Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Điều tra, tuyển chọn được những cây chè Trung du ưu tú cho năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp điều kiện ngoại cảnh tại xã Tân Cương -Thái Nguyên.. -
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUÂN THỊ BÍCH THÙY
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU, TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CHÈ TRUNG DU
TẠI XÃ TÂN CƯƠNG - TP THÁI NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn : TS Dương Trung Dũng
Thái Nguyên, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Bước chân vào giảng đường đại học em thấy mình thật may mắn
Đặc biệt, được khoác trên mình dòng chữ “Sinh viên trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên”, một ngôi trường đã gắn bó với biết bao thế hệ đi trước,
có trên bốn mươi năm kinh nghiệm giảng dạy và đào tạo đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp cho các tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc Việt Nam
Thực tập tốt nghiệp là khâu cuối cùng của tất cả các sinh viên trước khi ra trường, nó như là trang giấy cuối cùng tổng kết lại tất cả những gì đã viết trong một cuốn sách cũng như là bài tổng kết lại quá trình học tập, rèn luyện về đạo đức, kỹ năng và tư cách của một người sinh viên
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Nông học, Bộ môn cây lương thực và cây công nghiệp, em đã tiến hành
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, tuyển chọn cây đầu dòng và biện pháp kĩ thuật nhân giống chè Trung du tại xã Tân Cương - TP Thái Nguyên”
Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong nhà trường, gia đình, bạn bè đã cùng em đi suốt chặng đường vừa qua Đặc biệt, em muốn cảm ơn tới thầy giáo
TS.Dương Trung Dũng đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian em
thực tập tại trường
Do kiến thức và thời gian còn hạn chế nên trong khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em hy vọng rằng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp chân thành từ các thầy, các cô và các bạn để khóa luận của
em ngày một hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Luân Thị Bích Thùy
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố cây chè 4
2.2.1 Nguồn gốc cây chè 4
2.2.2 Phân loại cây chè 5
2.2.3 Sự phân bố của cây chè 7
2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây chè 8
2.3 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên Thế giới và trong nước 9
2.3.1 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới 9
2.3.1.1 Tình hình sản xuất 9
2.3.1.2 Tình hình nghiên cứu chè trên Thế giới 13
2.3.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè ở Việt Nam 14
2.3.2.1 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam 14
2.3.2.2 Tình hình sản xuất chè ở Thái Nguyên 16
2.3.2.3 Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam 21
PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng, dụng cụ, địa điểm, thời gian nghiên cứu 29
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.2 Dụng cụ nghiên cứu 29
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
3.2 Nội dung nghiên cứu 30
3.3 Phương pháp nghiên cứu 30
3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 30
3.3.2 Phương pháp điều tra tuyển chọn cây chè Trung du đầu dòng 30
Trang 43.3.3 Nghiên cứu đánh giá, khả năng nhân giống vô tính bằng phương
pháp giâm cành của cây chè Trung du ưu tú 32
2.3.4 Phương pháp xử lí số liệu 34
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Điều kiện tự nhiên xã Tân Cương – TP Thái Nguyên 35
4.1.1 Vị trí địa lý 35
4.1.2 Địa hình,đất đai 35
4.1.2.1 Địa hình 35
4.1.2.2 Đất đai 35
4.2 Ảnh hưởng của thời tiết Thái Nguyên đến cây chè 35
4.3 Kết quả tuyển chọn cây chè Trung du 38
4.4 Đặc điểm hình thái của các cây chè Trung du ưu tú 39
4.4.1 Đặc điểm thân cành 39
4.4.2 Đặc điểm lá của các cây chè Trung du ưu tú 41
4.4.3 Đặc điểm búp chè của những cây chè Trung du ưu tú 44
4.4.4 Đặc điểm sinh trưởng của các cây chè Trung du ưu tú 45
4.4.5.1 Đặc điểm sinh trưởng búp 45
4.4.5.2 Khả năng cho năng suất của các cây chè Trung du ưu tú 46
4.5 Kết quả nghiên cứu khả năng nhân giống các cây chè Trung du 48
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Diện tích chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính
năm 2008 – 2012 10
Bảng 2.2: Năng suất chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính năm 2008 – 2012 11
Bảng 2.3: Sản lượng chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính năm 2008 – 2012 12
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam từ năm 2002 – 2011 15
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Thái Nguyên từ năm 2005 – 2011 18
Bảng 2.6: Diện tích trồng, diện tích thu hoạch, sản lượng chè của một số địa phương trong tỉnh Thái Nguyên năm 2011 20
Bảng 4.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2013 36
Bảng 4.2: Kết quả tuyển chọn cây chè trung du ưu tú 39
Bảng 4.3: Đặc điểm hình thái thân cành 40
Bảng 4.4: Đặc điểm, hình dạng màu sắc lá cây chè Trung du ưu tú 42
Bảng 4.5: Kích thước và số đôi gân chính của chè Trung du ưu tú 43
Bảng 4.6: Đặc điểm búp của các cây chè Trung du ưu tú 44
Bảng 4.7: Thời gian sinh trưởng búp và số lứa hái trong năm của các cây chè Trung du ưu tú 46
Bảng 4.8: Năng suất trung bình của các cây chè Trung du ưu tú 47
Bảng 4.9: Tỉ lệ ra mô sẹo của cây chè Trung du ưu tú 49
Bảng 4.10: Tỉ lệ ra rễ của cây chè của các cây chè Trung du ưu tú 51
Bảng 4.11: Tỷ lệ nảy mầm 53
Bảng 4.12: Tỷ lệ sống của chè Trung Du 55
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Loại bỏ các cá thể qua các chỉ tiêu đo đếm 23
Sơ đồ 2.2: Chọn lọc cá thể chè 25
Sơ đồ 2.3: Đợt sinh trưởng tự nhiên 27
Hình 4.1: Biểu đồ năng suất trung bình của các cây chè Trung du ưu 47
Hình 4.2: Biểu đồ tỷ lệ ra mô sẹo của cây chè trung du ưu tú 50
Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ ra rễ của cây chè của các cây chè Trung du ưu tú 52
Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ nảy mầm của các cây chè Trung du ưu tú 53
Hình 4.6: Biểu đồ tỷ lệ sống của các cây chè Trung du ưu tú 55
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L) O kuntze) là cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, châu Phi Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì cây chè được trồng
ở hơn 60 nước trên Thế giới, trong đó có Việt Nam [12]
Chè có giá trị về kinh tế, văn hóa và dinh dưỡng Hầu hết các bộ phận của cây chè như búp, lá, nụ hoa, không những là nguyên liệu chính dùng để chế biến các loại sản phẩm trà uống giải khát, thanh nhiệt mà còn
có nhiều tác dụng như là một vị thuốc trong y học Nước chè có tác dụng
bổ dưỡng, chống được lạnh, làm giảm sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm cho tinh thần minh mẫn Sở thích thưởng trà từ lâu đã trở thành thú vui thanh tao, quý phái và là nét đẹp văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc trên Thế giới Thói quen uống trà ngày càng phổ biến ở nhiều lứa tuổi và nhiều quốc gia trên thế giới [5]
Ngoài vai trò là thức uống có giá trị dinh dưỡng và dược liệu, việc trồng chè còn có khả năng khai thác tốt tiềm năng đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn miền núi [2]
Việt Nam được xem là một trong những quê hương của cây chè và sản phẩm chè từ lâu đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nền nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm của nước ta Chè Việt Nam đứng thứ 5 trên Thế Giới về diện tích và sản lượng xuất khẩu Nước
ta là một trong những nước có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất chè, nhất là ở địa bàn miền núi và trung du Cây chè
được trồng ở Việt Nam từ lâu đời (4000 năm), hiện nay đã được phát triển
ở 34 tỉnh, thành phố trong cả nước Cây chè ở Việt Nam cho năng suất, sản
lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế Với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu cũng
Trang 9như tiêu dùng trong nước Cây chè được coi là cây mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực trung du và miền núi [2]
Thái Nguyên là một tỉnh Trung du, miền núi Bắc Bộ, được thiên nhiên
ưu đãi một hệ thống đất đai và điều kiện khí hậu thời tiết khá thích hợp cho
phát triển cây chè So với các huyện trong tỉnh, thành phố Thái Nguyên có diện tích chè khá lớn được phân bố chủ yếu ở các xã phía Tây, với các vùng trọng điểm là các xã: Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Thịnh Đức Hiện nay, cây chè Thái Nguyên trở thành một trong những cây trồng mũi nhọn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân trong Tỉnh
Thực tế trong sản xuất người dân đang dần bỏ các giống chè Trung
du thay thế bằng các giống chè lai hay loại cây trồng khác Để phục tráng lại giống chè Trung du cần thực hiện chọn lọc cây đầu dòng để duy trì nguồn gen quý, lựa chọn cây ưu tú phục vụ cho nhân giống chè Trung du bằng cành chất lượng tốt đảm bảo đồng đều cho quần thể chè Đây là lợi thế để nghiên cứu giống chè Trung du phát triển trong sản xuất Trên cơ sở
đó tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, tuyển chọn cây đầu dòng và biện
pháp kỹ thuật nhân giống chè Trung du tại xã Tân Cương - TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Điều tra, tuyển chọn được những cây chè Trung du ưu tú cho năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp điều kiện ngoại cảnh tại xã Tân Cương -Thái Nguyên
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển và đặc điểm hình thái của cây chè trung du ưu tú
- Đánh giá được khả năng nhân giống của cây chè Trung du ưu tú
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Chọn được các cây chè Trung du đầu dòng làm vườn ươm cây giống gốc có năng suất cao, chất lượng tốt, cung cấp hom chè giống để phát triển vùng chè
- Góp phần bảo tồn giống chè Trung du mang nhiều đặc tính quý
- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khao có giá trị cho cán bộ khoa học kỹ thuật, cho người sản xuất kinh doanh chè, cho giáo viên, sinh viên, học viên học tập, nghiên cứu về cây chè
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm Cây chè sau trồng 2 – 3 năm
đã có khả năng ra hoa Cây chè có từ 2000 – 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp, thường chỉ đạt từ 2 – 4 % Hoa chè là hoa lưỡng tính
nhưng khả năng tự thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa, đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân ly lớn về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng Nói chung những cây chè con mọc từ hạt có sự phân ly lớn so với cây mẹ
Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả năng nhân giống bằng hạt thì người ta có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành… Ưu điểm của phương pháp nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ được những đặc tính tốt của cây mẹ, vườn chè có độ đồng đều cao, có khả năng cho năng suất cao hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế biến Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất chè trên thế giới cũng như Việt Nam, các giống chè thường được nhân giống bằng phương pháp giâm cành
Khả năng giâm cành của chè phu thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó có 3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống Thời vụ giâm cành (điều kiện môi trường ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vườn ươm
Giống chè Trung du của tỉnh Thái Nguyên, hầu hết được mọc từ hạt
do vậy phân ly rất lớn về sinh trưởng, phát triển và các đặc điểm hình thái Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của đề tài Nghiên cứu chọn lọc cây đầu dòng phục vụ công tác nhân giống cho vùng
2.2 Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố cây chè
2.2.1 Nguồn gốc cây chè
Nguồn gốc của cây chè là vấn đề phức tạp, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc cây chè, dựa trên những cơ sở về lịch
Trang 12sử, khảo cổ học và thực vật học Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhất là:
Cây chè có nguồn gốc ở Vân Nam - Trung Quốc:
Theo Daraselia, Gruzia (1989) thì các nhà khoa học Trung Quốc như Schenpen, Jaiding … đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ ở Trung Quốc như sau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu của hàng loạt con sông lớn đổ về các con sông ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma Đầu tiên, cây chè mọc ở Vân Nam, sau đó hạt chè di chuyển trôi theo dòng nước đến các vùng nói trên
và lan sang các vùng khác Cũng theo Daraselia, dựa trên cơ sở học thuyết
“Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop thì cây chè có nguồn gốc
ở Trung Quốc, phân bố ở khu vực Đông nam, men theo cao nguyên Tây
Tạng [6]
Cây chè có nguồn gốc ở vùng Atxam (Ấn Độ):
Năm 1823, R.Bruce đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ ), từ đó các học giả người Anh cho rằng: Nguyên sản của cây chè là ở vùng Atxam chứ không phải ở Vân Nam - Trung Quốc [6]
Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam:
Những công trình nghiên cứu của Djemukhatze (1961 - 1976) về phức catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechin của lá chè được trồng trọt và mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm
về sự tiến hoá sinh hoá của cây chè và trên cơ sở đó xác minh “Nguồn gốc
cây chè chính là ở Việt Nam”[6]
Các quan điểm nêu trên tuy có khác nhau về địa điểm nhưng đều có
điểm chung thống nhất là: Nguyên sản của cây chè là ở châu Á, nơi có điều
kiện khí hậu nóng ẩm [6]
2.2.2 Phân loại cây chè
Khi nghiên cứu về cây chè, năm 1753 nhà thực vật học nổi tiếng Line đã đặt tên cho cây chè là: Thea sinensis, sau lại đặt là Camellia Sinensis Vấn đề này cũng được nhiều nhà nghiên cứu tranh luận và cũng
có rất nhiều cách đặt tên Theo Nguyễn Ngọc Kính thì cách phân loại của Cohen Stuart (1919) được các nhà thực vật học thống nhất đến nay:
Trang 13Dựa vào các đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh hóa, nguồn gốc phát sinh cây chè Cohen Stuart chia Camellia Sinensis ra làm bốn thứ:
a) Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea)
Đặc điểm:
- Cây bụi thấp phân cành nhiều
- Lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 - 6,5 cm
- Có 6 - 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều
- Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường
- Khả năng chịu rét ở độ nhiệt -120C đến -150C
Phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng khác
b) Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla)
Đặc điểm:
- Thân gỗ nhỡ cao tới 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên
- Lá to trung bình chiều dài 12 - 15 cm, chiều rộng 5 - 7 cm, màu xanh nhạt, bóng, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn
- Có trung bình 8 - 9 đôi, gân lá rõ
- Năng suất cao, phẩm chất tốt
Nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc)
Trang 14c) Chè Shan (Camellia sinensis var Shan)
Đặc điểm:
- Thân gỗ, cao từ 6 đến 10 m
- Lá to và dài 15 - 18 cm màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày
- Tôm chè có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết, nên còn gọi là chè tuyết
- Có khoảng 10 đôi gân lá
- Có khả năng thích ứng trong điều kiện ấm ẩm, ở địa hình cao, năng suất cao, phẩm chất thuộc loại tốt nhất
Nguyên sản ở Vân Nam - Trung Quốc, miền Bắc của Miến Điện và Việt Nam
d) Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var assamica)
Đặc điểm:
- Thân gỗ cao tới 17 m phân cành thưa
- Lá dài tới 20 - 30 cm, mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng
lá hình bầu dục, phiến lá gợn sóng, đầu lá dài
- Có trung bình 12 - 15 đôi gân lá
2.2.3 Sự phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu Các kết quả nghiên cứu đều đưa đến một kết luận chung là: Vùng khí hậu nhiệt
đới, á nhiệt đới thích hợp cho cây chè Ngày nay, do trình độ khoa học kỹ
thuật ngày càng phát triển đã lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống chè khác nhau
và được trồng rộng rãi ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Theo Đỗ Ngọc Quỹ [13], thì hiện nay chè được phân bố khá rộng từ 42º vĩ Bắc Pochi (Liên Xô cũ) đến 27º Nam Coriente (Achentina)
Trang 15Sự phân bố của cây chè theo điều kiện khí hậu đất đai và địa hình cũng có sự khác nhau Đất trồng chè tốt phải nhiều mùn, thoát nước tốt và
có độ dốc thoải Ảnh hưởng của độ cao đã hình thành nên các vùng chè với nhiều giống chè, chất lượng khác nhau Các nhà khoa học cho rằng: Chè trồng ở những vùng có độ cao lớn hơn so với mặt nước biển thường có chất lượng tốt hơn so với chè trồng ở vùng thấp
Về điều kiện khí hậu, chè sinh trưởng tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 15ºC đến 20ºC, tổng nhiệt độ hàng năm vào khoảng 8.000ºC; lượng mưa trung bình hàng năm 1500 – 2000 mm; độ ẩm đất 70 - 80% Tuy nhiên với khả năng thích nghi rộng cùng với sự tiến bộ của khoa học hiện nay chè
được trồng ở những vùng khắc nghiệt hơn [6]
2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây chè
Chè là cây công nghiệp lâu năm có chu kì kinh tế dài, sản phẩm cho thu hoạch chính là lá và búp non Trong thời gian sống cây chè trải qua 2 chu kì phát triển lớn và chu kì phát triển nhỏ
- Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống của cây chè được chia làm 5 giai đoạn: Giai đoạn phôi thai, đây là giai đoạn đầu tiên của cây chè chủ yếu nằm ở vườn chè giống lấy hạt hoặc lấy cành -> giai đoạn cây con trong vườn ươm -> giai đoạn cây con -> giai đoạn cây chè trưởng thành -> giai đoạn chè già cỗi
- Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hàng năm) bao gồm giai đoạn sinh trưởng và giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng Giai đoạn sinh trưởng của cây chè gồm 2 quá trình hoạt động song song: Sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Tùy điều kiện ngoại cảnh và sinh trưởng của giống
mà cây chè có những ưu thế sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực khác nhau
Những đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè là kết quả phản ánh tổng hợp giữa các đặc điểm của giống (tính di truyền) với các điều kiện ngoại cảnh Như vậy nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển của giống trong các vùng sinh thái khác nhau chúng ta sẽ đánh giá được khả năng thích ứng của giống trong từng vùng sinh thái, từ đó đề ra các biện pháp kỹ
Trang 16thuật canh tác thích hợp tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất búp cao, phẩm chất tốt
Nghiên cứu mối quan hệ giữa giống chè và môi trường sống, tác giả Carr (1972), Wickramaratne (1981) cho thấy, sự thay đổi môi trường nếu không được xem xét kỹ khi lựa chọn giống chè sẽ không phát huy được bản chất tốt của giống mà còn có tác dụng ngược lại Cây chè trồng trong môi trường thích hợp là yếu tố quan trọng quyết định đến sản lượng và chất lượng chè
2.3 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên Thế giới và trong nước
2.3.1 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên Thế giới
2.3.1.1 Tình hình sản xuất
Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (khoảng hơn 4000 năm) [6] Ngày nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng, thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo
Theo Đỗ Ngọc Quỹ (2008) [14], quốc gia đầu tiên trên Thế giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào những năm 805 sau Công Nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, vào Malaixia năm 1914, đến năm 1920 thì tiến tới các nước Châu Phi như: Kenia, Malavi, Ghine, Trên Thế giới cây chè được phát triển với tốc độ rất nhanh, đặc biệt là từ đầu thế kỷ 18 trở lại
đây Đến năm 2000, đã có hơn 100 nước trồng và xuất khẩu chè
Tình hình sản xuất chè trên Thế giới trong những năm gần đây được thể hiện như sau:
Trang 17Bảng 2.1: Diện tích chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính
Kenya 157.700 158.400 171.900 187.855 190.600 Bangladest 58.005 59.000 59.700 56.670 58.000 Châu Á 2.661.699 2.684.098 2.779.168 2.879.925 2.912.072 Thế giới 2.969.025 2.997.607 3.117.531 3.256.762 3.275.991
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[20]
Qua số liệu bảng 2.1 cho thấy:
Tính đến năm 2012 diện tích chè trên Thế giới đạt 3.275.991 ha tăng 306.966 ha tương đương 9,37% so với năm 2008 Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích trồng chè lớn nhất Thế giới với diện tích 1.513.000 ha, chiếm 46,18% tổng diện tích chè toàn Thế giới Ấn Độ là nước đứng thứ 2 với diện tích là 605.000ha, chiếm 18,47% tổng diện tích chè toàn thế giới Diện tích chè Việt Nam đạt 115.964 ha chiếm 3,54% tổng diện tích chè toàn Thế giới
Trang 18Diện tích chè tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á chiếm 88,89% (2.912.072 ha) tổng diện tích toàn Thế giới, đây cũng là nơi phát sinh ra cây chè
(Nguồn: Thống kê của FAO năm 2013)[20]
Qua số liệu bảng 2.2 cho thấy:
Tính đến năm 2012, năng suất chè trên Thế giới đạt 14,707 tạ chè khô/ha tăng 3,52 tạ chè khô/ha tương đương 19,88% so với năm 2008 Kenya là nước có năng suất chè cao nhất đạt 19,381 tạ chè khô/ha, vượt
Trang 19hơn năng suất bình quân của Thế giới là 9,45% Mianma là nước có năng suất thấp nhất chỉ đạt 4,051 tạ chè khô/ha tương ứng 22,88% năng suất chè thế giới Việt Nam tính đến năm 2012 đạt năng suất 18,704 tạ chè khô/ha vượt hơn năng suất bình quân của Thế giới là 5,6%, so với năng suất bình quân châu Á là 303,32%
Trang 20Qua số liệu bảng 2.3 cho thấy:
Sản lượng chè toàn Thế giới năm 2012 là 4.818.118 tấn tăng 606,721tấn, tương đương 12,59 % so với năm 2008 Trung Quốc là nước
có sản lượng chè lớn nhất thế giới đạt 1.714.902 tấn chiếm 35,59 % tổng sản lượng chè toàn thế giới,chiếm 41,79 % tổng sản lượng chè Châu Á Sản lượng chè thấp nhất là Mianma chỉ đạt 32.000 tấn chiếm 0,66% tổng sản lượng chè toàn thế giới Việt Nam đạt sản lượng 216.900 tấn chiếm 4,50% tổng sản lượng chè toàn thế giới
2.3.1.2 Tình hình nghiên cứu chè trên Thế giới
Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới Nghiên cứu
sử dụng giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc quan tâm từ rất sớm
Ngay từ đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt ở Vũ Di Sơn Các giống chè Thuỷ Tiên (1821 - 1850), Đại Bạch Trà (1850), Thiết Quan Âm đã có từ hơn 200 năm về trước đều là những giống chè chiết cành
Năm 1956 Trần Khôi Dũ đưa ra phương pháp chọn giống 100 điểm,
đối với cây ăn quả và phương pháp này đã được phát triển theo chiều sâu
Giống chè được chọn lọc, khảo nghiệm đánh giá bằng cách xác định mối tương quan giữa các yếu tố hình thái, sinh trưởng của cây chè với sản lượng hoặc dựa trên mối tương quan giữa các yếu tố đó với nhau
Ngoài những giống nổi tiếng từ lâu đời, hiện nay Trung Quốc có nhiều giống chè cho năng suất cao, chất lượng rất tốt cho cả chế biến chè xanh và chè đen như: Phúc Vân Tiên (1957 - 1971), Hoa Nhật Kim, Hùng
Đỉnh Bạch (Phúc Kiến), Phú Thọ 10 (Vân Nam), Long Vân 2000 (Triết
Giang)
Srilanca rất chú ý đến công tác chọn dòng, kết hợp chọn dòng có sản lượng cao, có khả năng chống hạn và chống bệnh Trong những năm 1940
Trang 21đã chọn ra các dòng chè TRI2020, trong đó có các giống nổi tiếng như TRI777, TRI2043 Trong những năm 1950, 1960 Srilanca đã chọn ra các dòng chè triển vọng như TRI14, DT, DN, DP và DV
Hiện nay diện tích trồng chè bằng các giống chè được nhân giống vô tính đạt trên 40% diện tích trồng chè trong cả nước
Theo Satoshi Yamagushi, Jitanaka (1995), giống chè chủ yếu ở Nhật Bản là giống chè lá nhỏ, phù hợp cho chế biến chè xanh
Công tác chọn dòng cũng được đặc biệt chú ý ở Nhật Bản, nhiều giống chè mới đã được đưa vào sản xuất, trong đó giống Yabukita được trồng phổ biến nhất chiếm tới 70% diện tích chè ở Nhật Bản
Kenia mới chỉ bắt đầu sản xuất chè vào những năm 1925 - 1927 tuy nhiên do có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển,
do chú trọng đầu tư, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cho nên Kênia là một trong những quốc gia có năng suất chè cao nhất thế giới, đạt trên 1500kg chè khô/ha Kênia lần đầu tiên nhập giống chè vào năm 1903
và trồng thành công ở Limuri với diện tích ban đầu là 0,81ha, cho đến nay công tác giống được quan tâm rất nhiều ở Kênia Các giống chè chọn lọc, giâm cành cho năng suất cao hơn giống chè đại trà tới 20% Diện tích chè
được trồng bằng các giống chọn lọc, giâm cành chiếm tới 67% ở khu
vực tiểu nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các đồn điền lớn Ngoài nhân giống bằng hình thức giâm cành, Kênia còn nhân giống bằng hình thức ghép
2.3.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè ở Việt Nam
2.3.2.1 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Việt Nam có lịch sử trồng chè từ rất lâu nhưng mới được chú ý trồng
và phát triển trên quy mô lớn khoảng 100 năm trở lại đây Điều kiện đất đai
và khí hậu nước ta rất thích hợp cho cây chè phát triển, 2/3 diện tích là đất
Trang 22đồi núi, đặc biệt ở những vùng núi cao và có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt
lại tạo lên những giống chè đặc sản nổi tiếng
Những năm gần đây chè được quan tâm nhiều hơn, đầu tư phát triển trên mọi phương diện nhằm khuyến khích người trồng chè tăng thu nhập cho người sản xuất và kim ngạch xuất khẩu Nhà nước
Việt Nam có 35 trên 63 tỉnh, thành phố trồng chè, chủ yếu tập trung
ở vùng trung du miền núi phía Bắc và cao nguyên Lâm Đồng với gần
130.000 ha Hiện có khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến
10 tấn nguyên liệu chè búp tươi/ngày) cùng với hàng ngàn hộ dân lập xưởng để chế biến tại gia đình Đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động,
chiếm 50% tổng số dân sống trong vùng chè
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam
Trang 23Theo số liệu bảng 2.4 cho thấy rằng :
Từ năm 2002 đến 2012 diện tích, năng suất, sản lượng và xuất khẩu chè tăng nhanh Năm 2012 diện tích chè là 115.900 ha, tăng 38.700ha
tương ứng 40,13% so với năm 2002 Năng suất bình quân năm 2012 là 18,7
tạ khô/ha, tăng 6,5 tạ khô/ha tương ứng 53,28 % so với năm 2002 Sản lượng chè theo đó cũng tăng mạnh đạt 216.900 tấn búp khô vào năm 2012 tăng 122.700 tấn tương ứng 130,25% so với năm 2002
2.3.2.2 Tình hình sản xuất chè ở Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh có điều kiện đất đai địa hình, khí hậu khá phù hợp với sự phát triển của cây chè Thái Nguyên xác định cây chè là cây công nghiệp chủ lực, đóng góp trong nền kinh tế thị trường
Thái Nguyên nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu kinh tế giữa vùng Trung
Du Miền Núi phía Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, có độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 200 – 300m, thấp dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông Tỉnh Thái Nguyên được bao bọc bởi các dãy núi cao bắc Sơn, Ngân Sơn và Tam Đảo Đỉnh cao nhất thuộc dãy Tam Đảo có độ cao 1.592m Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số khoảng 1.127.200 người
Tỉnh Thái Nguyên có phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Với vị trí
địa lý như vậy Thái Nguyên đã trở thành một trong những trung tâm kinh
tế, chính trị, giáo dục của khu vực Việt Bắc nói riêng và của vùng Trung du Miền Núi phía Bắc nói chung
Trang 24Tỉnh có diện tích đất nông nghiệp là 275.301,11 ha, địa hình Thái Nguyên ít bị chia cắt, độ cao trung bình so với mắt nước biển khoảng 200 – 300m, nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu nên Thái Nguyên có khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa
rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau Lượng mưa trung bình năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm Tổng số giờ nắng dao động từ 1300 đến 1750 giờ và phân phối tương đối đều trong các tháng trong năm
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp ở Thái Nguyên, nhóm đất chủ yếu là nhóm đất Feralit với độ cao 20 - 200 m so với mặt nước biển rất thích hợp để trồng và phát triển cây chè Trong nhóm đất này thì ưu thế hơn cả là đất vàng
đỏ trên phiến thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên phù sa cổ
Thái Nguyên đã quy hoạch vùng sản xuất chè thành 2 vùng chính: Vùng chè Tân Cương gồm có Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân và vùng chè Trại Cài Sản phẩm ở Thái Nguyên với thương hiệu nổi tiếng chè Tân Cương đã chiếm được một thị trường khá rộng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương, trong nước và nhu cầu thế giới, góp phần phát triển ngành chè Việt Nam trong việc hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới
Người dân có nhiều kinh nghiệm trong trồng trọt và chế biến đặc biệt
có kinh nghiệm sản xuất chè truyền thống từ lâu đời, đã hình thành nên nhiều vùng chuyên canh cây chè có sản phẩm chè ngon được người tiêu dùng ưa chuộng như: Tân Cương, Trại Cài Thái Nguyên đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ cả về diện tích, năng suất, sản lượng cũng như chất lượng chè và đã trở thành một trong những vùng chè nổi tiếng của cả nước
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên thì diện tích, năng suất, sản lượng chè Thái Nguyên trong những năm trở lại
đây được thể hiện ở bảng 2.5:
Trang 25Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Thái Nguyên
từ năm 2004 - 2011
tích(ha)
Diện tích kinh doanh(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng tươi (nghìn tấn)
Sản lượng khô (nghìn tấn)
Năng suất chè năm 2004 mới chỉ đạt 73,07tạ/ha nhưng đến năm
2011 đạt 108,73 tạ/ha, tăng 35,66 tạ/ha Cùng với sự tăng nhanh về diện tích và năng suất thì sản lượng chè cũng tăng mạnh Năm 2011 đạt 181,02 tấn tăng 86,02 tấn so với năm 2004 Kết quả cho thấy sự quan tâm, đầu tư phát triển cây chè trở thành cây trồng mũi nhọn của lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên Hiệu quả từ các chủ trương, chính sách, các dự án phát triển cây chè mang lại là rất cao
Trang 26Cây chè được tỉnh Thái Nguyên xác định là cây xóa đói giảm nghèo
và làm giàu của nông dân được trồng tập trung ở một số huyện như Định Hóa, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương, Phổ Yên, thành phố Thái Nguyên Giai
đoạn 2000 - 2005, tỉnh đã thực hiện đề án phát triển sản xuất, chế biến và
tiêu thụ chè Sau 5 năm thực hiện các mục tiêu của đề án cơ bản đã đạt
được Ngày 28 tháng 3 năm 2006, UBND tỉnh ra quyết định số 520/QĐ -
UBND về việc phê duyệt đề án phát triển chè Thái Nguyên giai đoạn 2006
- 2010 với các mục tiêu chủ yếu: Tổng diện tích đạt 17.500 ha (50% diện tích sản xuất nguyên liệu chè xanh, 30% diện tích sản xuất nguyên liệu chè cao cấp, 20% diện tích sản xuất nguyên liệu chè đen) năng suất bình quân 8,5 tấn búp tươi/ha/năm, giá trị thu nhập bình quân 50 triệu /ha/năm
Những năm gần đây Chè Thái được tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài nước, trong đó thị trường nội tiêu chiếm trên 70% sản lượng chè toàn tỉnh Năm 2005, Thái Nguyên xác định mục tiêu phát triển chè trong giai
đoạn 2006 - 2010 là: Tập trung mọi nguồn lực để khai thác hiệu quả, bền
vững tiềm năng và lợi thế của cây chè đặc sản Thái Nguyên trên cơ sở phát triển đồng bộ sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè gắn với công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến… nhằm mang lại sản phẩm đa dạng, an toàn và chất lượng,
để chè Thái Nguyên chiếm lĩnh thị trường trong nước và thế giới
Trang 27Bảng 2.6: Diện tích trồng, diện tích thu hoạch, sản lượng chè của một số
địa phương trong tỉnh Thái Nguyên năm 2011
Địa phương Diện tích trồng
(ha)
Diện tích thu hoạch (ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn:Theo niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2011) [8]
Qua bảng 2.6 ta thấy: Huyện Đại Từ là địa phương đứng đầu trong tỉnh về diện tích, diện tích thu hoạch và sản lượng; đứng cuối cùng là huyện Phú Bình
Về diện tích trồng chè: Huyện Đại Từ dẫn đầu với 5.307 ha chiếm 29,25% diện tích toàn tỉnh Đứng thứ 2 là huyện Phú Lương (3.811 ha) chiếm 21,01% tổng diện tích.Thành phố Thái Nguyên đứng thứ 6 với 1.255
ha, chiếm 6,92% tổng diện tích Đứng cuối là huyện Phú Bình với 114 ha, chiếm 0,63% tổng diện tích
Trang 28Về diện tích thu hoạch: Đứng đầu là huyện Đại Từ (4.990 ha) chiếm 29,97% tổng diện tích thu hoạch; thứ 2 là huyện Phú Lương với 3.717 ha chiếm 22,33% tổng diện tích thu hoạch Đứng thứ 6 là thành phố Thái Nguyên (1.106 ha) chiếm 6,64% tổng diện tích thu hoạch Đứng cuối là huyện Phú Bình (101 ha) chiếm 0,61% tổng diện tích thu hoạch
Về sản lượng: Đứng đầu về sản lượng là huyện Đại Từ (51.604 tấn) chiếm 28,51% tổng sản lượng; thứ 2 là huyện Phú Lương với 40.709 tấn, chiếm 22,49% tổng sản lượng Thành phố Thái Nguyên đứng thứ 5 về sản lượng với 15.954 tấn, chiếm 8,81% tổng sản lượng Thấp nhất là huyện Phú Bình với 753 tấn, chiếm 0,42% tổng sản lượng toàn tỉnh
2.3.2.3 Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam
*Tình hình nghiên cứu về giống chè
Khi đến Đông Dương người Pháp đã chú ý ngay đến việc điều tra thu thập giống chè Đầu tiên là khảo sát của G.Baux ở Bắc Kỳ năm 1885, tiếp theo là điều tra của phái đoàn Davie năm 1890 - 1892; Năm 1907
Eberhardt đã phát hiện ra cây chè dại đầu tiên ở núi Ba Vì (Hà Tây)
Theo Dupasquier (1923) - dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ (1991) [11], thì
đến năm 1923 Việt Nam đã trồng được 10.368 ha chè đầu tiên với các
giống chè thuộc thứ chè Trung Quốc lá to, chè Shan và chè Ấn Độ, đã thu thập được tập đoàn gồm: 43 giống chè trong đó chủ yếu là chè Trung Quốc
lá to
- Từ năm 1918 - 1927 Việt Nam đã nhập 13 giống chè từ Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc và Lào
- Năm 1923 khi nghiên cứu tập đoàn giống chè nhập nội;
Dupasquier cho rằng: Manipur và Assamica đã tỏ ra thích hợp và có khả
năng sinh trưởng tốt ở Việt Nam Dupasquier cũng cho rằng: Giống chè
Trung Quốc đòi hỏi ít nhất, chịu đất xấu, tỷ lệ lẫn tạp cao, có đặc tính hình thái sinh lý khác nhau, đa số các cây chè ra hoa, kết quả sớm, do vậy
Trang 29cần phải tiến hành chọn lọc Về chọn giống Dupasquier đã đề ra tiêu
chuẩn giống chè tốt như sau:
+ Chọn cây khoẻ, cành mọc đều, liên tục, ít hoa quả, hình dáng cân
đối, búp có tuyết, các cá thể trong giống phải giống nhau
Năm 1931 Trạm nghiên cứu chè Bảo Lộc được thành lập và tiếp nhận từ Phú Hộ các giống chè Shan như Thanh Thuỷ, Bắc Hà, Tham Vè, Makomen, đã chọn được 2 dòng chè tốt là TB11 và TB14
Sau hoà bình lập lại, công tác nghiên cứu chè được tiến hành trở lại: Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [10],Trạm nghiên cứu chè Phú Hộ (nay là Trung tâm nghiên cứu phát triển chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc) đã tiến hành hai cuộc điều tra ở các vùng chè miền Bắc (1969
- 1970) và ở miền Nam (1978) và ở Grudia thuộc Liên Xô cũ (1978) kết quả của các cuộc điều tra là:
Ở Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, Viện nghiên cứu chè đã ứng
dụng thống kê sinh học qua phân tích tương quan dựa vào các đặc trưng hình thái để lựa chọn nhanh các loại hình chè có triển vọng khi cây chè 2 -
3 tuổi, sơ đồ tuyển chọn gồm 4 bước:
Bước 1: Đánh giá khả năng cho sản lượng của cây chè của các cá thể
2 - 3tuổi, bằng các chỉ tiêu hình thái và sinh trưởng trên đồng ruộng kết hợp với phân tích trong phòng theo các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Số búp nhiều, trọng lượng búp tương đối lớn
- Tán rộng, chiều cao cây lớn, số cành cấp 1 nhiều
- Số lá mọc, kích thước lá (dài, rộng) thời gian sinh trưởng đạt trung bình tiên tiến trong quần thể chọn lọc (sơ đồ 2.1)
+ Giai đoạn 1: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu đo đếm dưới mức trung bình (X1) của quần thể;
Trang 30+ Ở giai đoạn 2: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu do đếm dưới mức trung bình tiên tiến (X2), chỉ giữ lại những cá thể sau giai đoạn 2 có các chỉ tiêu đo đếm ≥ X2
X1: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của quần thể lựa chọn
X2: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của cây sau khi đã loại
bỏ ở giai đoạn 1 (X2≥ X1)
Theo kết quả thực tế các cá thể giữ lại sau giai đoạn 2 thường có giá trị chỉ tiêu đo đếm được gấp 1,7 lần trở lên so với trung bình quần thể
Ngoài các chỉ tiêu trên cần kết hợp xem xét các đặc điểm phát triển
bộ rễ, sinh trưởng sinh thực, màu sắc lá, sâu bệnh, khả năng giâm cành,
điểm thử nếm cảm quan chất lượng
Bước 2: Xác định sản lượng cây tốt nhất giữ lại ở giai đoạn 2 (sau
đốn tạo hình) kết hợp với đánh giá khả năng giâm cành
Bước 3: Tiếp tục khảo sát những cá thể có những đặc tính, đặc trưng nông học tốt, lựa chọn rồi giâm cành từng dòng có triển vọng
Bước 4: So sánh dòng triển vọng với giống tiêu chuẩn (dòng phổ biến trong sản xuất), chỉ giữ lại cây có tỷ lệ sống trên 70%, sau khi trồng ra
đồi được 10 tháng và chế biến được chè thành phẩm có chất lượng tốt, đáp ứng thị trường và có giá trị hàng hoá cao
Sơ đồ 2.1: Loại bỏ các cá thể qua các chỉ tiêu đo đếm
Giữ lại ở giai đoạn 2
Trang 31Về lai tạo giống: Nghiên cứu về lai tạo giống, các tác giả: Trần Thị
Lư, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Văn Niệm (1998) [18] cho rằng: Ở Việt Nam các giống chè thường có hoa, nở vào tháng 11, tháng 12 Vì thế việc lai giống chè không cần phải bảo quản hạt Trong trường hợp hoa nở không cùng nhau có thể bảo quản trong điều kiện ẩm độ từ 25 - 30%, nhiệt độ bình thường của không khí, trong điều kiện như vậy, ở Phú Hộ (Phú Thọ)
có thể giữ sức nảy mầm của hạt phấn trong vòng 40 ngày
Bằng phương pháp gây đột biến bằng bức xạ, Trung tâm nghiên cứu phát triển chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc, đã chọn
được một số cá thể có biểu hiện tốt về sinh trưởng và sản lượng ở những
năm đầu thu hái, đó là N08950, N089401 và N08819, trong đó cây N89502
có số cành cấp 1 nhiều, lá lớn, gồ ghề, đang được nhân vô tính thành dòng
Trang 32Vật liệu khởi đầu
Bước 1
Chè 1 đến 2
tuổi
Đánh giá khả năng cho sản lượng, khả
năng nhân giống vô tính, một số chỉ tiêu
chất lượng sản phẩm
Đánh giá
hình thái
Đánh
giá sinh trưởng
Đánh giá
trong phòng thí nghiệm
Đánh
giá sản lượng
Phân dòng bằng nhân giống vô tính
kết hợp đánh giá khả năng nhân giống
Bước 4
Chè 5 tuổi
So sánh dòng có triển vọng với giống
tiêu chuẩn - Khảo nghiệm - Khu vực hoá
Sơ đồ 2.2: Chọn lọc cá thể chè
Trang 33Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số giống chè ở Thái Nguyên: Tác giả Lê Tất Khương (1997) [4], cho rằng: Các giống PH1, TRI777,
TH3 là những giống dễ giâm cành Tỷ lệ xuất vườn đạt từ 69,7 - 72,0%, giống 1A là giống khó giâm cành, tỷ lệ xuất vườn chỉ đạt 50,7%
Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao tỷ lệ xuất vườn cho chè giâm cành tác giả Lê Tất Khương (1997) [4], và số lần bón phân cho chè giâm cành đã làm tăng tỉ lệ xuất vườn và hạ giá thành cây xuất vườn từ 5,6 - 11,5% trong đó, công thức đạt hiệu quả kinh tế cao nhất là tăng 25% lượng phân so với quy trình (78g Ns, 36g Ps, và 60g Ks cho 1m2 - 100 bầu) và bón 7 lần vào tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 sau cắm hom
Nghiên cứu về đặc điểm hình thái giải phẫu lá và hom chè có liên quan đến tỷ lệ mô sẹo của hom chè giâm cành, tác giả (Nguyễn Thị Ngọc Bình, 2002) [1], cho rằng: Sự hình thành mô sẹo ở hom chè giâm không hoàn toàn do các mô, mà chỉ giới hạn ở một số mô có khả năng phân chia
tế bào mạnh như tượng tầng, trụ bì, libe và một phần nội bì ở vỏ tế bào hom xanh tạo ra Các hoạt động tạo mô sẹo và ra rễ xảy ra tập trung chủ yếu cách bề mặt vết cắt 0,2 - 0,5mm, các tế bào ở xa vết cắt không tham gia quá trình phân chia mà duy trì hoạt động bình thường
Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè
Các kết quả nghiên cứu về đặc tính sinh trưởng của cây chè đều cho thấy: Một năm cây chè có từ 3 - 5 đợt sinh trưởng tự nhiên, tuy nhiên trong
điều kiện có đốn hái búp lá thì một năm chè có thể có tới 6 - 7 đợt sinh
trưởng búp, trong điều kiện thâm canh cao cây chè có thể có tới 8 - 9 đợt sinh trưởng búp Thời gian hình thành 1 đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây, điều kiện đất đai, khí hậu và điều kiện canh tác Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [3], Sự hình thành một đợt sinh trưởng búp chè theo 1 tuần tự nhất định, được mô tả theo sơ đồ sau:
Trang 34Nghiên cứu số đợt sinh trưởng của các giống chè PH1, IA, TH3
Trung du, TRI777 trong điều kiện có đốn hái và trong điều kiện tự nhiên tác giả Lê Tất Khương (1997), cho thấy: Tùy điều kiện tự nhiên giữa các giống
ít có sự sai khác về số đợt sinh trưởng, số đợt sinh trưởng tự nhiên của các giống biến động từ 3,4 - 3,6 đợt/năm Tuy nhiên, trong điều kiện có đốn, hái giữa các giống có sự sai khác đáng kể về số đợt sinh trưởng, biến động
từ 5,5 - 6,2 đợt/năm
Sơ đồ 2.3: Đợt sinh trưởng tự nhiên
- Trịnh Văn Loan, Nguyễn Văn Toàn (1994) [17], cho rằng các giống chè có sản lượng búp cao thường có góc lá từ 40 - 60o, khoảng cách
Cành chè ngừng sinh trưởng
Mầm chè
được phát động
Giai đoạn ẩn Giai đoạn hiện
Thời kỳ hoạt động
Thời kỳ tiềm sinh
Đợt
Sinh trưởng
Trang 35giữa 2 lá lớn Nghiên cứu tương quan giữa khoảng cách giữa 2 lá của các giống chè với sản lượng búp chè các tác giả trên cho rằng: Khoảng cách giữa 2 lá có tương quan thuận với sản lượng búp chè (r = 0,624 ± 0,034)
- Nghiên cứu quan hệ giữa diện tích lá với sản lượng búp chè các tác giả Trịnh Văn Loan, Nguyễn Văn Toàn (1994) [17], cho rằng: Trong khoảng diện tích lá chè từ 6cm2 - 36 cm2, khi diện tích lá tăng thì sản lượng búp chè cũng tăng
Đỗ Văn Ngọc (1994), Nguyễn Văn Toàn, Trịnh Văn Loan (1994)
[17], cho rằng: Hệ số diện tích lá có tương quan thuận với tổng số búp chè (R = 0,69) và có tương quan thuận với năng suất búp chè
Theo Nguyễn Văn Toàn (1994) [16], thì đặc điểm giống chè có năng suất cao ít nhất phải có hệ số diện tích lá lớn (tạo ra số búp nhiều) và kích thước lá lớn (có khối lượng búp lớn)
Trang 36PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, dụng cụ, địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống Trung Du thuộc thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis
Var Macrophilla), đây là giống trồng hạt chiếm diện tích đa số trong các
vườn chè của nông dân ở vùng trung du và vùng đồi thấp, chúng mang các tên giống địa phương như Trung du Phú Thọ, Trung du Thái Nguyên Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Chè, giống chè Trung du chiếm tới 40% diện tích ở các điểm điều tra
Đặc điểm giống Trung du thuộc loại hình thân gỗ nhỡ, có thân chính
rõ rệt, chiều cao phân cành thấp Giống Trung du có lá to trung bình, chiều dài lá từ 12-14 cm, chiều rộng lá 5-7 cm Khối lượng của búp là 0,7- 0,78 gam/búp Chất lượng của búp thuộc loại khá, thích hợp để chế biến chè xanh, chè đen Hàm lượng tanin của giống Trung du đạt trên 26,30%, chất hoà tan 51,40% Giống Trung du có khả năng chống chịu sâu bệnh, hạn hán khá tốt, có tính thích ứng cao và khá rộng với các vùng chè
3.1.2 Dụng cụ nghiên cứu
- Cọc cắm đánh dấu cây chè đã được chọn để nghiên cứu
- Thước dây đo loại 3m và cân
- Túi PE để đóng bầu chè có kích thước 9 cm (nửa chu vi) x 12 cm (chiều cao)
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu:
- Tuyển chọn những cây chè Trung du ưu tú được tiến hành tại vườn
chè của gia đình ông Bùi Văn Tiến và Trần Văn Toán, xóm Hồng Thái II -
xã Tân Cương – Thành phố Thái Nguyên
Trang 37- Thí nghiệm nhân giống chè được tiến hành tại vườn ươm giống cây
trồng của nhà ông Nông Quốc Trường, thị trấn Sông Cầu - huyện Đồng Hỷ
- tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2013 đến tháng 4/2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất chè
ở xã Tân Cương – Thành phố Thái Nguyên
- Điều tra tuyển chọn những cây chè Trung du có khả năng sinh
trưởng phát triển tốt, có khả năng cho năng suất chất lượng cao làm cây
đầu dòng
- Đánh giá tỷ lệ sống trong vườn ươm
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Điều tra tình hình sản xuất, phát triển chè Trung du tại vùng nghiên cứu bằng phương pháp điều tra nhanh nông thôn RRA (Rapid Ruval Apprasal) kết hợp với điều tra trực tiếp theo phiếu điều tra in sẵn
- Thu thập số liệu từ các nguồn: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi cục thống kê Tỉnh Thái Nguyên, báo cáo điều tra tổng kết về sản xuất – phát triển chè Trung du của xã Tân Cương (Thành phố Thái Nguyên), tỉnh Thái Nguyên
3.3.2 Phương pháp điều tra tuyển chọn cây chè Trung du đầu dòng
Tiêu chuẩn cây đầu dòng (số: 67/2004/QĐ-BNN ngày 24/11/2004)
của Bộ Nông nghiệp & PTNT
Trang 38* Đặc điểm sinh trưởng:
- Thời gian sinh trưởng trong năm dài (ra búp sớm và ngừng sinh trưởng búp muộn)
+ Khả năng sinh trưởng: Có nhiều búp trên tán, búp mọc đều khối lượng búp lớn, tỷ lệ búp có tôm cao
+ Đặc điểm chất lượng: Chè nguyên liệu non, mềm, tỷ lệ búp có tôm cao, hàm lượng các chất chủ yếu trong nguyên liệu cao…
+ Tính thích ứng cao, ít sâu bệnh hại
+ Có khả năng cho nhân giống vô tính tốt, tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn khi giâm cành cao
* Phương pháp tuyển chọn:
- Thành lập tổ điều tra, đánh giá gồm các nhà khoa học, các cán bộ chuyên môn, các nông dân có kinh nghiệm hiểu biết về cây chè Trung du ở
địa phương Xác định vùng điều tra tuyển chọn
- Sau khi xác định được vùng điều tra, tuyển chọn thì tiến hành tuyển chọn gồm 4 giai đoạn
Giai đoạn 1: Căn cứ vào đặc điểm hình thái như thân, cành, lá, búp, chọn ra những cây có đặc điểm đặc trưng nhất của thứ chè Trung du
Giai đoạn 2: Theo dõi đánh giá sơ bộ các chỉ tiêu về hình thái, về năng suất, loại bỏ những cây cho năng suất thấp, sâu bệnh hại nhiều
Giai đoạn 3: Theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu hình thái, đặc điểm sinh trưởng, năng suất chất lượng, khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành → chọn ra những cây ưu tú
Giai đoạn 4: Tiếp tục đánh giá đặc điểm về chất lượng chè thành phẩm, đánh giá khả năng nhân giống vô tính của những cây ưu tú → đề
nghị công nhận cây đầu dòng
* Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi:
- Đường kính thân cây: Theo phương pháp đo chu vi thân cây
Trang 39- Chiều cao cây: Xác định chiều cao cây tính từ mặt đất đến vị trí cao nhất của tán cây
- Chiều rộng tán: Đo theo hình chiếu vuông góc của tán cây
- Độ cao phân cành: Đo từ mặt đất đến điểm phân cành đầu tiên
- Số cành cấp 1: Đếm tất cả các cành cấp 1 trên thân cây
- Màu sắc lá: Xác định màu sắc lá theo các màu: xanh, xanh nhạt,
xanh vàng, xanh đậm, tím nhạt, tím hồng, tím xẫm
- Phiến lá: Xác định phiến lá: phẳng nhẵn, gồ ghề, lồi lõm
- Răng cưa của lá: Xác định theo mức độ dày, thưa, nông, sâu
- Chiều dài lá: Đo từ đầu lá đến chóp lá
- Chiều rộng lá: Đo chỗ rộng nhất của phiến lá
- Diện tích lá: Theo công thức tính nhanh D x R x 0,7
- Chiều dài búp chè 1 tôm 2 lá: Đo chiều dài 30 - 50 búp lấy trị số trung bình
- Khối lượng búp 1 tôm + 2 lá: Cân 100gr búp 1 tôm + 2 lá đếm số búp/100gr → khối lượng búp
- Khả năng sinh trưởng phát triển: Xác định thời gian bắt đầu sinh trưởng và thời gian kết thúc sinh trưởng trong năm
- Năng suất: Tính năng suất thực tế hái được của các lứa hái trong năm
3.3.3 Nghiên cứu đánh giá, khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành của cây chè Trung du ưu tú
- Thí nghiệm gồm 10 công thức từ công thức 2 đến công thức 10 là
cây chè trung du ưu tú đã được chọn lọc, công thức 1 là công thức đối chứng là cây chè Trung du ngẫu nhiên trong vùng chè nghiên cứu
Trang 40Thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại và diện tích ô thí nghiệm là 1 m2 (100 bầu chè)
* Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi:
- Tỷ lệ ra mô sẹo (%): Đếm số hom ra mô sẹo/số hom theo dõi
Tỷ lệ ra mô sẹo (%) =
Tổng số hom ra mô sẹo
x 100%
Tổng số hom theo dõi
- Tỷ lệ ra rễ (%): Đếm số hom ra rễ /số hom theo dõi
Tỷ lệ ra rễ (%) = Tổng số hom ra rễ x 100%
Tổng số hom theo dõi