- Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH VĂN TUYÊN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔ HÌNH CẤP NƯỚC SINH HOẠT
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ NÔNG THÔN TẠI XÃ SONG PE, HUYỆN BẮC YÊN, TỈNH SƠN LA
GIAI ĐOẠN 2013 - 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : KHMT
Khóa học : 2010 – 2014 Giảng viên hướng dẫn : ThS Trương Thành Nam
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, các thầy cô giáo trong trường đã truyền đạt lại cho em những kiến thức quý báu trong suốt khóa học vừa qua
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.s Trương Thành Nam đã
giúp đỡ và dẫn dắt em trong suốt thời gian thực tập và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ UBND xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện tốt nhất để giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại cơ quan
Trong thời gian thực tập em đã cố gắng hết sức mình để hoàn thành tốt các yêu cầu của đợt thực tập nhưng do kinh nghiệm và kiến thức có hạn nên bản luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết Em rất mong được các thầy cô giáo và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến bổ sung
để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh Viên
Đinh Văn Tuyên
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANTQ : An ninh tổ quốc BTNMT : Bộ Tài Nguyên và Môi Trường BVMT : Bảo vệ môi trường
UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc WHO : Tổ chức y tế thế giới
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 25
Bảng 4.1 Số lượng các loại mô hình cấp nước tại xã Song Pe và huyện Bắc Yên 34
Bảng 4.2 Bảng mô tả vị trí lấy mẫu nước sinh hoạt xã Song Pe 35
Bảng 4.3 Bảng mô tả về chất lượng mẫu nước 36
Bảng 4.4 Kết quả phân tích nước sinh hoạt tại bản Ngậm xã Song Pe 37
Bảng 4.5 Kết quả phân tích nước sinh hoạt tại bản Mong xã Song Pe 38
Bảng 4.6 Kết quả phân tích nước sinh hoạt tại bản Pe xã Song Pe 40
Bảng 4.7 Số phiếu điều tra ở các bản 41
Bảng 4.8 Bảng thể hiện chất lượng nước sinh hoạt ở xã Song Pe 42
Bảng 4.9 Bảng thể hiện tỉ lệ các hộ gia đình sử dụng hệ thống lọc nước 43
Bảng 4.10 Thống kê ý kiến đánh giá của người dân xã Song Pe về chất lượng nước sinh hoạt 43
Bảng 4.11 Bảng thể hiện nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt 44
Bảng 4.12 Khoảng cách khu chăn nuôi và khu vệ sinh tới nguồn nước sinh hoạt 46
Bảng 4.13 Bảng thống kê hoạt động khám chứa bệnh trong năm 2013 47
Bảng 4.14 Tỷ lệ các bệnh có liên quan đến nguồn nước sinh hoạt 48
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Biểu đồ cơ cấu nguồn nước ăn uống, sinh hoạt chính vùng nông
thôn Việt Nam 15
Hình 2.2 Biểu đồ tỷ lệ mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo nguồn nước 16
Hình 4.1 Biểu đồ so sánh các chỉ tiêu vượt quá QCCP ở bản Ngậm 37
Hình 4.2 Biểu đồ so sánh các chỉ tiêu vượt quá QCCP ở bản Mong 39
Hình 4.3 Biểu đồ so sánh các chỉ tiêu vượt quá QCCP ở bản Pe 40
Hình 4.4 Mô hình giếng khơi 53
Hình 4.5 Mô hình giếng khoan bơm tay 54
Hình 4.6 Ống lắng và đầu lọc nước sử dụng cho giếng khoan 55
Hình 4.7 Mô hình bể lọc chậm 55
Hình 4.8 Sơ đồ mô hình công nghệ xử lý nước cấp tự chảy 57
Hình 4.9 Máy lọc nước băng công nghệ trao đổi ion 60
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Tầm qua trọng của nước 4
2.1.2 Khái niệm ô nhiễm nước 4
2.1.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước 5
2.1.4 Khái niệm về nước sạch 7
2.2 Cơ sở pháp lý 7
2.3 Cơ sở thực tiễn 9
2.3.1 Tình hình sử dụng nước ở trên thế giới và Việt Nam 9
2.3.2 Thực trạng tài nguyên nước tỉnh Sơn La 19
2.3.3 Nước sinh hoạt và sức khoẻ con người 21
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 23
3.2.1 Địa điểm 23
Trang 73.2.2 Thời gian tiến hành 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp 23
3.4.2 Phương pháp phỏng vấn 24
3.4.3 Phương pháp khảo sát thực tế 24
3.4.4 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm 24
3.4.5 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 26
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Song Pe - huyện Bắc Yên - tỉnh Sơn La 27
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
4.1.2 Kinh tế - xã hội 29
4.2 Thực trạng mô hình cung cấp nguồn nước sinh hoạt tại xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La 33
4.2.1 Mô hình cung cấp nguồn nước sinh hoạt tại xã Song Pe 33
4.2.2 Thực trạng chất lượng mô hình cấp nước sinh hoạt tại xã Song Pe 35
4.2.3 Ý kiến của người dân về chất lượng nước sinh hoạt 41
4.2.4 Các nguồn có khả năng gây ô nhiễm trong nguồn nước sinh hoạt của xã Song Pe 44
4.3 Ảnh hưởng của nước sinh hoạt đến sức khoẻ cộng đồng 47
4.4 Đề xuất một số biện pháp kiểm soát môi trường nước sinh hoạt tại xã Song Pe 49
4.4.1 Biện pháp tuyên truyền giáo dục 49
4.4.2 Biện pháp chính sách, pháp luật 50
4.4.3 Biện pháp kinh tế 51
Trang 84.4.4 Biện pháp kỹ thuật 51
4.5 Đề xuất các mô hình cung cấp nước sạch cho sinh hoạt 52
4.5.1 Mô hình cấp nước theo quy mô hộ gia đình (nhỏ lẻ) 53
4.5.2 Mô hình cấp nước tập trung 56
4.6 Đề xuất giải pháp xử lý cụ thể cho các thành phần gây ô nhiễm 58
4.6.1 Làm mềm nước (khử độ cứng của nước) 58
4.6.2 Khử trùng nước 60
4.6.3 Khử mùi, vị 62
4.6.4 Làm trong nước 63
Phần 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước là cội nguồn của sự tồn tại, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế- xã hội của loài người Vai trò của nước là muôn màu, muôn vẻ, ở đâu có nước là ở đó có sự sống Trong
cơ thể nước chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 70% khối lượng con người trưởng thành Nước đưa vào cơ thể con người nhiều nguyên tố cần thiết cho sự sống Người
ta có thể nhịn ăn được nhiều ngày nhưng không thể nhịn uống được một ngày
Ngày nay, vấn đề nước sạch đang là vấn đề bức xúc thu hút sự quan tâm của tất cả cộng đồng trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển Hầu hết các nguồn nước ngọt trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều bị ô nhiễm ở các mức nặng nhẹ khác nhau và sự dụng quá mức cho phép Đây là hậu quả chung do các yếu tố: gia tăng dân số, phát triển kinh tế và công tác quả lý tài nguyên nước
Việc cải thiện mô hình cấp nước sinh hoạt và điều kiện vệ sinh góp phần quan trọng vào việc giảm bớt gánh nặng về sức khoẻ cho người dân vùng nông thôn và là điều kiện tiên quyết để đạt đến nhiều mục đích và mục tiêu sức khoẻ đã đặt ra trong chiến lược Quốc gia toàn diện về xoá đói giảm nghèo Một trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là giảm một nửa số hộ gia đình không có điều kiện tiếp cận với nguồn nước hoặc công trình vệ sinh được cải thiện Chiến lược Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020, 85% dân số Việt Nam có điều kiện tiếp cận 60 lít nước sạch mỗi ngày
Khả năng tiếp cận nước sạch cho sinh hoạt là nhu cầu căn bản của con người Tuy nhiên sự chênh lệch về khả năng tiếp cận với nước sạch giữa các tỉnh thành, giữa các vùng miền có sự khác biệt rõ rệt Sơn La là một tỉnh miền núi, địa bàn vùng nông thôn chiếm 80% diện tích, dân số nông thôn chiếm hơn 89%, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số Tỉnh đã xác định vấn đề nước sạch, bảo đảm vệ sinh môi trường ở nông thôn là vấn đề cấp bách, phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, là nhiệm vụ chăm lo của mọi ngành, mọi cấp chính quyền, tổ chức và mọi công dân Quá trình triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông
Trang 10thôn đã được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HÐND, UBND và sự ủng hộ của các cấp, các ngành cùng với sự tham gia tích cực của nhân dân
Những kết quả đạt được trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và VSMT nông thôn trên địa bàn tỉnh Sơn La trong những năm qua mới chỉ giải quyết được nhu cầu bức xúc trước mắt, chưa bền vững và đồng bộ Vẫn còn một số chương trình, dự án đầu tư cấp nước chưa đạt tiêu chuẩn về số lượng, chất lượng nước Vì vậy để giúp cho dân cư xã Song Pe có nguồn nước đạt tiêu chuẩn chúng tôi cho rằng cần phải tiến hành đánh giá đúng chất lượng nước sinh hoạt hiện tại, cũng như tác động của nước sinh hoạt đến sức khoẻ của cộng đồng dân cư, để từ đó xây dựng các giải pháp xử
lý thích hợp
Xuất phát từ mục tiêu đó và sự đồng ý của Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS Trương Thành Nam, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng mô hình cấp nước sinh hoạt và những tác
động đến sức khỏe cộng đồng dân cư nông thôn tại xã Song Pe, Huyện Bắc
Yên,Tỉnh Sơn La giai đoạn 2013 - 2014” Nhằm đưa ra hướng giải quyết
đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn, giúp cho người dân có nguồn nước sạch hợp vệ sinh sử dụng cho cuộc sống
- Tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn
xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân địa phương
Trang 111.3 Yêu cầu của đề tài
- Căn cứ vào luật bảo vệ môi trường 2005, luật tài nguyên nước và chấp hành đúng tiên chuẩn, quy chuẩn về nước sạch dùng cho sinh hoạt (QCVN 02: 2009-BYT) Nắm được các mô hình cấp nước sinh hoạt chính trên địa bàn và đánh giá đúng chất lượng nước của một số điểm điều tra đang được xã Song Pe sử dụng làm nước sinh hoạt
- Xác định được những tác đông của nước sinh hoạt đến sức khoẻ của cộng đồng
- Các số liệu thu thập được phản ánh trung thực và khách quan
- Những kiến nghị, đề xuất đưa ra phải phù hợp với thực trạng, tình hình của địa phương
1.4 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học:
- Là cơ hội giúp sinh viên biết cách n ghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế
- Nâng cao kiến thức thực tế
- Bổ sung tư liệu cho học tập
- Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường
Ý nghĩa thực tiễn:
- Đánh giá được hiện trạng mô hình cung cấp và sử dụng nước sinh hoạt của xã, phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước sinh hoạt tốt hơn cho huyện
- Xác định được những tác động của nước sinh hoạt đến sức khoẻ cộng đồng, biết được những khó khăn tồn tại trong quá trình cấp nước sinh hoạt để đưa ra những giả pháp, đề xuất nhằm thực hiện tốt chương trình cấp nước sinh hoạt nông thôn của xã
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Tầm qua trọng của nước
Nước là tài nguyên tái tạo, bao phủ ¾ bề mặt Trái đất Trong đó nước biển chiếm 97%, còn nước ao hồ, sông suối và nước ngầm chỉ chiếm 1%, nhưng lại là nguồn nước quan trọng đối với con người, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho nông nghiệp, công nghiệp Nước còn đưa vào cơ thể con người nhiều nguyên tố cần thiết cho sự sống như: Iot (I), sắt (Fe), Flo (F), kẽm (Zn), đồng (Cu),….Tuy nhiên nước bẩn cũng có thể đưa vào cơ thể nhiều loại vi khuẩn gây bệnh Nước bẩn chứa nhiều các chất độc hại như chì (Pb), thuỷ ngân (Hg), thạch tín (As), thuốc trừ sâu, các hoá chất gây ung thư khác
Do đó, nước dung cho sinh hoạt phải đủ về số lượng và đảm bảo an toàn về chất lượng Hiện nay trong quá trình khai thác và sử dụng con người đã làm cạn kiệt và ô nhiễm các nguồn nước
2.1.2 Khái niệm ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật
lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm
đa dạng sinh vật thủy sinh và giảm độ trong của nước.[9]
Nguồn gốc ô nhiễm nước có thể là tự nhiên hay nhân tạo Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên như mưa rơi, khu công nghiệp… kéo theo các chất bẩn xuống sông, hồ Các chất gây bẩn còn có thể là nguồn gốc sinh vật tạo nên như xác động thực vật Ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải gây nên
Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước khi bị ô nhiễm là:
+ Giảm độ pH của nước do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển, tăng hàm lượng SO42- và NO3- trong nước
Trang 13+ Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, SiO32- trong nước ngầm và nước sông do nước hòa tan, phong hóa các quặng cácbonat
+ Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm do chúng
đi vào môi trường nước cùng với nước thải, từ khí quyển, từ các chất thải rắn
+ Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là các chất khó bị phân hủy bằng con đường sinh học (các chất hoạt động bề mặt, thuốc trừ sâu )
+ Giảm nồng độ ôxy hòa tan trong nước tự nhiên do các quá trình ôxy hóa có liên quan với quá trình Eutrophication các nguồn chứa nước và khoáng các hợp chất hữu cơ
+ Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên, trước hết là
Pb3+, Cd+, As3+, Zn2+, Fe2+, Fe3+, và PO3-4, NO3-,NO2-
+ Giảm độ trong của nước: Tăng khả năng nguy hiểm của nước tự nhiên do các nguyên tố đồng vị phóng xạ
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước: dựa vào nguồn gốc ô nhiễm có
ô nhiễm do nông nghiệp, công nghiệp hoặc sinh hoạt Dựa vào môi trường nước có ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương Dựa vào tính chất ô nhiễm như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý.[12]
2.1.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước
Môi trường nước bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân khác nhau gồm nguyên nhân khách quan (thiên tai, lũ lụt ) nguyên nhân chủ quan (do các hoạt động sống của con người gây ra, nước thải đổ xuống các sông, hồ, kênh, rạch không qua xử lý làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm) Tuy nhiên ta
có thể liệt kê một số nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm nguồn nước như sau:
2.1.3.1 Ô nhiễm do rác thải sinh hoạt của người dân
Ở Việt Nam mỗi năm phát sinh đến hơn 15 triệu tấn chất thải rắn, trong
đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, từ các nhà hàng, các khu chợ và kinh doanh chiếm 80% tổng lượng chất thải phát sinh trong cả nước Lượng còn lại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp và các chất thải y tế
Các khu đô thị tuy dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng 50% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước) Ước tính mỗi người dân đô thị ở Việt Nam
Trang 14trung bình phát thải khoảng 2 – 3 kg chất thải mỗi ngày, gấp đôi lượng thải bình quân đầu người vùng nông thôn Chất thải phát sinh từ các hộ gia đình, các khu kinh doanh ở nông thôn và đô thị có sự khác nhau, chất thải sinh hoạt
từ các hộ gia đình, khu chợ và các khu kinh doanh ở nông thôn chứa một tỷ lệ lớn các chất hữu cơ dễ phân hủy (chiếm 60 - 70%), ở các vùng đô thị chất thải
có thành phần chất hữu cơ dễ phân hủy thấp hơn (chiếm khoảng 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt).[16]
2.1.3.2 Ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp
Để nâng cao năng suất cây trồng, trong quá trình sản xuất nhân dân đã
sử dụng nhiều loại phân bón, thuốc trừ sâu, chất kích thích sinh trưởng, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay là do việc lạm dụng và sử dụng không hợp lý các loại hóa chất trong sản xuất nông nghiệp Các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp như: phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu là hiện tượng phổ biến trong các vùng nông nghiệp thâm canh gây ô nhiễm nguồn nước
Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học một lượng đáng kể thuốc và phân bón không được cây trồng tiếp nhận chúng
sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường
Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón làm suy thoái chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp như: phú dưỡng đất, nước, ô nhiễm đất, nước làm giảm tính đa dạng sinh học của khu vực nông thôn, suy giảm các loài thiên địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với thuốc bảo vệ thực vật
2.1.3.3 Ô nhiễm do hoạt động công nghiệp
Tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng phát triển kéo theo hàng loạt các khu công nghiệp được thành lập càng nhiều và chưa được xử lý triệt
để Ví dụ như khu công nghiệp Than Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt
Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện màu, luyện gang thép, khai thác than, về mùa cạn tổng lượng nước thải của thành phố Thái Nguyên chiếm 15% lưu lượng nước Sông
Trang 15Cầu, nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4 - 9 và hàm lượng NH4+ là 4 mg/l, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu Các khu công nghiệp ở khu vực Hà Nội mỗi ngày có khoảng 260.000 m3 rác thải công nghiệp và chỉ có 10% được xử lý còn lại đều được đổ trực tiếp ra các con sông vùng châu thổ sông Hồng Ngoài ra tại các khu công nghiệp Hải Phòng, Việt Trì thải ra lượng rác thải lớn gây ô nhiễm nguồn nước nặng nề.[4]
2.1.4 Khái niệm về nước sạch
Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Nước trong, không màu
+ Không có mùi vị lạ, không có tạp chất
+ Không có chứa chất tan có hại
+ Nước máy hoặc nước cấp từ các trạm nước
+ Nước giếng khoan có chất lượng tốt và ổn định
Trang 16- Luật tài nguyên nước năm 1998 có 10 chương 57 điều Đây là sự thể hiện pháp chế đường lối Chủ trương và quan điểm của nhà nước về tài nguyên nước
- Luật bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành 1/7/2006
- Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 của Chính phủ quy định việc thi hành tài nguyên nước
- Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ ban hành quy chế thu nhập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước
- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính Phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo
vệ môi trường
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy định việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước
- Thông tư 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
- TCVN 6177-1996 (ISO 6332-1988) - Chất lượng nước - Xác định sắt bằng phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1,10-phenantrolin
Trang 17- TCVN 6187-1-1996 (ISO 9308-1-1990) - Chất lượng nước - Phát hiện và đếm vi khuẩn coliform, vi khuẩn coliform chịu nhiệt và Escherichia coli giả định - Phần 1: Phương pháp màng lọc
- TCVN 6663-3:2008 - Chất lượng nước Lấy mẫu Phần 3: Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
- TCVN 6663-1:2011 - Chất lượng nước - Lấy mẫu Phần 1: Hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu và Kỹ thuật lấy mẫu
- TCVN 6663-11:2011 - Chất lượng nước - Lấy mẫu Phần 11: Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm
- QCVN 01:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống
- QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt
Để xử phạt các hoạt động gây ô nhiễm môi trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2009/NĐ-CP Nghị định này quy định về các hành vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hình thức xử phạt, mức phạt, thủ tục
xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả
2.3 Cơ sở thực tiễn
2.3.1 Tình hình sử dụng nước ở trên thế giới và Việt Nam
2.3.1.1 Tình hình sử dụng nước trên thế giới
Tổng sản lượng nước trên thế giới gồm 97,5% và chỉ có 2,5% nước ngọt Trong 2,5% này chỉ có 0,4% nước mặt gồm sông ngòi ao hồ và hơi nước trong không khí, 30,1% nước ngầm và phần còn lại là những tảng băng trải rộng ở Bắc và Nam cực và sau cùng trong 0,45% nước mặt trong đó có 67,4% nước ao
hồ, 1,6% sông ngòi, 12,2% nước đã thấm vào đất, 9,5% hơi nước trong không khí và phần còn lại gồm các vùng đất ngập nước Sự phân bố nước trên thế giới hoàn toàn không đồng đều do điều kiện địa lý của từng vùng Theo thống kê
Trang 18mới nhất của Liên Hợp Quốc, tình trạng khan hiếm nước ảnh hưởng đến 1/3 số người ở mọi châu lục trên thế giới Tình hình ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi nhu cầu sử dụng nước tăng cùng với việc tăng dân số, đô thị hóa, tăng việc sử dụng nước trong các hộ gia đình và trong ngành công nghiệp Một số nước đang trong tình trạng hạn hán kéo dài và trong tương lai gần hạn hán và sa mạc hóa sẽ còn nghiêm trọng Gần 1/5 dân số thế giới, khoảng 1,2 tỷ người sống trong khu vực khan hiếm nguồn nước tự nhiên.[9]
Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) cho biết, biến đổi khí hậu và việc con người sử dụng nước phung phí là nguyên nhân chính khiến thế giới ngày càng khát nước Do không quản lý tốt việc sử dụng nước
và tình trạng khai thác nước một cách bừa bãi khiến nguồn nước ngầm ngày một thiếu hụt Hơn nữa sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu cần phải phát triển nông nghiệp, do đó việc tận dụng nguồn nước nhất là nguồn nước ngầm
sẽ là một nguy cơ cạn kiệt nước trong tương lai Trước mắt các quốc gia phát triển phải đối diện với nạn gia tăng dân số vì không có khả năng ngăn chặn mức sinh sản của người dân, các nước này sẽ là nạn nhân đầu tiên của nạn khan hiếm nguồn nước Có khoảng 17% dân số thế giới đang thiếu nước sạch Trong bản báo cáo ra ngày 9/11/2007, chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra những con số đáng lo ngại: 1,1 tỷ người chưa được sử dụng nước sạch, 2,6 tỷ người vẫn chưa tiếp cận được các điều kiện vệ sinh.[7]
Theo đó, UNDP đặt ra yêu cầu cung cấp 20 lít nước sạch mỗi ngày cho những người nghèo nhất Mỗi năm 1,8 triệu trẻ em chết do sự nhiễm khuẩn truyền qua nguồn nước bẩn Hàng triệu phụ nữ hàng ngày phải mất nhiều giờ
để tìm được nước cần thiết cho gia đình và các cư dân trong khu vực dân nghèo của thành phố trả tiền đắt từ 5 đến 10 lần so với các vùng khác Bản
Trang 19báo cáo ước tính rằng mỗi năm Châu Phi lãng phí khoảng 5% tổng sản lượng quốc nội do sự thiếu hụt nguồn nước sạch.[7]
* Hậu quả của việc khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và gia tăng dân số, nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng Sự gia tăng dân số và hoạt động của con người sẽ ngày càng tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng Những hoạt động tự phát, không có quy hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi, khai thác nông nghiệp không hợp lý và thải các chất bừa bãi vào thủy vực sẽ gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, làm cho nguồn nước
bị cạn kiệt, bị ô nhiễm, hạn hán có khả năng càng khốc liệt Nguy cơ thiếu nước sạch ngày càng nghiêm trọng, nhất là vào mùa cạn ở các vùng mưa ít Nguồn nước khan hiếm và ô nhiễm kéo theo hậu quả về bệnh tật Theo giám đốc điều hành UNICEF, bà Annh Vman cho biết “Cứ 15 giây lại có một trẻ
em bị tử vong bởi các bệnh do nước không sạch, và nước không sạch là thủ phạm của hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dưỡng trên toàn cầu”
Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc công bố ngày 5/3/2003 được thảo luận tại diễn đàn thế giới lần thứ 3 về nước tổ chức tại Kyoto (Nhật Bản) từ ngày 16 - 23/3/2003 cho thấy, nguồn nước sạch toàn cầu đang cạn kiệt một cách đáng lo ngại do sự bùng nổ dân số, tình trạng ô nhiễm môi trường cùng với nhiệt độ trái đất nóng lên sẽ làm mất đi 1/3 nguồn nước sử dụng trong 20 năm tới Hiện nay có khoảng 12000 km3 nước sạch trên thế giới bị ô nhiễm, hàng năm có hơn 2,2 triệu người chết do các căn bệnh có liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm và điều kiện vệ sinh nghèo nàn.[10]
2.3.1.2 Tình hình sử dụng nước tại Việt Nam
a Tình hình sử dụng nước
Nguồn nước của Việt Nam còn khá dồi dào, lượng nước mưa khá cao,
hệ thống sông ngòi, kênh mương dày đặc, nước ngầm phong phú tại các vùng đất thấp Phần lớn các hộ dân nông thôn Việt Nam sử dụng 2 nguồn nước sinh hoạt chính: Nguồn nước mưa và nước giếng, các hộ thường có công trình cấp nước riêng như giếng đào hay bể chứa nước mưa Hơn 50% số
hộ nông thôn dùng nước giếng đào, 25% dùng nước sông suối, ao hồ và
Trang 2010% dùng nước mưa Bộ phận còn lại dùng nước giếng khoan và số ít hộ được cấp nước bằng ống dẫn nước
Tình trạng thiếu nước đang diễn ra do việc khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí đó là nguyên nhân làm biến đổi chất lượng, số lượng tài nguyên nước trên thế giới và vùng lãnh thổ Tình trạng ô nhiễm nước mặt đang có xu hướng gia tăng do nước thải và nước mưa không được xử lý 60% công trình
xử lý nước thải vận hành chưa đạt yêu cầu Nước thải sinh hoạt ở thành phố,
đô thị cũng được xả thải trực tiếp vào hệ thống sông suối dẫn đến tình trạng ô nhiễm cục bộ Nguồn nước sạch Việt Nam bị hao hụt do một nguyên nhân khác là do lũ lụt, hạn hán Thiếu nước sạch chính là nguyên nhân chủ yếu gây nguy hại cho sức khỏe con người (80% bệnh tật tại Việt Nam là do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm, nhất là tại khu vực sinh sống của người dân nghèo)
b Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam
Việt Nam là nước có tài nguyên nước thuộc loại trung bình trên thế giới, song ẩn chứa nhiều yếu tố kém bền vững Nếu chỉ xét lượng nước trên lưu vực sông vào mùa khô thì nước ta thuộc vào vùng phải đối mặt với tình trạng thiếu nước, một số khu vực như Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên thuộc loại khan hiếm nước Tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam khoảng 830 – 840 tỷ m3, trong đó khoảng 63% lượng nước là từ nước ngoài chảy vào nước ta
Tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa trên cả nước và nước dưới đất ở nhiều vùng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng Ngoài nguyên nhân khách quan do diễn biến theo quy luật tự nhiên của tài nguyên nước, do điều kiện khí hậu, thủy văn, do tác động của biến đổi khí hậu, còn do tác động của con người, như khai thác quá mức, sử dụng lãng phí, gây ô nhiễm Nước sạch đang ngày một khan hiếm An ninh
về nước cho đời sống và phát triển kinh tế một cách bền vững và bảo vệ môi trường đã và đang không đảm bảo ở nhiều nơi
Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa đòi hỏi nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng Nhu cầu về nước ngày càng tăng dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngày càng nhiều Nhu cầu dùng nước ở nước ta tăng do tăng dân số, đô thị hóa, công nghiệp hóa sẽ lên đến khoảng 130-150 tỷ m3/ năm, chiếm tới gần tới
Trang 2150% lượng nước sản sinh trên lãnh thổ nước ta, gần 90% nguồn nước mùa khô (khoảng 170 tỷ m3) Điều đó cho ta thấy nguy cơ thiếu nước là rõ ràng và
ở mức nghiêm trọng Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm, thiếu nước, khan hiếm nước trở nên phổ biến hơn Cạnh tranh giữa sử dụng nước cho thủy điện và nhu cầu tiêu thụ nước khác, đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp ở hạ du một số lưu vực sông lớn đã sảy ra trong những năm gần đây, nhất là trong mùa khô.[16]
Tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn: Hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sống ở nông thôn, là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc
bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, số vi khuẩn coliform trung bình biến đổi từ 1500 - 3500 MNP/100 ml ở các kênh tưới tiêu.[16]
Cùng với tốc độ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hệ thống các dòng sông chịu ảnh hưởng của các nhà máy, khu công nghiệp, khu chế suất làm chất lượng môi trường nước suy giảm như:
- Hệ thống sông Cầu: Nước các sông thuộc hệ thống sông cầu ngày càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm nghiêm trọng tới mức báo động
Ô nhiễm cao nhất là đoạn sông Cầu chảy qua địa bàn Tp Thái Nguyên, đặc biệt là tại các điểm thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, khu Gang Thép Thái Nguyên chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) Tiếp đến là đoạn sông Cà Lồ, hạ lưu sông Công chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn A và một số yếu tố không đạt tiêu chuẩn B Yếu tố ô nhiễm cao nhất là các chất hữu cơ NO2- và dầu Ô nhiễm nhất là đoạn từ nhà máy giấy đến cầu Gia Bảy, ôxy hòa tan đạt mức thấp nhất 0,4 - 1,5 mg/lít, BOD5, COD rất cao lớn hơn 1000 mg/lít, coliform ở một số nơi khá cao, vượt quá tiêu chuẩn A tới hàng chục lần Hàm lượng NO2> 2,0 mg/lít và dầu > 5,5 mg/lít vượt quá tiêu chuẩn B 20 lần
- Trên sông Sài Gòn: Mức độ ô nhiễm là nghiêm trọng cả về hữu cơ
DO = 1,5 - 5,5 mg/lít, BOD = 10 - 30 mg/lít, dầu mỡ, vi sinh không có điểm nào đạt TCVN đối với nguồn loại A Ô nhiễm cao nhất là vùng sông chảy qua trung tâm Tp Hồ Chí Minh Ngoài ra sông Sài Gòn còn bị axit hóa nặng do nước phèn ở đoạn Hóoc Môn - Củ Chi PH = 4,0 - 5,5
Trang 22Trong sản xuất nông nghiệp: Do lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước sông, kênh mương bị ô nhiễm ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khỏe nhân dân
Theo thống kê của Bộ Thủy sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thủy sản đến năm 2001 của nhà nước là 751.999 ha Do nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực đến môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hóa chất trong nuôi trồng thủy sản, thì các thức
ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc Thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thủy triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.[4]
c.Tình hình cung cấp nước sạch ở nông thôn
Hiện nay ở nông thôn Việt Nam đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ nhiều loại hình khác nhau như giếng đào, bể chứa nước mưa, giếng khoan hay
bể lọc nước Đối với các hộ đơn lẻ và các mô hình cấp nước tập trung như hệ thống xử lý nước tự chảy, hệ thống cấp nước bằng xử lý nước mặt lấy từ sông suối, mạch lộ, hệ thống cấp nước khai thác xử lý nước ngầm Phần lớn các nguồn dùng cho sinh hoạt đều bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau:
- Nước mưa: Thường rơi trên cao xuống qua lớp không khí chứa nhiều
bụi bẩn, vi khuẩn và chất độc hại như khí độc, hơi axit, hơi bụi chì Nếu chảy qua mái nhà và máng hứng lôi cuốn theo nhiều chất bẩn khác trở thành nước không sạch có thể gây hại cho người dùng, nhất là những cơn mưa đầu mùa
- Nước giếng đào: Là giếng khai thác nước ngầm ở tầng nông nằm dưới
mặt đất từ 10-15m, nguồn nước này có nhiều khoáng chất nhưng dễ bị ô nhiễm bởi nguồn nước mặt và các yếu tố bên ngoài Nước giếng khoan được khai thác ở tầng nông khoảng 60m, tầng sâu khoảng 250m Nguồn nước này ít
bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh nhưng hay bị chi phối bởi cấu trúc địa tầng, khoáng sản
- Nước mặt lấy từ sông suối,kênh mương, ao hồ, mạch lộ: Nước này
thường chứa nhiều phù sa, chất hữu cơ, vi khuẩn và một số chất độc hại khác (dầu mỡ, thuốc bảo vệ thực vật), đặc biệt là nước ven bờ hay các dòng nước
Trang 23tĩnh như ao hồ có thể đánh giá mức độ ô nhiễm bằng mắt thường được chia làm 5 loại:
+ Loại 1A (màu xanh lam): Là loại nước không bị ô nhiễm, đáp ứng
yêu cầu của chất lượng nước dùng để sản xuất nước sinh hoạt qua khâu xử lý đơn giản
+ Loại 1B(màu xanh lục): Có thể dùng cho mọi đối tượng
+ Loại 2 (màu vàng): Có thể dùng làm nước uống nhưng phải qua xử lý
bằng công nghệ tiên tiến
+ Loại 3 (màu da cam): Không dùng làm nước sinh hoạt
+ Loại 4 (màu đỏ): Bị ô nhiễm nặng
Nước mặt phải qua xử lý (lắng trong, khử trùng) bằng cách lắng phèn, khử khuẩn ( dùng bột cloramin B) rồi mới dùng cho sinh hoạt Nếu để uống phải đun sôi và cho qua bình lọc
Dưới đây là cơ cấu nguồn nước ăn uống, nước sinh hoạt chính vùng nông thôn Việt Nam hiện nay như sau: 33,1% nước giếng khoan, 31,2% giếng khơi, 1,8% nước mưa, 11,7% nước máy, 7, 5% nước suối đầu nguồn, 11% nước sông ao hồ, 3,7% nguồn nước khác
Hình 2.1 Biểu đồ cơ cấu nguồn nước ăn uống, sinh hoạt chính vùng nông
thôn Việt Nam
Trong các nguồn nước thì chỉ có nước máy là đạt tiêu chuẩn Thế nhưng theo điều tra của UNICEF thì hiện nay số lượng người sống ở nông thôn Việt Nam được dùng nước máy là 11,7%, tỷ lệ này rất thấp và đang còn 11,6%
Trang 24người dân vẫn thương xuyên uống nước lã Thói quen uống nước lã sẽ đem lại hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng do mắc phải những bệnh dịch lan truyền theo nước.[13]
Theo kết quả Điều tra chất lượng nước sinh hoạt nông thôn của Cục y tế
dự phòng Việt nam (2006) chỉ có 15,6% hộ gia đình được tiếp cận với nguồn nước ăn uống sinh hoạt đạt tiêu chuẩn vệ sinh cả về phương diện vi sinh và hóa
lý theo quyết định 09/2005/QĐ-BYT
Hình 2.2 Biểu đồ tỷ lệ mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo nguồn nước
Số liệu điều tra chất lượng nước uống nông thôn trong biểu đồ trên cũng chỉ ra rằng nước máy có tỷ lệ đạt tiêu chuẩn vệ sinh cao nhất so với các loại nguồn nước sinh hoạt khác Đây là nguồn nước an toàn nhất nhưng cũng khó tiếp cận với các hộ gia đình nông thôn Bên cạnh các biện pháp xử lý nước, cần có các giải pháp tăng độ bao phủ nước máy cho vùng nông thôn để góp phần bảo vệ sức khỏe cho người dân Với sự nỗ lực của Đảng, nhà nước, các tổ chức và đặc biệt là quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) chương trình nước sạch vệ sinh môi trường đã đạt một số kết quả
Dự án cung cấp nước sạch nông thôn là một phần chương trình hợp tác giữa Việt Nam và UNICEF, được triển khai từ năm 1982, với mục đích giúp Việt Nam giải quyết nhu cầu nước sạch và vệ sinh môi trường của cư dân nông thôn Từ năm 1982 đến năm 1990 UNICEF thực hiện dự án mô hình cấp nước sạch tại 3 tỉnh Minh Hải, Kiên Giang, Long An với mục đích giải quyết khẩn cấp về nước sinh hoạt cho nhân dân vùng kinh tế mới Năm 1991 đến
Trang 25năm 2000, dự án nước sạch UNICEF được mở rộng đến 50 tỉnh, thành phố trên cả nước Giai đoạn này dự án ưu tiên xây dựng các công trình cấp nước sạch tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, số hộ nghèo Củng cố bộ máy quản lý nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn từ trung ương đến địa phương, nâng cao năng lực quản lý, điều hành tổ chức tiếp nhận
và thực hiện dự án, đa dạng hóa các loại hình cung cấp nước, mở rộng và phát triển các hệ cấp nước tập trung đẩy mạnh truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.[13]
Giai đoạn 2001 – 2005, UNICEF tập trung thực hiện dự án cấp nước sạch cho nông thôn tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, một số tỉnh ven biển miền Trung UNICEF cộng tác với cán bộ, ngành liên quan để thực hiện việc cấp nước sạch nông thôn có hiệu quả, xây dựng năng lực cần thiết
để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia vì nước sạch sinh hoạt vệ sinh môi trường ở tỉnh thực hiện dự án
Dự án đã góp phần giải quyết hiệu quả nhiệm vụ cấp nước sạch cho người dân nông thôn trên cả nước Đến nay UNICEF đã hỗ trợ Việt Nam hơn 47,3 triệu USD xây dựng 247.962 công trình cấp nước sạch nông thôn Từ hiệu quả của dự án cấp nước sạch nông thôn UNICEF tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006 - 2010 ông Chan - Đơbat-loe chủ nhiệm chương trình nước vệ sinh môi trường của UNICEF cho biết: UNICEF tập trung thực hiện đầu tư xây dựng các công trình ở những vùng nghèo, khó khăn nhất Tuy nhiên để dự án nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn do UNICEF tài trợ thực hiện có hiệu quả cần sự quan tâm tham gia tích cực hơn nữa của chính quyền và người dân địa phương.[10]
d Thực trạng quản lý chất lượng nước sinh hoạt
Bộ máy quản lý ở nước ta Bộ y tế đã thiết lập một mạng lưới từ trung ương đến cấp huyện nhằm kiểm tra, giám sát chất lượng nước ăn uống Tại trung ương công việc này do cục Y Tế Dự Phòng (YTDP), Viện Y Tế cộng đồng thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ về mặt chuyên môn
Trang 26Tại trung ương công việc này do cục YTDP Việt Nam đảm nhiệm các việc chuyên ngành thuộc YTDP, viện Pastuer Nha Trang, viện Y tế cộng đồng thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ về mặt chuyên môn Ngoài nhiệm vụ phối hợp triển khai và tiến hành các công trình nghiên cứu đánh giá tác động của môi trường trong đó có môi trường nước Các viện này có khả năng thực hiện và phát triển hỗ trợ kỹ thuật xét nghiệm cao về nước cho các trung tâm YTDP và các cơ quan khác khi có yêu cầu
Tại cấp tỉnh, trung tâm YTDP có phòng xét nghiệm thực hiện giám sát chất lượng các nguồn cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh Định lấy mẫu và tiến hành xét nghiệm, xét duyệt các dự án cung cấp nước sạch của địa phương
Tại cấp huyện, đội YTDP của trung tâm y tế huyện thực hiện công tác giám sát và kiểm tra chất lượng nước uống và sinh hoạt trên địa bàn huyện Đặc biệt trong luật bảo vệ sức khỏe cho nhân dân được quốc hội thông qua ngày 30/06/1989 có chương II Vệ sinh trong sinh hoạt và lao động vệ sinh công cộng và phòng chống dịch bệnh tại điều 8 quy định:
- Các cơ quan, xí nghiệp cấp nước phải đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân
- Nghiêm cấm các tổ chức nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công nhân
vệ sinh làm ô nhiễm nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân
- Hạn chế trong công tác quản lý: có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến ô nhiễm môi trường nước như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu, nhận thức của người dân về vấn đề môi trường chưa cao, các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường còn thiếu, chẳng hạn như chưa có các quy định
và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng đều, chưa quy định rõ ràng Chưa có chiến lược kế hoạch
Trang 27khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và theo các vùng lãnh thổ lớn chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính, thu không đủ cho việc bảo vệ môi trường.[3].
2.3.2 Thực trạng tài nguyên nước tỉnh Sơn La
- Nước mặt: Mật độ sông suối tương đối lớn (1,7 Km/Km2), trong đó có hai hệ thống sông chảy qua địa bàn tỉnh là Sông Đà và Sông Mã, lượng bùn cát trên sông thuộc loại lớn nhất Việt Nam: Max 19,9 Kg/m3, trung bình 1,6Kg/m3
+ mạng sông thưa ở vùng Mộc Châu sơn La
+ Mạng sông dày hơn ở vùng: Mường La, Phù Yên, Bắc Yên, Quỳnh Nhai
+ Dòng chảy mặt hình thành tại Sơn La không nhiều (M0< 1,5l/s.Km2) + Dòng chảy mặt từ các tỉnh ngoài vào Sơn La rất phong phú (M0 =
+ Tài nguyên nước mặt phụ thuộc:
* Tài nguyên nước từ Trung Quốc
*Tài nguyên nước từ các tỉnh đầu nguồn: Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái…
*Sự điều hành của các công trình lớn trong lưu vực sông Đà: Huổi Quảng, Bản Chát, Lai Châu, Hoà Bình…
=> Kết luận: nhìn chung, trên địa bàn tỉnh sơn La việc khai thác và sự dụng tài nguyên nước mặt là chủ yếu Chất lượng và trữ lượng tương đối tốt
Trang 28Tài nguyên nước chủ yếu phụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố mưa Trên địa bàn Sơn La lượng mưa tương đối lớn:
* lượng mưa trung bình nhiều năm: 1200 – 2800 mm
* Mưa ít ở vùng: Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, Sơn La, Sông Mã
* Mưa nhiều ở vùng: Mường La, Phù Yên, Bắc Yên,Quỳnh Nhai
Hệ thống Sông suối thường bị cạn vào mùa khô và có nhiều sông suối cụt chảy vào các hang hốc Karst ngầm Ở vùng núi cao nước xuất lộ với mật
độ không dày, lưu lượng nhỏ và nhiều điểm lộ về mùa khô không xuất hiện
- Nước ngầm: Tài nguyên nước ngầm của Sơn La hạn chế Chủ yếu tập trung trong hai tầng:
+ Nước lỗ hổng: diện tích nhỏ xấp xỉ 40 Km2 ven sông suối vùng Phù yên,… và không có ý nghĩa trong việc cung cấp nước
+ Nước khe nứt vùng núi đá vôi: Phân bố rộng khắp, F= 2300Km2(chiếm 16% diện tích của toàn tỉnh, lưu lượng từ 1 -:- hàng trăm l/s; ở sâu từ
60 đến 80m, có khi lên tới 120m; vùng thị xã Sơn La bùn lấp nhiều, chứa ít nước, vùng Mộc Châu giàu nước và nước thích hợp cho sinh hoạt
Trữ lượng nước dưới đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện địa lý điều kiện tự nhiên của khu vực Nhìn chung, việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngầm trên địa bàn tỉnh Sơn La còn chưa phổ biến, điều này phụ thuộc vào sự phân bố của nước ngầm trên địa bàn tỉnh rất hạn chế (chủ yếu tập trung
ở vùng cao nguyên Mộc Châu và Phù Yên, khu vực thị xã Sơn La bùn lấp nhiều, chứa nước ít…) Vùng đô thị Sơn La nước chủ yếu chứa trong đá vôi T2ađg2 và T2ađg1 Các đá lục nguyên thuộc P2-T1yd và T2lnt chủ yếu là ssts bột kết xen kẹp đá phiến sét vì vậy thường không có khả năng chứa nước phun trào bazơ P2ct cũng không phải đối tượng có thể chứa nước.[14]
Trang 292.3.3 Nước sinh hoạt và sức khoẻ con người
- Tổ chức Y tế Thế giới WHO cho rằng 80% bệnh tật của cư dân Trái đất là do nước gây ra hoặc lây truyền qua nước WHO cũng đã tiến hành nghiên cứu cơ cấu bệnh tật ở khu vực Châu á và đi đến nhận xét như sau: Tại một số nước Châu á có tới 60% bệnh nhiễm trùng và 40% dẫn tới tự vong là
do dùng nước không hợp vệ sinh UNICEF lại cảnh báo rằng: Hàng năm, tại các nước đang phát triển có khoảng 14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị chết và 5 triệu trẻ em bị tàn tật do dùng nước bị ô nhiễm.[4]
- Theo kết quả phân tích và điều tra của Nguyễn Huy Nga cho thấy hiểu biết của người dân về các bệnh tật liên quan đến sử dụng nước không sạch còn hạn chế Phần lớn người dân chỉ biết đến bệnh tiêu chảy (62%), còn các bệnh khác biết đến với tỷ lệ rất thấp như bệnh giun sán (18,6%), bệnh ngoài da (17,6%), bệnh về mắt (11%) và bệnh phụ khoa (3,8%)
- Sử dụng nguồn nước bị nhiễm bẩn có thể liên quan đến những nhóm bệnh cơ bản sau:
+ Hỏng men răng và chảy máu chân răng do Fluo quá cao
+ Các bệnh về đường tiêu hóa như tiêu chảy, tả, lỵ, thương hàn… + Các bệnh như sỏi thận, sỏi túi mật, sỏi bàng quang… do sử dụng nước có độ cứng quá cao
+ Các bệnh siêu vi trùng như bại liệt và viêm gan B
đã phản ánh hiện tượng ô nhiễm Asen trong nước ngầm và nghi ngờ đây chính
là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư Tại Hà Nam Viện nghiên cứu YHLĐ và
Trang 30VSMT (Bộ Y tế) đã phát hiện 8 trường hợp nhiễm độc Asen ở giai đoạn sớm sau 5 – 10 năm sử dụng nước nhiễm độc ở xã Hòa Hậu, Bồ Đề và Vĩnh Trụ Năm 2003, Viện đã phát hiện có 7 trường hợp/400 người mắc các chứng bệnh
do ăn uống nước sinh hoạt nhiễm Asen và 50 trường hợp có hàm lượng Asen niệu cao hơn bình thường Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tại thôn Thống Nhất – xã Đông Lỗ - huyện Ứng Hòa – Hà Nội hàm lượng Asen trong nước ngầm cao gấp 10 lần TCCP và cũng tại đây trong vòng hơn 10 năm qua có 22 người chết vì căn bệnh ung thư khi đang ở độ tuổi 45 – 55 Trong những năm gần đây, nhiễm độc Asen trong nước sinh hoạt đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm cụ thể là năm 2000 tại Hà Nội đã tổ chức hội thảo Quốc tế về Asen
Theo kết quả nghiên cứu của Th.s Nguyễn Thị Quỳnh Hoa cho biết: ở khu vực mà nguồn nươc sinh hoạt bị nhiễm Asen và chì cao thì hàm lượng As
và Pb trong máu của phụ nữ ở tuổi sinh đẻ cũng cao và tỷ lệ mắc một số bệnh như bệnh tiêu hóa, bệnh tiết niệu, bệnh thần kinh, bệnh ngoài da và tỷ lệ sảy thai đều cao hơn vùng không bị ô nhiễm
Trang 31Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng chất lượng mô hình cấp nước sinh hoạt và một số bệnh phát sinh liên quan đến nước sinh hoạt tại xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Môi trường nước sinh hoạt trong khu vực xã Song Pe
- Tình hình phát sinh một số bệnh có liên quan đến nguồn nước sinh hoạt tại xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La trong năm 2013
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1 Địa điểm
Nghiên cứu tại xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La
3.2.2 Thời gian tiến hành
Từ ngày 20 tháng 1 năm 2014 đến ngày 30 thánh 4 năm 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Song Pe
- Đánh giá hiện trạng mô hình cấp nước sinh hoạt tại xã Song Pe
- Đánh giá tình hình sức khoẻ của người dân tại xã Song Pe
- Các giải pháp xử lý nước hiện có
- Đề xuất một số giải pháp xử lý nguồn nước cấp cho sinh hoạt tại xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp
- Thu thập các số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của
xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La
Trang 32- Thu thập các số liệu, tài liệu có liên quan đến vấn đề nước sinh hoạt
- Thu thập số liệu thống kê tình hình sức khỏe dân cư của xã theo đánh giá của trạm y tế xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La
- Thu thập thông tin có liên quan đến đề tài qua sách báo, internet…
3.4.3 Phương pháp khảo sát thực tế
- Quan sát màu sắc nước, mùi, vị, Màu sắc của nước được quan sát trực tiếp bằng mắt thường và đánh giá bằng cảm quan
3.4.4 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm
* Lấy mẫu: Tiến hành lấy mẫu theo quy định của TCVN 6663-11: 2011
- Chất lượng nước Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm
- Thu thập mẫu nước điển hình tại một số địa điểm của xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La
- Chuẩn bị dụng cụ: đựng mẫu trong chai nhựa có nắp đậy kín Chai nhựa được rửa bằng chất tẩy rửa, tráng bằng nước sạch, tráng bằng cồn 90osau đó tráng lại bằng nước cất
- Tiến hành lấy mẫu:
+ Tháo hết các ống dẫn và vật liệu nhựa, cao su khỏi ống dẫn sao cho khoảng cách từ nguồn nước sinh hoạt đến vị trí miệng ống lấy nước là ngắn nhất
+ Dùng khăn giấy lau sạch miệng ống lấy nước
+ Bật bật vòi nước cho nước chảy bỏ từ 3 - 5 phút để loại bỏ phần nước lưu trữ ở đường ống
Trang 33+ Quan sát các yếu tố màu nước, tốc độ chảy đến khi diễn biến khá đều đặn thì bắt đầu hứng chai lấy mẫu vào dòng chảy từ đầu vòi để tránh sai số trong quá trình lấy mẫu Lấy đầy mẫu từ từ để tránh xuất hiện bọt khí trong bình chứa
+ Đối với mẫu lấy để phân tích hóa lý thì cho nước vào đầy chai và đậy nắp kín Đối với mẫu để phân tích vi sinh thì lấy gần đầy chai (chừa một khoảng không khí) và đậy nắp kín
- Bảo quản mẫu: Bảo quản mẫu trong túi đen, nhanh chóng chuyển về phòng phân tích
* Phân tích mẫu: Vận chuyển mẫu đến phòng thí nghiệm khoa Môi trường - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên để phân tích các chỉ tiêu COD, BOD5, DO, pH, độ cứng, TDS, Cl-, Ca2+
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích
STT Chỉ tiêu
1 DO Đo bằng máy đo đa chỉ tiêu
2 BOD5 TCVN 6001- 1: 2008 (ISO 5815- 2: 2003) Chất lượng nước-
Xác định nhu cầu oxy sinh hóa sau n ngày (BODn)
(ISO 9297 - 1989) hoặc SMEWW 4500 - Cl- D
6 COD TCVN 6491: 1999 (ISO 6060: 1989) Chất lượng nước-
Xác định nhu cầu oxy hoá học (COD)
7 TDS Đo bằng máy đa chỉ tiêu
8 Caxi TCVN 3800 – 83: phương pháp phức chất xác định tổng
hàm lượng canxi
Trang 343.4.5 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
- Các số liệu được xử lý, thống kê trên máy tính bằng Word và Excel: + Các số liệu thu thập từ quan sát thực tế, kế thừa, điều tra phỏng vấn được tổng kết dưới dạng bảng biểu
+ Dựa trên cơ sở các số liệu đã thống kê đánh giá cụ thể từng đề mục
- So sánh với QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt
Trang 35Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Song Pe - huyện Bắc Yên - tỉnh Sơn La
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý:
Xã Song Pe nằm ở phía tây của huyên Bắc Yên, cách trung tâm huyện 10km, có tổng diện tích tự nhiên là 83,61 Km2, tiếp giáp với các xã sau:
- Phía Bắc giáp với xã Phiêng Ban, thị trấn Bắc Yên
- Phía Tây giáp với xã Tạ Khoa và xã Chim Vàn
- Phía Nam giáp với xã Chiềng Sại và huyện Phù Yên
- Phía Đông giáp với xã Hồng Ngài
Xã Song Pe có tuyến đường quốc lộ 37 đi qua, dài 11Km nối từ thị trấn Bắc Yên đến xã Tạ Khoa rồi đi thành phố Sơn La thuận lợi cho việc trao đổi buôn bán, trao đổi hàng hóa với thị trường bên ngoài
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo:
Địa hình của xã tương đối phức tạp, toàn xã có độ cao trung bình 900m
so với mặt nước biển, chỗ thấp nhất là các bản ven hồ sông Đà 120m Xã Song Pe có địa hình phức tạp, nhiều núi cao, khe suối hiểm trở, độ dốc lớn, ít
có bãi bằng, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn
Đất đai có nhiều loại, nhưng có thể quy thành 3 loại chính, đó là đất mùn phân bố ở vùng cao, đất phù xa phân bố ở các bản ven hồ sông Đà, đất bạc màu ở những nơi đồi núi trọc
4.1.1.3 Khí tượng thuỷ văn:
Xã Song Pe nằm trong vùng khí hậu gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Xã Song Pe chia thành 2 vùng tiểu khí hậu:
Trang 36+ Vùng thấp chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc thổi ngược theo hồ sông Đà;
+ Vùng cao, núi cao, vực sâu khí hậu mát mẻ;
- Lượng mưa trung bình ở xã Song Pe khoảng 1.400 đến 1.700mm/năm tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10
- Khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ mùa hè từ 25 đến 370C, từ tháng 5 đến tháng 8 là những tháng nóng nhất Mùa đông, nhiệt độ từ 5 đến 100C
- Thủy văn: Toàn bộ xã chịu ảnh hưởng của hồ sông Đà và hệ thống của 3 con suối lớn là: suối Pe, suối Chanh, suối Mong cùng với nhiều khe, suối nhỏ tạo ra các mạng lưới khe, suối dày đặc Ngoài ra, còn bao gồm các
ao lớn nhỏ Đây chính là nguồn tài nguyên nước mặt cung cấp chính cho sinh hoạt cũng như sản xuất nông nghiệp của nhân dân trong vùng.
4.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên:
* Tài nguyên đất:
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 8.361 ha được phân bố sử dụng như sau:
- Đất nông nghiệp là 3.396,58 ha, chiếm 41%
- Đất lâm nghiệp là 1.612,04 ha, chiếm 19%
- Đất ao hồ, sông suối là 683,84 ha, chiếm 8%
- Đất thổ cư, nghĩa địa là 55,3 ha, chiếm 1%
- Núi đá, đồi trọc là 2.613,24 ha, chiếm 31%
* Tài nguyên nước:
Tài nguyên nước của xã Song Pe chủ yếu là nguồn nước mặt và một phần nhỏ là nguồn nước ngầm
- Nước mặt: nguồn nước mặt của xã được cung cấp chủ yếu từ các khe, lạch, suối nhỏ Trong đó có 3 con suối lớn là suối Pe, suối Chanh, suối Mong chảy qua các bản Pe, bản Chanh,bản Suối Chanh, bản Mong và nước mưa tự nhiên Ngoài ra xã Song Pe còn có hồ Sông Đà chảy qua các bản ở vùng thấp
Trang 37ven lòng hồ Sông Đà và có nhiều hệ thống ao, hồ nhỏ khác có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản và cung cấp đủ nước cho việc sinh hoạt, tưới tiêu cho ngành trồng trọt
- Nước ngầm: nguồn nước ngầm trên địa bàn xã Song Pe chưa được người dân sử dụng nhiều cho sinh hoạt và tưới tiêu nông nghiệp, chỉ có một
số hộ gia đình ở bản Pe và bản suối Song là có sử dụng hệ thống giếng đào nhỏ để phục vụ cho sinh hoạt Nguồn nước ngầm ở độ sâu từ 3 đến 15 mét, cơ bản nước hợp vệ sinh
* Tài nguyên rừng:
Tài nguyên rừng theo thống kế đất đai năm 2012, hiện chỉ còn 1.612,04
ha đất lâm nghiệp, chiếm 19 % tổng diện tích tự nhiên Cây rừng chủ yếu là các cây họ sồi, tre, nứa, đinh, nghiến và nhiều loại cây khác, dưới tán rừng còn có cây họ chuối, ráy và dây leo có song
Do trên địa bàn xã người dân có tập quán phá rừng để làm nương rẫy, nên xã đã tích cực chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, kiểm tra việc quản lý bảo
vệ rừng; phòng cháy chứa cháy trong mùa khô hanh; chăm sóc rừng trồng của các dự án trồng rừng; phối hợp chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho nhân dân; chỉ đạo các ngành chức năng kết hợp các chuyến đi công tác kết hợp với ban quản lý các bản kiểm tra, xác minh, ngăn chặn và xử lý các vi phạm lâm luật Tuy nhiên, trong năm 2013 trên địa bàn xã đã xảy ra và phát hiện 103 hộ
vi phạm phát rừng làm nương trái phép với tổng diện tích vi phạm 76.017m2, trong đó 7350 m2 vi phạm các hộ thuộc bản Mong và 5112 m2 vi phạm các hộ bản Mới A đã chuyển kiểm lâm xử lý, số diện tích còn lại UBND xã phối hợp với Ban quản lý các bản tổ chức xử lý
4.1.2 Kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Về kinh tế
Tổng thu nhập năm 2013 trong toàn xã ước đạt 49.369.450.000 đồng, bình quân thu nhập đầu người 10.212.200 đ/người/năm, 851.000 đ/người/tháng Tổng thu ngân sách đạt trên 4 tỷ đồng, bằng 121,2 % dự toán giao, trong đó: Thu trên địa bàn 40.376.000 đồng, đạt 101% so với dự toán
Trang 38huyện giao Tổng chi ngân sách đạt trên 3 tỷ đồng, bằng 110,8% dự toán giao đầu năm
a Về sản xuất nông lâm nghiệp
Sản xuất nông lâm nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, nhân dân đã mạnh dạn áp dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi cây trồng, vật nuôi vào trong sản xuất nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp Việc xây dựng, nhân rộng các mô hình trồng trọt, chăn nuôi tiếp tục được triển khai tích cực phục vụ phát triển kinh tế, nông cao đời sống nhân dân
- Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng: 2.632,8 ha, bằng bằng
127,4% so với kế hoạch, tăng 9,1% (238,4 ha) so với năm 2012, trong đó: diện tích cây Lúa là 36,6 ha, đạt 164,1 % so với kế hoạch, tăng 39% (14,3 ha)
so với năm 2012; diện tích cây Ngô là 2.164,2 ha, đạt 128% so với kế hoạch, tăng 15,3% (330,9 ha) so với năm 2012; diện tích cây Sắn là 392,5 ha, đạt 148,1% so với kế hoạch, giảm 7,9% (33,6 ha) so với năm 2012; diện tích Rau màu các loại là 18,6 ha, đạt 132,8% so với kế hoạch, tăng 71,3% (13,6 ha) so với năm 2012; diện tích các loại cây khác là 20,8 ha, giảm 21,8% (5,8 ha) so với năm 2012
* Tổng diện tích cây lương thực có hạt là 2.200,9 ha, đạt 128,5% so với kế hoạch, tăng 15,7% (345,2 ha) so với năm 2012; sản lượng đạt: 6.432,85 tấn, đạt 133,8% so với kế hoạch, bình quân đầu người đạt 110,8 kg/người/tháng
* Tổng diện tích cây lâu năm là: 219,9 ha, trong đó: Cây ăn quả là 119
ha, cây gia vị, dược liệu là 3,8 ha
- Về lâm nghiệp: tích cực chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, kiểm tra
việc quản lý bảo vệ rừng; phòng cháy chứa cháy trong mùa khô hanh; chăm sóc rừng trồng của dự án; phối hợp chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho nhân dân, kiểm tra, giám sát và bảo vệ số rừng còn lại
- Về chăn nuôi – thú y: Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục
phát triển ổn định, công tác kiểm tra, kiểm soát, tiêm định kỳ phòng chống
Trang 39dịch bệnh, phòng chống đói rét, công tác phát triển đàn gia súc, gia cầm luôn được quan tâm
Tổng đàn gia súc, gia cầm là 24.755 con, đạt: 78,3% so với kế hoạch năm, tăng 20,8% (5.119 con) so với năm 2012, trong đó: Đàn Trâu là 488 con, đạt 75% so với kế hoạch, giảm 16,7% (98 con) so với năm 2012; đàn Bò
là 1.288 con, đạt 122,7% so với kế hoạch, tăng 19,4% (250 con) so với năm 2012; đàn Ngựa là 72 con đạt 48% so với kế hoạch, giảm 41,1% (51 con) so với năm 2012; đàn Dê là 1.803 con, đạt 108,6% so với kế hoạch, tăng 11,4% (205 con) so với năm 2012; đàn Lợn là 1.848 con, đạt 88% so với kế hoạch, giảm 5,9% (117 con) so với năm 2012; Thỏ là 56 con, giảm 15% (10 con) so với năm 2012; Chó là 616 con, giảm 24% (195 con) so với năm 2012; Nhím
là 98 con, tăng 9,2% (9 con) so với năm 2012; hươu 5 con, tăng 1 con so với năm 2012; Tổng đàn gia cầm là 18.480 con, đạt 71,1% so với kế hoạch, tăng 24,9% (4596 con) so với năm 2012
- Về nuôi trồng và khai thác thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản
đầu năm là 6 ha, đạt 75% so với kế hoạch năm, tuy nhiên do xảy ra lũ ống lũ quét nên diện tích nuôi trồng thủy sản giảm còn 1.358 ha, đạt 17% so với kế hoạch, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 5 tấn, đạt 38,5% so với kế hoạch, sản lượng khai thác thủy sản đạt 14,3 tấn, đạt 89% so với kế hoạch năm
b Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,thương mại, dịch vụ
Sản xuất, khai thác cát được quản lý chặt chẽ; Công tác kiểm tra, giám sát về chất lượng hàng hóa được quan tâm, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm đảm bảo cho sức khỏe nhân dân được chú trọng; duy trì chợ phiên Sông Đà; vận tải hành khách thuyền sông Đà đảm bảo an toàn đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, trong năm vận chuyển ước đạt 16.850 lượt khách với khoảng 1.440 chuyến vận tải hành khách, doanh thu đạt 413.000.000 đồng
Có 34 cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn, tăng 5 cơ sở, bằng 17,2% so với năm 2012, tổng thu nhập ước đạt 6.294.000.000 đồng/năm Hoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán của một số người dân tộc kinh, mường ở ven Quốc lộ 37, do hàng hóa được vận chuyển qua đường thủy hồ sông Đà và đường bộ, nhiều hộ có thu nhập từ 60 đến 80 triệu đồng/năm
Trang 404.1.2.2 Về Xã hội
* Dân số
Xã Song Pe khi thành lập có 6 bản, 220 hộ, tổng số dân là 1.436 người, trong đó có 420 lao động, đến nay có 956 hộ với 4.708 người, tăng 3,27 lần so với khi thành lập xã, mật độ dân số trung bình 58 người/km2, có 5 dân tộc anh
em cùng chung sống, dân tộc Mường chiếm 72,4%, dân tộc Dao chiếm 13,7%, dân tộc Mông chiếm 11%, dân tộc Kinh chiếm 1,9%, dân tộc Thái chiếm 1%
* Về giáo dục
Theo quy định năm học 2013 – 2014 toàn xã có 03 trường học với 61 lớp, 94 cán bộ, giáo viên và 1.028 học sinh Trong đó: Trường Mầm non: 13 lớp với 301 học sinh và 26 cán bộ, giáo viên Trường Tiểu học: 42 lớp với
502 học sinh và 46 cán bộ, giáo viên Trường THCS: Tổng số 8 lớp với 227 học sinh và 24 cán bộ giáo viên Chỉ đạo và tổ chức các hoạt động chào mừng
kỷ niệm 32 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2014)
* Về Y tế
Xã Song Pe có một trạm Y tế Nhìn chung công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được đảm bảo, công tác tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình thu được những kết quả đáng khích lệ, vận động nhân dân thực hiện tốt các chương trình như: Tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ
sơ sinh, sơ cấp cứu ban đầu, ngăn ngừa và đẩy lùi dịch bệnh
* Về giao thông
Mạng lưới giao thông trên địa bàn xã đã được phủ khắp các điểm dân cư, nhưng hầu hết chất lượng đường còn xấu, chưa đáp ứng được điều kiện lưu thông hiện nay Trên địa bàn xã có tuyến đường Quốc lộ 37 chảy qua, tổng chiều dài chảy qua địa bàn xã gần 12 Km, nối thị trấn Bắc Yên để đi lên thành phố Sơn
La Một phần đương liên bản đã được bê tông cứng hóa, nói chung chất lượng