ do tác động của quá trình ĐTH

Chọn khoảng 60 hộ nông dân thuộc 3 nhóm hộ đó là: nhóm hộ mất hết đất canh tác, nhóm hộ mất một phần đất canh tác và nhóm hộ không mất đất canh tác nằm trong khu vực ĐTH trên địa bàn Phường để điều tra

3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu

3.4.2.1 Phương pháp thống kê so sánh

Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định mức độ,

xu thế biến động của các chỉ tiêu phân tích Phương pháp này cho pháp ta phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau giữa các thời điểm nghiên cứu đã và đang tồn tại trong những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định đồng thời giúp ta phân tích được các động thái phát triển của chúng

3.4.2.2 Phương pháp tổng hợp

Là phương pháp liên kết thống nhất toàn bộ các yếu tố, các nhận xét mà khi

sử dụng các phương pháp có được thành một kết luận hoàn thiện, đầy đủ, vạch ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hoá các vấn đề trong nhận thức tổng hợp

Trang 28

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Phường Đề Thám ở phía Tây của thành phố Cao Bằng Với tổng diện tích tự nhiên là 1102,51 ha Vị trí giáp ranh các xã như sau:

- Phía Bắc giáp với xã Vĩnh Quang - Thành phố Cao Bằng

- Phía Đông và Đông Nam giáp phường Sông Hiến - Thành phố Cao Bằng

- Phía Đông Bắc giáp phường Ngọc Xuân - Thành phố Cao Bằng

- Phía Tây và Nam giáp với xã Hưng Đạo - Thành phố Cao Bằng

Phường Đề Thám có đường Quốc lộ 3, đường tránh Quốc lộ 3 và đường Hồ Chí Minh đi qua địa bàn nên tương đối thuận tiện cho việc giao lưu, phát triển kinh

tế, văn hóa đời sống giữa các phường, xã trong và ngoài thành phố [7]

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

- Phường Đề Thám có địa hình bằng phẳng tuy nhiên lại được chia thành hai loại địa hình tương đối rõ rệt: vùng đồng tương đối bằng phẳng ở phía Bắc, còn phía Nam là đồi thấp có độ dốc trung bình Các địa hình của phường nằm xen lẫn nhau,

bề mặt tương đối bằng phẳng phù hợp với trồng cây lúa, cây ăn quả và hoa màu

Địa hình phường Đề Thám bị chia cắt bởi 2 dạng địa hình:

+ Địa hình đồi núi thấp tập trung chủ yếu ở các xóm Khau Cút, Nà Toòng, Bản Lày, nay là thuộc tổ 13, tổ 21 và tổ 22 Độ cao trung bình từ 150 m đến 200m so với mực nước biển, có độ dốc trung bình từ 10 đến 30%, đất có màu đỏ hoặc vàng

+ Địa hình đất bằng, thung lũng hẹp: Hầu hết các tổ dân phố, khu vực trung tâm của phường là khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng [9]

4.1.1.3 Khí hậu

Nhiệt độ:

Phường Đề Thám có khí hậu nhiệt đới gió mùa với địa hình đón gió nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phương bắc Tuy nhiên nhiệt độ của Phường chưa bao giờ xuống thấp quá 0°C, hầu như vào mùa đông trên địa bàn toàn tỉnh không có băng tuyết

Mùa hè ở đây có đặc điểm nóng ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 30 - 35 °C và thấp trung bình từ 23 - 25 °C, nhiệt độ không lên đến 39 - 40 °C Vào mùa đông, do

Trang 29

địa hình Cao Bằng đón gió nên nó có kiểu khí hậu gần giống với ôn đới, nhiệt độ trung bình thấp từ 5 - 8 °C và trung bình cao từ 18 - 22 °C, đỉnh điểm vào những tháng 12, 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống thấp hơn khoảng từ 2 - 3 °C, độ ẩm thấp, trời hanh khô Mùa xuân và mùa thu không rõ rệt, thời tiết thất thường; mùa xuân thường có tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ chịu

Nhiệt độ trung bình năm từ 22 đến 26°C

Nhiệt độ lớn nhất trung bình năm là 32,6 °C (cao nhất tuyệt đối là 40,5 °C thường xảy ra vào tháng 6)

Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm là 10,3 °C (thấp nhất tuyệt đối là 1,3 °C) Biên độ dao động nhiệt trong ngày : 8,4 °C [9]

Mưa:

Phường Đề Thám nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm hàng năm, có lượng mưa khá phong phú Một năm bình quân có 198 ngày mưa Mùa mưa kéo dài

từ tháng 4 - 10 và chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa hàng năm

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 70% lượng mưa cả năm, mưa ít nhất trong các tháng 1, 2, 3

Số ngày mưa trung bình năm là 128,3 ngày

Lượng mưa trung bình năm 1.600 ml chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và 9 Một số trận mưa lịch sử gây ra lũ đặc biệt lớn trên sông Bằng và gây ra ngập úng [5]

Độ ẩm tuyệt đối nhỏ nhất 2 - 2,5 milibar

Độ ẩm tuyệt đối cao nhất 30 - 32,5 milibar

Độ ẩm tương đối trung bình ~ 80%

Số giờ nắng trong năm 1.690 giờ

Số ngày có mây ~ 200 ngày trong năm

Độ ẩm tương đối trung: 80%

Độ ẩm cao nhất: 86%

Độ ẩm thấp nhất: 36%

Trang 30

Tóm lại : phường Đề Thám có khí hậu nhiệt độ gió mùa nóng ẩm, lượng mưa

khá phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông, lâm nghiệp Tuy nhiên, Phường cần cải tạo hệ thống thuỷ lợi để tránh úng ngập khi có mưa lớn Mặt khác, do khí hậu chia theo mùa rõ rệt thuận lợi cho việc đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, xây dựng các công trình

4.1.1.4 Thủy văn

Phường Đề Thám có sông lớn chảy qua là sông Bằng Giang (sông Mãng) ở phía bắc, sông nằm trên đường địa giới giáp với xã Vĩnh Quang - thành phố Cao Bằng Ngoài ra trên địa bàn phường còn có các khe, suối chảy từ vùng đồi phía nam theo hướng bắc ra sông Bằng Giang

Chế độ thủy văn của Phường chủ yếu phụ thuộc vào lượng mưa và khả năng điều tiết của hệ thống sông Bằng Giang (sông Mãng) Có thể chia làm hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa cạn

Mùa lũ: Xuất hiện vào đầu tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 10

Mùa cạn: Xuất hiện vào đầu tháng 2 và kết thúc vào cuối tháng 3

4.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên

+ Đất đồi, phân bố dọc theo các triền suối, đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt lớn, hạt thô, chịu ảnh hưởng trực tiếp của địa hình, độ che phủ thực vật xung

Trang 31

quanh Về thành phần hoá học, tỷ lệ mùn trong đất trung bình, đạm tổng số và đạm

dễ tiêu khá, đất có phản ứng chua, chất dinh dưỡng trung bình Loại đất này thích hợp cho trồng lúa màu và cây công nghiệp hàng năm

+ Đất dốc tụ trồng lúa nước, phân bố xen kẽ, rải rác, luồn lỏi ở khắp các đồi núi, chứa nhiều cát, thành phần cơ giới thịt nhẹ, đến trung bình Đất có phản ứng chua, thiếu lân nghèo chất dinh dưỡng

+ Đất Feralít biến đổi do trồng lúa, đây là loại đất để trồng lúa nước Tầng đất

mỏng, các chất đạm, mùn tổng số khá, lân, kali tổng số bình thường, các chất dễ tiêu nghèo, đất dễ chua Do địa hình có chỗ trũng, chỗ cao nên khả năng giữ nước, giữ màu giảm Hiện nay loại đất này đang được cấy hai vụ lúa hoặc một lúa một màu, nhưng bị hạn hán do không chủ động nước nên thường xuyên bỏ hoá vụ đông xuân

+ Đất Feralít nâu vàng phát triển trên phù sa cổ: phân bố rải rác ở các ven

sông suối của địa hình đồi núi thoải

+ Đất Feralít phát triển trên phiến thạch sét: Có thành phần cơ giới nặng, đất

phân bố tập trung, tầng đất dày hay mỏng và tỷ lệ mùn trong đất phụ thuộc vào mức

độ che phủ của cây rừng, ở những vùng còn nhiều rừng phần lớn đất có tầng dày, tỷ

lệ mùn khá và ngược lại Phần lớn loại đất này nằm trên địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn Loại đất này thích hợp cho phát triển lâm - nông nghiệp, trồng rừng ở những nơi tầng đất mỏng, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả [5]

* Tài nguyên nước

Tài nguyên nước của Phường bao gồm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm:

- Nguồn nước mặt: Do đặc tính đặc biệt của hệ thống thuỷ văn mà mà nguồn nước mặt của Phường rất dồi dào đặc biệt vào mùa mưa Nguồn nước mặt chủ yếu được cung cấp được cung cấp bởi sông Bằng (diện tích lưu vực F= 951km2 có độ dốc bình quân i=1,03%) và các khe, suối trên địa bàn Phường Bên cạnh đó phường

Đề Thám còn được cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất nhờ hệ thống hồ chứa nước Khuổi Lái thuộc địa bàn xã Vĩnh Quang Tuy nhiên nguồn nước mặt có nhược điểm: đục cao về mùa mưa, mực nước biến động lớn theo mùa, bờ sông bị xói lở và nguy cơ ô nhiễm cao từ các hoạt động khác nhau

- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của Phường khá phong phú, có chất lượng đảm bảo cho sinh hoạt Điều kiện khai thác dễ dàng đáp ứng yêu cầu cả khai thác đơn giản trong sinh hoạt của nhân dân và khai thác quy mô công nghiệp

Trang 32

* Tài nguyên rừng

Năm 2013, Phường Đề Thám có 246,91 ha đất lâm nghiệp có rừng chiếm 22,39% diện tích đất tự nhiên của Phường, trong đó có 218,25 ha rừng sản xuất với một số loại cây chủ yếu là keo tai tượng, thông…phân bố nhiều ở các xóm Khau Cút, Nà Toòng, Bản Lày

* Tài nguyên khoáng sản

Đến nay trên địa bàn Phường chưa phát hiện được loại tài nguyên khoáng sản nào quan trọng ngoài cát, sỏi… với trữ lượng hạn chế Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của Phường nghèo cả về chủng loại và số lượng

* Tài nguyên nhân văn

Theo số liệu thống kê năm 2013 phường Đề Thám có 23 tổ dân phố với trên

7 nghìn dân, gồm các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao…cùng nhau sinh sống trên địa bàn, dân tộc Tày chiếm 85% dân số Người dân nơi đây luôn đề cao truyền thống đoàn kết, cần cù lao động xây dựng cuộc sống văn minh

Nhân dân phường Đề Thám với truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, ngày nay họ đã phấn đấu vươn lên trong lao động và sản xuất Đảng bộ và nhân dân Phường đã đoàn kết nhất trí, tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KTXH, an ninh quốc phòng trong thời kỳ đổi mới Đây được đánh giá là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Thành phố nói chung và phường Đề Thám nói riêng trong những năm tới để xây dựng phường Đề Thám thành khu vực đô thị năng động và phát triển

Với lịch sử văn hiến, truyền thống cách mạng, người dân trong phường cần

cù, sáng tạo, có ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất Đội ngũ cán bộ, lãnh đạo trẻ có trình độ, đủ năng lực để lãnh đạo các mặt chính trị, kinh tế xã hội của Phường vững bước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Người dân hiện nay đã và đang thực hiện nếp sống văn minh, tiết kiệm xóa

bỏ những thủ tục lạc hậu nhằm vươn tới một xã hội văn minh, lành mạnh

Trên địa bàn Phường có 01 điểm di tích lịch sử, văn hoá được lập hồ sơ quản

lý, di tích được xếp hạng cấp Tỉnh Khu di tích lưu niệm Hoàng Đình Giong ở làng

Nà Toàn nay thuộc tổ 14 phường Đề Thám Hoàng Đình Giong người con ưu tú của mảnh đất Đề Thám, một chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp của Đảng trong thời kì kháng chiến chống Pháp Ghi nhận những cống hiến và công lao đóng góp to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng vẻ

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2. Dự báo dân số, lao động phường Đề Thám đến năm 2020 - Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.
Bảng 4.2. Dự báo dân số, lao động phường Đề Thám đến năm 2020 (Trang 35)
Bảng 4.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của phường Đề Thám - Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.
Bảng 4.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của phường Đề Thám (Trang 36)
Bảng 4.4. Sự biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015 - Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.
Bảng 4.4. Sự biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015 (Trang 39)
Bảng 4.6. Kết quả thu hồi đất ở phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 - Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.
Bảng 4.6. Kết quả thu hồi đất ở phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 (Trang 41)
Bảng 4.8. Một số thông tin cơ bản về các chủ hộ - Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.
Bảng 4.8. Một số thông tin cơ bản về các chủ hộ (Trang 44)
Bảng 4.9. Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi - Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.
Bảng 4.9. Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi (Trang 45)
Bảng 4.10. Tình hình nghề nghiệp của hộ trước và sau đô thị hóa - Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.
Bảng 4.10. Tình hình nghề nghiệp của hộ trước và sau đô thị hóa (Trang 46)
Bảng 4.12. Tình hình sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai của hộ - Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.
Bảng 4.12. Tình hình sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai của hộ (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm