1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.

67 494 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 497,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HỨA THỊ VÂN Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ PHÂN BÓN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CHÈ KIM TUYÊN TẠI XÃ THỊNH

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HỨA THỊ VÂN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ PHÂN BÓN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ

CHẤT LƯỢNG CHÈ KIM TUYÊN TẠI XÃ THỊNH ĐÁN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN NĂM 2013

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Khoa học cây trồng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường và thực hiện phương châm “học đi đôi với hành” Mỗi sinh viên khi ra trường đều cần trang bị cho mình những kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng Chính

vì vậy việc thực tập tốt nghiệp là giai đoạn rất cần thiết đối với mỗi sinh viên trong nhà trường, qua đó hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, đồng thời giúp sinh viên hoàn thiện hơn về mặt kiến thức luận, phương pháp làm việc và năng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất, nghiên cứu khoa học

Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa nông học, trường Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất

và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013”

Trong thời gian thực tập và hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, thầy cô và bạn bè Tôi rất biết ơn sự giúp đỡ quý báu này Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo của

thầy giáo TS Nguyễn Thế Huấn và Th.S Vũ Thị Nguyên trong suốt quá

trình thực tập, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình chú Luân Văn Lâm

và bà con thôn xã Thịnh Đức- TP Thái Nguyên - Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em để em có thể hoàn thành đề tài này

Do thời gian có hạn, lại bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu mới nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn để bài khóa luận này hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 06 tháng 06 năm 2013

Sinh viên

Hứa Thị Vân

Trang 3

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây chè (Camellia sinensis (L)Okuntze) là cây công nghiệp dài ngày

có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, châu Phi Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì cây chè được trồng ở hơn 60 nước trên Thế Giới, trong đó có Việt Nam [11]

Chè có giá trị về kinh tế, văn hóa và dinh dưỡng Hầu hết các bộ phận của cây chè như búp, lá, nụ hoa, không những là nguyên liệu chính dùng để chế biến các loại sản phẩm trà uống giải khát, thanh nhiệt mà còn

có nhiều tác dụng như là một vị thuốc trong y học Nước chè có tác dụng

bổ dưỡng, chống được lạnh, làm giảm sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm cho tinh thần minh mẫn Sở thích thưởng thức trà từ lâu đã trở thành thú vui thanh tao, quý phái và là nét đẹp văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc trên Thế Giới Thói quen uống trà ngày càng phổ biến ở nhiều lứa tuổi và nhiều quốc gia trên thế giới [7]

Ngoài vai trò là thức uống có giá trị dinh dưỡng và dược liệu, việc trồng chè còn có khả năng khai thác tốt tiềm năng đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn miền núi [2]

Việt Nam được xem là một trong những quê hương của cây chè và sản phẩm chè từ lâu đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nền nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm của nước ta Chè Việt Nam đứng thứ 5 trên Thế giới về diện tích và sản lượng xuất khẩu Nước ta

Trang 4

là một trong những nước có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất chè, nhất là ở địa bàn miền núi và trung du Cây chè được trồng ở Việt Nam từ lâu đời (4000 năm), hiện nay đã được phát triển ở 34 tỉnh, thành phố trong cả nước Cây chè ở Việt Nam cho năng suất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế Với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước Cây chè được coi là cây mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực trung du và miền núi [2]

Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ, điều kiện đất đai và thời tiết khá thích hợp cho việc phát triển cây chè Toàn tỉnh hiện có 18.138 ha chè, năng suất búp tươi bình quân đạt 108,73 tạ/ha, sản lượng gần 181.020 tấn (năm 2011) So với các huyện trong tỉnh, Thành phố Thái Nguyên có diện tích chè khá lớn được phân bố chủ yếu ở các xã phía Tây, với các vùng trọng điểm

là các xã: Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Thịnh Đức Hiện nay, cây chè Thái Nguyên trở thành một trong những cây trồng mũi nhọn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân trong Tỉnh

Thái Nguyên đang triển khai thực hiện quy hoạch vùng sản xuất chè

an toàn trên địa bàn toàn Tỉnh Việc sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu không làm tăng năng suất mà còn gây nên hiện tượng mất cân đối giữa các nguyên tố Làm cho cây trồng phát triển không bền vững, chất lượng thấp, sâu bệnh phát triển nhiều, đất đai thoái hóa, ô nhiễm môi trường

Cây chè có khả năng hút dinh dưỡng liên tục trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó Ngay cả trong điều kiện mùa đông nhiệt độ thấp, cây chè tạm ngừng sinh trưởng nhưng vẫn yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định, vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho chè cần tiến hành thường xuyên trong năm Vùng chuyên canh cây chè, có trình độ thâm canh cao, đòi hỏi năng suất lớn thì lượng phân bón cần thiết phải bón hàng năm là rất nhiều Chính vì vậy, việc sử

Trang 5

dụng phân bón hữu cơ cho chè là rất cần thiết Phân hữu cơ không chỉ cung cấp nguồn dinh dưỡng thiết thực cho cây chè mà còn có tác dụng tăng hiệu quả sử dụng phân bón vô cơ, khắc phục được sự mất cân đối dinh dưỡng trong đất và góp phần vào bảo vệ môi trường… từ đó giúp cây chè sinh trưởng, phát triển tốt góp phần nâng cao năng suất và chất lượng chè

Từ những thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và

chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán– thành phố Thái Nguyên năm 2013”

1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Xác định được loại phân bón thích hợp đối với cây chè Kim Tuyên nhằm nâng cao năng suất và chất lượng chè Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trồng chè, đồng thời không gây ô nhiễm môi trường hướng tới nền nông nghiệp bền vững

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Xác định ảnh hưởng của một số loại phân bón tới sự sinh trưởng và phát triển cây chè

- Xác định ảnh hưởng của một số loại phân bón tới năng suất và chất lượng chè nguyên liệu

- Xác định được loại phân bón thích hợp cho giống chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán– thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong công việc để đạt được hiệu quả cao trong quá trình làm việc Đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường và hoạt động thực tiễn

Trang 6

- Có kết luận chính xác loại phân bón nào thích hợp cho chè Kim Tuyên tại Thái Nguyên

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Đề tài là cơ sở cho những định hướng sử dụng phân bón thích hợp cho cây chè vào thực tiễn sản xuất Từ đó, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, cũng như góp phần nâng cao năng suất và chất lượng chè tại Thái Nguyên

Trang 7

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cây chè liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó Về mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm

Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh thực cho chè hái búp và khống chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng cho chè thu hoạch giống

Đối tượng thu hoạch chè là búp non Mỗi năm thu hoạch từ 5 – 10 tấn/ha; vì thế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp

Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P2O5 và 1,2 - 2,5% K2O Ngoài ra cần chú ý rằng: Hàng năm trọng lượng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng trọng lượng búp và lá non đã thu hoạch Theo Daraxêli thì lượng đạm bị rửa trôi thường bằng 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất

Bón phân cho chè kinh doanh là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm thúc đẩy sinh trưởng của cây chè để tăng năng suất và chất lượng chè Việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ, giảm sử dụng phân khoáng cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ xong phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn, các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ hết hiệu quả Sử dụng phân hữu

cơ và giảm lượng phân khoáng đối với cây chè, có ý nghĩa đặc biệt quan

Trang 8

trọng không chỉ tác động đến năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện môi trường, cải thiện độ phì cho đất hướng đến một nền nông nghiệp bền vững

Từ những dẫn liệu trên đây, cho thấy rằng cây chè có những đặc điểm dinh dưỡng khác với một số cây trồng khác, nhu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn

2.2 Nguồn gốc, phân loại, sự phân bố cây chè

2.2.1 Nguồn gốc cây chè

Nguồn gốc của cây chè là vấn đề phức tạp, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc cây chè, dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhất là:

Cây chè có nguồn gốc ở Vân Nam - Trung Quốc:

Theo Daraselia, Gruzia (1989) thì các nhà khoa học Trung Quốc như Schenpen, Jaiding … đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ ở Trung Quốc như sau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu của hàng loạt con sông lớn đổ về các con sông

ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma Đầu tiên, cây chè mọc ở Vân Nam, sau

đó hạt chè di chuyển trôi theo dòng nước đến các vùng nói trên và lan sang các vùng khác Cũng theo Daraselia, dựa trên cơ sở học thuyết “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop thì cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc, phân bố

ở khu vực Đông nam, men theo cao nguyên Tây Tạng [7]

Cây chè có nguồn gốc ở vùng Atxam (Ấn Độ):

Năm 1823, R.Bruce đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ ), từ đó các học giả người Anh cho rằng: Nguyên sản của cây chè là ở vùng Atxam chứ không phải ở Vân Nam - Trung Quốc [7]

Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam:

Những công trình nghiên cứu của Djemukhatze (1961 - 1976) về phức catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechin của lá chè được trồng trọt và mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm

Trang 9

về sự tiến hoá sinh hoá của cây chè và trên cơ sở đó xác minh “Nguồn gốc

cây chè chính là ở Việt Nam”[7]

Các quan điểm nêu trên tuy có khác nhau về địa điểm nhưng đều có điểm chung thống nhất là: Nguyên sản của cây chè là ở châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm [7]

2.2.2 Phân loại cây chè

* Cơ sở khoa học của phân loại chè

Để tiến hành phân loại cây chè người ta căn cứ vào rất nhiều đặc tính, đặc điểm của cây chè Nhưng thường căn cứ vào 3 yếu tố sau:

+ Dựa vào cơ quan dinh dưỡng: Loại thân cây bụi hoặc thân cây gỗ, hình dạng của tán, lá, kích thước lá, đầu lá, số đôi gân chính…

+ Dựa vào cơ quan sinh thực: Độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa,

vị trí phân nhánh của đài nhụy, số lượng hoa, quả…

+ Dựa vào đặc tính sinh hoá: Chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin Mỗi giống chè đều có hàm lượng tanin biến động trong một phạm vi nhất định

* Phân loại: Cây chè nằm trong hệ thống phân loại thực vật sau:

Tên khoa học của cây chè được nhiều nhà khoa học công nhận là Camellia sinensis (L) O.Kuntze có tên đồng nghĩa là Thea sinensis L [7]

Căn cứ vào đặc điểm hình thái, các đặc tính sinh lý, sinh hóa và khả năng chống chịu của cây chè nhà bác học Cohen Stuart (1916) đã phân chia cây chè làm 4 thứ (varietas) chè chính:

- Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis - Var Bohea)

Trang 10

- Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla)

- Chè Shan (Camellia sinensis var Shan)

- Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var Assamicn)

Bốn thứ (varietas) chè trên đều được trồng ở Việt Nam, nhưng phổ biến nhất là chè Trung Quốc lá to và giống chè Shan Giống chè Trung Quốc lá to được trồng nhiều nhất ở các tỉnh trung du với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc lá) như: Trung du lá xanh, Trung du lá vàng,

Tỷ lệ trồng các giống chè trung du ở miền bắc nước ta đạt 70% Năng suất búp trung sản xuất đại trà khi chè 5 – 19 tuổi đạt từ 4 – 5 tấn/ha Còn giống chè Shan được trồng chủ yếu ở các tỉnh vùng núi phía Bắc [7]

2.2.3 Sự phân bố của cây chè

Sự phân bố của cây chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu Các kết quả nghiên cứu đều đưa đến một kết luận chung là: Vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới thích hợp cho cây chè Ngày nay, do trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển đã lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống chè khác nhau

và được trồng rộng rãi ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ [11], thì hiện nay chè được phân bố khá rộng từ 42º vĩ Bắc Pochi (Liên Xô cũ) đến 27º Nam Coriente (Achentina)

Sự phân bố của cây chè theo điều kiện khí hậu đất đai và địa hình cũng có sự khác nhau Đất trồng chè tốt phải nhiều mùn, thoát nước tốt và

có độ dốc thoải Ảnh hưởng của độ cao đã hình thành nên các vùng chè với nhiều giống chè, chất lượng khác nhau Các nhà khoa học cho rằng: Chè trồng ở những vùng có độ cao lớn hơn so với mặt nước biển thường có chất lượng tốt hơn so với chè trồng ở vùng thấp

Về điều kiện khí hậu, chè sinh trưởng tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 15ºC đến 20ºC, tổng nhiệt độ hàng năm vào khoảng 8.000ºC; lượng mưa trung bình hàng năm 1500 – 2000 mm; độ ẩm đất 70 - 80% Tuy nhiên với

Trang 11

khả năng thích nghi rộng cùng với sự tiến bộ của khoa học hiện nay chè được trồng ở những vùng khắc nghiệt hơn [7]

2.2.4 Các vùng sản xuất chè chủ yếu ở Việt Nam

2.2.5 Vai trò của phân bón đến năng suất và chất lượng cây chè

Bón phân cho chè là biện pháp kỹ thuật quan trọng giúp cây sinh trưởng tốt làm tăng năng suất và chất lượng chè Cây chè có khả năng hút dinh dưỡng liên tục trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như chu kỳ phát dục cả đời sống của cây Ngay cả trong điều kiện mùa đông độ thấp, khô hạn, cây chè tạm ngừng sinh trưởng nhưng vẫn yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định Vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho chè phải tiến hành thường xuyên trong năm

Chè là cây trồng cho thu hoạch sản phẩm là búp chè Trong búp non của chè có 4,5% N; 1,5% P2O5; và 1 – 2,5% K2O (theo Eden 1958) mà hàng năm chúng ta hái đi từ 5 – 10 lần búp tươi và đốn đi một lượng thân lá đáng kể vì thế ta đã lấy đi từ cây một lượng N, P, K và các chất khác Hơn nữa hàng năm cũng có một lượng dinh dưỡng bị xói mòn rửa trôi vì thế chúng ta cần xây dựng một chế độ bón phân hợp lý cho chè Trong chè đạm tập trung ở các bộ phận còn non như lá non và búp Nếu bón đủ đạm cho chè thì lá có màu xanh, quang hợp tốt

Trang 12

Theo Đỗ Ngọc Quỹ [10], khi bón quá đạm cho chè thì làm cho hàm lượng tanin, cyenin giảm và protein tăng Các tài liêu của Ấn Độ, Nhật Bản

và Việt Nam đều cho rằng nếu bón N.P.K không cân đối thì cây chè sẽ cho năng suất và chất lượng thấp

Bón phân khoáng quá mức dẫn đến mất cân dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây, sâu bệnh phát sinh phát triển nhiều, năng suất chất lượng giảm Đồng thời với các vùng trồng chè chủ yếu là đồi dốc việc sử dụng các phân khoáng như: Ure, Kali clorua,… Với phương pháp bón trên bề mặt thì rất dễ bị rửa trôi, hiệu quả sử dụng phân thấp, gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước.

Đối với cây chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, không những cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng hoạt động của các vi sinh vật trong đất, Nhưng thực trạng hiện nay việc sử dụng phân hữu cơ cho chè còn gặp nhiều khó khăn, do phải cạnh tranh nguồn hữu cơ với các cây trồng khác, đồi chè thường xa nhà, cây chè vào giai đoạn kinh doanh đã khép tán nên việc vận chuyển và bón phân thường gặp khó khăn Những giải pháp để tăng cường hữu cơ cho chè là làm phân tự chế bằng cách đào hố ủ ngay tại vườn chè, trồng cây xanh, cây họ đậu để lấy thân lá

ép xanh cho chè, ép xanh cành, lá già sau khi đốn chè, ngoài ra việc bón phân cho chè phải được chú ý ngay từ khi bón lót trước khi trồng

Các kết quả nghiên cứu cho thấy chất dinh dưỡng được hoàn trả cho đất thấp hơn nhiều so với lượng chất dinh dưỡng mà nông sản và sản phẩm phụ đã lấy đi và không cân đối giữa tỷ lệ N:P2O5:K2O Để đảm bảo cho một nền nông nghiệp bền vững phải tăng sử dụng phân bón trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và hữu cơ, sử dụng hợp lý với điều kiện hiện nay

* Hàm lượng N; P2O5; K2O

Trang 13

- Hàm lượng N: Trong chè tập trung ở các bộ phận còn non như: Búp

và lá non, N tham gia vào sự hình thành các axit amin và protein Bón đủ N

lá chè có màu xanh quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng tốt cho nhiều búp, búp to Thiếu N chồi mọc ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp Nếu quá nhiều N thì hàm lượng tanin và cafein giảm, hàm lượng ancolit tăng, chè có

vị đắng Nguồn cung cấp N cho đất là do quá trình khoáng hóa chất hữu cơ

và mùn trong đất, do hoạt động cố định đạm của các loại vi sinh vật đặc biệt là do con người bón vào đất…

- Hàm lượng P2O5: Trong búp non của chè có 1,5% P2O5 Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích lũy năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè Thiếu lân lá chè xanh thẫm, có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp

- Hàm lượng K2O: Kali trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân cành và các bộ phận đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất cho cây, làm tăng hoạt động của các men, làm tăng tích lũy gluxit

và axit amin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, tăng năng suất, chất lượng chè, làm tăng khả năng chống chịu cho chè Hàm lượng K2O trong đất phụ thuốc vào đá mẹ, điều kiện phong hóa đá và hình thành đất, chế độ canh tác

và bón phân

Khi thay thế dần phân hóa học bằng phân hữu cơ làm cho năng suất chè không giảm, chất lượng chè được cải thiện Ngoài ra, phân hữu cơ còn giúp cải tạo đất, không làm ô nhiễm môi trường hướng tới một nền nông nghiệp bền vững

2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên Thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới

2.3.1.1 Tình hình sản xuất

Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (khoảng hơn 4000 năm) [7] Ngày nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến với những sản phẩm chế

Trang 14

biến đa dạng và phong phú Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng, thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo

Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ (2008) [12], quốc gia đầu tiên trên Thế giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào những năm 805 sau Công Nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, vào Malaixia năm 1914, đến năm 1920 thì tiến tới các nước Châu Phi như: Kenia, Malavi, Ghine, Trên Thế giới cây chè được phát triển với tốc độ rất nhanh, đặc biệt là từ đầu thế kỷ 18 trở lại đây Đến năm 2000, đã có hơn 100 nước trồng và xuất khẩu chè

Theo FAO (2013) thì tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên Thế giới tính đến năm 2012 như sau:

Kenya 157.700 158.400 171.900 187.855 190.600 Bangladest 58.005 59.000 59.700 56.670 58.000 Châu Á 2.661.699 2.684.098 2.779.168 2.879.925 2.912.072 Thế giới 2.969.025 2.997.607 3.117.531 3.256.762 3.275.991

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[18]

Trang 15

Qua số liệu bảng 2.1 cho thấy:

Tính đến năm 2012 diện tích chè trên Thế giới đạt 3.275.991 ha tăng 306.966 ha tương đương 9,37% so với năm 2008 Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích trồng chè lớn nhất Thế giới với diện tích 1.513.000 ha, chiếm 46,18% tổng diện tích chè toàn Thế giới Ấn Độ là nước đứng thứ 2 với diện tích là 605.000ha, chiếm 18,47% tổng diện tích chè toàn Thế giới Diện tích chè Việt Nam đạt 115.964 ha chiếm 3,54% tổng diện tích chè toàn Thế giới Diện tích chè tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á chiếm 88,89% (2.912.072 ha) tổng diện tích toàn thế giới, đây cũng là nơi phát sinh ra cây chè

(Nguồn: Thống kê của FAO năm 2013)[18]

Qua số liệu bảng 2.2 cho thấy:

Trang 16

Tính đến năm 2012, năng suất chè trên Thế giới đạt 17,707 tạ chè khô/ha tăng 3,52 tạ chè khô/ha tương đương 19,88% so với năm 2008 Kenya là nước có năng suất chè cao nhất đạt 19,381 tạ chè khô/ha, vượt hơn năng suất bình quân của Thế giới là 9,45% Mianma là nước có năng suất thấp nhất chỉ đạt 4,051 tạ chè khô/ha tương ứng 22,88% năng suất chè thế giới Việt Nam tính đến năm 2012 đạt năng suất 18,704 tạ chè khô/ha vượt hơn năng suất bình quân của Thế giới là 5,6%, so với năng suất bình quân Châu Á là 303,32%

Bangladest 59.000 59.500 60.000 60.500 61.500 Châu Á 3.558.977 3.627.689 3.826.864 3.973.576 4.103.645 Thế giới 4.211.397 4.241.120 4.502.160 4.668.968 4.818.118

(Nguồn: Thống kê của FAO năm 2013)[18]

Qua số liệu bảng 2.3 cho thấy:

Sản lượng chè toàn Thế giới năm 2012 là 4.818.118 tấn tăng 606,721tấn, tương đương 12,59 % so với năm 2008 Trung Quốc là nước

Trang 17

có sản lượng chè lớn nhất Thế giới đạt 1.714.902 tấn chiếm 35,59 % tổng sản lượng chè toàn Thế giới,chiếm 41,79 % tổng sản lượng chè châu Á Sản lượng chè thấp nhất là Mianma chỉ đạt 32.000 tấn chiếm 0,66% tổng sản lượng chè toàn Thế giới Việt Nam đạt sản lượng 216.900 tấn chiếm 4,50% tổng sản lượng chè toàn Thế giới

Năm 2008 tổng kim ngạch của 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đạt 2,18 tỷ USD chiếm trên 50% tổng kim ngạch chè trên thế giới So với cùng kỳ năm 2007, kim ngạch nhập khẩu chè các nước này tăng trung bình 16,89%, 5 nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm

2008 là Nga (510,6 triệu USD), Anh (364 triệu USD), Mỹ (318,5 triệu USD), Nhật Bản (182,1 triệu USD) và Đức (181,4 triệu USD mỹ) [16]

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), năm

2009 nguồn cung chè thế giới giảm nhẹ so với năm 2008 do ảnh hưởng của thời tiết xấu đã làm giảm sản lượng chè ở một số quốc gia sản xuất chè [18]

Trang 18

Tại thị trường Mỹ mặc dù vẫn ở giai đoạn hậu suy thoái, nhưng nhu cầu tiêu thụ chè không những không giảm mà còn tăng mạnh Người tiêu dùng Mỹ đã hạn chế mua những đồ uống đắt tiền như cafe, nước trái cây, nước ngọt mà thay vào đó là tiêu dùng các sản phẩm rẻ hơn như chè, đặc biệt là những loại chè có chất lượng trung bình

Tại thì trường Châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng chè Ngay từ những tháng đầu năm 2009, tại các thị trường này người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế biến đặc biệt Như tại Nga, (một trong những quốc gia tiêu thụ chè lớn trên thế giới) với mức trung bình hơn 1 kg chè/người/năm [16]

Nhu cầu tiêu thụ chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang sản phẩm chè uống liền và chế biến đặc biệt trong khi ở các nước Tây Á và Châu Á vẫn ưa dùng các sản phẩm chè truyền thống Điều này giúp cho các nước trồng và xuất khẩu chè trên thế giới có phương pháp chế biến chè phù hợp cho từng vùng cũng như định ra được vùng xuất khẩu chè phù hợp cho sản phẩm của mình [16]

2.3.2 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam và phương hướng phát triển giai đoạn 2010 – 2015

2.3.2.1 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam

Việt Nam có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển, với 3/4 diện tích là đồi núi, điều kiện nhiệt độ nóng ẩm Tuy nhiên,

sản xuất chè ở nước ta chỉ thực sự bắt đầu từ sau những năm 1925 [7]

Trước năm 1890, nhân dân Việt Nam chủ yếu dùng chè dưới dạng chè tươi, chè nụ Sau khi người Pháp chiếm đóng Đông Dương thì cây chè mới được chú ý khai thác Cây chè Việt Nam được chính thức khảo sát và nghiên cứu vào năm 1885 do người Pháp tiến hành [7] Lịch sử phát triển

cây chè ở Việt Nam được chia ra làm các giai đoạn sau:

Trang 19

- Giai đoạn 1890 - 1945:

Thời kỳ này diện tích chè phân tán, mang tính tự cấp tự túc, kỹ thuật canh tác sơ sài, chế biến thủ công chủ yếu sử dụng chè tươi, phương thức quảng canh là chủ yếu

- Giai đoạn 1945 - 1954:

Trong giai đoạn này do ảnh hưởng của chiến tranh nên các vườn chè

bị bỏ hoang, ít được đầu tư chăm sóc, diện tích và sản lượng chè đều bị giảm sút rất nhiều

- Giai đoạn 1954 - 1990:

Ở giai đoạn này các Chương trình phát triển nông nghiệp đã được hoạch định Cây chè được xác định là cây có giá trị kinh tế cao có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là ở vùng Trung

du miền núi

Trong giai đoạn này còn đánh dấu sự ra đời của 1 số tổ chức sản xuất, kinh doanh chè như: Tổng công ty chè Việt Nam (VinaTea) vào năm

1987, Hiệp hội chè Việt Nam (ViTas) năm 1988 Các tổ chức này ra đời

đã quản lý và lãnh đạo ngành chè, giúp ngành chè từng bước ổn định và phát triển

- Giai đoạn 1990 đến nay:

Từ năm 1990 – 1997, diện tích chè từ 60.000 ha tăng lên 81.700 ha tăng 26,2%, sản lượng chè khô tăng từ 32,2 nghìn tấn lên 52 nghìn tấn Công nghệ chế biến chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, sự chồng chéo về quản lý ngành chè đã phần nào làm cho ngành chè chững lại Diện tích chè vẫn tăng nhưng năng suất chè giảm, đời sống người làm chè gặp nhiều khó khăn

Trước thực trạng đó việc thành lập Tổng công ty chè Việt Nam, thống nhất quản lý ngành chè được tiến hành, một số liên doanh liên kết với nước ngoài được thành lập, công nghệ chế biến bước đầu được chú

Trang 20

trọng, đổi mới thị trường xuất khẩu mở rộng sang Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản

Đã củng cố và tạo được niềm tin cho người trồng chè và làm chè

Trong những năm gần đây, nhà nước ta có nhiều cơ chế, chính sách đầu tư cho phát triển cây chè Do vậy, diện tích, năng suất và sản lượng chè không ngừng tăng lên

Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam

từ năm 2002 - 2012

Năm Diện tích chè kinh

doanh (1000ha)

Năng suất (tạ khô/ha)

Sản lượng (1000 tấn khô)

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[18]

Theo số liệu ở bảng 2.4 cho thấy:

Từ năm 2002 đến 2012 diện tích, năng suất, sản lượng và xuất khẩu chè tăng nhanh Năm 2012 diện tích chè là 115.900 ha, tăng 38.700ha tương ứng 40,13% so với năm 2002 Năng suất bình quân năm 2012 là 18.700 tạ khô/ha, tăng 6.500 tạ khô/ha tương ứng 53,28 % so với năm

Trang 21

2002 Sản lượng chè theo đó cũng tăng mạnh đạt 216.900 tấn búp khô vào năm 2012 tăng 122.700 tấn tương ứng 130,25% so với năm 2002

Việt Nam có 35 trên 63 tỉnh, thành phố trồng chè, chủ yếu tập trung

ở vùng trung du miền núi phía Bắc và cao nguyên Lâm Đồng với gần 130.000 ha Hiện có khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến

10 tấn nguyên liệu chè búp tươi/ngày) cùng với hàng ngàn hộ dân lập xưởng để chế biến tại gia đình Đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động,

chiếm 50% tổng số dân sống trong vùng chè

2.3.2.2 Phương hướng phát triển ngành chè giai đoạn 2010 - 2015

Ngành chè đặt ra mục tiêu phát triển chung giai đoạn 2010 - 2015 sẽ trồng mới và thay thế diện tích chè cũ đạt mức độ ổn định khoảng 150.000

ha, năng suất bình quân đạt 8 - 9 tấn búp/ha, giá trị thu nhập bình quân đạt

35 - 40 triệu đồng/ha và kim ngạch xuất khẩu đạt 200 triệu USD, giải quyết việc làm cho khoảng 1,5 triệu lao động trên cả nước [1]

Để ngành sản xuất chè ngày một phát triển mạnh mẽ thì không phải chỉ là sự nỗ lực của người nông dân mà còn cần sự nỗ lực của nhà khoa học nhà doanh nghiệp và nhà nước

Chúng ta cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhà máy, cơ sở chế biến chè một cách khoa học

Đầu tư phát triển chè trong điều kiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Đầu tư phát triển sản xuất phải tận dụng những lợi thế biến động vào triển vọng của thị trường trên thế giới có xu hướng thuận lợi cho chè Việt Nam

Đầu tư dựa vào các lợi thế so sánh và tương đối của chè

Đầu tư và phát triển sản xuất chè theo hướng nông trại

Đầu tư phát triển để chuyển mạnh sang cơ chế sản xuất hàng hoá chè

Trang 22

Nâng cao chất lượng chè búp tươi và chè thương phẩm, để cải thiện chất lượng sản phẩm xuất khẩu tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế bằng cách:

Đưa giống mới có chất lượng cao chiếm một tỉ lệ thích đáng trong cơ cấu nguyên liệu chế biến

Từng bước cải tạo đất theo hướng tăng độ mùn và tơi xốp

Đưa máy đốn, máy hái và các dụng cụ làm đất vào canh tác

Quy hoạch vùng chè nguyên liệu như: Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ và Lâm Đồng

Về giống chè lấy Viện nghiên cứu chè làm nòng cốt xúc tiến việc khu vực hoá, nhân và đưa nhanh các giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào các vườn chè

Tại các đơn vị sản xuất chè, khôi phục các vườn giống chè, sử dụng các giống mới có chất lượng cao nhằm cung cấp giống cho trồng dặm, trồng mới của dân

Đầu tư tưới cho các vườn chè tập trung có điều kiện về nguồn nước

để nâng cao năng suất

Trang 23

Tổng công ty chè Việt Nam cùng các công ty xí nghiệp làm tốt công tác thị trường bao tiêu sản phẩm và cung ứng vật tư, thiết bị chuyên dùng có chất lượng cao

Chính phủ cần ban hành những chính sách khuyến khích sản xuất chè như: chính sách đầu tư cho vay và làm mới chè và xây dựng cải tạo các nhà máy chế biến chè

Đề nghị miễn thuế 5 năm cho các diện tích chè phục hồi và trồng mới trên đất dốc Miễn thuế 5 năm cho các sản phẩm thu từ việc tận dụng đất đai và chế biến các sản phẩm mới

Cho phép các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài được hưởng lợi từ các chế độ như doanh nghiệp trong nước Nhà nước đầu tư đường điện đường giao thông và các cơ sở phục vụ công cộng khác

Cho phép ngành chè được thành lập quỹ bình ổn giá để ổn định giá mua chè tươi cho nhân dân và dự phòng một lượng chè xuất khẩu hợp lý nhằm giữ giá chè xuất khẩu

Hiện nay việc quản lý chất lượng chè xuất khẩu chưa có tổ chức nào chịu trách nhiệm trước nhà nước, do vậy cần thống nhất quản lý Ngành về chất lượng sản phẩm chè xuất khẩu

Vậy ngành chè có thể tin tưởng rằng : “Doanh thu của ngành chè tương đương 1 tỷ USD vào những năm 2020” và phương châm hoạt động là “chất lượng và hiệu quả là danh dự là hạnh phúc là văn hoá của ngành chè’’

2.4 Tình hình nghiên cứu phân bón cho chè trên Thế giới và Việt Nam

2.4.1 Tình hình nghiên cứu phân bón cho chè trên thế giới

Theo tác giả Eden (1958) khi nghiên cứu về hàm lượng các nguyên

tố trong búp chè cho rằng: Trong búp chè non của chè có 4,5% N, 1,5%

P2O5 và 1,2% K2O nên có bón phân cho chè

Theo ML Baziva (1973) khi lượng đạm tăng, sản lượng chè tăng, song để đạt được năng suất 10 tấn/ha bón 200N hiệu quả nhất

Trang 24

Kết quả nghiên cứu của Cuxunốp (1954) và T.C Niglollisvili hàm lượng cafein trong búp chè có lợi cho sản phẩm chè

Theo A.B Makhrabize (1948) nghiên cứu ảnh hưởng của kali đến chất lượng chè cho rằng phẩm chất trong các công thức được xếp theo thứ

tự là N:P:K và sau cùng là phân bón

Theo nghiên cứu của Truturin (1973) thì NPK phối hợp với Zn, Bo thì phẩm chất chè, nguyên liệu sẽ tăng lên

Ngoài ra cần chú ý rằng: Hàng năm khối lượng cành đốn cũng xấp

xỉ bằng khối lượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraselia thì lượng đạm bị trôi đi bằng 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất

Trên thế giới việc sử lý phế thải chăn nuôi được quan tâm đáng kể, hiện nay phương pháp khi sinh học sản xuất từ phế thải chăn nuôi được sử dụng tương đối rộng rãi tại các cơ sở chăn nuôi nhỏ ở các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Nepan hoặc các trang trại tập trung ở Đức ưu điểm của phương pháp này là dễ làm, đầu tư ít ở quy mô nhỏ

Theo Gaur và cộng sự (1980), cho thấy việc bổ sung các loại vi sinh vật có khả năng phân hủy xenlulo cao cùng các nguyên tố dinh dưỡng như đạm dạng hữu cơ, lân dạng quặng photphorit và một số điều kiện môi trường khác đã giúp rút ngắn thời gian ủ phân chuồng từ 4 – 6 tháng xuống còn 2 – 4 tuần Các chủng vi sinh vật phân giải hợp chất hữu cơ được bổ sung trong quá trình ủ đống, vai trò vi sinh vật khởi động sản

xuất nhanh phân hữu cơ từ nguồn phế thải giàu xelulo là Aspergillus,

Trichoderma và Penicillium Cũng từ các kết quả nghiên cứu và thực tiễn

sản xuất, vào năm 1982 Gaur và cộng sự đã đề xuất kỹ thuật bổ sung thêm

quặng photphat với liều 5% và vi sinh vật phân giải lân (Aspergillus,

Penicillium, Pseudomonas, Bacillus) với mật độ 106 - 108 VSV/gr cùng với vi

Trang 25

sinh vật cố định nito tự do Azotobacter nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng

cho sản phẩm [15]

2.4.2 Tình hình nghiên cứu phân bón cho chè ở Việt Nam

Ở Việt Nam vấn đề sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu đang gây

ra những tác hại nhất định đến chất lượng nông sản, đến môi trường sinh thái Đã đến lúc cần thiết phải thay đổi quan điểm về dinh dưỡng cây trồng theo hướng hữu cơ để bảo vệ môi trường, môi sinh

Các nhà khoa học thuộc viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến năng suất, phẩm chất của chè, kết quả cho thấy:

Bảng 2.5: Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất, phẩm chất chè

Công thức bón

Năng suất

Nước (%)

Tanin (%)

Chất tan (%) (tạ/ha) %

(Nguồn: Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc)[17]

Qua kết quả bảng 2.5 cho thấy: Nếu bón phân không cân đối, chỉ bón có đạm, dù ở mức thấp hay cao thì năng suất và chất lượng của chè đều thấp Khi bón tỷ lệ N:P:K là 2:1:1 với lượng tương ứng là 200: 50: 50 thì chè cho năng suất và chất lượng cao nhất Đặc biệt khi bón đơn độc mình đạm với lượng lớn (200 N/ha) thì năng suất và chất lượng không cao hơn đối chúng là bao nhiêu,

có xu thế giảm xuống

Trang 26

Khi nghiên cứu tỷ lệ phân bón cho chè, các nhà khoa học thuộc viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc cho biết:

Chè là cây thu hoạch búp, lá do đó trong sản xuất hiện nay vẫn áp dụng cách tính lượng bón N cho chè theo sản phẩm búp thu hoạch được Khi bón lượng đạm tăng dần từ 20N - 40N/tấn sản phẩm, năng suất chè tăng ở mức có ý nghĩa; khi bón ở mức 35 N - 40 N/tấn sản phẩm, lượng đạm càng tăng, tốc độ tăng năng suất giảm dần

Bón 35 N/ tấn sản phẩm với tỷ lệ N:P:K = 3:1:1 trên chè (SXKD) ở mức năng suất trên 10 tấn/ ha là thích hợp

Khi thay thế 80% đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ thì sẽ cho chất lượng chè chế biến cao nhất, điểm thử nếm cảm quan đạt 16,37 điểm, nhất là hương thơm và vị của chè được cải thiện

Bón N: P: K: Mg tỷ lệ 3: 1: 1: 0,3 trên nền phân ủ, tăng mật độ búp, giảm tỷ lệ búp mù xoè và năng suất chè tăng 15,93 % so đối chứng (Đ/C)

Như vậy, bón phân NPK tỷ lệ 3:1:1 (35 N/ tấn sản phẩm), kết hợp bón Mg và thay một phần đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ, sẽ có ảnh hưởng tốt đến năng suất và chất lượng chè

Theo báo cáo khoa học của Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tác giả Phạm Văn Ngọc, giảng viên khoa Nông học và cộng sự đã nghiên cứu, sản xuất, khảo nghiệm thành công phân hữu cơ sinh học và vi lượng NTT, bước đầu đánh giá hiệu quả của phân bón trên khía cạnh năng suất, chất lượng chè cho thấy: Chỉ sau một thời gian sử dụng phân hữu cơ sinh học NTT, cây chè phát triển tốt, búp nhiều, lá chè xanh non, búp mập, năng suất tăng cao và ít sâu bệnh hơn; sử dụng loại phân này không ảnh hưởng đến môi trường, sản phẩm chè sản xuất ra an toàn, chất lượng tốt, trung bình một tháng cho thu hoạch 1 lứa, năng suất tăng từ 10 đến 15% [4]

Trong khuôn khổ dự án sản xuất thử nghiệm KC 04 – DA11, năm

2005 Bộ môn Vi sinh vật – Viện Thổ nhưỡng nông hóa đã sản xuất thử

Trang 27

nghiệm thành công 2500 kg chế phẩm Compost Maker phục vụ cho sản xuất hàng nghìn tấn phân hữu cơ sinh học từ nguồn gốc phế thải chăn nuôi Các nhà khoa học Việt Nam đã thử nghiệm thành công phương pháp nuôi giun bằng rác thải, nhằm giải quyết nạn ô nhiễm môi trường do rác gây ra, đồng thời cung cấp thức ăn cho gia súc Loại giun này được nhập

từ Philippines, có ưu điểm là dễ nuôi, sinh sản nhanh, thích nghi tốt với khí hậu Việt Nam Theo Huỳnh Thị Kim Hối thuộc viện Sinh Thái và Tài Nguyên sinh vật, đã nghiên cứu kinh nghiệm dân gian, kết hợp với các kiến thức khoa học hiện đại, để ra cho đời một quy trình sản xuất xử lý phế thải nhờ giun đất Philippines Theo tính toán, để phân hủy một tấn rác hữu cơ trong một năm, người ta cần khoảng 1.000 con giun giống và các thế hệ con cháu của chúng

Theo Võ Thị Hạnh (2004), nghiên cứu xử lý nguồn phân chuồng biến phế thải này thành phân hữu cơ vi sinh khi sử dụng Bio-F, chế phẩm chứa các vi sinh vật như: Xạ khuẩn Stetomyces sp, nấm mốc Trichoderma

sp và vi khuẩn Bacillus sp Những vi sinh vật trên có tác dụng phân hủy nhanh các hợp chất hữu cơ trong phân lợn, gà và bò gây mùi hôi Phân lợn, gà sau khi được thải xử lý ẩm độ, sau đó ủ với chế phẩm Bio-F Sau 3 ngày các vi sinh vật hữu ích phát triển mạnh phân giải và làm mất mùi phân Nhiệt độ trong khối ủ tăng lên tới 60 – 700C, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh và trứng giun trong phân Sau 7 – 10 ngày, giai đoạn kết thúc và sản phẩm thu được là phân bón hữu cơ chất lượng cao, có tác dụng phòng chống nấm gây hại cây trồng

2.4.3 Nhận định tổng quát về tình hình nghiên phân bón cho chè trong và ngoài nước

Các công trình nghiên cứu về phân bón cho cây chè được quan tâm

và thực hiện từ rất sớm và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có giá trị được

áp dụng rộng rãi trong sản xuất Nghiên cứu một cách toàn diện, đề cập tới

Trang 28

tất cả các khía cạnh để tìm ra loại phân bón tốt và biện pháp kĩ thuật liên quan Giúp cây chè phát triển thuận lợi, đạt chất lượng cao

Công tác nghiên cứu cũng được quan tâm từ rất sớm ở nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là những nước có diện tích, sản lượng chè lớn, chất

lượng cao như: Trung Quốc, Srilanka, Ấn Độ, Nhật Bản…

Ở Việt nam, việc nghiên cứu phân bón cho cây chè tuy tiến hành muộn hơn song cũng thu được nhiều kết quả tốt, đã có nhiều loại phân bón cho chè được nghiên cứu ra, đặc biệt là phân bón hữu cơ sinh học không gây ô nhiễm môi trường Qua thử nghiệm cũng đã đạt kết quả tốt đem lại năng suất và chất lượng cho cây chè Từ đó cũng đã phát triển rộng rãi trong sản xuất Tuy nhiên mỗi loại phân bón chè cần phải được nghiên cứu, xác định cho phù hợp loại giống chè và ở các vùng khác nhau Từ đó khuyến cáo tới người dân giúp tăng năng suất và chất lượng chè, đem lại hiệu quả kinh tế

Trang 29

PHẦN 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, dụng cụ, địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

3.1.1.1 Giống chè

* Chè Kim Tuyên

Nguồn gốc: Nhập nội từ Đài Loan Được công nhận giống tạm

thời năm 2003, công nhận giống cây trồng mới năm 2008 Đây là giống mang mã số 12 của Đài Loan được tạo ra năm 1975 bằng phương pháp lai hữu tính giữa mẹ là Ô long lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ Nhập nội vào Việt Nam năm 1994, trồng ở các vùng chè có điều kiện sản xuất chè Ô long

Đặc điểm: Là giống chè lai, dạng thân bụi, mật độ cành dày, lá hình

bầu dục, màu xanh, vàng bóng, thế ngang, răng cưa rõ và đều Cây sinh trưởng khỏe, mật độ búp dày Nhân giống bằng giâm hom có tỷ lệ sống cao Chế biến chè xanh có chất lượng rất cao

Sinh trưởng: Cây sinh trưởng khoẻ, mật độ búp dày Khi trồng cây

có tỷ lệ sống cao Cây chè 4- 5 tuổi tán rộng trung bình 117 cm; cây chè 5 tuổi tại Lâm Đồng đạt 10,5 tấn, cây chè 4 tuổi tại Lạng Sơn năng suất đạt 4,5 tấn Nhân giống bằng giâm hom có tỷ lệ sống cao

Giống chè Kim Tuyên có sức sinh trưởng khá, chống chịu sâu bệnh khá, chống hạn trung bình, thích hợp cho chế biến chè xanh, chè Ô long

3.1.1.2 Các loại phân bón

- Phân bón: + Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh

+ Phân hữu cơ vi sinh NTT

Công thức nghiên cứu như sau:

Trang 30

CT1 Phân đa lượng theo quy trình : (240N + 130P205 + 160K20 )/ha (Đối chứng) Ký hiệu là Đ/C

CT2 Phân đa lượng theo quy trình + 5 tấn phân vi sinh Sông

1 Mùn 3,5%

2 N.P.K 2,5:1:1

3 Axit Humic 6%

4 Vi sinh vật hữu hiệu 2x106 Cuf/g, N – P2O5(hh), kết hợp

5 Vi sinh vật hữu hiệu (Vi sinh vật phân giải Xenlulo, phân giải lân khó tiêu, tinh bột,…) 2x106 Cuf/g

+ Phân đa lượng được sử dụng trong thí nghiệm là Đạm Ure hà Bắc (N 46%), Super lân lâm thao( P205 16%), Kaliclorua (K20 56%)

3.1.2 Dụng cụ nghiên cứu

Dụng cụ đo đếm và bố trí thí nghiệm: Khung gỗ kích thước 25 x 25

cm, thước dây loại 5 m, thước gỗ 1,5 m, túi PE, cân đồng hồ, cuốc, các loại cọc tiêu biểu hiện đánh dấu ô thí nghiệm…

3.1.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Tại vườn chè gia đình ông Luân Văn Lâm tại

xã Thịnh Đán,thành phố Thái Nguyên

Trang 31

- Thời gian: Tiến hành nghiên cứu từ tháng 1/2013 đến tháng

11/2013

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Tình hình sản xuất chè tại Thái Nguyên

- Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên:

+ Phân bón ảnh hưởng tới sinh trưởng

+ Phân bón ảnh hưởng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

+ Phân bón ảnh hưởng đến chất lượng chè nguyên liệu

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Thu thập số liệu liên quan đến đề tài

Thu thập số liệu về tinh hình sản xuất chè từ các nguồn : phòng

Thống kê, phòng Nông nghiệp, trung tâm Khuyến nông, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Tỉnh Thái Nguyên

Trang 32

Phân đa lượng bón như sau:

.Lần 1 bón tháng 3, 30% lượng phân khoáng (tương đương 72kg N + 39kg P205+ 48kg K20),

Lần 2 vào tháng 8, 30% lượng phân khoáng (tương đương 72kg N +

3.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi

3.3.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của nương chè

- Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc (sát mặt đất) tới đỉnh sinh trưởng cao nhất Trên mỗi ô tiến hành chọn 5 điểm cố định để đo chiều cao cây, sau đó lấy trung bình Đo trước và sau khi kết thúc thí nghiệm

- Độ rộng tán (cm): là giá trị trung bình đo chỗ rộng nhất và chỗ hẹp nhất của tán, đo trước và sau khi kết thúc thí nghiệm

Trang 33

3.3.4.2 Các chỉ tiêu năng suất và yếu tố cấu thành năng suất

- Mật độ búp (búp/m2): Dùng khung vuông (25 cm x 25 cm) đặt trên tán tính số vết hái trong khung ở các vị trí giữa, rìa tán lấy trị số trung bình nhân với 16, theo dõi 5 điểm

- Khối lượng búp 1 tôm 2 lá (gam/búp): Trên ô thí nghiệm lấy ra 100

g búp, đếm số búp trong 100 g đó Từ đó, quy ra khối lượng 1 búp theo công thức:

Năng suất = kg chè tươi x10.000(m

2)(kg/ha) 30(m2)

3.3.4.3 Đánh giá chất lượng chè nguyên liệu

- Tỷ lệ búp có tôm, búp mù xòe (%): Đếm số búp có tôm và búp mù xòe từ tổng số búp hái trong 1 khung 25 cm x 25 cm

Tỷ lệ búp có tôm ( %) = Số búp có tôm x 100%

Tổng số búp

- Đánh giá phẩm cấp chè nguyên liệu:

+ Nguyên liệu loại 1 (loại A): Có 10% bánh tẻ

+ Nguyên liệu loại 2 (loại B): Từ 10 – 20% bánh tẻ

+ Nguyên liệu loại 3 (loại C): Từ 21 – 30% bánh tẻ

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 2.1 Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính (Trang 14)
Bảng 2.2: Năng suất chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 2.2 Năng suất chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính (Trang 15)
Bảng 2.3: Sản lượng chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 2.3 Sản lượng chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính (Trang 16)
Bảng 4.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2013 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 4.1 Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2013 (Trang 36)
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Thái Nguyên từ - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Thái Nguyên từ (Trang 39)
Hình 4.1: Đồ thị biểu hiện ảnh hưởng của các công thức phân bón đến - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Hình 4.1 Đồ thị biểu hiện ảnh hưởng của các công thức phân bón đến (Trang 42)
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến chiều cao cây - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến chiều cao cây (Trang 42)
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến độ rộng tán của - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến độ rộng tán của (Trang 43)
Hình 4.2: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến độ rộng tán chè - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Hình 4.2 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến độ rộng tán chè (Trang 44)
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến mật độ búp chè - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến mật độ búp chè (Trang 45)
Hình 4.3: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến mật độ búp chè - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Hình 4.3 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến mật độ búp chè (Trang 46)
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến (Trang 47)
Hình 4.4: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến khối lượng búp - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Hình 4.4 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến khối lượng búp (Trang 48)
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến tỷ - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến tỷ (Trang 50)
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của các công thức phân bón - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại xã Thịnh Đán – thành phố Thái Nguyên năm 2013.
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của các công thức phân bón (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w