ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LƯU THỊ THƠM Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI CỦA MỘT SỐ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ BÌNH DƯƠNG, HUYỆN G
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯU THỊ THƠM
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI CỦA
MỘT SỐ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ BÌNH DƯƠNG, HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Thái Nguyên - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯU THỊ THƠM
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI CỦA
MỘT SỐ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ BÌNH DƯƠNG, HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Duy Hải
Khoa Môi rường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn của các trường chuyên nghiệp của cả nước ta nói chung và trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Thực tập tốt nghiệp là một bước quan trọng của sinh viên cuối khóa Đây là giai đoạn rất quan trọng nhắm củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường đồng thời cũng nâng cao kĩ năng thực hành
Được sự nhất trí của trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Môi Trường cùng với nguyện vọng bản thân, em tiến hành đề tài :
“Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải của một số trang trại nuôi lợn trên địa bàn xã Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh"
Trong thời gian thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Môi Trường và đặc biệt em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Ths Nguyễn Duy Hải người đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình
em trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề Em cũng xin chân thành cảm ơn tới các cán bộ UBND xã Bình Dương đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại địa phương
Do kinh nghiệm và thời gian có hạn nên khóa luận của em còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong các thầy cô giáo trong khoa Môi Trường đóng góp
ý kiến xây dựng để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Lưu Thị Thơm
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOD Biochemical oxygen Demand Nhu cầu ôxy sinh hóa
COD Chemical Oxygen Demand Nhu cầu oxy hóa học
FAO
Food and Agriculture Oganization of the United Nation
Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
TSS Toltal Disolved Solid
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Một số loại thuỷ sinh vật tiêu biểu 15
Bảng 2.2 Khối lượng phân và nước tiểu của gia súc thải ra trong 1 ngày đêm 17
Bảng 2.3 Thành phần phần trăm của phân gia súc gia cầm 17
Bảng 2.4 Một số thành phần vi sinh vật trong chất thải rắn chăn nuôi lợn 18
Bảng 2.5 Thành phần trung bình của nước tiểu các loại gia súc 19
Bảng 2.6 Phân Bố số lượng đàn lợn trên các châu lục 20
Bảng 2.7 Các nước có số lượng lợn nhiều nhất trên thế giới 21
Bảng 2.8 Số đầu lợn qua các năm 22
Bảng 2.9 Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2010 22
Bảng 4.1 Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm 36
Bảng 4.2 Một số trang trại nuôi lợn 37
Bảng 4.3 Lưu lượng nước thải tại hai trang trại chăn nuôi lợn 38
Bảng 4.4 Kết quả phân tích COD trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 40
Bảng 4.5 Kết quả phân tích BOD trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 41
Bảng 4.6 Kết quả phân tích N tổng số trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 42
Bảng 4.7 Kết quả phân tích P tổng số trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 43
Bảng 4.8 Kết quả phân tích TSS trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 44
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Mô hình quản lý chất thải rắn chăn nuôi trên thế giới 9
Hình 2.2 Sơ đồ cấu tạo bể UASB 10
Hình 4 1 Hàm lượng COD trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 40
Hình 4.2 Hàm lượng BOD trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 41
Hình 4.3 Hàm lượng N tổng số trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 42
Hình 4.4 Hàm lượng P tổng số trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 43
Hình 4.5 Hàm lượng TSS trước và sau khi xử lý bằng bể Biogas 44
Hình 4.6 Mô hình bãi lọc ngầm 47
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý 5
2.1.3 Cơ sở thực tiễn 6
2.2 Đặc điểm của chất thải chăn nuôi 16
2.2.1 Chất thải rắn – phân 16
2.2.2 Nước tiểu 18
2.2.3 Nước thải 19
2.2.4 Khí thải 20
2.3 Tình hình chăn nuôi lợn trong và ngoài nước 20
2.3.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên Thế giới 20
2.3.2 Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam 21
2.4 Các chỉ tiêu phân tích 23
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu 26
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu nước thải 26
Trang 83.4.3 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 27
3.4.4 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 27
3.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiêm 27
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Bình Dương, huyện Gia Bình, Bắc Ninh 29
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30
4.2 Thực trạng phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại trên địa bàn xã Bình Dương 36
4.3 Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải chăn nuôi lợn tại một số trang trại trên địa bàn 38
4.3.1 Quy mô nước thải tại một số trang trại trên địa bàn 38
4.3.2 Biện pháp xử lý nước thải được áp dụng tại các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Bình Dương 38
4.3.3 Đánh giá hiện trạng nước thải chăn nuôi trước và sau xử lý Biogas tại trang trại chăn nuôi trên địa bàn xã Bình Duơng 39
4.4 Một số tồn tại và đề xuất giải pháp xử lý nước thải trong chăn nuôi theo quy mô trang trại trên địa bàn xã Bình Dương 45
4.4.1 Những tồn tại 45
4.4.2 Đề xuất các giải pháp xử lý nước thải chăn nuôi theo quy mô trang trại trên địa bàn xã Bình Dương 46
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC
Trang 91
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực quan trọng trong nền nông nghiệp,
nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập của hàng triệu người dân hiện nay Đặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta khi có hơn 70% dân cư sống dựa vào nông nghiệp
Sự gia tăng của các sản phẩm nông nghiệp kết hợp với nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao của cuộc sống đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển mạnh mẽ Sự phát triển bùng nổ của ngành chăn nuôi để đáp ứng nhu cầu là một tất yếu Tuy nhiên công nghiệp hóa chăn nuôi có thể là hệ quả tất yếu của chuỗi thực phẩm liên kết theo chiều dọc và cung ứng cho các cửa hàng bán lẻ lớn, nhưng cũng có thể xảy ra một cách độc lập
Việt Nam là một nước đang phát triển với nền kinh tế nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo Đặc biệt, lĩnh vực chăn nuôi ở nước ta đang có xu hướng xây dựng những khu chăn nuôi tập trung theo quy mô trang trại Phương thức chăn nuôi này đang mang lại hiệu quả đáng kể, tạo điều kiện cho việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong lĩnh vực chăn nuôi Hiện nay, loại hình chăn nuôi này đang được người dân ở các địa phương quan tâm, trong đó chăn nuôi gia súc, gia cầm chiếm tỷ lệ lớn nhất Vốn đầu
tư cho mỗi trang trại từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng tuỳ theo quy mô và loại hình trang trại
Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả kinh tế về chăn nuôi trang trại cũng đang bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục như: đa số quy mô trang trại chăn nuôi còn nhỏ, thiếu quy hoạch tổng thể về lâu dài của các địa phương dẫn đến các trang trại phát triển manh mún, thiếu đầu tư và đặc biệt gây ô nhiễm môi trường do nước thải, từ các hoạt động chăm sóc gia súc gia
Trang 10Do vậy, việc xử lý nước thải sau chăn nuôi là vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay trong ngành chăn nuôi
Bình Dương là một xã thuộc huyện Gia Bình, Bắc Ninh đã vàđang trên
đà phát triển với mật độ dân số ngày càng tăng Ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn xã những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẽ về số lượng trang trại chiếm một phần không nhỏ trong ngành chăn nuôi Với số lượng hơn nghìn con đã đưa giá trị sản phẩm của ngành chăn nuôi đạt hiệu quả cao Nhưng vấn
đề nước thải tại một số trang trại nuôi lợn trên địa bàn xã rất đáng lo ngại, theo điều tra cho thấy 50% nước thải của các trang trại được qua xử lý bằng hầm ủ Biogas nhưng chất lượng của các hầm này chưa đạt tiêu chuẩn nên nước thải môi trường vẫn còn gây ô nhiễm
Xuất phất từ thực tế, để đánh giá hiện trạng môi trường nước thải xung quanh các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh,
em đã tiến hành thực hiện đề tài " Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải của một số trang trại nuôi lợn trên địa bàn xã Bình Dương,huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh"
1.2 Mục đích của đề tài
- Điều tra đánh giá được thực trạng chăn nuôi của xã Bình Dương,
huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải tại một số trang trại chăn nuôi lợn trước và sau quá trình xử lý
Trang 113
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác
- Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn nghiên cứu
- Phản ánh đúng đắn, đầy đủ hiện trạng nước thải chăn nuôi lợn và ảnh hưởng của nó tới môi trường xung quanh các trang trại chăn nuôi
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế
- Nâng cao kiến thức thực tế
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường
- Bổ sung tư liệu cho học tập
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua quá trình nghiên cứu thực trạng nước thải của các trang trại chăn nuôi lợn để biết được mặt mạnh, mặt yếu kém, những khó khăn và tồn tại trong việc quản lý và xử lý nước thải từ đó tìm ra những giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện của các trang trại, giúp các trang trại chăn nuôi lợn có công tác quản lý môi trường được tốt hơn
Trang 12
4
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
Theo giá của tổ chức nông lương thế giới ( FAO): Châu á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất Chăn nuôi Việt Nam giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc độ nhanh, bình quân giai đoạn 2001 – 2006 đạt 8.9%
Trong số các nước thuộc ASEAN, Việt Nam là nước chịu áp lực đất đai lớn nhất Tốc độ tăng trưởng dân số và quá trình đô thị hóa đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp Để đảm bảo an toàn về lương thực và thực phẩm, biện pháp duy trì là thâm canh chăn nuôi trong đó chăn nuôi lợn là một thành phần quan trọng trong định hướng phát triển
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn phát triển với tốc độ rất nhanh nhưng chủ yếu là tự phát và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật
về chuồng trại và kỹ thuật chăn nuôi Do đó, năng suất chăn nuôi thấp và gây
ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng Ô nhiễm môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, năng suất chăn nuôi mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người và môi trường sống xung quanh Mỗi năm ngành chăn nuôi gia súc gia cầm thải ra khoảng 75 – 85 triệu tấn phân, với phương thức sử dụng phân chuồng không qua xử lý ổn định và nước thải không qua
xử lý xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng [6]
Cho đến nay, chưa có một báo cáo nào đánh giá chi tiết và đầy đủ về ô nhiễm môi trường do ngành chăn nuôi gây ra Theo báo cáo tổng kết của viện chăn nuôi, hầu hết các hộ chăn nuôi đều để nước thải chảy tự do ra môi trường xung quanh gây mùi hôi thối nồng nặc, đặc biệt là những ngày oi bức
Trang 135
Nồng độ khí H2S và NH3 cao hơn mức cho phép rất nhiều lần Ngoài ra trong nước thải còn chứa COD, BOD, Colifrom, E.Coli… và trứng giun sán cao hơn rất nhiều lần so với quy chuẩn cho phép [21]
Khả năng hấp thu Nito và Photpho của gia súc, gia cầm rất kém, nên khi thức ăn có chứa Nito và Photpho vào thì chúng sẽ bị bài tiết theo phân và nước tiểu Trong nước thải chăn nuôi thường chứa hàm lượng Nito và Photpho rất cao [20]
Theo Jongbloed và Lenis ( 1992) đối với lợn trưởng thành, khi ăn 100g Nito thì: 30g giữ lại cơ thể, 50g bài tiết ra ngoài theo nước tiểu dưới dạng ure, còn 20g ở dạng phân Nito vi sinh vật khó phân hủy và an toàn môi trường
- Thông tư 04/2010/TT-BNNPTNT ngày 15/01/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia điều kiện chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học QCVN01- 15: 2010/BNNPTNT
- Thông tư 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thú y
+ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm - Quy trình kiểm tra, đánh giá điều kiện vệ sinh thú y
Ký hiệu: QCVN 01 - 79: 2011/BNNPTNT
+ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Cơ sở nuôi trồng thủy sản thương phẩm
Trang 14- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTG vềviệc phê duyệt đề án “Kế hoạch
xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”
2.1.3 Cơ sở thực tiễn
2.1.3.1 Tình hình nghiên cứu và xử lý chất thải chăn nuôi trên Thế giới
Để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của con người, ngành chăn nuôi trên thế giới đã phát triển rất nhanh và đạt được nhiều thành tựu to lớn Trên thế giới, chăn nuôi hiện chiếm khoảng 70% đất nông nghiệp và 30% tổng diện tích đất tự nhiên (không kể diện tích bị băng bao phủ) Chăn nuôi đóng góp khoảng 40% tổng GDP nông nghiệp toàn cầu Tuy nhiên, bên cạnh việc sản xuất và cung cấp một số lượng lớn sản phẩm quan trọng cho nhu cầu của con người, ngành chăn nuôi cũng đã gây nên nhiều hiện tượng tiêu cực về môi trường Ngoài chất thải rắn và chất thải lỏng, chăn nuôi hiện đóng góp khoảng 18% hiệu ứng nóng lên của trái đất (global warming) do thải ra các khí gây hiệu ứng nhà kính: khí CO2 chiếm 9%, khí mêtan (CH4) 37% và oxit nitơ (N2O) là 65% Những loại khí này sẽ còn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới (FAO, 2011) [29]
Trang 157
Theo dự báo của FAO, 2011 về nhu cầu sử dụng các sản phẩm chăn nuôi của thế giới dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng gấp đôi trong nửa đầu của thế kỷ này Nhưng cũng đồng thời trong thời gian trên con người sẽ phải chứng kiến nhiều
sự biến đổi môi trường và khí hậu theo chiều hướng không mong đợi, môi trường sống ngày càng bị đe dọa bởi chính các hoạt động chăn nuôi Do vậy, việc hướng tới một ngành chăn nuôi chất lượng cao không chỉ giúp đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người về các sản phẩm có nguồn gốc động vật mà đồng thời phải chịu trách nhiệm với chính con người về mặt môi trường và xã hội khi sản xuất ra những sản phẩm đó (Bùi Xuân An, 2007) [1]
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới FAO năm 2011
số lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: tổng đàn trâu là 182,2 triệu con và phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con, dê 591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con, gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm (FAO,2011) [29]
Về số lượng, đàn bò nhiều nhất là Brazin 204,5 triệu con, thứ hai là
Ấn Độ 172,4 triệu con, thứ ba là Hoa Kỳ 94,5 triệu con, thứ tư là Trung Quốc 92,1 triệu con, thứ năm Ethiopia và thứ sáu Argentina có trên 50 triệu con bò (FAO,2011) [29]
Ấn Độ là một quốc gia đứng đầu về chăn nuôi trâu, hiện nay số lượng trâu của Ấn Độ có khoảng 106,6 triệu con (chiếm trên 58% tổng số trâu của thế giới), hứ hai là Pakistan 29,9 triệu con, thứ ba là Trung Quốc 23,7 triệu con, thứ tư là Nepan 4,6 triệu con, thứ năm Egypt 3,5 triệu con, thứ sáu Philippine 3,3 triệu con và Việt Nam đứng thứ 7 thế giới đạt 2,8 triệu con trâu (FAO,2011) [29]
Các cường quốc về chăn nuôi lợn của thế giới: số đầu lợn hàng năm
số một là Trung Quốc 451,1 triệu con, thứ hai là Hoa Kỳ 67,1 triệu, thứ ba
Trang 16200 triệu con đứng thứ 13 thế giới (FAO,2011) [29]
Chăn nuôi vịt đứng thứ nhất vẫn là Trung Quốc có 771 triệu con, thứ hai
là Việt Nam 84 triệu, thứ ba là Indonesia 42,3 triệu, thứ tư là Bangladesh 24 triệu
và cuối cùng đứng thứ năm là Pháp có 22,5 triệu con vịt[29]
Xét về tổng số lượng vật nuôi của thế giới, các nước Trung Quốc, Hoa
Kỳ, Ấn Độ, Brazin, Indonesia, Đức là những cường quốc, trong khi đó Việt Nam cũng là nước có tên tuổi về chăn nuôi: đứng thứ hai về số lượng vịt, thứ
tư về lợn, thứ sáu về số lượng trâu và thứ mười ba về số lượng gà [29]
Bên cạnh số lượng vật nuôi lớn, mỗi năm môi trường thế giới phải hứng chịu một khối lượng rất lớn chất thải từ các hoạt động chăn nuôi Việc
xử lý chất thải chăn nuôi nói chung và chất thải gia cầm nói riêng cũng đã được nghiên cứu triển khai ở các nước phát triển từ cách đây vài chục năm Các nghiên cứu của các tổ chức và các tác giả như: Burton, C H and Turner,
C (2003); Dr Arux Chaiyakul, (2007); McDonald P, J F D Greenhalgh and C
A Morgan (1995); Sebastià Puig Broch, (2008); Teruo Higa, (2002) Các công nghệ áp dụng cho xử lý nước thải chăn nuôi trên thế giới chủ yếu là các phương pháp sinh học Ở các nước phát triển, quy mô trang trại rộng hàng trăm hecta, trong trang trại ngoài chăn nuôi gia cầm quy mô lớn (trên 10.000 con), phân gia cầm và chất thải gia cầm chủ yếu làm phân vi sinh và năng lượng Biogas cho máy phát điện còn nước thải chăn nuôi được sử dụng cho các mục đích nông nghiệp (Đỗ Ngọc Hòe, 1974) [7]
Trang 179
Hình 2.1 Mô hình quản lý chất thải rắn chăn nuôi trên thế giới
(Nguồn: Trịnh Xuân Lai, 2000) [11]
Tại Trung Quốc, người ta tính toán rằng cứ 3 triệu con gà “sản xuất” ra
212 tấn phân và số phân này được dùng để sản xuất điện Phân gà ở chuồng sẽ
đi vào máng, sau đó được chuyển xuống một băng chuyền để đến một nhà máy
xử lý Nhà máy xử lý sẽ tách methane ra khỏi phân gà để tạo ra điện, và điện sẽ được bán cho lưới điện quốc gia Sau khi tách methane xong, phân gà sẽ được
xử lý thành phân bón (Đỗ Ngọc Hòe, 1974) [7]
Ông Pan Wenzhi - Phó chủ tịch công ty Công nghệ Nông nghiệp Deqingyuan cho biết: “Lượng than đá để tạo ra điện cho Trung Quốc có thể khan hiếm trong vài thập kỷ tới Vì thế, phân gà có thể là một trong số những nguồn nguyên liệu thay thế để sản xuất điện hiệu quả, tiết kiệm và bảo vệ môi trường” Hiện nay, nhiệt điện sử dụng than đá vẫn chiếm 70% sản lượng điện của Trung Quốc [7]
Tại Hà Lan, nước thải chăn nuôi được xử lý bằng công nghệ SBR (Sequencing batch reactor) qua 2 giai đoạn: giai đoạn hiếu khí chuyển hóa thành phần hữu cơ thành CO2, nhiệt năng và nước, amoni được nitrat hóa
Cơ sở chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ
Nuôi thả, chuồng hở
Hệ thống nuôi trên sàn
Kho chứa chất thải rắn
ủ phân compost
Bể chứa, hồ chứa nước thải, hệ thống xử lý yếm khí, bể biogas dung tích lớn
Kênh mương tiếp nhận nước thải
Trang trại lớn quy mô công nghiệp
Dòng nước thải Dòng chất thải rắn
Ruộng, cánh đồng
Trang 1810
thành nitrit và khí nitơ; giai đoạn kỵ khí xảy ra quá trình đề nitrat thành khí nitơ Phốtphat được loại bỏ từ pha lỏng bằng định lượng vôi vào bể sục khí (Sebastià Puig Broch, 2008) [28]
Tại Tây Ban Nha, nước thải chăn nuôi được xử lý bằng quy trình VALPUREN (được cấp bằng sáng chế Tây Ban Nha số P9900761) Đây là quy trình xử lý kết hợp phân hủy kỵ khí tạo hơi nước và làm khô bùn bằng nhiệt năng được cấp bởi hỗ hợp khí sinh học và khí tự nhiên (Lê Văn Cát, 2007) [3]
Tại Thái Lan, công trình xử lý nước thải sau Biogas là UASB (Upflow Anaerobic Sludge Blanket) Đây là công trình xử lý sinh học kỵ khí ngược dòng Nước thải được đưa vào từ dưới lên, xuyên qua lớp bùn kỵ khí lơ lửng ở dạng các bông bùn mịn Quá trình khoáng hóa các chất hữu cơ diễn ra khi nước thải tiếp xúc với các bông bùn này Một phần khí sinh ra trong quá trình phân hủy kỵ khí (CH4, CO2 và một số khí khác) sẽ kết dính với các bông bùn và kéo các bông bùn lên lơ lửng trong bùn, tạo sự khuấy trộn đều giữa bùn và nước Khi lên đến đỉnh bể, các bọt khí được giải phóng với khí tự do và bùn sẽ rơi xuống Để tăng tiếp xúc giữa nước thải với các bông bùn, lượng khí tự do sau khi thoát ra khỏi
bể được tuần hoàn trở lại hệ thống (Dr Arux Chaiyakul, 2007) [25]
Hình 2.2 Sơ đồ cấu tạo bể UASB
(Nguồn: Trịnh Xuân Lai, 2000) [16]
進流水分配器
出流水 甲烷氣
Tầng bùn lơ lửng
Nước thải sau
bể UASB
Khí Biogas
Máng thu nước quanh
bể
Tầng pha nước, pha khí
Vách ngăn tách khí
Trang 1911
2.1.3.2 Tình hình nghiên cứu và xử lý chất thải chăn nuôi tại Việt Nam
Tại Việt Nam, mỗi năm đàn vật nuôi thải ra khoảng trên 73 triệu tấn chất thải rắn, 25 - 30 triệu khối chất thải lỏng và hàng trăm triệu tấn chất thải khí Trong đó, khoảng 50% tổng lượng chất thải rắn và 80% tổng lượng chất thải
lỏng bị xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý (Lưu Anh Đoàn, 2006) [5]
Theo tác giả Đặng Văn Minh, 2011 [10] cho biết không khí trong chuồng nuôi chứa khoảng 100 loại hợp chất khí độc hại như NH3, H2S, CO2, tổng số vi khuẩn cao gấp 30 - 40 lần so với không khí bên ngoài Nếu hít nhiều
và thường xuyên có thể gây ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính Ở nồng độ cao có thể gây nôn mửa, ngạt thở, ngất xỉu hoặc tử vong cho người và vật nuôi
Kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, cho thấy có trên 80% cơ sở chăn nuôi ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Tuyên Quang… xây dựng chuồng nuôi ngay trong khu dân cư xen lẫn với nơi ở của người, chuồng nuôi đa số là tạm bợ hoặc bán kiên cố
Cũng theo PGS.TS Đặng Văn Minh cho biết ngành chăn nuôi sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nếu không có biện pháp xử lý chất thải phù hợp “Chỉ cần một gia đình nuôi vài con lợn, không vệ sinh chuồng trại, xử lý phân nước thải không hợp lý thì tất cả các hộ sống xung quanh phải gánh chịu hậu quả từ nguồn nước đến không khí hôi thối, ruồi bọ phát triển mạnh, tăng nguy cơ lây lan bệnh dịch” [14]
Nguồn gây ô nhiễm môi trường từ các cơ sở chăn nuôi bao gồm chất thải rắn như lông, phân gia súc, rác, thức ăn thừa, xác gia súc, gia cầm tiêu hủy không đúng kỹ thuật và chất thải lỏng như: nước tiểu, nước rửa chuồng, nước tắm gia súc Những loại chất thải này, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, năng suất chăn nuôi giảm, hiệu quả kinh tế không cao (Lê Văn Cát, 2007) [3]
Theo tác giả Lưu Anh Đoàn, 2006 [5] cho rằng: phần lớn người trồng rau
Trang 2012
hiện nay đều sử dụng phân chuồng trong chăm bón, trong khi các vật nuôi này được nuôi bằng những loại thức ăn tổng hợp Thức ăn dạng này chứa rất nhiều khoáng đa lượng, vi lượng Hàm lượng kim loại nặng trong phân của vật nuôi
sẽ xâm nhập vào đất trồng, rau và tồn lưu trong các nông sản Đặc biệt là đối với các loại rau ăn lá như cải ngọt, cải xanh, bắp cải, xà lách… Người ăn phải thì hậu quả thật khó lường [5]
GS.TS Nguyễn Quang Thạch, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội cho biết: sử dụng hầm Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi không những cải thiện rất đáng kể ô nhiễm môi trường mà còn cung cấp một nguồn năng lượng sạch và quan trọng, phục vụ việc đun nấu, thắp sáng Tuy nhiên, đối với các trang trại hay hộ chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp xử lý chất thải là điều cần thiết, song đối với các hộ chăn nuôi nhỏ, không phải bất kỳ hộ nào cũng có điều kiện
để xử lý an toàn chất thải chăn nuôi bằng phương pháp Biogas, nhất là ở các vùng mà kinh tế còn nhiều khó khăn (Nguyễn Quang Thạch, 2001) [16]
Bà Trần Thị Bíp, một hộ chăn nuôi nhỏ tại xã Thanh Lâm, Mê Linh, Hà Nội cho biết, để xây dựng một hầm Biogas đạt chuẩn như hiện nay, kinh phí không dưới 10 triệu đồng Hoàn cảnh gia đình còn khó khăn nên chưa thể làm được, chấp nhận phải thải thẳng ra hệ thống thoát nước xung quanh [16]
“Ngoài việc tuyên truyền tạo ý thức cho người dân thu gom và có biện pháp xử lý chất thải phù hợp, rất cần có sự hỗ trợ của Nhà nước, sự phối hợp của chính quyền địa phương Có như thế mới thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển vừa đáp ứng nhu cầu thực phẩm vừa đảm bảo vệ sinh môi trường” GS.TS Nguyễn Quang Thạch nhận định [16]
Theo thống kê hiện nay, Việt Nam có khoảng 8,5 triệu hộ có chăn nuôi với trên 5 triệu con bò; 2,8 triệu con trâu; 27,6 triệu con lợn; 220 triệu gia cầm Ước tính lượng chất thải rắn mà các vật nuôi trưởng thành mỗi ngày có thể thải ra: bò 10kg/con, trâu 15kg/con, lợn 2kg/con, gia cầm 0,2kg/con Một tấn phân chuồng tươi không qua xử lý sẽ phát thải vào không khí 0,24 tấn CO2 (Trần Minh Châu, 1984) [8]
Trang 21* Một số giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi hiện nay:
1 Giải pháp xây dựng hầm Biogas
Xử lý chất thải chăn nuôi bằng công trình khí sinh học (KSH) được đánh giá là giải pháp hữu ích nhằm giảm khí thải methane và sản xuất năng lượng sạch Với trên 500.000 công trình KSH hiện có trên cả nước (336.000 công trình KSH thay thế than đun nấu vùng đồng bằng và 224.000 công trình KSH thay thế củi đun nấu vùng miền núi), sản xuất ra khoảng 450 triệu m3khí gas/năm Theo thông báo quốc gia lần 2, tiềm năng giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của phương án này khoảng 22,6 triệu tấn CO2, chi phí giảm đối với vùng đồng bằng là 4,1 USD/tấn CO2, đối với miền núi 9,7 USD/tấn CO2, mang lại giá trị kinh tế khoảng 1.200 tỷ đồng về chất đốt Do đó, khả năng giảm thiểu khí phát thải của công trình khí sinh học sẽ tăng lên trong tương lai
và tầm quan trọng của việc tận dụng nguồn năng lượng tái tạo này, không chỉ nhằm chống việc nóng lên của khí hậu toàn cầu, mà còn giúp Việt Nam đi theo hướng phát triển nền kinh tế có hàm lượng carbon thấp mà không ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững Mặc dù vậy, phát triển khí sinh học tại Việt Nam còn gặp một số khó khăn vì mức đầu tư cao so với khả năng tài chính của người nông dân, hỗ trợ của nhà nước thấp và phụ thuộc nhiều vào quy mô
và tính ổn định của ngành chăn nuôi (Đỗ Thành Nam, 2008) [14]
2 Xử lý bằng sử dụng thực vật thủy sinh
Trong xử lý nước thải (XLNT), thực vật thủy sinh (TVTS) có vai trò rất
Trang 2214
quan trọng TVTS tham gia loại bỏ các chất bẩn hữu cơ, chất rắn lơ lửng, nitơ, phốtpho, kim loại nặng và VSV gây bệnh Trong quá trình XLNT thì sự phối hợp chặt chẽ giữa TVTS và các sinh vật khác (động vật phù du, tảo, vi khuẩn, vi nấm, động vật nguyên sinh, nhuyễn thể, ấu trùng, côn trùng…) có ý nghĩa quan trọng
Vi sinh vật tham gia trực tiếp vào quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ và tạo nguyên liệu dinh dưỡng (N, P và các khoáng chất khác…) cho thực vật sử dụng Đây chính là cơ chế quan trọng để TVTS loại bỏ các hợp chất vô cơ N, P Hiện nay việc sử dụng TVTS trong công tác bảo vệ môi trường ngày càng được chú ý hơn vì chúng có những ưu điểm nổi bật:
- Xử lý được nhiều tác nhân gây ô nhiễm
- Thân thiện với môi trường
- Tốc độ tăng trưởng sinh khối nhanh: sinh khối của TVTS sau xử lý có thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, sản xuất khí mêtan, phân bón…
- Giá thành xử lý thấp hơn so với các phương pháp sinh học khác (Vũ Thụy Quang, 2009) [17]
- Xử lý nước thải bằng tảo: tảo có khả năng quang hợp, chúng có tốc độ
sinh trưởng nhanh, chịu được các thay đổi của môi trường, có khả năng phát triển trong nước thải, có giá trị dinh dưỡng cao Do đó, người ta đã lợi dụng các đặc điểm này của tảo để: chuyển đổi năng lượng mặt trời và chất dinh dưỡng trong nước thải thành năng lượng sinh khối tảo Thông thường, người
ta kết hợp việc XLNT với sản xuất và thu hoạch tảo để loại bỏ chất hữu cơ trong nước thải
Các yếu tố cần thiết cho quá trình xử lý nước thải bằng tảo:
Dưỡng chất: amoni là nguồn đạm chính cho quá trình tổng hợp nên protein
của tế bào thông qua quá trình quang hợp của tảo Các nguyên tố vi lượng ảnh
hưởng đến sự phát triển của tảo, trong tế bào tảo tỷ lệ N: P: K là 1,5:1:0,5
Độ sâu của tảo: độ sâu của tảo được lựa chọn trên cơ sở tối ưu hóa khả năng
sử dụng ánh sáng trong quá trình quang hợp của tảo, độ sâu thường là 40 - 50cm
Trang 23- Xử lý bằng thực vật thủy sinh có kích thước lớn: thực vật thủy sinh
kích thước lớn có thể sử dụng trong xử lý nước thải chia làm 3 nhóm:
+ Nhóm nổi: bèo tấm (Lemna minor), bèo Nhật bản (Eichhornia crassipes),
loại này có thân, lá nổi trên mặt nước, chỉ có phần rễ là chìm trong nước
+ Nhóm nửa chìm, nửa nổi: sậy (Pharagmites communis), lau (Cirpus lacustris) Loại này có bộ rễ cắm vào đất, bùn còn phần thân chìm trong nước,
phần còn lại và lá ở phía trên Mực nước thích hợp của cây là >1,5m
+ Nhóm chìm: rong xương cá (Potamogeton crispus), rong đuôi chó (Littorella umiflora), thực vật loại này chìm hẳn trong nước, rễ của chúng bám
chặt vào bùn đất, còn thân và lá ngập trong nước (Vũ Thụy Quang, 2009) [17]
Bảng 2.1 Một số loại thuỷ sinh vật tiêu biểu
Thuỷ sinh vật
sống chìm
Hydrilla Hydrilla verticilata
Water milfoil Myriophyllum spicatum
Thuỷ sinh vật
sống trôi nổi
Lục bình Eichhornia crassipes
Bèo tai tượng Pistia stratiotes
Trang 2416
3 Xử lý bằng phương pháp sinh học khác
Chăn nuôi sinh thái là hệ thống chăn nuôi không có chất thải, không gây
ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nguyên vật liệu, sử dụng tài nguyên và kỹ thuật
rẻ tiền, chăn nuôi không lạm dụng thuốc kháng sinh và hóa chất hóa học, sử dụng công nghệ vi sinh làm nền tảng Sử dụng công nghệ vi sinh trong chăn nuôi hiện nay đã và đang là một trong những hướng đi mới mẻ được nghiên cứu và phát triển ở nhiều nơi Với những hộ chăn nuôi tập trung, lượng phân sinh ra rất lớn vì thế để xử lý phân hiệu quả, nhanh đạt tiêu chuẩn phân bón và
vệ sinh là rất cần thiết cho việc giải quyết ô nhiễm môi trường cho cộng đồng khu vực Việc sử dụng các chế phẩm sinh học như chế phẩm EM có tác dụng làm tăng cường khả năng xử lý phân, rút ngắn thời gian ủ, thỏa mãn các yêu cầu về vệ sinh môi trường tái sử dụng chất thải chăn nuôi [4]
2.2 Đặc điểm của chất thải chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi chia ra thành 3 nhóm:
+ Chất thải rắn: Phân, chất độn, lông, chất hữu cơ tại các lò mổ… Chất thải rắn chăn nuôi lợn có độ ẩm từ 56-83%, tỷ lệ N, P, H cao, chứa nhiều hợp chất hữu cơ, vô cơ và một lượng lớn các vi sinh vật, trứng các kí sinh trùng có thể gây bệnh cho người và vật nuôi
+ Chất thải lỏng: Nước tiểu, nước rửa chuồng, tắm rửa gia súc, vệ sinh
-Các chất cặn bã của dịch tiêu hóa (trypsin, pepsin… ), các mô tróc ra
Trang 2517
từ các niêm mạc của ống tiêu hóa và các chất nhờn theo phân ra ngoài
-Các loại vi sinh vật trong thức ăn, ruột bị thải ra ngoài theo phân
• Lượng phân:
Lượng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi
và khẩu phần ăn Lượng phân lợn thải ra mỗi ngày có thể ước tính 6-8% trọng lượng của vật nuôi [18] Lượng phân thải trung bình của lợn trong 24 giờ được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 2.2 Khối lượng phân và nước tiểu của gia súc thải ra
trong 1 ngày đêm
Loại gia súc Lượng phân ( kg/ngày) Nước tiểu ( kg/ngày)
Thành phần các chất trong phân lợn phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Thành phần dưỡng chất của thức ăn và nước uống
- Độ tuổi của lợn ( mỗi độ tuổi có khả năng tiêu hóa khác nhau )
- Tình trạng sức khỏe vật nuôi và nhu cầu cá thể: Nếu nhu cầu cá thể cao thì sử dụng dưỡng chất nhiều, lượng phân thải sẽ ít và ngược lại
Bảng 2.3 Thành phần phần trăm của phân gia súc gia cầm
Trang 2618
Ngoài ra trong phân còn chứa nhiều loại vi khuẩn, virut và trứng kí sinh trùng, trong đó vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriacea chiếm đa số với các giống điển hình như Escherichia, Salmonella, Shigella, Proteus, Kelbsiella Trong 1kg phân có chứa 2000 – 5000 trứng giun sán gồm chủ yếu các loại: Ascaris suum, Oesophagostomum, Trichocephalus (Nguyễn Thị Hoa Lý, 2004 )
Bảng 2.4 Một số thành phần vi sinh vật trong chất thải rắn chăn nuôi lợn
12 kg K2O (Bergman, 1965 ) Nước phân chuồng nghèo lân, giàu đạm và rất giàu kali Đạm trong phân chuồng tồn tại theo 3 dạng chủ yếu là: ure, axit uric
và axit hippuric, khi để tiếp xúc với không khí một thời gian hay bón vào đất thì bị VSV phân giải axit uric, axit hippuric thành ure sau đó chuyển thành amoni carbonat
Trang 27+ Các chất hữu cơ: Hợp chất hữu cơ chiếm 70-80% bao gồm cellulose, protit, axit amin, chất béo, hidrat cacbon và các dẫn xuất của chúng, thức ăn thừa Hầu hết chất hữu cơ dễ phân hủy, ngoài ra còn có chất khó phân hủy sinh học: Các hợp chất hidrat cacbon, vòng thơm, hợp chất đa vòng, hợp chất clo hữu cơ Các chất vô cơ chiếm 20-30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium…
+ N và P: Khả năng hấp thu N và P của các loài gia súc, gia cầm rất kém nên khi ăn thức ăn có chứa N và P thì chúng bài tiết ra ngoài theo phân
và nước tiểu Trong nước thải chăn nuôi lợn thường chứa N và P cao Hàm lượng Ntổng = 200-350 mg/l , trong đó N-NH4 chiếm khoảng 80-90%,
Ptổng=60-100 mg/l
+ Sinh vật gây bệnh: Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virut và trứng ấu trùng giun sán gây bệnh
Trang 2820
2.2.4 Khí thải
Chăn nuôi phát thải nhiều loại khí thải CO2, NH3, CH4, H2S do hoạt động hô hấp, tiêu hóa của vật nuôi do ủ phân, chế biến thức ăn… ước khoảng vài trăm triệu tấn/ năm
2.3 Tình hình chăn nuôi lợn trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên Thế giới
Theo thống kê của FAO ( 2009), tổng số đàn lợn trên thế giới năm 1987
là 821,2 triệu con, năm 1991 là 857,8 triệu con, năm 1997 là 831,5 triệu con, năm 2005 là 960 triệu con, năm 2007 là 993,1 triệu con, năm 2009 là 877,5 triệu con Trong đó đàn lợn phân bố không đều giữa các châu lục: Châu Á có
số đầu lợn lớn nhất với 534,239 triệu con, Châu Âu là 183,050 triệu con, Châu Phi là 5,858 triệu con, Châu Mỹ là 151,705 triệu con và ít nhất là Châu
Úc 2,642 triệu con
Sự phát triển chăn nuôi lợn phân bố không đồng đều ở các châu lục, chủ yếu tập trung ở các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển mạnh như: Trung Quốc, Việt Nam, Hoa Kỳ, Brazil, Nga, Anh, Đức, Nhật Bản [13]
Bảng 2.6 Phân Bố số lượng đàn lợn trên các châu lục
Đơn vị tính Gia súc ( lợn )
( Nguồn: Theo thống kê FAO năm 2009 )
Ngành chăn nuôi lợn phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao Các nước có số lượng đầu lợn nhiều nhất thế giới thể hiện dưới bảng sau:
Trang 2921
Bảng 2.7 Các nước có số lượng lợn nhiều nhất trên thế giới
(Nguồn: Theo thống kê FAO năm 2009 )
2.3.2 Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển, có nền nông nghiệp nghèo với hai nghành chính là ngành tong trọt và chăn nuôi Trong đó ngành chăn nuôi
đã mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế quốc gia, là một trong những nước nuôi nhiều lợn trên thế giới Theo thống kê của FAO, năm 2009 Việt Nam có 27,627 triệu con lợn đứng thứ 4 trên thế giới sau Trung Quốc, Mỹ, Brazil Việt nam đứng đầu Đông Nam Á và thứ 2 Châu Á
Theo số liệu thống kê tại thời điểm 1/4/2010 cả nước có 27,3 triệu con tăng 3,6% so với cùng kì năm 2009 Các vùng có số đầu lợn nhiều là ĐBSH
có khoảng 7.2 triệu con chiếm 27,1 % tổng đàn lợn trong cả nước, Đông Bắc chiếm 4,6 triệu con chiếm 17,3%; ĐBSCL 3,6 triệu con chiếm 13,6%; Bắc Trung Bộ 3,4 triệu con chiếm 12,9%; ĐNB 2,5 triệu con chiếm 9,3%, DHNTB 2,4 triệu con chiếm 9,0%
Trang 3022 Đến hết năm 2010 tổng đàn lợn cả nước là 27,4 triệu con giảm 9% so với năm 2019 Tuy nhiên tổng số lợn thịt xuất chuồng đạt 49,3 triệu con tăng 7,4 % so với năm 2009
Bảng 2.8 Số đầu lợn qua các năm
Đơn vị: Triệu con
Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Số đầu
lợn 24.6 25.1 26.13 27.5 26.6 26.03 26.00 27.60 27.4
( Nguồn: Niên giám thống kê 2010)
Tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2010 là 3,03 triệu tấn tăng 3,3% so với năm 2009 và tăng so với năm 2000.( Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010)
Bảng 2.9 Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2010
Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Lượng
Thịt 1.7 1.8 2.0 2.4 2.5 2.6 2.8 2.9 3.0
( Nguồn: Niên giám thống kê 2010)
Các tỉnh có số lợn lớn trên 1 triệu con tại thời điểm 1/4/2010 là Hà Nội, Đồng Nai, Nghệ An, Thái Bình, Bắc Giang
Tổng đàn lợn nái thời điểm 1/4/2010 là 4,18 triệu con tăng 2,4% so với cùng kì năm 2009
Sản lượng thịt hơi theo ước tính của cục chăn nuôi mỗi tháng cả nước sản xuất và tiêu thụ khoảng 290 – 300 ngàn tấn thịt lợn hơi Dự báo tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng sản xuất trong 6 tháng đấu năm 2010 khoảng 1,77 triệu tấn tăn khoảng 3,5 % so với cùng kì năm 2009 Trong đó các vùng sản xuất thịt lợn có tỷ trọng lớn nhất lần lượt là ĐBSH khoảng 29%, ĐBSCL khoảng 18%, Đông Nam Bộ khoảng 12%