1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.

79 618 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀNG VĂN HÒA Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TỔNG HỢP PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DT 2008 TRONG VỤ ĐÔNG NĂM 2013 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trang 1

HOÀNG VĂN HÒA

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TỔNG HỢP

PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DT 2008 TRONG VỤ ĐÔNG NĂM 2013 TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn : TS Lưu Thị Xuyến

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

nguồn cung cấp Prôtêin thực vật chủ yếu là cây đậu tương

Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) hay còn gọi là cây đậu nành

là cây trồng cạn ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Ngoài ra cây đậu tương còn là cây trồng xen cho hiệu quả cao và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [2]

Cây đậu tương là một trong những loại cây trồng quan trọng trong đời sống con người, đứng ở vị trí thứ tư sau lúa mỳ, lúa nước và ngô Thành phần của hạt đậu tương có chứa hàm lượng rất cao các chất như prôtêin 36 - 40%, lipit 15 - 20%, hydratcacbon và các chất khoáng Ngoài ra trong hạt đậu tương c&òn chứa nhiều loại vitamin như: PP, A, C, D, E, K… đặc biệt là vitamin B1, và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [11] Prôtêin đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết, đặc biệt là lizin và triptophan rất cần thiết đối với sự tăng trưởng và sức đề kháng của cơ thể (Cây đậu tương khỏe - 24 thông tin hoạt chất) [13]

Hạt đậu tương là loại hạt mà giá trị dinh dưỡng của nó được đánh giá đồng thời cả về prôtein và lipit, từ hạt đậu tương người ta chế biến được trên 600 loại thực phẩm khác nhau Hạt đậu tương ngoài làm thực phẩm cho

Trang 3

người, thức ăn cho gia súc còn được làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sơn, cao su nhân tạo, mực in, xà ph&òng, chất dẻo, tơ nhân tạo, dầu bôi trơn trong ngành hàng không (Phạm Văn Thiều, 2006) [11]

Trong y học, đậu tương được dùng làm vị thuốc chữa bệnh giúp tránh hiện tượng suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già và có tác dụng hạn chế bệnh loãng xương ở phụ nữ, bệnh đái tháo đường, thấp khớp, đặc biệt rất tốt cho tim mạch (Cây đậu tương khỏe - 24 thông tin hoạt chất) [13]

Đặc biệt đậu tương đen có tác dụng rất tốt cho người bị bệnh đái tháo đường, thấp khớp, suy nhược thần kinh và suy dinh dưỡng (Ngô Thế Dân

và cs, 1999) [2]

Nước ta định hướng sắp tới cho sản xuất nông nghiệp là không thiên

về tăng diện tích trồng trọt mà thiên về xu hướng tăng năng suất cây trồng trên đơn vị diện tích để tăng sản lượng

Ngoài những giá trị to lớn mà cây đậu tương mang lại cho con người

nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc cải tạo đất (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [2] vì rễ nó có chứa vi khuẩn sản sinh ra đạm sinh học cung cấp cho cây Mỗi nốt sần được coi là một “nhà máy phân đạm tí hon”, bởi những vi khuẩn trong nốt sần hoạt động rất cần mẫn tổng hợp đạm khí trời, làm giàu đạm cho đất, không gây ô nhiễm môi trường và nó làm cho không khí trong lành hơn

Trong những năm gần đây nước ta đã chọn tạo được nhiều giống đậu tương mới có năng suất cao, phẩm chất tốt và khả năng thích ứng rộng như, ĐT19, ĐT22, DT2008… Trong đó giống DT2008 là 1 trong những giống sinh trưởng, phát triển tốt nhất Ở thái nguyên để giống bộc lộ hết tiềm năng cần phaie nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật chi giống Trong đó có biện pháp sử dụng phân bón.Vấn đề đặt ra là dùng phân bón như thế nào? Liều lượng bao nhiêu? Giải quyết cân đối các nguyên tố dinh dưỡng ra sao

để vừa đảm bảo tăng năng suất chất lượng mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh

Trang 4

tế Vì vậy chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng

của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp nhất cho giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nhằm tạo điều kiện cho giống sinh trưởng, phát triển và đạt năng suất cao, chất lượng tốt

1.3 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Đánh giá ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

- Đánh giá ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

- Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích luỹ kinh nghiệm trong sản xuất

- Giúp sinh viên nắm được các bước để tiến hành nghiên cứu một

đề tài khoa học, phương pháp thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học

- Giúp cho sinh viên hiểu biết hơn nhiều kiến thức thực tiễn sản xuất

và có tư duy, phương pháp nghiên cứu khoa học

Trang 5

- Là cơ sở khoa học xác định phân bón cho cây đậu tương để đưa tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào sản suất

1.4.2 Ý nghĩa trong sản xuất

Qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ xác định tổ hợp phân bón thích hợp nhất cho giống đậu tương DT2008 từ đó khuyến cáo cho người nông dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao

Trang 6

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu

2.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu

Phát triển cây đậu tương một mặt tạo ra sự đa dạng trong sản xuất nông nghiệp, mặt khác nếu phát triển có định hướng loại cây trồng này không những giải quyết được lợi ích trước mắt mà về lâu dài đây là loại cây trồng mang lại nhiều giá trị Muốn vậy ngoài những chính sách về vốn, giống, phân bón, giá cả, thì chúng ta cần có những biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp cho sản xuất

Phân bón có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất

và sản lượng cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng Nhu cầu về phân bón của các giống đậu tương khác nhau rất khác nhau Việc bón phân nhiều hay ít đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây Vì vậy muốn phát huy được hiệu quả của giống thì cần bón phân một cách cân đối và hợp lý

Sự sinh trưởng phát triển, khả năng cho năng suất của cây trồng chịu

sự tác động sâu sắc của môi trường và điều kiện trồng trọt Cùng một giống nhưng điều kiện chăm sóc khác nhau thì khả năng cho năng suất khác nhau

Do vậy trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất đậu tương nói riêng việc xác định được công thức phân bón thích hợp cho mỗi giống để chúng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao nhằm đem lại hiệu quả kinh tế, có ý nghĩa thực tiễn nhằm thúc đẩy sản xuất đậu tương phát triển là rất cần thiết

2.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu

Trong những năm gần đây nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ có sự chuyển hướng về kinh tế thị trường, sản xuất nông

Trang 7

nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn: Trước năm 1990 nước

ta là một nước thiếu lương thực, thực phẩm nhưng đến năm 1990 nước ta

đã là một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan Vì vậy sản xuất nông nghiệp có điều kiện phát triển những cây trồng có giá trị kinh

tế cao trong đó cây đậu tương là một trong những mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế bởi nó là một cây thực phẩm vừa dễ trồng lại vừa có hiệu quả kinh tế cao

2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Đậu tương là một trong những cây trồng có vị trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và lâu đời nhất của nhân loại, có lịch sử trồng trọt khoảng 5.000 năm Cây đậu tương có nguồn gốc

từ đông Bắc Trung Quốc, sau đó được trồng ở Nhật Bản, Triều Tiên và các nước trên thế giới

Hiện nay có khoảng 78 nước trồng đậu tương, châu Á tuy là nơi

nguyên sản của cây đậu tương tuy nhiên nó lại được trồng tập trung ở Châu

Mỹ (70,03%), tiếp đó là Châu Á (23,5%), còn lại ở các châu lục khác Cây đậu tương đã trở thành cây trồng quan trọng thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô Cây đậu tương có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, bởi giá trị kinh tế, dinh dưỡng và giá trị cải tạo đất Từ giá trị đó mà cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1

Trang 8

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

trong những năm gần đây

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Về diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương có

xu hướng tăng lên.Từ năm 2005 - 2012 diện tích trồng đậu tương trên thế giới dao động trong khoảng 92,5 - 104,9 (triệu ha) trong đó diện tích trồng đậu tương năm 2012 là lớn nhất đạt 104,9 (triệu ha), qua số liệu ta thấy diện tích trồng đậu tương ngày càng tăng lên

Về năng suất: Từ bảng trên ta thấy năng suất đậu tương trong những năm gần đây tương đối ổn định dao động trong khoảng 22,4 - 25,8 (tạ/ha) cao nhất là năm 2010 với 25,8 (tạ/ha) và thấp nhất là năm 2009 với 22,4 (tạ/ha)

- Về Sản lượng: Sản lượng đậu tương trong những năm gần đâycó những biến động nhỏ ổn định Trong vòng 6 năm từ năm 2005 – 2010 sản

Trang 9

lượng đậu tương tăng 50,7 triệu tấn, tương đương với 23,63% Năm 2010, sản lượng đậu tương đạt lớn nhất 265,25 triệu tấn, và đến năm 2011 và 2012 sản lượng đậu tương giảm 23,41 triệu tấn, tương đương với 8,83% Sở dĩ trong những năm từ năm 2005 đến năm 2010 sản lượng trồng đậu tương tăng nhanh đến như vậy là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây cũng tăng lên và do người trồng đậu tương đã ứng dụng các tiến bộ khoa học

kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất Nhưng đến năm 2011 và 2012 sản lương đậu tương giảm mặc dù diện tích trồng đậu tương vẫn tăng là do thới tiết khí hậu không thuận lợi, thường xuyên xảy ra thiên tai hạn hán

Theo dự đoán trong thời gian tới tốc độ phát triển đậu tương trên thế giới sẽ chậm hơn so với các năm trước Kết quả nghiên cứu của trên 200 chuyên gia ở các ngành khác nhau thuộc công ty Elanco và hiệp hội đậu tương Mỹ cho thấy rằng khoảng hơn 20 năm nữa trung bình hàng năm nhu cầu về sản lương đậu tương tăng 4%/năm Trong tương lai với sự trợ giúp của công nghệ sinh học, di truyền phân tử, nghiên cứu về cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng sẽ thu được nhiều kết quả tốt Công nghệ sinh học là một trong nhưng yếu tố quan trọng để cải tiến chất lượng hạt đậu tương và khả năng chống chịu của cây

Trên thế giới có rất nhiều quốc gia trồng đậu tương tuy nhiên sản xuất đậu tương tập trung chủ yếu ở 4 nước: Mỹ, Brazil, Achentina và Trung Quốc (Phạm Văn Thiều, 2006) [11] Sản lượng đậu tương của 4 nước này chiếm 90 -95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới

2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Việt Nam là nước nông nghiệp có lịch sử trồng đậu tương lâu đời Hiện nay cây đậu tương ở Việt Nam chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền nông nghiệp Đặc biệt ở những vùng nông thôn nghèo, kinh tế chưa phát triển Ngoài ra, cây đậu tương còn là nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu Có thể nói cây đậu tương ở Việt

Trang 10

Nam đã và đang phát triển không ngừng và ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cây đậu tương thích ứng với nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau, là cây có hiệu quả kinh tế cao trên đất bạc màu và khô hạn Cây đậu tương đã góp phần vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, sử dụng hợp lý đất đai, lao động, tiền vốn Trong vòng 10 năm trở lại đây, cây đậu tương đã phát triển khá nhanh cả

về diện tích và sản lượng, nhưng sản xuất đậu tương ở nước ta chưa được đầu

tư cao, năng suất còn thấp hơn nhiều so với thế giới Khi đánh giá về tốc độ phát triển sản xuất đậu tương thì Việt Nam cũng là nước có tốc độ phát triển nhanh so với các nước khác trên thế giới

Trong văn kiện Đại hội V của Đảng cộng sản Việt Nam (tập 2 [37])

có ghi: ''Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho con người, gia súc, cho đất đai và trở thành một loại hàng xuất khẩu’’ Vì thế mà diện tích đậu tương ngày càng tăng cụ thể trước Cách mạng Tháng 8-1945, diện tích trồng đậu tương của cả nước chỉ có 30 nghìn ha với năng suất rất thấp đạt 4,1 tạ/ha Sau khi đất nước thống nhất diện tích đậu tương tăng lên 39,95 nghìn ha và năng suất đạt 5,2 tạ/ha Đến nay diện tích và năng suất đậu tương vẫn không ngừng tăng lên tuy nhiên năng suất đậu tương của Việt Nam vẫn thấp hơn so với trung bình của thế giới rất nhiều Hàng năm nhu cầu tiêu dùng đậu tương trong nước rất cao Vì thế trong những năm gần đây cây đậu tương được chú trọng phát triển nên năng suất, diện tích và sản lượng tăng dần được thể hiện qua bảng sau:

Trang 11

Bảng 2.6: Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam những năm gần đây

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: FAOSTAT / FAO ,2014) [15]

Qua bảng số liệu trên ta thấy:

-Diện tích: Diện tích đậu tương giảm dần qua các năm từ năm

2005-2012 Diện tích giảm từ 204100 ha (năm 2005) giảm còn 120750 ha (năm 2012) Trong vòng 8 năm diện tích đậu tương của nước ta giảm 83350 ha, tương đương 40,84,%, năm 2005 diện tích đậu tương đạt lớn nhất (204100 ha) Trong vòng 8 năm diện tích trồng đậu tương luôn có sự biến động, tăng giảm không ổn định Giai đoạn năm 2005- 2006, diện tích đậu tương giảm từ

204100 ha (năm 2005) xuống 187560 ha (năm 2006), nhưng sau đó diện tích lại tiếp tục tăng lên 187400 ha (năm 2007) và 192100 ha (năm 2008) Đến năm 2009 diện tích đậu tương lại tiếp tục giảm xuống còn 147000 ha Nhưng đến năm 2011 diện tích đậu tương lại tăng mạnh so với năm 2009 lên đến

Trang 12

197800 ha Trong vòng 3 năm từ năm 2010-2012 diện tích đậu tương liên tục giảm mạnh, từ năm 2010 đến năm 2012 diện tích đậu tương giảm 770500 ha, năm 2009 diện tích đậu tương thấp nhất (147,000 ha) Sở dĩ trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương giảm nhanh là do sức ép của dân số và nhu cầu sử dụng đất cho công nghiệp ngày càng tăng

- Năng suất: Năng suất đậu tương nước ta vẫn còn ở mức thấp, so với bình quân thế giới, thấp hơn 7,79 tạ/ha Năng suất đậu tương cao nhất năm

2010 là 15,096 tạ/ha, thấp nhất năm 2006 đạt 13,906 tạ/ha Như vậy, mức tăng năng suất hàng năm không đáng kể

- Sản lượng: Cùng với diện tích trồng đậu tương luôn có sự biến động, tăng giảm không ổn định kéo theo sản lượng đậu tương của nước ta cũng luôn có sự biến động Năm 2010 sản lượng đậu tương ở mức cao nhất đạt 298600 tấn Đặc biệt năm 2012 sản lượng đậu tương giảm mạnh

117405 tấn, tương đương với 40,11%

Theo số liệu thống kê chính thức của chính phủ, đậu tương được trồng ở 25 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam Khoảng 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ, và 35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng Đậu tương được trồng ở nhiều địa phương trên khắp cả nước vào từng thời điểm khác nhau nên có cả vụ Xuân, vụ Hè

và vụ Đông

Nhìn chung việc sản xuất đậu tương của nước ta những năm gần đây

đã có những biến động rõ rệt về diện tích, năng suất, sản lượng nhưng vẫn còn thấp so với bình quân của thế giới rất nhiều Nguyên nhân là do:

- Thiếu quan tâm đúng mức của nhà nước, lãnh đạo các địa phương đối với cây đậu tương

Trang 13

- Chưa có được bộ giống phù hợp cho từng vùng sinh thái và biện pháp kĩ thuật cho giống

- Diện tích đất trồng đậu tương tập trung ở miền núi, cơ sở vật chất còn nghèo

- Chưa thay đổi được tập quan canh tác truyền thống của người dân

- Giá bán chưa ổn định

Vì vậy để nâng cao năng suất, sản lượng đậu tương thì cần phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành

2.2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên

Cùng với sự phát triển cây đậu tương của cả nước, trong những năm gần đây cơ chế thị trường thực sự đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh

tế hộ nông dân Thái Nguyên Người nông dân được tự do lựa chọn cây trồng và làm giàu trên mảnh đất của mình Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, đất đai khí hậu cho việc phát triển cây đậu tương hàng hoá lớn nhưng diện tích sản xuất đậu tương trên địa bàn tỉnh còn manh mún Là tỉnh Trung du miền núi phía Bắc với tổng diện tích đất tự nhiên là 650.288 ha Trong đó đất nông nghiệp chiếm 13% tổng diện tích đất tự nhiên Trong cơ cấu cây trồng của tỉnh thì diện tích trồng cây đậu tương chiếm rất nhỏ khoảng 2,3%.Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Thái Nuyên trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.7

Trang 14

Bảng 2.7: Tình hình sản xuất đậu tương của Thái Nguyên trong những

năm gần đây

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: Cục thống kê Thái Nguyên, 2012) [1]

Qua bảng 2.7 ta thấy diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương Thái Nguyên những năm gần đây giảm xuống một cách rõ rệt cụ thể:

Về diện tích: Từ năm 2003 - 2011 diện tích đậu tương của tỉnh giảm

từ 4,50 xuống còn 1,60 nghìn ha, giảm 2,9 nghìn ha (giảm 64.44%) Diện tích trồng đậu tương của tỉnh Thái Nguyên giảm dần là do hiệu quả sản xuất đậu tương chưa cao vì chưa có bộ giống phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh, và các biện pháp kỹ thuật cho từng giống, trong đó có biện pháp sử dụng phân bón

Về năng suất: Năng suất đậu tương của Thái Nguyên không ổn định qua các năm Thấp nhất là năm 2003 đạt 11,31 tạ/ha, cao nhất là năm 2011 đạt 14,38 tạ/ha Tuy diện tích đậu tương năm 2011 giảm nhưng năng suất năm 2011 lại cao hơn so với các năm trước

Trang 15

Về sản lượng: Từ năm 2003 - 2011 sản lượng đậu tương đậu tương giảm mạnh từ 4,32 nghìn tấn xuống 2,30 nghìn tấn Đến năm 2010 sản lượng đậu tương đã giảm 50.15% so với năm 2003

Trước thực trạng sản xuất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên như vậy nên cùng với việc chọn được giống đậu tương mới phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên thì việc xác định các biện pháp kĩ thuật thích hợp cho từng giống trong đó có biện pháp kĩ thuật như chế độ dinh dưỡng (bón phân) là rất cần thiết

2.3 Kết quả nghiên cứu bón phân đậu tương trên thế giới và việt nam

2.3.1 Kết quả nghiên cứu bón phân đậu tương trên thế giới

Nhận thức được vai trò quan trọng của phân bón đối với cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng Các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều kết quả nghiên cứu về bón phân cho đậu tương Với thí nghiệm trong chậu DeMooy và Pesek (1966) kết luận rằng P, K đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của nốt sần ở đậu tương Nốt sần hình thành tối đa ở mức P bón 400 – 500 mg/kg và K ở lượng 600 – 800 mg/kg (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [2]

Năm 1969 Thompson và Robertson nhận thấy phản ứng của đậu tương với phân dư thừa là 1 đường cong dạng phương trình bậc 2 Năng suất cao nhất nếu năm trước bón 1100 kg/ha phân ở tỷ lệ 15: 44: 12, không tăng nếu bón 220 kg/ha và giảm nếu bón 1400 kg/ha Fink và cộng sự (1974) tuyên bố năng suất đậu tương tăng nếu năm trước bón 336 kgN/ha

và 155 kgP/ha Boswell và Anderson (1976) cho thấy phản ứng của năng suất đối với lượng P và K dư thừa của năm trước ổn định hơn là phản ứng đối với P và K bón trong năm đó (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [2]

Henderson và Kampratha (1970) với các giống đậu tương sinh trưởng hữu hạn cho thấy tỷ lệ hấp thu các chất khoáng N, P, K, Ca và Mg tăng dần qua các giai đoạn hình thành hạt Tỷ lệ hấp thu tối đa tương ứng của chúng

Trang 16

là: 7,7: 0,41: 0,46: 2,4 và 0,77 kg/ha Năm 1971 với nghiên cứu sự hấp phụ NPK ở các giống đậu tương với tập tính sinh trưởng vô hạn, Hanway và Weber cho thấy kiểu hấp phụ N, P và K ở trong cây giống nhau và sự tích lũy tối đa của nó ở giai đoạn chín sinh lý (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [2]

Nhiều nghiên cứu cho thấy bón đạm trước khi gieo có ảnh hưởng xấu đến quá trình cố định đạm Năm 1971 Beard và Hoover cho thấy nốt sần trên cây đậu có tỷ lệ nghịch với tỷ lệ phân đạm ở lúc gieo, nếu phân đạm bón 56 kg/ha, số nốt sần trên cây bị giảm, nhưng nếu bón 112 kg/ha ở giai đoạn ra hoa, số nốt sần không bị ảnh hưởng (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [2]

Do vậy cùng với việc lai tạo, chọn lọc và sử dụng biện pháp sinh học

để tạo ra những giống mới có tiềm năng cho năng suất cao thích hợp với từng vùng sinh thái đồng thời nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho từng giống, từng mùa vụ để cây đậu tương đạt năng suất cao nhất

Tóm lại để cây đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt chúng ta không chỉ cần có những giống tốt, chất lượng cao, có khả năng chống chịu

mà còn phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng đặc biệt là N, P, K Nếu không cung cấp đầy đủ đạm, lân, kali thì năng suất sẽ bị ảnh hưởng, cần chú ý bón thêm các nguyên tố vi lượng để hỗ trợ trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây

2.3.2 Kết quả nghiên cứu bón phân đậu tương ở Việt Nam

Cùng với việc nghiên cứu chọn tạo ra các giống đậu tương mới cho năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái mỗi vùng Các nhà khoa học nông nghiệp nước ta đã có những nghiên cứu về bón phân cho đậu tương nhằm phát huy tiềm năng của giống

Theo Lê Đỗ Hoàng và cộng sự, (1977) [6] căn cứ vào quy trình sản xuất đậu tương lượng phân bón cho 1 ha như sau: Phân chuồng 5 tấn, supe phốt phát 200-300 kg, amon sunphat 50-100 kg, kali sunphat 100-150 kg, vôi 300-500 kg

Trang 17

Để đạt được năng suất cao, phẩm chất tốt thì đậu tương cần được bón đầy đủ phân hữu cơ và các lại phân bón khác, vì nó chỉ có thể sinh trưởng

và phát triển tốt khi được bón đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết (Phạm Văn Thiều, 2006) [11]

Phân đạm đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương Nguồn cung cấp đạm cho đậu tương là từ phân bón, đất và khả năng tự cố định đạm khí trời nhờ vi khuẩn Rhyzobium japonicum Thời kỳ đầu sinh trưởng (từ mọc đến 3 lá) cây lấy đạm chủ yếu từ nguồn đạm trong đất thông qua sự hấp thu của bộ rễ Sự cố định đạm bắt đầu có ý nghĩa từ khi cây có 4-5 lá trở đi

Lân là thành phần cơ bản đối với việc chuyển giao năng lượng trong tế bào sống nhờ liên kết cao năng ATP Liên kết cao năng ATP chỉ huy cơ chế các hoạt động sống của tế bào

Cây đậu tương thường hút lân từ lân từ phân bón và hút đến tận cuối

vụ Tuy nhiên việc tăng lân tổng số hấp thu có thể bị giới hạn do lân trong phân được thay thế bằng lân trong đất Bón lân còn tăng khả năng hình thành nốt sần của đậu tương Bón nhiều lân nâng cao số lượng và khối lượng nốt sần Hiệu lực này tùy thuộc vào giống, điều kiện thời tiết và giai đoạn phát triển của đậu tương

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần (1996) [3] Cho biết trên đất bạc màu

Hà Bắc bón lân cho lạc và đậu tương đem lại hiệu quả kinh tế cao Lân làm tăng hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần Tùy theo năng suất đậu tương cao hay thấp và thành phần cơ giới có sẵn trong đất để xác định mức bón phân cho hợp lý

Nghiên cứu của Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên (1998) [12] cho biết hiệu quả của việc sử dụng các loại phân N, P, K cho cây trồng trên đât đồi chua được xác định là P cho hiệu quả

Trang 18

N, P, K cho cây trồng trên đất đồi chua được xác định là lân cho hiệu quả cao nhất, sau đó đến đạm và thấp nhất là kali Tác giả cũng cho rằng lân là một trong những yếu tố hạn chế lớn nhất đến năng suất của tất cả các cây trồng cạn như sắn, lạc, đậu tương, lúa cạn

Kali đóng vai trò sống còn trong sự quang hợp tạo nên đường và chất hữu cơ cho cây Tính di động cao của kali cho phép nó di chuyển nhanh từ

tế bào này sang tế bào khác, hoặc từ mô thực vật già hơn tới mô mới còn đang phất triển và các cơ quan dự trữ Không đủ kali cho nhu cầu của cây làm giảm sự tăng trưởng, năng suất, cây dễ nhiễm sâu bệnh

Bộ rễ của cây đậu tương có khả năng hút kali khá đủ cho nó từ các khoáng chất chứa kali trong đất Khi kali trao đổi giảm đi và nồng độ kali trong đất xuống thấp, thì kali lại được hòa tan từ dự trữ ít hòa tan trong đất Kali tới rễ đậu tương bằng con đường khuyếch tán trao đổi từ các phân tử đất di vào dung dịch đất (Oliver S.andS A Barler (1966)

Trang 19

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Phân bón cho giống đậu tương DT2008

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại trường ĐHNL Thái Nguyên

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Tại trung tâm thực hành thực nghiệm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Vụ Đông (từ tháng 9-12/2013)

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương DT2008 ở các tổ hợp phân bón khác nhau trong vụ Đông năm 2013 tại trường ĐHNL Thái Nguyên

- Nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số tổ hợp phân bón đến tình hình sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại trường ĐHNL Thái Nguyên

- Nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại trường ĐHNL Thái Nguyên

Trang 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

+ Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (Randomized Complete BlockDesign - RCBD) với 5 công thức và 3 lần nhắc lại

CT2: 40 kg N + 80 kg P2O5 + 40 kg K2O + 5 tấn phân chuồng + 300kg vôi bột/ha

CT3: 50 kg N + 100 kg P2O5 + 50 kg K2O + 5 tấn phân chuồng + 300kg vôi bột/ha

Trang 21

CT4: 60 kg N + 120 kg P2O5 + 60 kg K2O + 5 tấn phân chuồng + 300kg vôi bột/ha

CT5: 30 kg N + 60 kg P2O5 + 30 kg K2O + 10 tấn phân chuồng + 300kg vôi bột/ha

3.4.2 Quy trình kỹ thuật

- Thời vụ gieo: vụ Đông gieo ngày 17/09/2013

- Làm đất: Đất cát pha đã được cày bừa kỹ, tơi xốp, làm sạch cỏ, chia khối lên luống và rạch hàng

- Phân bón: Bón theo từng công thức

+ Vun xới lần 1: Khi cây có 2-3 lá thật thì tiến hành làm cỏ, phá váng làm đất tơi xốp thoáng khí giúp bộ rễ phát triển, vi khuẩn sớm hoạt động, kết hợp bón phân thúc lần 1

+ Vun xới lần 2: Sau lần 1 khoảng 12-15 ngày, vun cao chống đổ kết hợp bón thúc lần 2

Trang 22

+ Tưới tiêu nước: Đảm bảo độ ẩm khi gieo để hạt nảy mầm tỷ lệ cao

từ 50% đến 80% Nếu đất quá khô phải tưới trước khi gieo Trong thời gian sinh trưởng nếu trời không mưa cần tưới vào nhưng giai đoạn quan trọng như ra hoa và tạo quả

+ Phòng trừ sâu bệnh: theo dõi sâu hại tiến hành phòng trừ khi cần thiết

Lần 1: Vụ đông thời tiết đầu vụ nóng ấm nên cây dễ bị bệnh lở cỗ dễ dùng loại thuốc trừ bệnh chưa các hoạt chất là valydamicin, streptomicine, kasumicin…

Lần 2 : Sâu cuốn lá đậu tương xuất hiện và đặc điểm là sâu cuốn lá lại, khi bóc lá ra thì chúng ăn phần lá bên trong và có tơ ở trong Phòng trừ bằng thuốc chứa hoạt chất Abamectin là phổ biến

3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Áp dụng theo hệ thống tiêu chuẩn của QCVN 01-58:2011/BNNPTNT [10]

3.4.3.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển

- Ngày ra hoa: Tính khi 50% số cây trong ô thí nghiệm có hoa đầu tiên

- Ngày chín: Tính khi 95% số quả trên ô đã chín, khi mà vỏ quả chuyển sang màu vàng hoặc xám

- Chiều cao cây: Đo từ vết 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính Đo 10 cây/ô rồi tính trung bình

- Số đốt trên thân cây chính: Đếm số đốt trên thân chính, đếm 10 cây/ô rồi tính trung bình

Trang 23

- Số cành cấp I: Đếm số cành mọc ra từ thân chính, đếm 10 cây/ô rồi tính trung bình

-Đường kính thân(cm): Đo ở giữa đốt đầu tiên trên thân chính lúc thu hoạch của 10 cây mẫu

3.4.3.2 Đánh giá tính chống chịu sâu bệnh của các công thức thí nghiệm

- Sâu cuốn lá (Lamprosema indicata): Đếm số lá bị cuốn/ tổng số

của 10 cây theo dõi Tính tỷ lệ %

Tỉ lệ hại (%) = Số lá bị hại x 100

Tổng số lá điều tra

- Sâu đục quả: Đếm số quả bị hại/tổng số quả/cây của 10 cây/ô

Tỉ lệ hại (%) = Số quả bị hại x 100

Tổng số quả điều tra

- Khả năng chống đổ: Được đánh giá theo quy phạm khảo nghiệm giống đậu tương theo thang điểm từ 1 - 5

+ Điểm 1: Hầu hết các cây đều đứng thẳng

Tính chỉ số diện tích lá theo công thức:

Trang 24

CSDTL=

PB

x M (m2 lá/m2 đất)

PA x 100 x 3 Trong đó:

PK: Khối lượng khô của 3 cây

PT: Khối lượng tươi của 3 cây

- Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu: Nghiên cứu vào hai thời kỳ hoa rộ và chắc xanh

+ Phương pháp: Tưới ẩm gốc dùng bay sắn lấy nguyên vẹn bộ rễ của

3 cây liên tiếp đem ngâm nước cho tơi đất, rửa sạch sau đó đếm số lượng nốt sần hữu hiệu (nốt sần hữu hiệu là nốt sần có đường kính ≥ 0,25mm, bên trong có dịch màu hồng), cân rồi tính trung bình

3.4.3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất:

Trang 25

- Đếm số cây thực tế thu hoạch/ô: Đếm số cây thực tế thu được trên mỗi ô trước khi thu hoạch Sau đó nhổ 5 cây liên tiếp ở 2 hàng giữa ở vị trí chéo nhau của ô (10 cây/ô) và xác định các chỉ tiêu sau:

+ Số quả chắc/cây: đếm số quả chắc/cây

+ Đếm số quả 1 hạt/cây Tính trung bình

+ Đếm số quả 2 hạt/cây Tính trung bình

+ Đếm số quả 3 hạt/cây Tính trung bình

+ Xác định số hạt chắc/quả theo công thức:

đã lấy mẫu để phân tích Tính ra tạ/ha

- Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ/ha):

NSLT= Số quả chắc/cây x số hạt chắc/quả x M1000 hạt x mật độ (cây/m

2

) (tạ/ha) 10.000

Trang 26

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm

2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng muốn hoàn thành một chu kỳ sống nhất thiết phải có quá trình sinh trưởng và phát triển Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc của tế bào, mô và toàn cây kết quả dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể tích sinh khối của chúng; phát triển là quá trình biến đổi về chất bên trong tế bào, mô, toàn cây để dẫn đến

sự thay đổi về hình thái và chức năng của chúng Sinh trưởng, phát triển là hai quá trình có quan hệ mật thiết với nhau, là hai mặt của quá trình biến đổi phức tạp trong cơ thể có tác dụng thúc đẩy nhau không thể tách rời Mỗi cây trồng đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định để sinh trưởng phát triển Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương được tính từ khi gieo hạt đến khi hạt chín trên cây và được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (từ khi gieo đến khi ra hoa) và giai đoạn sinh trưởng sinh thực (từ ra hoa đến chín)

Hai giai đoạn này không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm của giống mà còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như: điều kiện ngoại cảnh, chế độ chăm sóc, thời vụ, phân bón và các biện pháp kỹ thuật khác

Kết quả theo dõi thời gian sinh trưởng của giống đậu tương DT2008

ở các công thức phân bón được thể hiện qua bảng 4.1

Trang 27

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh trưởng của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại trường

4.1.1 Giai đoạn từ gieo đến mọc

Nảy mầm là giai đoạn chuyển từ trạng thái tiềm sinh sang trạng thái sống Đây là giai đoạn đầu tiên bắt đầu vòng đời sinh trưởng của cây đậu tương, nó có ý nghĩa quan trọng đến sinh trưởng và phát triển Trong giai đoạn này diễn ra một số hoạt động sinh lý, sinh hóa, quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ cung cấp năng lượng để chuyển hóa từ trạng thái ngủ nghỉ

của hạt sang trạng thái sinh trưởng, phát triển của cây

Sự nảy mầm của hạt được bắt đầu bằng sự hấp thụ nước nhờ cơ chế hút trương của hạt, hạt bắt đầu tăng tính thủy phần của keo nguyên sinh chất, giảm nồng độ nhớt của keo, dẫn đến sự biến đổi sâu sắc và đột ngột trong quá trình trao đổi chất của hạt Đặc trưng nhất là sự tăng lên mạnh mẽ hoạt tính của các enzim prôteaza Kết quả là protein bị phân giải thành các axit amin, các axit amin có thể sử dụng để tổng hợp các protein thứ cấp cấu trúc nên nguyên sinh chất của phôi hạt sinh trưởng và cây con Giai đoạn này được tính từ khi hạt hút nước trương lên, mầm nhô khỏi mặt đất xòe 2 lá mầm Đây là thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đến sự tồn tại và sức sống của cây

Trang 28

Tỷ lệ nảy mầm của hạt quyết định đến mật độ cây/đơn vị diện tích, sức nảy mầm, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của đậu tương sau này Hạt nảy mầm nhanh và đều, cây con sinh trưởng khỏe thì khả năng chống chịu tốt, có thể cho năng suất cao Nếu hạt nảy mầm chậm, cây con yếu, sức sinh trưởng kém ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng, phát triển về sau

Để hạt nảy mầm khỏi mặt đất đậu tương yêu cầu ẩm độ đất phải đạt

từ 75 -78% Tỷ lệ nảy mầm của hạt ở đất khô bị giảm nhiều so với đất ướt

C, tốt nhất là từ 25 -

300C Nếu chất lượng hạt tốt, chọn thời điểm gieo hạt tốt thích hợp, làm đất tơi xốp, thoáng khí, độ sâu gieo hạt vừa phải từ 3 - 5 cm thì việc nảy nầm diễn ra thuận lợi, trục phôi phát triển tốt đẩy 2 lá mầm lên khỏi mặt đất

Thí nghiệm được trồng vào ngày 17/09/2013 với nhiệt độ trung bình:26,40C, ẩm độ trung bình là 85%, tổng lượng mưa đạt: 352,2 mm Đất trồng được làm tơi xốp, sạch cỏ dại, hạt giống đảm bảo chất lượng tuy nhiên sau trồng gặp mưa lớn làm đất dí chặt nên tỷ lệ nảy mầm không cao đạt 87% Các công thức khác nhau đều mọc sau 7 ngày gieo như vậy các công thức phân bón khác nhau không có ảnh hưởng tới thời gian nảy mầm của hạt

4.1.2 Giai đoạn từ gieo đến phân cành

Giai đoạn phân cành tiếp sau khi cây mọc ở thời kỳ đầu khi cây mọc cây phát triển rất chậm do sinh khối nhỏ quang hợp tích luỹ chất khô không đáng kể nên chậm Trong thời kỳ phân cành này giai đoạn cuối cây phát triển khá nhanh về bộ rễ và bộ lá Rễ đậu tương phát triển mạnh về chiều sâu và bề ngang để hút dinh dưỡng và nước tốt hơn, cũng ở thời điểm này thì cây bắt đầu hành thành những nốt sần đầu tiên do sự cộng sinh của vi khuẩn Rhizobium Tuy nhiên các nốt sần cũng chưa đảm nhiệm được hầu

Trang 29

hết việc cung cấp đạm cho cây vì vậy giai đoạn này ta cũng bón thúc cây đậu tương nhằm cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây phát triển

Đây còn gọi là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây đậu tương Giai đoạn này được tính từ khi gieo đến khi cây bắt đầu có cành cấp 1 nhú dài 2cm Thời kỳ đầu của giai đoạn này cây con sinh trưởng rất chậm Trong khi đó bộ rễ lại phát triển nhanh cả về chiều sâu lẫn chiều ngang, các nốt sần trên rễ được hình thành và phát triển, mở đầu cho hoạt động cố định đạm khí trời để cung cấp cho cây Đây là thời kỳ mấu chốt quyết định tạo thân cây to, khoẻ, đốt ngắn, rễ ăn sâu, phân hoá mầm hoa quyết định tới số hoa trên cây sau này

Giai đoạn này dài hay ngắn là do đặc tính di truyền giống, điều kiện ngoại cảnh, dinh dưỡng và kỹ thuật chăm sóc Nhiệt độ thích hợp là 22 -

270C, ẩm độ đất thích hợp 70 - 80%, ẩm độ không khí là 75 -80%

Thực tế nhiệt độ trung bình: 24,60C, ẩm độ trung bình là 78%, tổng lượng mưa đạt: 83 mm, số ngày mưa trong tháng là 9 ngày là điều kiện thuận lợi cho cây phân cành

Vì vậy, trong giai đoạn này cần tưới nước, cung cấp đủ và cân đối phân bón, có biện pháp xới xáo sớm để bộ rễ phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho nốt sần hình thành nhiều

Nhìn vào bảng 4.1 chúng ta thấy, thời gian từ gieo đến phân cành của các công thức đều tương đương nhau dao động từ 34 - 36 ngày Trong đó công thức 1 và 4 phân cành sau 34 ngày, công thức 2 và 5 phân cành sau 35 ngày còn lại công thức 3 phân cành muộn nhất là 36 ngày

Thời gian phân cành là chỉ tiêu hình thái quan trọng ảnh hưởng tới năng suất của các giống Các giống phân cành tập trung và thời gian tích đủ sinh khối thì năng suất cao ngược lại các giống phân cành nhiều không tập trung thì cành vô hiệu và mang ít quả nhiều tiêu hao dinh dưỡng Do vậy theo dõi thời gian phần cành để áp dụng các biện pháp bón phân thích hợp

Trang 30

tránh bón nhiều đạm sẽ gây phân cành ko tập trung, cây chủ yếu tập trung sinh trưởng sinh dưỡng ức chế ra hoa Ngoài ra căn cứ thời gian này để xới xáo làm cỏ và vun gốc chuẩn bị cho giai đoạn ra hoa được thuận lợi và nhiều hoa hữu hiệu, chống đổ, kích thích hình thành nốt sần của cây

4.1.3 Giai đoạn từ gieo đến ra hoa

Đây là giai đoạn quan trọng trong chu kỳ sống, cây đậu tương bước vào thời kỳ sinh trưởng sinh thực Các cơ quan sinh sản bắt đầu xuất hiện và hình thành hoa, quả, hạt Thời kỳ này có tính chất quyết định của cây vì nó ảnh hưởng tới sinh khối, tỷ lệ quả chắc và ảnh hưởng đến năng suất sau này

Cây đậu tương có thời gian nở hoa kéo dài là đặc tính rất có lợi vì khi nở hoa gặp điều kiện không thuận lợi làm rụng hoa thì những đợt hoa sau có thể bổ sung làm giảm tỷ lệ mất mùa của đậu tương Tuy nhiên trong giai đoạn này đậu tương vừa sinh trưởng sinh thực, vừa sinh trưởng sinh dưỡng, nên ở thời kỳ này cây thường khủng hoảng về dinh dưỡng và rất mẫn cảm với điều kiện thời tiết khí hậu bất thuận: mưa to, gió lớn, khô, nóng… Mặc dù số lượng hoa của mỗi cây rất nhiều nhưng số hoa được thụ phấn và tạo quả rất ít (vì 75% số hoa thường bị thui và rụng) Vì vậy, muốn cho cây đậu tương sinh trưởng tốt, quả chắc nhiều cần bổ sung dinh dưỡng

và tưới nước đầy đủ cho cây, tránh các tác động cơ giới vào cây

Nhiệt độ thích hợp ở giai đoạn này là 25 - 280C, ẩm độ đất 70 - 80%,

2 và 5 sau 48 ngày còn công thức 3 ra muộn nhất sau 50 ngày

Trang 31

4.1.4 Giai đoạn từ gieo đến chắc xanh

Quá trình ra hoa và quá trình hình thành quả và hạt là 2 quá trình diễn

ra song song nhau không có ranh giới rõ ràng Khi quan sát ta thấy trên 1 cây thường có cả hoa, nụ và quả Sau khi cây ra hoa 6 - 8 ngày thì quả bắt đầu hình thành Lúc đầu quả và hạt lớn chậm, tốc độ lớn của quả tăng nhanh sau khi tắt hoa Tốc độ tích luỹ chất khô của hạt tăng nhanh đều cho tới khi hạt chắc Lúc này các chất dinh dưỡng được tập trung chuyển về hạt Thời

kỳ hạt mẩy là giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng của cây, bất kỳ tác hại nào cũng làm ảnh hưởng tới năng suất Đồng thời giai đoạn này cây cần một lượng nước khá lớn vì vậy cần cung cấp đủ ẩm cho cây đậu tương Độ ẩm tốt nhất lúc này là 80 - 90%, nhiệt độ thích hợp nhất là 25 - 280C Nếu nhiệt xuống thấp dưới 160C hoặc quá cao đều ảnh hưởng không tốt đến quá trình vận chuyển chất khô vào hạt

Thực tế giai đoạn này nhiệt độ trung bình: 22,20C, ẩm độ trung bình là 76%, tổng lượng mưa đạt: 44,8 mm là điiều kiện thuận lợi cho quá trình vào chắc của hạt, giúp cho hạt chắc, mẩy và tiềm năng cho năng suất cao

Qua bảng 4.1 ta thấy thời gian từ gieo đến chắc xanh của các công thức bón phân trong thí nghiệm dao động từ 74 - 78 ngày Tất cả các công thức thí nghiệm đều có thời gian chắc xanh muộn hơn công thức đối chứng Trong đó công thức 3 có thời gian chắc xanh muộn nhất (78 ngày) muộn hơn công thức đối chứng 4 ngày,công thức 2 có thời gian chắc xanh 75 ngày,còn công thức 4 và công thức 5 có thời gian chắc xanh là 76 ngày Như vậy các công thức phân bón khác nhau đã ảnh hưởng tới thời gian từ gieo đến chắc xanh của giống đậu tương thí nghiệm

4.1.5 Giai đoạn chín

Giai đoạn này quá trình sinh trưởng sinh dưỡng của cây gần như ngừng hẳn, các chất đồng hóa được vận chuyển tích cực vào hạt Khi hạt đã phát triển đạt kích thước tối đa, các khoang hạt đã chín, quả đã đủ mẩy thì

Trang 32

cây ngừng sinh trưởng Lượng nước trong hạt giảm mạnh từ 90% xuống 60 – 70%, đồng thời quá trình tích lũy vật chất khô gần như hoàn thiện Ẩm độ của hạt giảm xuống còn khoảng 20 - 30%, hạt rắn dần và đạt độ chín sinh

lý, vỏ hạt có màu sắc đặc trưng của giống, vỏ quả chuyển sang màu vàng,

lá úa vàng và rụng dần Yêu cầu nhiệt độ thời kỳ này là 18 - 20oC, lượng nước không nhiều Thực tế giai đoạn này nhiệt độ trung bình là 15,0 0C, ẩm

độ trung bình là 75%, tổng lượng mưa đạt 32,2 mm Tuỳ điều kiện thời tiết khí hậu mà đậu tương có thể chín khô ngoài ruộng, ẩm độ hạt còn khoảng

14 - 15% nhưng trong thực tế sản xuất đậu tương rất ít khi để như vậy bởi

vì ở nước ta khí hậu vụ Đông thường có ẩm độ thấp nên nếu để đậu tương chín khô ngoài ruộng thì hạt bị nứt nẻ thu hoạch bị rơi vãi ảnh hưởng tới năng suất

Qua bảng 4.1 cho thấy thời gian sinh trưởng của các công thức dao động từ 94 - 99 ngày Trong đó công thức 5 có thời gian sinh trưởng dài nhất là 99 ngày, công thức 2, 3 có thời gian sinh trưởng dài hơn so với công thức đối chứng từ 2 đến 3 ngày, còn công thức 4 có thời gian sinh trưởng là 95 ngày Qua kết quả trên chúng tôi thấy việc sử dụng các tổ hợp phân bón khác nhau ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương DT 2008

4.2 Ảnh hưởng của phân bón đến đặc điểm hình thái của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông 2013

Đặc điểm hình thái của cây đậu tương thể hiện mức độ sinh trưởng của cây ở từng điều kiên cụ thể Qua đặc điểm hình thái bên ngoài có thể phân biệt được sự sai khác giữa các giống ở các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây Đặc điểm hình thái là cơ sở dự đoán khả năng cho năng suất của giống đó Một số chỉ tiêu về hình thái như chiều cao cây, số đốt/thân chính, số cành cấp 1… có liên quan vừa trực tiếp, vừa gián tiếp đến năng suất đậu tương Biểu hiện của các chỉ tiêu này thể hiện ở mức độ sinh trưởng, mức độ thích nghi của từng giống trong điều kiện ngoại cảnh cụ thể

Trang 33

như chế độ nước, dinh dưỡng, ánh sáng Thường thì những giống có bộ lá xanh đậm, nhiều cành cấp 1, đốt/thân ngắn và to là những giống có khả năng cho năng suất cao, ít bị đổ Ngược lại, những giống có lá màu xanh nhạt, cây cao, đốt lóng dài, thân nhỏ, ít cành cấp 1 thì thường sinh trưởng kém, năng suất thấp lại dễ bị đổ Ngoài yếu tố giống thì điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ, điều kiện canh tác cũng ảnh hưởng tới đặc điểm hình thái của cây, một trong những yếu tố đó là phân bón

Nghiên cứu đặc điểm hình thái của giống đậu tương DT2008 ở các tổ hợp phân bón khác nhau để xem tổ hợp phân bón nào cho năng suất cao nhất và có hiệu quả kinh tế nhất

4.2.1 Chiều cao cây

Chiều cao cây là một chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh khá trung thực

về quá trình sinh trưởng của cây Chiều cao của cây đậu tương được tính từ đốt mang lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính, chiều cao cây chủ yếu là do yếu tố di truyền của giống quy định, bên cạnh đó chiều cao cây chịu tác động rất lớn của điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật canh tác Nếu gieo quá dày, cây vươn cao dễ bị lốp đổ sâu bệnh phát triển, số hoa và số quả trên cây ít, năng suất thấp Chiều cao cây có liên quan chặt chẽ đến một số đặc điểm nông học như: số lá/cây, số quả/cây, khả năng chống đổ của cây… cây càng cao, càng nhiều lóng đốt thì thường có số lá/cây, số quả/cây nhiều

Chiều cao cây được quy định bởi bản chất di truyền của giống, các giống khác nhau có chiều cao cây khác nhau Đồng thời chiều cao cây cũng chịu sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh như: chế độ nhiệt, nước, ánh sáng, dinh dưỡng

Trang 34

Qua theo dõi khả năng tăng trưởng chiều cao cây của giống đậu tương DT 2008 ở các công thức bón phân trong thí nghiệm qua các thời kỳ sinh trưởng, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 4.2

Bảng 4.2: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến chiều cao cây của giống đậu tương DT2008 trong vụ đông 2013 tại trường ĐHNL

ns: Sai khác không có ý nghĩa

*: Sai khác có ý nghĩa so với đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95% Qua bảng 4.2 ta thấy, cùng một giống đậu tương DT2008 được trồng

ở các công thức bón phân khác nhau thì có chiều cao tăng trưởng khác nhau Ở giai đoạn phân cành giống đậu tương DT2008 có chiều cao cây ở các tổ hợp phân bón khác nhau dao động từ 20,95 – 23,97 cm Trong đó công thức 3 và 4 có chiều cao cây cao hơn công thức đối chứng chắc chắn

ở mức tin cậy 95%, còn công thức 2 và 5 có chiều cao cây tương đương với công thức đối chứng

Trang 35

Ở giai đoạn ra hoa cây sinh trưởng và tăng chiều cao nhanh chiều cao cây ở các công thức dao động trong khoảng 26,2 – 29,44 cm Ở thời kì này công thức 3 và 4 có chiều cao cây cao hơn công thức đối chứng chắc chắn

ở mức tin cậy 95%, các công thức còn lại chiều cao cây tương đương với công thức đối chứng

Ở giai đoạn chắc xanh chiều cao cây vẫn tiếp tục tăng nhưng giảm so với giai đoạn ra hoa và chiều cao cây dao động trong khoảng 27,5 – 31,16

cm Ở giai đoạn này công thức 4 có chiều cao cây cao hơn công thức đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%, các công thức còn lại tương đương với công thức đối chứng

Nhìn vào bảng chiều cao cây ta thấy ở giai đoạn ra hoa công thức 5

có chiều cao thấp hơn công thức đối chứng Nhưng đến giai đoạn chắc xanh lại cao hơn công thức đối chứng

Ở giai đoạn chín chiều cao cây hầu như tăng không đáng kế so với giai đoạn chắc xanh Chiều cao cây giữa các công thức thí nghiệm dao động trong khoảng từ 29,81 – 33,62 cm Ở giai đoạn này công thức 3 và 4

có chiều cao cây cao hơn công thức đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%, các công thức còn lại tương đương công thức đối chứng

4.2.2 Đường kính thân, số cành cấp 1 và số đốt/thân

Trong các đặc điểm về hình thái của cây đậu tương cùng với chiều cao thì số đốt/thân, đường kính thân và khả năng phân cành là những chỉ tiêu để phân biệt sự sai khác giữa các giống, đánh giá khả năng chống đổ và đặc biệt

là cho năng suất của giống Chính vì vậy trong quá trình thí nghiệm chúng tôi đã tiến hành theo dõi các chỉ tiêu này và thu được kết quả ở bảng 4.3

Trang 36

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến đặc điểm hình thái của giống đậu tương DT 2008 trong vụ đông 2013 tại trường

ĐHNLThái Nguyên

trên cây (cành)

Số đốt trên thân chính(đốt)

ns: Sai khác không có ý nghĩa

*: Sai khác có ý nghĩa so với đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%

4.2.2.1 Khả năng phân cành cấp 1

Khả năng phân cành là tiền đề tạo năng suất, là bộ phận quan trọng của cây trồng Chỉ tiêu này không chỉ phụ thuộc vào đặc tính di truyền giống mà còn chịu sự chi phối bởi các biện pháp kỹ thuật và thời vụ gieo trồng Cành mang lá và mang quả, là nơi trung gian vận chuyển các sản phẩm đồng hoá được về hạt Cây có khả năng phân cành cao thì số lá, hoa/cây nhiều, cho năng suất cao Cành cấp 1 là cành mang chùm hoa cho

số lượng quả nhiều hơn các cành khác, do vậy đây là chỉ tiêu được đánh giá

là rất quan trọng

Qua bảng 4.3 ta thấy: Số cành cấp 1 của giống đậu tương DT2008 ở các tổ hợp phân bón khác nhau có số cành cấp 1 cũng khác nhau dao động trong khoảng từ 2,26 – 3,13cành Trong đó các công thức có số cành 1 tương đương với công thức đối chứng (2,76 cành)

Trang 37

4.2.2.2 Số đốt trên thân chính

Số đốt trên thân chính cũng quyết định đến năng suất đậu tương, chỉ tiêu này có liên quan thuận với năng suất, số đốt trên thân chính phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm di truyền giống ngoài ra còn chịu tác động vào biện pháp kỹ thuật, điều kiện ngoại cảnh, đốt là vị trí để cây hình thành chùm quả Sự phân hóa các đốt của cây đậu tương hoàn thành sớm, cùng với sự tăng lên về chiều cao thì số đốt trên thân cây chính cũng tăng lên Số đốt trên thân chính và chiều cao cây cho biết được khoảng cách giữa các đốt của cây Nếu khoảng cách giữa các đốt ngắn, lượng quả tập trung cây chống đổ tốt và ngược lại nếu số đốt trên thân dài thì cây sẽ dễ bị đổ, quả ít tập trung

Nhìn vào bảng 4.3 ta thấy số đốt trên thân chính của các công thức thí nghiệm biến động từ 8,26 – 10,40 cm Trong đó, công thức 2, 3 có số đốt trên thân chính tương đương với công thức đối chứng Công thức 4 và 5

có số đốt trên thân chính cao hơn công thức đối chứng chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%

4.2.2.3 Đường kính thân cây

Đường kính thân cây cũng là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh trưởng và khả năng chống đổ của cây đậu tương Khi cây chưa

có quả dinh dưỡng tích lũy vào than lá, khi quả hình thành chất dinh dưỡng được vận chuyển về nuôi hạt.Đường kính thân cây to biểu hiện cây sinh trưởng tốt, khả năng tích lũy vật chất cao, khả năng vận chuyển dinh dưỡng tốt và khả năng chống đổ tốt và cho năng suất cao

Qua bảng 4.3 ta thấy: đường kính thân cây của các công thức dao động từ 0,63 – 0,76 cm Trong đó, công thức 4 và 5 có đường kính thân lớn hơn công thức đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95% Công thức 3 lại có đường kính nhỏ hơn công thức đối chứng chắc chắc ở mức tin cậy 95% Công thức 2 và 3 có đường kính thân tương đương với công thức đối chứng

Trang 38

4.3 Ảnh hưởng của các công thức phân bón khác nhau đến tình hình sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống đậu tương DT2008 trong vụ

Đông năm 2013 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Ngày nay thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp ngày càng tăng về sồ lượng và chủng loại để bảo vệ năng suất cây trồng Bên cạnh ưu điểm không thể phủ nhận của thuốc bảo vệ thực vật đem lại thì dư lượng thuốc còn tồn tại trong sản phẩm nông nghiệp là điều không thể tránh khỏi Hơn nữa trong lá cây đậu tương có hàm lượng đạm cao là đối tượng của nhiều loại sâu bệnh hại Sâu bệnh là nguyên nhân chủ yếu làm giảm đáng kể năng suất đậu tương ở các vùng nhiệt đới như nước ta Trong thí nghiệm vụ Đông năm 2013 tại Thái Nguyên Chúng tôi theo dõi thấy xuất hiện chủ yếu là sâu cuốn lá và sâu đục quả Sâu bệnh hại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, điều kiện chăm sóc, thời tiết khí hậu, kỹ thuật canh tác… Hiện nay, biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM được coi là biện pháp hiệu quả Trong đó việc sử dụng giống chống chịu sâu bệnh, áp dụng các biện pháp kỹ thuật như luân canh, trồng đúng mật độ, bón phân hợp lý, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cũng làm giảm được sự phá hại của sâu bệnh

Kết quả theo dõi ảnh hưởng của một số loại sâu hại chính được thể hiện ở bảng 4.4:

Trang 39

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng chống chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống Đậu Tương DT 2008

trong vụ Đông năm 2013 tại Trường ĐHNLThái Nguyên

lá bị hại)

Sâu đục quả (%

quả bị hại)

Khả năng chống đổ (điểm

ns: Sai khác không có ý nghĩa

*: Sai khác có ý nghĩa so với đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95% Qua bảng số liệu ta thấy:

Sâu cuốn lá (Lamprosema Indicata Fabr): xuất hiện từ khi cây có lá

thật và phát triển mạnh vào giai đoạn cây ra hoa và làm quả

tơ cuốn các lá lại hoặc đính các lá lại với nhau tạo thành ổ rồi ăn hết diệp lục lá Sâu trưởng thành có màu xám, có nhiều đốm nâu đậm tròn hai cánh, trứng đẻ dải rác trên ngọn cây Sâu cuốn lá hại nặng làm quang hợp của cây giảm, lượng vật chất tạo ra ít dẫn tới năng suất giảm

Mật độ sâu cuốn lá dao động từ 6,43– 9,43% lá bị hại Trong đó công thức 3 và 4 có tỷ lệ sâu cuốn lá cao hơn công thức đối chứng có ý nghĩa chắc chắn ở mức tin cậy 95% Còn công thức 2 và 5 có tỷ lệ sâu cuốn lá tương đương công thức đối chứng

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới (Trang 8)
Bảng 2.6: Tình hình sả n xuất đậu tương của Việt Nam những nă m gần  đây - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 2.6 Tình hình sả n xuất đậu tương của Việt Nam những nă m gần đây (Trang 11)
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất đậu tương của Thái Nguyên trong những - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 2.7 Tình hình sản xuất đậu tương của Thái Nguyên trong những (Trang 14)
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh  trưởng của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông  năm 2013 tại trường - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh trưởng của giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại trường (Trang 27)
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến chiều cao cây   của giống đậu tương DT2008 trong vụ đông 2013 tại trường ĐHNL - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến chiều cao cây của giống đậu tương DT2008 trong vụ đông 2013 tại trường ĐHNL (Trang 34)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến đặc điểm hình  thái của giống đậu tương DT 2008 trong vụ đông 2013 tại trường - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến đặc điểm hình thái của giống đậu tương DT 2008 trong vụ đông 2013 tại trường (Trang 36)
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng chống  chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống Đậu Tương DT 2008 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng chống chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống Đậu Tương DT 2008 (Trang 39)
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng hình  thàng nốt sần hữu hiệu của giống đậu tương DT 2008 trong vụ Đông - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng hình thàng nốt sần hữu hiệu của giống đậu tương DT 2008 trong vụ Đông (Trang 44)
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành  năng suất của giống đậu tương DT 2008 trong vụ đông năm 2013 tại - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương DT 2008 trong vụ đông năm 2013 tại (Trang 47)
Hình 4.1: Biểu đồ so sánh giữa NSLT và NSTT ở các tổ hợp phân bón - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Hình 4.1 Biểu đồ so sánh giữa NSLT và NSTT ở các tổ hợp phân bón (Trang 48)
Bảng 4.8: H ạch toán các tổ hợp phân bón vụ đông 2013 cho giống DT2008 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên.
Bảng 4.8 H ạch toán các tổ hợp phân bón vụ đông 2013 cho giống DT2008 (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w