1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.

50 519 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 280,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VŨ SỸ GIỎI Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CHÈ MỚI ĐƯỢC TRỒNG TẠI MÔ HÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN NĂM 2014 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠ

Trang 1

VŨ SỸ GIỎI

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CHÈ MỚI ĐƯỢC TRỒNG TẠI MÔ HÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

THÁI NGUYÊN NĂM 2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt

Khoá học : 2009 - 2013

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

VŨ SỸ GIỎI

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CHÈ MỚI ĐƯỢC TRỒNG TẠI MÔ HÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

THÁI NGUYÊN NĂM 2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt

Trang 3

Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, “Lý thuyết đôi với thực

tiễn” mỗi sinh viên ra trường cần trang bị cho mình những kiến thức cần thiết

về lý luận cũng như thực tiễn Do đó thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết

đối với mỗi sinh viên Quá trình thực tập giúp cho sinh viên củng cổ kiến thức

đã được các thầy cô giáo trau dồi suốt trong những năm tháng trên giảng đường, đồng thời quá trình học tập giúp cho sinh viên trực tiếp cọ sát với công

việc sản suất nông nghiệp từ đó vững vàng hơn trong công tác sau này

Xuất phát từ yêu cầu về đào tạo và thực tiễn Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến

hành thực hiện đề tài: “Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một

số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014”

Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô giáo khoa Nông học Đặc biệt,

em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo: TS.Dương Trung Dũng và

cô giáo Ths Vũ Thị Nguyên - Giảng viên khoa nông học - Trường Đại học

Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn cho tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Vì thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên báo cáo thực tập tốt nghiệp không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận

được sự thông cảm cũng như những ý kiến đóng góp của thầy cô, bạn bè để đề

tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Vũ Sỹ Giỏi

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2

Phần 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.1.1 Cơ sở khoa học 3

1.1.2 Cơ sở thực tiễn 3

1.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước 4

1.2.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới 4

1.2.2 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 8

1.2.3 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam 9

1.2.4 Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam 11

Phần 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Vật liệu nghiên cứu 20

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 21

2.3 Nội dung nghiên cứu 21

2.4 Phương pháp nghiên cứu 21

Phần 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu thời tiết 24

3.2 kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống chè mới tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 27

3.2.1 Đặc điểm hình thái cây chè 27

Trang 5

3.2.4 Đặc điểm búp của giống chè mới thời kỳ KTCB 30

3.2.5 Thời gian sinh trưởng và số lứa hái của một số giống chè 30

3.2.6 Tổng số búp và chất lượng búp trên cây chè 31

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33

1 Kết luận 33

2 Đề nghị 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 6

Từ viết tắt Ý nghĩa

Trang 7

Bảng 1.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính

năm 2007 - 2011 5

Bảng 1.2: Năng suất chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính năm 2007 - 2011 6

Bảng 1.3: Sản lượng chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính năm 2007 - 2011 7

Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Namtừ năm 2002 - 2011 10

Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Thái Nguyên từ năm 2005 - 2011 19

Bảng 3.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2013 24

Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái cây chè thời kỳ KTCB 27

Bảng 3.3: Đặc điểm, hình dạng màu sắc lá của cây chè 28

Bảng 3.4: Kích thước lá và số đôi gân chính của cây chè thời kỳ KTCB 29

Bảng 3.5: Đặc điểm búp của cây chè 30

Bảng 3.6: Thời gian sinh trưởng búp và số lứa hái trong năm 31

Bảng 3.7: Chất lượng phẩm cấp búp chè tươi thời kỳ KTCB 32

Trang 8

Sơ đồ 1.1: Loại bỏ các cá thể qua các chỉ tiêu đo đếm 13

Sơ đồ 1.2: Chọn lọc cá thể chè 14

Sơ đồ: 1.3 Đợt sinh trưởng tự nhiên 16

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có

nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm Cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất khác, ngành chè thế giới có bước phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc gia sản xuất chè, tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi Sản phẩm từ cây chè đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều công dụng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống

Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển Sản xuất chè giữ vài trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất Nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện

đại hoá Nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn vùng

Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam Do vậy, Việt Nam có chủ trương phát triển chè trên cả hai hướng: Ổn định diện tích, thay thế giống chè cũ bằng các giống chè chọn lọc, trồng các nương chè theo kỹ thuật thâm canh, gắn với công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo sản phẩm chè chất lượng cao, an toàn, đáp ứng yêu cầu thị trường tiêu thụ

Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm Giống được coi là tiền

đề của sản xuất, là tư liệu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Đối

với sản xuất chè, giống chè lại càng có ý nghĩa quan trọng trong thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm Chè là cây lâu năm, trồng một lần cho thu hoạch nhiều lần, trong thời gian dài từ 40-50 năm, đầu tư trồng chè cao hơn nhiều lần so với các cây trồng ngắn ngày khác Không thể phá đi trồng lại hàng năm được Mọi quyết định đúng đắn hay sai lầm về giống chè sẽ có ảnh

Trang 10

hưởng đến sự phát triển của vườn chè trong thời gian rất dài Do vậy ở tất cả các nước trồng chè, giống chè tốt là biện pháp được quan tâm hàng đầu, được coi là khâu đột phá nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng chè Chính vì vậy

chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển

của một số giống chè mới tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”

Bước đầu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống chè mới phù hợp với điều kiện sinh thái giới thiệu cho sản xuất

2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống chè

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế

Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình điều tra nghiên cứu

Có kết luận một cách chính xác về khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống chè Theo đó đề tài cũng xem như là một tài liệu tham khảo cho người trồng chè và sinh viên các khóa tiếp theo

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Đánh giá, lựa chọn giống chè phù hợp điều kiện sinh thái giới thiệu cho

sản xuất tại Thái Nguyên

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1.1 Cơ sở khoa học

Cây chè thuộc ngành hạt kín (Angiospermac) lớp hai lá mầm (Dicotyledonae) bộ chè (Theales), họ chè (Thease), chi chè (Camellia), loài

(Sinensis), tên khoa học là Camillia Sinensis (L) O Kuntze, được phân làm 4

thứ chè khác nhau (Colen Stuart - 1919) Đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis

var macrophylla); thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var Assamica) và chè

Shan (Camellia Sinensis var Shan) Mỗi thứ chè có đặc điểm hình thái: Thân,

cành, lá, búp khác nhau, có khả năng cho năng suất, chất lượng khác nhau, có yêu cầu sinh thái khác nhau và phạm vi phân bố khác nhau

Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - Liên Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản Chè

được trồng ở Nhật Bản năm 805 - 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833,

Xrilanca 1837 - 1840, Ấn Độ 1834 - 1840 và Tasmania (châu Đại Dương) năm 1940

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm

đã có khả năng ra hoa Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp, thường chỉ đạt từ 2 - 4% Hoa chè là hoa lưỡng tính, mỗi hoa

khi kết quả có từ 1 - 4 hạt Mặc dù là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa,

đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân li lớn

Trang 12

về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng Nói chung những cây chè con mọc từ hạt có sự phân li lớn so với cây mẹ

Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả nhân giống bằng hạt thì người

ta có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành Ưu điểm của phương pháp nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ được những đặc tính tốt của cây mẹ, vườn chè có độ đồng đều cao, có khả năng cho năng suất cao hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế biến Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất chè trên thế giới cũng như Việt Nam, các giống chè thường được nhân giống bằng phương pháp giâm cành

Khả năng giâm cành của chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong

đó có 3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống, Thời vụ giâm cành (điều

kiện môi trường ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vườn

ươm Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của đề tài

2.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới

Theo FAO (2013) thì tình hình sản xuất chè trên Thế Giới tính đến năm

2011 như sau:

* Về diện tích:

Qua số liệu Bảng 1.1 cho thấy:

Tính đến năm 2011 diện tích chè trên thế giới đạt 3.256.762 ha tăng 350.994 ha tương đương 10,78% so với năm 2007 Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích trồng chè lớn nhất thế giới với diện tích 1.514.000 ha, chiếm 46,49% tổng diện tích chè toàn thế giới

Trang 13

Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)

Ấn Độ là nước đứng thứ 2 với diện tích là 580.000ha, chiếm 17,80% tổng diện tích chè toàn thế giới Diện tích chè Việt Nam đạt 114.800 ha chiếm 3,52% tổng diện tích chè toàn thế giới Diện tích chè tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á chiếm 88,43% (2.879.925 ha) diện tích, đây cũng là nơi phát sinh

ra cây chè

Trang 14

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)

Qua số liệu Bảng 2.2 cho thấy:

Tính đến năm 2011, năng suất chè trên Thế Giới đạt 14,336 tạ chè khô/ha tăng 0,67 tạ chè khô/ha tương đương 4,67% so với năm 2007 Nhật Bản là nước có năng suất chè cao nhất đạt 20,565 tạ chè khô/ha, vượt hơn năng suất bình quân của thế giới là 43,45% Mianma là nước có năng suất thấp nhất chỉ đạt 3,992 tạ chè khô/ha tương ứng 27,85% năng suất chè thế giới Việt Nam tính đến năm 2011 đạt năng suất 17,997 tạ chè khô/ha vượt hơn năng suất bình quân của Thế Giới là 25,54%, so với năng suất bình quân Châu Á là 30,43%

Trang 15

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)

Qua số liệu Bảng 2.3 cho thấy:

Sản lượng chè toàn thế giới năm 2011 là 4.668.968 tấn tăng 697.917 tấn, tương đương 14,95% so với năm 2007 Trung Quốc là nước có sản lượng chè lớn nhất thế giới đạt 1.640.310 tấn chiếm 35,13% tổng sản lượng chè toàn thế giới,chiếm 41,28% tổng sản lượng chè Châu Á Sản lượng chè thấp nhất

là Mianma chỉ đạt 31.670 tấn chiếm 0,68% tổng sản lượng chè toàn thế giới Việt Nam đạt sản lượng 206.600 tấn chiếm 4,42% tổng sản lượng chè toàn thế giới

Trang 16

2.2.2 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới

Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới Nghiên cứu sử dụng giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc quan tâm từ rất sớm

Ngay từ đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt ở Vũ Di Sơn Các giống chè Thuỷ Tiên (1821 - 1850), Đại Bạch Trà (1850), Thiết Quan

Âm đã có từ hơn 200 năm về trước đều là những giống chè chiết cành

Năm 1956 Trần Khôi Dũ đưa ra phương pháp chọn giống 100 điểm,

đối với cây ăn quả và phương pháp này đã được phát triển theo chiều sâu

Giống chè được chọn lọc, khảo nghiệm đánh giá bằng cách xác định mối tương quan giữa các yếu tố hình thái, sinh trưởng của cây chè với sản lượng hoặc dựa trên mối tương quan giữa các yếu tố đó với nhau

Ngoài những giống nổi tiếng từ lâu đời, hiện nay Trung Quốc có nhiều giống chè cho năng suất cao, chất lượng rất tốt cho cả chế biến chè xanh và chè đen như: Phúc Vân Tiên (1957 - 1971), Hoa Nhật Kim, Hùng Đỉnh Bạch (Phúc Kiến), Phú Thọ 10 (Vân Nam), Long Vân 2000 (Triết Giang)

Srilanca rất chú ý đến công tác chọn dòng, kết hợp chọn dòng có sản lượng cao, có khả năng chống hạn và chống bệnh Trong những năm 1940 đã chọn ra các dòng chè TRI2020, trong đó có các giống nổi tiếng như TRI777, TRI2043 Trong những năm 1950, 1960 Srilanca đã chọn ra các dòng chè triển vọng như TRI14, DT, DN, DP và DV

Hiện nay diện tích trồng chè bằng các giống chè được nhân giống vô tính đạt trên 40% diện tích trồng chè trong cả nước

Theo Satoshi Yamagushi, Jitanaka (1995), giống chè chủ yếu ở Nhật Bản là giống chè lá nhỏ, phù hợp cho chế biến chè xanh

Công tác chọn dòng cũng được đặc biệt chú ý ở Nhật Bản, nhiều giống chè mới đã được đưa vào sản xuất, trong đó giống Yabukita được trồng phổ biến nhất chiếm tới 70% diện tích chè ở Nhật Bản

Trang 17

Kenia mới chỉ bắt đầu sản xuất chè vào những năm 1925 - 1927 tuy nhiên do có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển, do chú trọng đầu tư, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cho nên Kênia là một trong những quốc gia có năng suất chè cao nhất thế giới, đạt trên 1500kg chè khô/ha Kênia lần đầu tiên nhập giống chè vào năm 1903 và trồng thành công ở Limuri với diện tích ban đầu là 0,81ha, cho đến nay công tác giống

được quan tâm rất nhiều ở Kênia Các giống chè chọn lọc, giâm cành cho

năng suất cao hơn giống chè đại trà tới 20% Diện tích chè được trồng bằng các giống chọn lọc, giâm cành chiếm tới 67% ở khu vực tiểu nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các đồn điền lớn Ngoài nhân giống bằng hình thức giâm cành, Kênia còn nhân giống bằng hình thức ghép

2.2.3 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam

Từ năm 1990 – 1997, diện tích chè từ 60.000 ha tăng lên 81.700 ha tăng 26,2%, sản lượng chè khô tăng từ 32,2 nghìn tấn lên 52 nghìn tấn Công nghệ chế biến chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, sự chồng chéo về quản lý ngành chè đã phần nào làm cho ngành chè chững lại Diện tích chè tăng nhưng năng suất chè giảm, đời sống người làm chè gặp nhiều khó khăn

Trước thực trạng đó việc thành lập Tổng công ty chè Việt Nam, thống nhất quản lý ngành chè được tiến hành, một số liên doanh liên kết với nước ngoài được thành lập, công nghệ chế biến bước đầu được chú trọng, đổi mới thị trường xuất khẩu mở rộng sang Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản Đã củng cố và tạo

được niềm tin cho người trồng chè và làm chè

Trong những năm gần đây, nhà nước ta có nhiều cơ chế, chính sách đầu

tư cho phát triển cây chè Do vậy, diện tích, năng suất và sản lượng chè không ngừng tăng lên

Theo kết quả số liệu bảng 2.4 cho thấy:

Trang 18

Từ năm 2002 đến 2011 diện tích, năng suất, sản lượng và xuất khẩu chè tăng nhanh Năm 2011 diện tích chè là 114.800 ha, tăng 37.600ha tương ứng

48,70% so với năm 2002 Năng suất bình quân năm 2011 là 17,99 tạ khô/ha,

tăng 5,79 tạ khô/ha tương ứng 47,46% so với năm 2002 Sản lượng chè theo

đó cũng tăng mạnh đạt 206.600 tấn búp khô vào năm 2011 tăng 112.400 tấn

tương ứng 119,32% so với năm 2002

Việt Nam có 35 trên 63 tỉnh, thành phố trồng chè, chủ yếu tập trung ở vùng trung du miền núi phía Bắc và cao nguyên Lâm Đồng với gần 130.000

ha Hiện có khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến 10 tấn nguyên liệu chè búp tươi/ngày) cùng với hàng ngàn hộ dân lập xưởng để chế biến tại gia đình Đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng số

Sản lượng (1000 tấn khô)

Trang 19

Chè là cây công nghiệp thế mạnh của Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích

và thứ 6 về sản lượng chè trên thế giới Chè phân bố trên 35 tỉnh nhưng tập trung ở 12 tỉnh trọng điểm (chiếm 94% diện tích toàn quốc) Trong khoảng mười năm gần đây, sản xuất và xuất khẩu chè của Việt Nam có bước tăng trưởng khá cả về diện tích, năng suất và chất lượng Trong 5 năm từ 2007 -

2011, diện tích chè Việt Nam từ 107.400 ha đã tăng lên 114.800 ha, năng suất tăng từ 15,27 tấn lên 17,99 tạ khô/ha chè búp tươi cho thấy sự tiến bộ vượt bậc của ngành chè

2.2.4 Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam

Tình hình nghiên cứu về giống chè

Khi đến Đông Dương người Pháp đã chú ý ngay đến việc điều tra thu thập giống chè Đầu tiên là khảo sát của G.Baux ở Bắc Kỳ năm 1885, tiếp

theo là điều tra của phái đoàn Davie năm 1890 - 1892; Năm 1907 Eberhardt

đã phát hiện ra cây chè dại đầu tiên ở núi Ba Vì (Hà Tây)

Theo Dupasquier (1923) - dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ (1991)[8] thì đến năm 1923 Việt Nam đã trồng được 10.368 ha chè đầu tiên với các giống chè thuộc thứ chè Trung Quốc lá to, chè Shan và chè Ấn Độ, đã thu thập được tập

đoàn gồm: 43 giống chè trong đó chủ yếu là chè Trung Quốc lá to

- Từ năm 1918 - 1927 Việt Nam đã nhập 13 giống chè từ Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc và Lào

- Năm 1923 khi nghiên cứu tập đoàn giống chè nhập nội; Dupasquier cho rằng: Manipur và Assamica đã tỏ ra thích hợp và có khả năng sinh trưởng tốt ở Việt Nam Dupasquier cũng cho rằng: Giống chè Trung Quốc đòi hỏi ít nhất, chịu đất xấu, tỷ lệ lẫn tạp cao, có đặc tính hình thái sinh lý khác nhau, đa

số các cây chè ra hoa, kết quả sớm, do vậy cần phải tiến hành chọn lọc Về chọn giống Dupasquier đã đề ra tiêu chuẩn giống chè tốt như sau:

Trang 20

+ Chọn cây khoẻ, cành mọc đều, liên tục, ít hoa quả, hình dáng cân đối, búp có tuyết, các cá thể trong giống phải giống nhau

Năm 1931 Trạm nghiên cứu chè Bảo Lộc được thành lập và tiếp nhận

từ Phú Hộ các giống chè Shan như Thanh Thuỷ, Bắc Hà, Tham Vè, Makomen, đã chọn được 2 dòng chè tốt là TB11 và TB14

Sau hoà bình lập lại, công tác nghiên cứu chè được tiến hành trở lại: Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) Trạm nghiên cứu chè Phú Hộ (nay là Trung tâm nghiên cứu phát triển chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc)

đã tiến hành hai cuộc điều tra ở các vùng chè miền Bắc (1969 - 1970) và ở

miền Nam (1978) và ở Grudia thuộc Liên Xô cũ (1978) kết quả của các cuộc

điều tra là:

Ở Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, Viện nghiên cứu chè đã ứng

dụng thống kê sinh học qua phân tích tương quan dựa vào các đặc trưng hình thái để lựa chọn nhanh các loại hình chè có triển vọng khi cây chè 2 - 3 tuổi,

sơ đồ tuyển chọn gồm 4 bước:

Bước 1: Đánh giá khả năng cho sản lượng của cây chè của các cá thể 2

- 3tuổi, bằng các chỉ tiêu hình thái và sinh trưởng trên đồng ruộng kết hợp với phân tích trong phòng theo các chỉ tiêu chủ yếu sau:

- Số búp nhiều, trọng lượng búp tương đối lớn

- Tán rộng, chiều cao cây lớn, số cành cấp 1 nhiều

- Số lá mọc, kích thước lá (dài, rộng) thời gian sinh trưởng đạt trung bình tiên tiến trong quần thể chọn lọc (sơ đồ 2.1)

+ Giai đoạn 1: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu đo đếm dưới mức trung bình (X1) của quần thể;

+ Ở giai đoạn 2: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu do đếm dưới mức trung bình tiên tiến (X2), chỉ giữ lại những cá thể sau giai đoạn 2 có các chỉ tiêu đo đếm ≥ X2

Trang 21

X1: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của quần thể lựa chọn

X2: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của cây sau khi đã loại bỏ

ở giai đoạn 1 (X2≥ X1)

Theo kết quả thực tế các cá thể giữ lại sau giai đoạn 2 thường có giá trị chỉ tiêu đo đếm được gấp 1,7 lần trở lên so với trung bình quần thể

Ngoài các chỉ tiêu trên cần kết hợp xem xét các đặc điểm phát triển bộ

rễ, sinh trưởng sinh thực, màu sắc lá, sâu bệnh, khả năng giâm cành, điểm thử nếm cảm quan chất lượng

Bước 2: Xác định sản lượng cây tốt nhất giữ lại ở giai đoạn 2 (sau đốn tạo hình) kết hợp với đánh giá khả năng giâm cành

Bước 3: Tiếp tục khảo sát những cá thể có những đặc tính, đặc trưng nông học tốt, lựa chọn rồi giâm cành từng dòng có triển vọng

Bước 4: So sánh dòng triển vọng với giống tiêu chuẩn (dòng phổ biến trong sản xuất), chỉ giữ lại cây có tỷ lệ sống trên 70%, sau khi trồng ra đồi

được 10 tháng và chế biến được chè thành phẩm có chất lượng tốt, đáp ứng

thị trường và có giá trị hàng hoá cao

Sơ đồ 2.1: Loại bỏ các cá thể qua các chỉ tiêu đo đếm

Giữ lại ở giai đoạn 2

Trang 22

Về lai tạo giống: Nghiên cứu về lai tạo giống, tác giả: Nguyễn Văn Toàn (1994)[12] cho rằng: Ở Việt Nam các giống chè thường có hoa, nở vào tháng 11, tháng 12 Vì thế việc lai giống chè không cần phải bảo quản hạt Trong trường hợp hoa nở không cùng nhau có thể bảo quản trong điều kiện

ẩm độ từ 25 - 30%, nhiệt độ bình thường của không khí, trong điều kiện như

vậy, ở Phú Hộ (Phú Thọ) có thể giữ sức nảy mầm của hạt phấn trong vòng 40 ngày

Vật liệu khởi đầu

Đánh giá trong phòng thí nghiệm

Đánh giá sản lượng

Đánh giá chỉ tiêu đạt

Đánh giá chỉ tiêu lá

Bước 3

Chè 5 tuổi

Khảo sát tính nông học

Phân dòng bằng nhân giống vô tính kết hợp đánh giá khả năng nhân giống

Trang 23

Bằng phương pháp gây đột biến bằng bức xạ, Trung tâm nghiên cứu phát triển chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc, đã chọn

được một số cá thể có biểu hiện tốt về sinh trưởng và sản lượng ở những năm đầu thu hái, đó là N0

8950, N089401 và N08819, trong đó cây N89502 có số cành cấp 1 nhiều, lá lớn, gồ ghề, đang được nhân vô tính thành dòng để tiến hành thí nghiệm so sánh

Ngoài ra các nhà khoa học Trung tâm nghiên cứu phát triển chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc còn sử dụng Consixin xử lý trên mầm chè giống PH1, trong thời gian 24 - 48h với nồng độ 0,2% cũng đã thu

được kết quả bước đầu

Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số giống chè ở Thái Nguyên: Tác giả Lê Tất Khương (1997), cho rằng: Các giống PH1, TRI777, TH3

là những giống dễ giâm cành Tỷ lệ xuất vườn đạt từ 69,7 - 72,0%, giống 1A

là giống khó giâm cành, tỷ lệ xuất vườn chỉ đạt 50,7%

Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao tỷ lệ xuất vườn cho chè giâm cành tác giả Lê Tất Khương (1997), và số lần bón phân cho chè giâm cành đã làm tăng tỉ lệ xuất vườn và hạ giá thành cây xuất vườn từ 5,6 - 11,5% trong

đó, công thức đạt hiệu quả kinh tế cao nhất là tăng 25% lượng phân so với

quy trình (78g Ns, 36g Ps, và 60g Ks cho 1m2 - 100 bầu) và bón 7 lần vào tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 sau cắm hom

Nghiên cứu về đặc điểm hình thái giải phẫu lá và hom chè có liên quan

đến tỷ lệ mô sẹo của hom chè giâm cành, tác giả (Nguyễn Thị Ngọc Bình,

2002)[2] cho rằng: Sự hình thành mô sẹo ở hom chè giâm không hoàn toàn do các mô, mà chỉ giới hạn ở một số mô có khả năng phân chia tế bào mạnh như tượng tầng, trụ bì, libe và một phần nội bì ở vỏ tế bào hom xanh tạo ra Các hoạt động tạo mô sẹo và ra rễ xảy ra tập trung chủ yếu cách bề mặt vết cắt 0,2

- 0,5mm, các tế bào ở xa vết cắt không tham gia quá trình phân chia mà duy trì hoạt động bình thường

Trang 24

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè

Các kết quả nghiên cứu về đặc tính sinh trưởng của cây chè đều cho thấy: Một năm cây chè có từ 3 - 5 đợt sinh trưởng tự nhiên, tuy nhiên trong

điều kiện có đốn hái búp lá thì một năm chè có thể có tới 6 - 7 đợt sinh trưởng

búp, trong điều kiện thâm canh cao cây chè có thể có tới 8 - 9 đợt sinh trưởng búp Thời gian hình thành 1 đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây, điều kiện đất đai, khí hậu và điều kiện canh tác

Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979), Sự hình thành một đợt sinh trưởng búp chè theo 1 tuần tự nhất định, được mô tả theo sơ đồ sau:

Nghiên cứu số đợt sinh trưởng của các giống chè PH1, IA, TH3 Trung Du, TRI777 trong điều kiện có đốn hái và trong điều kiện tự nhiên tác giả Lê Tất Khương (1997), cho thấy: Tùy điều kiện tự nhiên giữa các giống ít có sự sai khác

về số đợt sinh trưởng, số đợt sinh trưởng tự nhiên của các giống biến động từ 3,4 - 3,6 đợt/năm Tuy nhiên, trong điều kiện có đốn, hái giữa các giống có sự sai khác

đáng kể về số đợt sinh trưởng, biến động từ 5,5 - 6,2 đợt/năm

Sơ đồ: 2.3 Đợt sinh trưởng tự nhiên

Cành chè ngừng sinh trưởng

Mầm chè được phát động Giai đoạn ẩn Giai đoạn hiện

Thời kỳ hoạt động

Thời kỳ tiềm sinh

Đợt Sinh trưởng

Trang 25

- Trịnh Văn Loan, Nguyễn Văn Toàn (1994)[12], cho rằng các giống chè có sản lượng búp cao thường có góc lá từ 40 - 60o, khoảng cách giữa 2 lá lớn Nghiên cứu tương quan giữa khoảng cách giữa 2 lá của các giống chè với sản lượng búp chè các tác giả trên cho rằng: Khoảng cách giữa 2 lá có tương quan thuận với sản lượng búp chè (r = 0,624 ± 0,034)

- Nghiên cứu quan hệ giữa diện tích lá với sản lượng búp chè các tác giả Trịnh Văn Loan, Nguyễn Văn Toàn (1994), cho rằng: Trong khoảng diện tích lá chè từ 6cm2 - 36 cm2, khi diện tích lá tăng thì sản lượng búp chè cũng tăng

Đỗ Văn Ngọc (1994), Nguyễn Văn Toàn, Trịnh Văn Loan (1994)[12],

cho rằng: Hệ số diện tích lá có tương quan thuận với tổng số búp chè (R = 0,69) và có tương quan thuận với năng suất búp chè

Theo Nguyễn Văn Toàn (1994)[12] thì đặc điểm giống chè có năng suất cao ít nhất phải có hệ số diện tích lá lớn (tạo ra số búp nhiều) và kích thước lá lớn (có khối lượng búp lớn)

Tình hình sản xuất chè ở Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh có điều kiện đất đai địa hình, khí hậu khá phù hợp với sự phát triển của cây chè Thái Nguyên xác định cây chè là cây công nghiệp chủ lực, đóng góp trong nền kinh tế thị trường

Thái Nguyên nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu kinh tế giữa vùng Trung Du Miền Núi phía Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ Tỉnh Thái Nguyên được bao bọc bởi các dãy núi cao Bắc Sơn, Ngân Sơn và Tam Đảo Tỉnh có diện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số khoảng 1.127.200 người Thái Nguyên có phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Với vị trí địa lý như vậy Thái Nguyên đã trở thành một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, giáo dục của khu vực Việt Bắc nói riêng và của vùng Trung Du Miền Núi phía Bắc nói chung

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân An (2006), Nghiên cứu khả năng nhân giống một số giống chè mới bằng phương thức giâm cành và ghép tại GiaLai- ĐắkLắk, Luận án TS Khoa học Nông nghiệp, ĐHNN1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng nhân giống một số giống chè mới bằng phương thức giâm cành và ghép tại GiaLai-ĐắkLắk
Tác giả: Nguyễn Xuân An
Năm: 2006
2. Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002), Nghiên cứu đặc điểm hình thái giải phẫu lá, hom một số giống chè chọn lọc ở Phú Hộ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng giống, Luận án TS khoa học Nông nghiệp - Viện KHKTNN Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm hình thái giải phẫu lá, hom một số giống chè chọn lọc ở Phú Hộ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng giống
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bình
Năm: 2002
3. Hoàng Cự - Nguyễn Hữu La (2003), "Đặc điểm sinh hoá của một số giống chè Shan chọn lọc tại Phú Hộ”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn T 5 /2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh hoá của một số giống chè Shan chọn lọc tại Phú Hộ
Tác giả: Hoàng Cự - Nguyễn Hữu La
Năm: 2003
4. Nguyễn Văn Hiển (2000), Chọn giống cây trồng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
5. Đàm Lý Hoa (2001), Nghiên cứu khả năng chịu hạn của một số giống chè mới chọn lọc, lai tạo và nhập nội ở Phú Hộ, Luận án TS Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng chịu hạn của một số giống chè mới chọn lọc, lai tạo và nhập nội ở Phú Hộ
Tác giả: Đàm Lý Hoa
Năm: 2001
6. Đỗ Văn Ngọc (2006) “Cây chè Shan vùng cao một cây trồng có lợi thế phát triển ở vùng núi cao miền bắc Việt Nam”, hội thảo nghiên cứu phát triển chè Shan, hiệp hội chè Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây chè Shan vùng cao một cây trồng có lợi thế phát triển ở vùng núi cao miền bắc Việt Nam”, "hội thảo nghiên cứu phát triển chè Shan
7. Đỗ Ngọc Quỹ - Nguyễn Kim Phong (1997), Cây chè Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây chè Việt Nam
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ - Nguyễn Kim Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
8. Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000), Giáo trình cây chè sản xuất chế biến và tiêu thụ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây chè sản xuất chế biến và tiêu thụ
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
9. Đông A Sáng (2004), Trà, văn hoá đặc sắc Trung Hoa, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trà, văn hoá đặc sắc Trung Hoa
Tác giả: Đông A Sáng
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2004
11. Đoàn Hùng Tiến (1992), "Xác định quy trình công nghệ phù hợp với nguyên liệu từng giống chè", Viện nghiên cứu chè - Báo cáo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định quy trình công nghệ phù hợp với nguyên liệu từng giống chè
Tác giả: Đoàn Hùng Tiến
Năm: 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Bảng 2.1 Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính (Trang 13)
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam (Trang 18)
Sơ đồ 2.1: Loại bỏ các cá thể qua các chỉ tiêu đo đếm - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Sơ đồ 2.1 Loại bỏ các cá thể qua các chỉ tiêu đo đếm (Trang 21)
Hình thái - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Hình th ái (Trang 22)
Bảng 4.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2013 - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Bảng 4.1 Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2013 (Trang 32)
Bảng 4.2: Đặc điểm hình thái cây chè thời kỳ KTCB - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái cây chè thời kỳ KTCB (Trang 35)
Bảng 4.3: Đặc điểm, hình dạng màu sắc lá của cây chè - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Bảng 4.3 Đặc điểm, hình dạng màu sắc lá của cây chè (Trang 36)
Bảng 4.4: Kích thước lá và số đôi gân chính của cây chè thời kỳ KTCB - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Bảng 4.4 Kích thước lá và số đôi gân chính của cây chè thời kỳ KTCB (Trang 37)
Bảng 3.5: Đặc điểm búp của cây chè - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Bảng 3.5 Đặc điểm búp của cây chè (Trang 38)
Bảng 4.7: Chất lượng phẩm cấp búp chè tươi thời kỳ KTCB - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014.
Bảng 4.7 Chất lượng phẩm cấp búp chè tươi thời kỳ KTCB (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm