Tháng 10 năm 1988, trong lời tựa cho cuốn tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa ra những nhận xét tương đối khái quát và có tính khoa học về sáng tác của Nguy
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Đăng Điệp, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này, người đã cho tôi nhiều kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu khoa học và tác phong làm việc
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, khuyến khích tôi hoàn thành khóa học và luận văn này
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2010
Tác giả
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo: PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp cùng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân Tôi xin cam đoan các kết quả đạt được của luận văn là hoàn toàn trung thực
Hà Nội, tháng 10 năm 2010
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1.Lý do chọn đề tài 5
2.Mục đích nghiên cứu 9
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc luận văn 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG LẬP TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU NĂM 1975 12
1.1 Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới – một cái nhìn tổng quát 12
1.1.1 Chuyển mình theo hướng đa dạng hóa 12
1.1.2 Quan niệm mới về hiện thực 15
1.1.3 Quan niệm nghệ thuật mới về con người 18
1.1.4 Đổi mới về thi pháp 23
1.2 Sự xuất hiện của truyện ngắn Nguyễn Quang Lập 26
1.3 Quan niệm của Nguyễn Quang Lập về truyện ngắn 33
CHƯƠNG 2: CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG LẬP 39
2.1 Cốt truyện 39
2.1.1 Vài nét về cốt truyện 39
2.1.2 Các loại cốt truyện 40
Trang 42.1.2.1 Cốt truyện giàu tính kịch 40
2.1.2.2 Cốt truyện tâm lý đồng hiện quá khứ - hiện tại 47
2.2 Thế giới nhân vật 50
2.2.1 Khái lược về nhân vật văn học 50
2.2.2 Các loại nhân vật 53
2.2.2.1 Nhân vật bi kịch 53
2.2.2.2 Nhân vật cô đơn 60
2.2.3 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 66
2.2.3.1 Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình, diện mạo và tên gọi nhân vật 66
2.2.3.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật 69
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC TRẦN THUẬT 73
3.1 Điểm nhìn trần thuật 75
3.1.1 Lối trần thuật chủ quan 76
3.1.2 Lối trần thuật khách quan 81
3.2 Ngôn ngữ trần thuật 84
3.3 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lập 89
3.3.1 Vài nét về giọng điệu nghệ thuật 90
3.3.2 Các sắc thái giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lập 92
3.3.2.1 Giọng trầm buồn 92
3.3.2.2 Giọng mỉa mai chua xót 94
3.3.2.3 Giọng triết lý 96
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 5MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Nguyễn Quang Lập thuộc vào số các nhà văn tiêu biểu của thế hệ hậu chiến ở Việt Nam Từng làm công tác văn hoá, xuất bản, biên kịch, làm thơ, viết văn Nhưng sáng tác văn học chính là niềm đam mê lớn nhất của ông Chính niềm đam mê ấy đã đem lại cho Nguyễn Quang Lập nhiều thành công trong sự nghiệp sáng tác, đặc biệt thành công trong thể loại kịch và truyện ngắn
Về truyện ngắn, đến nay Nguyễn Quang Lập được bạn đọc nhớ đến với:
Một giờ trước lúc rạng sáng, Tiếng gọi phía mặt trời lặn, Mười tám truyện ngắn Nguyễn Quang Lập (tập truyện ngắn, 1989) Đây là những tác phẩm thu hút
được sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình và đông đảo bạn đọc
Trước hết, khi nhìn nhận, đánh giá khái quát về những sáng tác của Nguyễn Quang Lập, hầu hết các ý kiến đều cho rằng phía sau những số phận bi kịch, những nỗi đau tinh thần của con người là ánh sáng của lương tri, là lòng nhân ái và chất nhân văn cao đẹp
Tháng 10 năm 1988, trong lời tựa cho cuốn tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa ra những nhận xét tương đối khái quát
và có tính khoa học về sáng tác của Nguyễn Quang Lập, gọi Nguyễn Quang Lập, người thuốc thang cho vết thương chiến tranh, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nêu
ra được những nét riêng, đặc sắc trong những sáng tác của Nguyễn Quang Lập:
“Năm truyện ngắn…tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng, tất cả đều nhất quán trong một thế giới hình tượng và tư tưởng, khiến cho Nguyễn Quang Lập nổi lên như một cây bút viết về chiến tranh sâu sắc và mới lạ, được công chúng tìm đọc
Trang 6với lòng yêu mến”[69], “Nguyễn Quang Lập viết về chiến tranh, nhưng không để
ca ngợi chiến công, mà để bày tỏ nỗi lo lắng về vết thương Dưới con mắt của nhà văn trẻ này, mỗi nhân vật đều mang theo trong bản thân nỗi bất hạnh mà chiến tranh để lại cho con người: sự mất mát về hạnh phúc, nỗi cô đơn khi trở lại cuộc sống bằng hào quang của lửa bom, và nhiều trạng thái méo mó về nhân cách”[69] Đúng vậy, khi viết về chiến tranh Nguyễn Quang Lập đã không né
tránh những mặt trái của cuộc chiến mà thể hiện khá sâu sắc hiện thực chiến tranh, bởi chiến tranh không phải chỉ là những cái đẹp đẽ, hào hùng mà chiến tranh là đau thương, mất mát, chiến tranh với sức mạnh ghê gớm của sự tàn khốc
và huỷ diệt đã nhào nặn, chi phối đến tận cùng số phận của con người Tuy nhiên, dưới cái nhìn của mỗi nhà văn hiện thực chiến tranh lại được cảm nhận, khám phá và phản ánh dưới nhiều góc độ và phương thức khác nhau, Nguyễn Quang Lập đã tạo ra một góc nhìn mới về hiện thực chiến tranh, viết về “nỗi đau
tinh thần” nhưng “Nguyễn Quang Lập đã không dừng lại trong thái độ của một người tố cáo chiến tranh, qua cách giãi bày của một người muốn nhìn thẳng sự thật, người ta vẫn cảm nhận được cái tâm của tác giả: đó là nỗi căm ghét cái ác,
sự đòi hỏi về nhân phẩm và lòng khát khao hoà bình và hạnh phúc cuộc sống”[69] Cách viết của Nguyễn Quang Lập là như vậy, “làm tổn thương lương tâm trong ý đồ làm cho lương tâm trở nên hoàn thiện hơn”[69] Điều đáng ghi
nhận trong bài viết này là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chỉ ra cái “cách”
mà nhà văn Nguyễn Quang Lập xây dựng lên thế giới nhân vật của mình “để phát hiện ra những nhân vật của mình, Lập đã không nhìn lên bầu trời, mà cúi xuống lòng mình, đào bới ở đó những điều thấy cần nói với mọi người và quả nhiên, công chúng đều chăm chú nghe Lập nói” Và “bằng cái nhìn phân tích khá sắc bén và mang giọng hài hước dân giã để chế ngự bớt nỗi đau đớn, tác giả
Trang 7đã soi mói tận gan của từng nhân vật của mình để chỉ ra những thương tật chiến tranh để lại trong tâm hồn, những thương tật mà dù ngoài đời hay trong truyện người ta vẫn muốn giấu kín”[69]
Đến năm 1990, trong bài Cảm nghĩ về truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập tác giả Phan Thị Diễm Phương đã có một cái nhìn khá bao quát về những
sáng tác của Nguyễn Quang Lập, tác giả nhận thấy khác với một số cây bút cùng thời khác Nguyễn Quang Lập không đi vào đề tài sinh hoạt xã hội hiện nay, với những tệ nạn, những thiếu thốn, những nhu cầu dường như không biết đến sự thoả mãn, từ đó luôn luôn diễn ra cuộc vật lộn giữa con người và cuộc sống, truyện của anh cũng không gợi người đọc nghĩ đến nhu cầu chiêm nghiệm đời sống của người viết, một hướng đi mới có sức hấp dẫn của văn học nước ta trong
những năm gần đây… “Nguyễn Quang Lập có xu hướng muốn thể hiện những khía cạnh bi kịch trong số phận các nhân vật, muốn đi vào cảm nhận những nỗi đau tinh thần rất cụ thể và đáng được chia sẻ của con người Chính từ trên hướng suy nghĩ và thể hiện này mà anh đã có tiếng nói riêng”[50] Cũng theo tác giả, viết về đề tài chiến tranh nhưng nhà văn “không muốn dừng lại với chiến tranh dưới màu sắc rực rỡ và âm hưởng hào hùng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà quên đi số phận, tâm trạng của những con người cụ thể đã đi qua cuộc chiến tranh ấy”[50]
Tác giả Nguyễn Thanh Sơn trong cuốn Phê bình văn học của tôi (2001) cũng khẳng định: “Nguyễn Quang Lập là nhà văn có duyên viết về chiến tranh
và những khắc khoải về vẻ đẹp cũng như nỗi đau của chiến tranh là yếu tố tạo nên sức hút cho truyện ngắn Nguyễn Quang Lập”[52]
Trang 8Tuy nhiên, truyện của Nguyễn Quang Lập không chỉ bó hẹp trong phạm vi
và ý nghĩa đó mà tác giả còn quan tâm đến những khía cạnh khác của đời sống,
đó là “những nỗi khổ đau vì hạnh phúc khó khăn, những thất vọng trong tình yêu, niềm khát khao đôi lứa… tưởng đã là những truyện xưa cũ, đều được ngòi bút đầy cảm thông của tác giả thể hiện ra theo những cảnh ngộ riêng đầy xúc động”[50] Truyện của Nguyễn Quang Lập, nhờ vậy vừa có khả năng khơi gợi
những nỗi đau nhân tình ở người đọc, lại vừa giúp họ có thêm cơ hội cảm nhận cái đẹp, cái cao quý ở con người
Khi đánh giá về những truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập, các ý kiến đều
thống nhất, đó là nhận ra Nguyễn Quang Lập “là một trong những nhà văn đầu tiên đưa cách nhìn mới về chiến tranh với tất cả những bi thương đau đớn vốn như nó đã xảy ra vào chuyện”[43] Nhờ thế mà bức tranh hiện thực chiến tranh
trở nên chân thật, sinh động Truyện ngắn của ông chủ yếu đi vào những vấn đề của đời sống tinh thần, vì vậy nhân vật của Nguyễn Quang Lập thường là những
số phận éo le, bi kịch, thậm chí là kì dị, ai cũng mang đầy mình những mất mát đau khổ nhưng đằng sau nó là sự bao dung nhân ái, là chất nhân văn cao đẹp
Hơn thế, đọc văn Nguyễn Quang Lập người ta dễ bị thu hút bởi hai bờ ranh giới của những chuyện bịa như thật và chuyện thật như bịa, là hai ranh giới của cái hiện thực và mong ước, của cái thiện và cái ác… bởi cái kiểu kể chuyện thông minh, giọng tưng tửng… tất cả đã tạo nên Nguyễn Quang Lập - một cây bút viết truyện ngắn có bản sắc
Truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập mặc dù chưa được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông nhưng từ khi ra đời đến nay luôn được đông đảo bạn đọc chú ý Tuy nhiên, sự chú ý của dư luận cho đến nay cũng chỉ mới dừng lại dưới
Trang 9dạng giới thiệu, nhận xét sơ bộ hay bộc bạch ấn tượng về những truyện ngắn, tập truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu
cả về phương diện nội dung lẫn hình thức Vì thế, đây chính là lý do thôi thúc chúng tôi chọn truyện ngắn Nguyễn Quang Lập làm đề tài nghiên cứu
2.Mục đích nghiên cứu
2.1 Dưới góc nhìn thi pháp học, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn, có hệ thống hơn những nét đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lập và từ đó có cái nhìn sâu sắc, cụ thể hơn về thể tài truyện ngắn, một thể tài đã chiếm lĩnh được vị trí quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam hiện nay
2.2 Qua việc phân tích, đánh giá những đóng góp của Nguyễn Quang Lập, chúng tôi muốn đưa ra những nhận xét ban đầu về sự vận động của ngòi bút Nguyễn Quang Lập và sự vận động thể loại truyện ngắn Việt Nam trong mấy chục năm qua
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng tới nhiệm vụ là đưa ra được những nhận định, kết luận mang tính khái quát về những nét đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập từ góc nhìn thi pháp thể loại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chủ yếu khảo sát dựa vào Mười tám truyện ngắn và kịch bản Đời cát Tuy nhiên, để làm nổi bật hơn đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Quang
Trang 10Lập chúng tôi sẽ tiến hành so sánh với các nhà văn khác cùng thời, trước và sau Nguyễn Quang Lập
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.2 Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp này nhằm làm rõ những nét đặc trưng khác biệt của truyện ngắn Nguyễn Quang Lập so với các tác giả truyện ngắn khác, giữa văn học thời
kỳ đổi mới và văn học trước đó
5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Để cho vấn đề được sáng rõ, có tính thuyết phục và thấy được một cách cụ thể, sâu sắc, toàn diện những sáng tạo nghệ thuật của nhà văn qua thế giới của họ chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Lập từ góc nhìn thi pháp thể loại Thông qua quá trình nghiên cứu chúng
Trang 11tôi muốn ghi nhận sự đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam đương đại
7 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
7 Cấu trúc luận văn
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG LẬP TRONG
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU NĂM
1975
1.1 Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới – một cái nhìn tổng quát
1.1.1 Chuyển mình theo hướng đa dạng hóa
Lịch sử nước ta sang trang từ năm 1975 nhưng văn học không sang trang trùng khít cùng lịch sử Nhiều nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất với ý kiến: Văn học Việt Nam những năm 1975- 1980 vẫn tiếp tục vận động, phát triển theo quán tính cũ Nghĩa là các nhà văn vẫn sáng tác theo khuynh hướng thẩm mỹ, tư duy, thi pháp cũ… Nhưng cuộc sống hôm nay đã có nhiều thay đổi, nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ của độc giả cũng không còn như trước mà văn học lại không hề thay đổi Chính vì vậy nó trở nên xa lạ với cuộc sống, người đọc thờ ơ quay lưng lại với các sáng tác đương đại, họ tìm về với văn học quá khứ hoặc tìm đến với các tác phẩm văn học nước ngoài
Tình trạng văn học nước ta thời kỳ này rất đáng buồn Nói như nhà văn
Nguyên Ngọc: “Tình trạng văn học nước ta những năm 1970 - 1980 đúng là tình trạng khôi hài…” [44] Tuy nhiên tình hình văn học cũng không đến nỗi quá bi
quan Bởi trong thực tế đã xuất hiện một số tác phẩm với những dấu hiệu đổi
mới đầu tiên mở màn cho công cuộc đổi mới về sau: Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi), Bức tranh (Nguyễn Minh Châu), Cha và con và…(Nguyễn
Khải)… Những tác phẩm này đã có những đổi mới quan trọng trong quan niệm
Trang 13về con người, không còn kiểu nhân vật phân tuyến rạch ròi tốt xấu mà đã xuất hiện những nhân vật, những con người lưỡng diện, con người của sự phức hợp,
lẫn lộn giữa cái tốt và xấu, giữa cái cao cả và cái thấp hèn Ở truyện ngắn Bức tranh đã có một kiểu nhân vật mới, có thể nói chưa từng có mặt hoặc rất hiếm
hoi trong văn xuôi giai đoạn trước, đó là nhân vật tự nhận thức, nhân vật ý thức (họa sĩ) Cách tiếp cận, thể hiện nhân vật cũng có nhiều thay đổi Thay cho cái nhìn sử thi, các nhà văn hôm nay nhìn nhận, thể hiện nhân vật qua cái nhìn thế
sự, đời tư, cá nhân, cá thể Ngoài ra còn phải kể đến một số phương diện đổi mới khác về nghệ thuật như: cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu… Nói tóm lại, đây là những dấu hiệu đầu tiên đầy ý nghĩa đối với sự đổi mới và phát triển văn học
Vào khoảng đầu những năm 80, đổi mới văn xuôi diễn ra sôi nổi hơn với
sự xuất hiện và thành công trở lại của thể loại phóng sự, một thể loại đặc biệt có khả năng bám sát đời sống, tức thì phanh phui những sự thực ngổn ngang của đời sống xã hội Sự phục hồi và phát triển nở rộ của thể loại này chứng tỏ văn học nước ta đã khám phá ra một miền hiện thực mới, hiện thực bề bộn, đa đoan,
đa sự của cuộc sống hôm nay Nhưng điều quan trọng hơn là nhờ sự nở rộ của thể loại phóng sự mà tiểu thuyết phóng sự cũng được phục hồi và phát triển Tiêu
biểu như: Đứng trước biển, Cù lao chàm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Hạt mùa sau
(Nguyễn Thị Ngọc Tú)… Những tác phẩm này giống như những thiên phóng sự dài, đầy ắp sự kiện và được viết một cách hối hả, hăm hở, kể tả là chính nên chưa thực sự có được những kết tinh văn học Tuy nhiên, chúng vẫn hấp dẫn người đọc bởi khối lượng thông tin, chất lượng và giá trị hiện thực của những thông tin
ấy Ở đây cũng có nhiều dấu hiệu đổi mới về tư duy nghệ thuật, về thi pháp sáng tác Trước hết là những thay đổi trong chất liệu sáng tác Không còn kiểu chất liệu cũ, những sự kiện, biến cố quan trọng trong đời sống sản xuất và chiến đấu,
Trang 14mà là cuộc sống đời thường, cuộc sống mưu sinh hôm nay với bộn bề những khó khăn, thử thách Cũng không còn cái nhìn đơn giản, dễ dãi về hiện thực và con người Hiện thực đã có sự mở rộng về dung lượng, có sự bổ sung của những miền hiện thực mới, những mảng tối, những mặt tiêu cực, phản diện Nhân vật cũng được nhìn từ nhiều chiều, mỗi nhân vật là một nhân cách với những cá tính sinh động, không còn cái nhìn cực đoan, phân tuyến như trong thời kỳ kháng chiến
Cùng thời gian này còn có sự xuất hiện của một loạt các tiểu thuyết,
truyện ngắn với những dấu hiệu đổi mới khá rõ rệt: Những bông bần ly (Tập truyện ngắn – Dương Thu Hương, 1981), Thời xa vắng (Tiểu thuyết – Lê Lựu, 1984), Mùa lá rụng trong vườn (Tiểu thuyết – Ma Văn Kháng, 1985)… Tuy
nhiên phải đến năm 1986 khi có sự gặp gỡ giữa nhu cầu đổi mới của tự thân văn học và khả năng khơi đúng mạch đổi mới của Đảng thì sự đổi mới của văn xuôi mới có những bước đi mạnh mẽ, táo bạo và gặt hái được nhiều thành công, từ đó tạo nên một gương mặt mới cho giai đoạn văn học mới
Cũng phải nói rằng trong công cuộc đổi mới văn học, truyện ngắn là thể loại đi tiên phong và đạt được nhiều thành tựu hơn cả Do dung lượng ngắn gọn, truyện ngắn đặc biệt thích hợp với loại hình báo chí Trong thời đại bùng nổ của báo chí, phụ san, tạp san như hiện nay nó càng có điều kiện phát triển Cũng nhờ đặc điểm này nên truyện ngắn luôn có mặt kịp thời trước mọi biến chuyển của cuộc sống Mà trong gần 80 mươi năm qua, đời sống đất nước ta đã trải qua nhiều biến đổi mạnh mẽ sâu sắc Truyện ngắn là thể loại rất thích hợp để nhà văn nhanh chóng tìm hiểu, khám phá và phát biểu ý kiến trước những vấn đề nóng bỏng đang dặt ra trong xã hội Truyện ngắn đã vượt qua sự kể lể dài dòng “nhanh chóng dồn nén lại, đúc đến đặc sệt và nhọn hoắt ngay hiện thực” Nhờ những lý
do trên mà có thể nói truyện ngắn thời kỳ này tỏ ra hiệu quả trong việc biểu đạt
Trang 15những trạng thái chuyển đổi đời sống Nó sớm đạt đến tính xã hội cao, đi thẳng vào những vấn đề số phận con người, những vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống nhân sinh thế sự Nói chung, truyện ngắn sau 1975 đã đạt được những thành tựu xuất sắc cả về số lượng và chất lượng tác phẩm Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu một số phương diện đổi mới cơ bản của thể loại truyện ngắn trong sự thay đổi của văn xuôi sau 1975
1.1.2 Quan niệm mới về hiện thực
Hiện thực đa dạng và phức tạp của cuộc sống luôn là đối tượng phản ánh của văn học Nhưng mỗi nền văn học lại có một quan niệm riêng về hiện thực Bởi văn học bao giờ cũng thể hiện mối quan hệ giữa hiện thực khách quan và ý thức chủ quan, bao giờ cũng là kết quả của sự nhào nặn những chất liệu cuộc sống qua cái nhìn riêng biệt của nhà văn
Nền văn học chân chính nào cũng gắn liền với thời đại của mình, với đông đảo công chúng của thời đại ấy Văn học 1945 - 1975 cũng vậy, nó nhận rõ sứ mệnh lịch sử của bản thân trong sự nghiệp xây dựng giải phóng đất nước, nên tự nguyện trở thành vũ khí đấu tranh đắc lực cho công nông binh, phục vụ cho các
nhiệm vụ cách mạng Chính vì vậy “Thước đo giá trị của một nền văn học là nó phục vụ được bao nhiêu cho sự nghiệp cách mạng”[32] Từ định hướng giá trị
như trên, truyện ngắn trong những năm chiến tranh đề cao nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng, thể hiện niềm tin vào thắng lợi, đề cao ý thức cộng đồng, lí tưởng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Cũng bởi vậy hiện thực được phản ánh thường là những biến cố lớn lao, những sự kiện quan trọng trong sản xuất hoặc trong chiến đấu Ít đề cập đến những vấn đề đời tư, cá nhân
và nếu có cũng sơ lược hoặc chỉ để làm nổi bật ý nghĩa của cuộc cách mạng,
Trang 16kháng chiến: Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Mùa lạc – Nguyễn Khải, Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi, Vì mục đích động viên, cổ vũ cho các nhiệm
vụ cách mạng, thể hiện tinh thần lạc quan, niềm tin vào chiến thắng, truyện thời
kì 1945 – 1975 nhiều khi đã không tránh khỏi cái nhìn đơn giản, một chiều, cái nhìn lí tưởng hóa, lãng mạn hóa về hiện thực Hiện thực chiến tranh khốc liệt
nhiều khi được miêu tả rất đẹp, rất nên thơ (Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu), sự đông đúc, vui vẻ, náo nhiệt như ngày hội (Ráng đỏ - Đỗ Chu, Bên đường chiến tranh - Cao Duy Thỉnh)
Sau 1975, hưởng ứng chủ trương của Đảng “Đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật”, văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng
đã có những chuyển biến rõ rệt về quan niệm hiện thực
Truyện ngắn hôm nay đã có sự mở rộng dung lượng hiện thực, có sự bổ sung của những miền hiện thực mới mà trước đây chưa có hoặc rất ít, rất sơ lược
Đó là mặt trái của cuộc sống sản xuất và chiến đấu, những khó khăn, những thất bại, những sai lầm thiếu sót và cả những sự tha hóa, những sự phản bội hèn nhát,
những mâu thuẫn trong đội ngũ cán bộ cách mạng: Hồn trinh nữ - Võ Thị Hảo,
Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam – Nguyễn Minh Châu Đó là sự chuyển đổi từ
một hiện thực giới hạn trong các biến cố, các sự kiện chính trị, lịch sử đến một miền hiện thực rộng lớn hơn của đời sống nhân sinh thế sự Với rất nhiều những khổ đau, mất mát, bất hạnh bi kịch, những nhức nhối trong đạo đức xã hội, thế thái nhân tình, những vấn đề không dễ gì tìm thấy trong văn học sử thi ba mươi
năm chiến tranh: Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp, Thiếu phụ chưa chồng -
Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 17Từ những chủ trương đúng đắn của Đảng, đặc biệt là sự dân chủ hóa trong đời sống sáng tác mà hiện thực trong văn xuôi hôm nay được nhìn từ nhiều chiều, được phản ánh toàn diện không chỉ bằng kinh nghiệm của cả cộng đồng
mà còn bằng kinh nghiệm của mỗi cá nhân Trước kia, hiện thực được phản ánh duy nhất trên lập trường tư tưởng của Đảng nên chúng thường giống nhau, cách
xử lý cũng giống nhau Và như vậy nhà văn đã đánh mất cá tính và phong cách sáng tác Bước vào thời kì đổi mới mỗi nhà văn có quyền trình bày những ý kiến riêng và bằng những cách thể hiện, phản ánh khác nhau về hiện thực Văn học một thời kháng chiến đã có quan niệm cứng nhắc về hiện thực, nhiều lúc người
ta đã cực đoan đến mức đối chiếu hiện thực trong tác phẩm với hiện thực đời sống và đòi hỏi hiện thực văn học phải chính xác, phải giống như sự sao chụp đời sống Văn xuôi sau 1975 nói chung và truyện ngắn nói riêng đã có một quan niệm khác hẳn về hiện thực Hiện thực trong tác phẩm không nhất thiết phải có thật Có khi đó là những điều hoàn toàn bịa đặt, những chuyện hoang đường ma
quái, những truyện đầy màu sắc huyền thoại: Thiên sứ - Phạm Thị Hoài, Bến trần gian – Lưu Sơn Minh, Tim vỡ - Võ Thị Hảo, Con gái thủy thần, Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết – Nguyễn Huy Thiệp, Ở những tác phẩm này, mục đích
của nhà văn không phải là tái hiện hay mô tả hiện thực mà là suy ngẫm về hiện thực Hơn nữa những tác phẩm ấy xét đến cùng vẫn phản ánh cuộc sống hôm nay thậm chí còn có khả năng phản ánh hiện thực sâu sắc hơn những tác phẩm trực tiếp mô tả đời sống Như vậy, hiện thực đã không phải là tiêu chí đánh giá một tác phẩm văn học mà nhiều khi chỉ là phương tiện để nhà văn trình bày những tư tưởng, những chiêm nghiệm về đời sống
Từ quan điểm như vậy về hiện thực, từ mối quan hệ khá tự do của nhà văn với hiện thực được lựa chọn, từ điểm nhìn mang kinh nghiệm cá nhân, truyện
Trang 18ngắn hôm nay có thể dung nạp nhiều thủ pháp biểu hiện hiện thực khác nhau Đó
có thể là những yếu tố kì ảo, huyền thoại thậm chí cả những cái phi lý (Bến trần gian – Lưu Sơn Minh, Phiên chợ Giát – Nguyễn Minh Châu, Hồn trinh nữ - Võ
Thị Hảo,…) Các yếu tố huyền thoại góp phần làm cho hiện thực đa dạng và chân thực hơn
Cùng với việc mở rộng phạm vi phản ánh, truyện ngắn ngày càng đi tới một quan niệm biện chứng và toàn vẹn về hiện thực Hiện thực không còn giản đơn, xuôi chiều và có thể biết trước mà chứa đầy những yếu tố ngẫu nhiên, yếu
tố phi lý, tốt đẹp và xấu xa Chúng tác động sâu sắc đến cuộc sống con người Không phải lúc nào con người cũng chiến thắng cũng vượt lên hoàn cảnh mà ngược lại
1.1.3 Quan niệm nghệ thuật mới về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là “Sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành những nguyên tắc, phương tiện biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nghệ thuật trong đó”[59] Nhiều nhà nghiên cứu văn học cũng khẳng định rằng “Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới”
Phát hiện lớn nhất trong văn xuôi 1945 – 1975 có thể nói chính là quan niệm con người quần chúng, con người tập thể Sau năm 1975, với sự thức tỉnh và trỗi dậy của con người cá nhân, quan niệm con người cá nhân, cá thể trở lại trong văn học nhưng phát triển trên một tầm cao mới so với văn học giai đoạn 1930 – 1945
Truyện ngắn thời kỳ kháng chiến chủ yếu quan tâm đến con người công dân, con người chính trị, rất ít để ý đến đời sống riêng tư của mỗi cá nhân mà nếu có chỉ là phương diện thái độ của cá nhân đối với sự nghiệp chung, đối với
Trang 19đồng bào, đồng chí (Mùa lạc – Nguyễn Khải, Anh Keng – Nguyễn Kiên, Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu,…) Sau năm 1975, đã có sự đổi mới rõ
rệt về quan niệm con người Con người trong truyện ngắn hôm nay chủ yếu là con người cá nhân, cá thể, con người hiện thực đời thường đầy bí ẩn phức tạp Không còn những quan niệm giản đơn, phân tuyến về con người, không còn kiểu con người hoàn toàn tốt đẹp hay hoàn toàn xấu xa Con người trong truyện ngắn hôm nay là con người hiện thực nên có thể chứa đựng trong mình tất cả sự cao thượng lẫn sự thấp hèn, ánh sáng lẫn bóng tối, thần thánh lẫn ma quỷ… Nhân vật
trong truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh Châu cũng đã tự nhận xét về mình như vậy: “Trong tôi đang sống lẫn lộn người tốt, kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rít, thiên thần và ác quỷ”[4]
Thanh Thảo trong Khối vuông rubíc cho rằng: “Người ta đã nhìn trái đất
từ nhiều hướng và trái đất chưa bao giờ được khám phá hết Người ta đã thăm
dò con người bằn nhiều cách mà con người vẫn là một bí mật” [56]
Truyện ngắn 1945 – 1975 đã xây dựng được nhiều nhân vật điển hình khá sâu sắc và sinh động tuy nhiên đó mới chỉ là những điển hình xã hội, điển hình giai cấp, nhân vật còn thiếu những nét cá tính riêng độc đáo Sự vận động của số phận, tính cách nhân vật cũng khá đơn giản, xuôi chiều và thường theo hướng có hậu Mà thực tế thì sự biến đổi của tư tưởng, tính cách, số phận nhân vật là hết sức phức tạp, đa dạng, muôn hình muôn vẻ, rất khó giải thích và nhiều khi còn không thể lí giải Con người trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới được phản ánh trung thực hơn, sống động hơn nên nó không chỉ phức tạp, lưỡng diện mà còn đầy bí ẩn Lắm khi người đọc hay chính nhà văn – người sáng tạo ra nhân vật cũng không thể tưởng tượng hay dự kiến trước được hành động của nó Người
lính trong truyện ngắn Một quãng đời và cả cuộc đời (Phạm Duy Tương) cũng
Trang 20không hiểu tại sao đang căm giận, thù ghét người vợ phản bội, tại sao đã li hôn
mà bỗng nhiên anh lại tha thứ, lại bỏ qua tất cả “Sau này nhiều người hỏi lúc ấy lòng tôi xảy ra điều gì? Sự mềm yếu hay dằn vặt, luyến tiếc hay run sợ, anh hùng hay hèn nhát, nghĩ đến mẹ hay nghĩ đến con, thương cô ta hay thương mình? Không có điều gì xảy ra nhưng cũng có thể xảy ra tất cả những điều đó Tâm linh hay cái gì đó na ná như thế đã thôi thúc tôi quay xe trở lại” [70]
Truyện ngắn 1945 – 1975 do quán xuyến bởi quan niệm con người tập thể, con người quần chúng nên nhân vật thường được thể hiện trong các sự kiện, biến
cố lịch sử hơn là những quan hệ, biến cố đời tư Truyện ngắn sau 1975 lại hoàn toàn ngược lại, do quan niệm con người cá nhân, con người cá thể nên nhân vật thường được thể hiện qua các quan hệ đời thường, qua thế giới nội tâm, qua miền ý thức, vô thức đầy bí ẩn phức tạp Cùng với hướng khám phá, thể hiện mới mẻ về con người như vậy, truyện ngắn hôm nay đã hình thành một số kiểu con người mới: con người tự nhiên, con người tâm linh, con người tự nhận thức
Xuất phát từ con người cá nhân, con người hiện thực đời thường, các cây bút truyện ngắn đã thể hiện khá sâu sắc và thành công con người tự nhiên, con người sinh học Điều đó thể hiện nhu cầu về một hạnh phúc đời thường, một tình yêu tự nhiên trần thế với những cảm xúc nhục thể
Quan niệm con người tự nhiên chính là một biểu hiện của con người cá thể
là nét mới của truyện ngắn sau 1975 Trước đây việc nhận thức và phản ánh con người tự nhiên rất hạn chế thậm chí bị cấm kị Nhìn lại quá trình phát triển của văn học dân tộc chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều đó Con người tự nhiên mới chỉ xuất hiện ở hình tượng thị Mầu, vài nét ở Hồ Xuân Hương, Nguyễn
Trang 21Du… và trỗi dậy mạnh mẽ hơn ở Vũ Trọng Phụng, nhưng để trở thành một quan niệm nghệ thuật thì phải đến văn học sau năm 1975
Xây dựng con người tự nhiên, phần lớn các nhà văn đều khai thác nhu cầu
hạnh phúc đời thường về một tình yêu trần thế (Dải lụa – Dương Duy Ngữ; Truyền thuyết Quán Tiên – Xuân Thiều, Họ đã trở thành đàn ông – Phạm Ngọc
Tiến) hoặc phản ánh một số biểu hiện của bản năng tính dục như: hành động chiếm đoạt, giao hoan, ngoại tình, những chi tiết này thường gắn với cảm hứng phê phán sự sa đọa, sự tha hóa, loạn luân, sự xuống cấp nghiêm trọng của đạo
đức, nhân cách con người (Những người thợ xẻ, Không có vua – Nguyễn Huy Thiệp, Thiếu phụ chưa chồng – Nguyễn Thị Thu Huệ, Thung lũng hoa vàng –
Huỳnh Thạch Thảo…)
Nhìn chung, đưa ra những khía cạnh của con người tự nhiên các tác giả đều nhằm thể hiện những khát vọng nhu cầu hết sức nhân bản hoặc để nêu bật sự sụp đổ trong đạo đức, nhân cách để kêu gọi, thức tỉnh con người
Với sự tôn trọng con người cá nhân, cá thể, truyện ngắn sau 1975 bắt đầu quan tâm đến con người tâm linh Con người của tâm linh “là sản phẩm của trực
giác”, đã xuất hiện khá lâu trong văn học truyền thống (Việt điện u linh, Truyền
kì mạn lục, Truyện Kiều) Trong văn học hiện đại, ở một số sáng tác của Nguyễn
Tuân, Thạch Lam cũng đã lấp ló con người tâm linh nhưng khái niệm này nói chung còn xa lạ Văn xuôi giai đoạn 1945 – 1975 do một số lí do đặc biệt mà con người tâm linh không xuất hiện, những tác phẩm có chứa những yếu tố vô thức huyền bí, kì ảo bị coi là duy tâm thậm chí là lên án, phê phán gay gắt Từ sau năm 1975, con người tâm linh mới trở lại trong văn học và trở thành một quan niệm nghệ thuật Đã có nhiều ý kiến khẳng định vai trò của văn xuôi hôm nay là
Trang 22đi vào cõi tâm linh, vô thức của con người Nhà văn Bùi Hiển cho rằng: “Văn học với chức năng của nó là khám phá bản thể con người, lẽ tất nhiên nó rất khao khát soi tìm vào những miền u uẩn, ảo của nội tâm, vào những động cơ thầm kín đến mức tối tăm của những ứng xử ý thức…các hiện tượng mà người ta gọi là siêu tâm lý” (Báo Văn nghệ số 8 – 1969)
Để thể hiện con người tâm linh, các nhà văn thường sử dụng các yếu tố thiêng liêng, thần bí như những giấc mơ điềm báo, mộng mị, những chuyện bói
toán, tử vi…(Phiên chợ Giát – Nguyễn Minh Châu, Bến trần gian – Lưu Sơn Minh, Giọt máu, Chảy đi sông ơi – Nguyễn Huy Thiệp…)
Con người tâm linh là một phương diện không thể phủ nhận trong thực tế Tuy nhiên để giải thích một cách chặt chẽ, thấu triệt là không đơn giản Trong khi các ngành khoa học khác có khuynh hướng phủ nhận phương diện thần bí này, thì văn học với khả năng thẩm mĩ riêng lại tỏ ra khá thành công Việc phản ánh con người từ thế giới tâm linh, tiềm thức, vô thức khiến con người được nhìn nhận một cách toàn diện, sâu sắc, chân thực, sống động và hiện thực hơn trong tác phẩm
Một phương diện khác của con người cá nhân, cá thể là con người tự nhận
thức “Con người tự nhận thức là con người được nhìn từ bên trong, là con người trầm tư, nghiền ngẫm, nhận diện chính mình” [28] Con người tự nhận thức có năng lực phản ánh, tự ý thức về mình (nhân vật họa sĩ- Bức tranh- Nguyễn Minh Châu, Vị đại tá- Chị Dâu- Hoàng Tuấn, Vân- Thảm cỏ trên trời-
Ngô Thị Kim Cúc, ) Nhân vật tự nhận thức gắn liền với sự thức tỉnh ngày càng cao về giá trị con người, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ trong quan niệm con
người Bởi “sự vận động, phát triển của văn học là từ chỗ mô tả quá trình nhận
Trang 23thức của nhà văn đến quá trình tự nhận thức của nhân vật Nhân vật từ chỗ nhận thức thế giới xung quanh, đánh giá, phán xét người khác đến chỗ tự phân tích, khám phá chính bản thân mình”[28]
Con người trong văn xuôi ba mươi năm chiến tranh, được thể hiện bằng các hoạt động có tính chất hướng ngoại là chính, ít có những trang miêu tả thế giới nội tâm hay sự tự nhận thức, ý thức của nhân vật Truyện ngắn thời kì đổi mới đã khắc phục nhược điểm đó bằng một quan niệm đầy đủ, toàn diện, hiện thực và sống động về con người- con người cá nhân, cá thể Đó là sự kết hợp hài hòa giữa chất sinh vật và chất xã hội, giữa tính cá nhân và tính cộng đồng, giữa những phẩm chất truyền thống và những tính cách hiện đại
1.1.4 Đổi mới về thi pháp
Theo triết học Mác, giữa nội dung và hình thức luôn có mối quan hệ chặt chẽ Nội dung luôn quyết định hình thức, hình thức cũng có tác động trở lại với nội dung Khi nội dung thay đổi, hình thức cũng thay đổi cho phù hợp Ở văn học cũng vậy Cùng với sự biến đổi về nội dung sáng tác, về tư duy nghệ thuật, truyện ngắn sau 1975 cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ về hình thức nghệ thuật Dưới đây người viết xin trình bày một số phương diện đổi mới nổi bật như đổi mới về điểm nhìn trần thuật, đổi mới về giọng điệu, ngôn ngữ, cốt truyện và kết cấu tác phẩm
Ở truyện ngắn 1945-1975, điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm thường là duy nhất, đó là điểm nhìn trần thuật của tác giả Nhà văn sáng tác trên cơ sở lập trường, tư tưởng của Đảng nên tư tưởng, điểm nhìn của họ là luôn luôn và duy nhất đúng Cũng chính vì vậy mà nhà văn luôn là người độc quyền phán truyền chân lí, người đọc chỉ thụ động tiếp nhận Tác phẩm cũng có nhiều nhân vật, có
Trang 24các ý kiến khác nhau nhưng cuối cùng cũng chỉ để khẳng định điểm nhìn của nhà văn Sau năm 1975, cùng với sự thay đổi trong quan niệm hiện thực, quan niệm con người, quan hệ giữa nhà văn và công chúng cũng thay đổi Các tác phẩm văn xuôi không còn tính độc thoại mà chuyển dần sang tính đa thanh các nhân vật không phải là sự hóa thân khác nhau của tác giả mà là những nhân cách có lập trường, tư tưởng, có quan niệm ý kiến riêng, chúng bình đẳng với nhau và bình đẳng trong quan hệ với nhà văn Trong truyện ngắn hôm nay, có nhiều điểm nhìn trần thuật: điểm nhìn của nhà văn, điểm nhìn nhân vật, mỗi người đọc cũng lại có
một điểm nhìn riêng Tuy nhiên như nhận xét của tiến sĩ Nguyễn Thị Bình: “Sự đối thoại trong các tác phẩm văn học hôm nay chủ yếu mới ở trên bình diện quan niệm tư tưởng, còn việc tổ chức một cuộc đối thoại có sự tham gia của nhiều ý thức độc lập thông qua hình tượng nhân vật thì chưa nhiều”[3]
Cảm hứng chủ đạo trong văn học kháng chiến là cảm hứng sử thi nên ngôn ngữ văn học giai đoạn này thường là ngôn ngữ mực thước, trang trọng, đẹp
đẽ Sau 1975 với cảm hứng thế sự, đời tư, toàn bộ hiện thực đời sống ngổn ngang, bừa bộn, lẫn lộn cái tốt, cái xấu, cái cao đẹp, cái thấp hèn, cái thiện, cái ác,…ùa vào văn học Biểu hiện phản ánh một hiện thực như vậy ngôn ngữ buộc phải thay đổi Trong truyện ngắn thời kì đổi mới bên cạnh kiểu ngôn ngữ cũ, xuất hiện kiểu ngôn ngữ giản dị, đời thường thậm chí có lúc cộc lốc, gai góc, sống sượng…
Truyện ngắn 1945-1975 do yêu cầu đại chúng phải đơn giản, dễ hiểu, nên kiểu ngôn ngữ đa nghĩa, giầu hình ảnh, biểu tượng không nhiều… Truyện ngắn sau 1975 lại có chiều hướng ngược lại Do trình độ của công chúng được nâng cao, do văn học đã có điều kiện trở lại với chính mình nên ngôn ngữ ngày càng giàu hình ảnh, giàu biểu tượng ý nghĩa
Trang 25Do cảm hứng sáng tác chủ đạo là cảm hứng hứng sử thi nên truyện ngắn
1945 - 1975 có giọng điệu chính là giọng ngợi ca, với các biến thể của nó là: giọng hào sảng, giọng vui tươi, tự hào, tin yêu thán phục Sau năm 1975, với sự
đa dạng trong cảm hứng sáng tác, sự đa dạng trong hiện thực phản ánh mà giọng điệu cũng có nhiều biến đổi Bên cạnh những giọng điệu cũ đã xuất hiện nhiều giọng điệu mới: giọng buồn, chua xót, tiếc nuối, giọng châm biếm, sâu cay, chua chát, giọng triết lý, giọng lạnh lùng đầy từng trải, lọc lõi…
Về phương diện cốt truyện, truyện ngắn sau 1975 cũng có nhiều đổi mới quan trọng Nếu truyện ngắn 1945-1975 phổ biến kiểu cốt truyện truyền thống (nặng về tình tiết, biến cố, sự kiện; sức hấp dẫn của truyện phụ thuộc vào sự phát triển của cốt truyện, sự phát triển của các biến cố…) thì truyện ngắn sau 1975 lại phổ biến kiểu cốt truyện tâm trạng, kiểu truyện không có cốt truyện Thực ra kiểu cốt truyện truyền thống vẫn còn nhưng nó cũng có nhiều biến đổi như nới rộng cốt truyện, giảm dần tình tiết, biến cố để tăng phần cảm xúc, tâm trạng nhân vật
Cốt truyện trong sáng tác văn học 1945-1975 thường phải đầy đủ năm thành phần (trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào, kết thúc) Truyện ngắn hôm nay không đòi hỏi phải đầy đủ như vậy, thậm chí còn có thể đảo lộn các thành phần cốt truyện Các kiểu kết thúc cũng rất đa dạng, phong phú: có kiểu kết thúc ngỏ, kiểu kết thúc
có nhiều đoạn kết, kiểu kết thúc sử dụng yếu tố kì ảo, huyền thoại…
Trên đây là một số phương diện đổi mới nổi bật về tư duy nghệ thuật, về thi pháp sáng tác trong truyện ngắn sau 1975 Truyện ngắn sau 1975 như đã nói
là thể loại vượt trội so với các thể loại văn xuôi khác Nên tìm hiểu về nó, tìm hiểu về sự đổi mới của truyện ngắn sẽ giúp chúng ta nhìn nhận rõ nhất những thành tựu đổi mới của văn xuôi nói chung
Trang 261.2 Sự xuất hiện của truyện ngắn Nguyễn Quang Lập
Nguyễn Quang Lập xuất hiện vào đầu những 80 của thế kỷ XX Đây là lúc văn học có những dấu hiệu chuyển mình đổi mới về ý thức nghệ thuật và những nỗ lực cách tân hiện đại Đặc biệt từ sau Đại hội VI của Đảng thì ngọn gió đổi mới đã góp phần tạo nên những đột phá mạnh mẽ trong sáng tạo nghệ thuật Giữa mênh mông sách vở của đủ những tác giả lớn bé, đông tây kim cổ, giữa vô vàn những thú tiêu khiển đầy quyến rũ của thời "mở cửa", viết văn làm sao để người ta đọc được của mình, mà phải là những người uyên thâm và khó tính nữa kia là một thách thức lớn nhất của những người cầm bút Họ sẽ phải thử nghiệm ngòi bút của mình ở nhiều thể loại, nhiều đề tài, để tìm được phong cách của riêng mình Dường như Nguyễn Quang Lập đã vượt qua được cái thách thức ấy
và dần khẳng định sở trường của ông ở thể loại truyện ngắn với đề tài về nỗi đau tinh thần của con người thời hậu chiến
Truyện ngắn là thể loại khó, truyện ngắn thành công lại càng khó Rất nhiều nhà văn trẻ thử sức mình chủ yếu bằng truyện ngắn, và phải công nhận bước đầu họ đã thành công Trong số đó, Nguyễn Quang Lập đã thu hút sự chú ý của đông đảo bạn đọc Thực ra, trước khi trở thành một tác giả truyện ngắn, Nguyễn Quang Lập đã từng làm thơ, viết tiểu thuyết, sáng tác kịch Người đọc
đã biết đến tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng với những ý kiến khen chê
khác nhau, đặc biệt ông đã từng được Hội nghệ sĩ sân khấu và Hội nhà văn Việt
nam trao giải thưởng cho kịch bản Mùa hạ cay đắng, điều này chứng tỏ Nguyễn
Quang Lập đã muốn thử sức ở nhiều thể loại Tuy nhiên, cho đến nay, bạn đọc biết đến và ấn tượng về Nguyễn Quang Lập chủ yếu với tư cách một cây bút
truyện ngắn và kịch Nếu nói "truyện ngắn là nơi ta có thể tìm phong cách cho
Trang 27mình" [47] thì với thể loại truyện ngắn, Nguyễn Quang Lập đã tạo được cho
mình một phong cách riêng
Thật vậy, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX truyện ngắn Nguyễn
Quang Lập đã xuất hiện trên tạp chí Sông Hương và báo Văn nghệ, sau đó chủ yếu được tập hợp trong hai cuốn Một giờ trước lúc rạng đông (Thuận hoá, 1986)
và Tiếng gọi phía mặt trời lặn (Tác phẩm mới, 1987) Với hai cuốn sách này,
Nguyễn Quang Lập đã được thừa nhận là một trong những cây bút truyện ngắn
có bản sắc và nhiều triển vọng Xuất hiện trong thời kỳ văn học đổi mới, Nguyễn Quang Lập đã lựa chọn cho mình một hướng đi riêng, không giống nhiều nhà văn cùng thời
Với những chuyển biến xã hội sâu sắc từ sau Đại hội Đảng VI (1986), báo cáo của Ban chấp hành hội nhà văn tại các Đại hội IV và V đều đã khẳng định
“Đời sống văn học đang có những chuyển biến mới mang nhiều hứa hẹn và đồng thời cũng đang nẩy lên những vấn đề mới”, “Nhìn tổng quát đã có những bước phát triển đáng mừng” và xuất hiện hai chữ “đổi mới” trong văn học Hoà chung
vào không khí ấy, nhiều cây bút đã hướng ngòi bút của mình vào những đề tài sinh hoạt xã hội hiện nay, với những tệ nạn, những thiếu thốn, những nhu cầu dường như không biết đến sự thoả mãn, từ đó luôn diễn ra cuộc vật lộn giữa con người và cuộc sống, đó là những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống hiện đại
Nhưng không giống các nhà văn khác, Nguyễn Quang Lập "có xu hướng muốn thể hiện những khía cạnh bi kịch trong số phận các nhân vật, muốn đi vào cảm nhận những nỗi đau tinh thần rất cụ thể và đáng được chia sẻ của con người”[50], nhất là con người thời hậu chiến Chọn viết về nỗi đau tinh thần,
một nỗi đau âm thầm, dai dẳng, nhức nhối của con người, Nguyễn Quang Lập thực sự đã có tiếng nói riêng trên văn đàn
Trang 28Quả thực, trong truyện của Nguyễn Quang Lập, ta gặp không ít những sự
đau lòng do chiến tranh đem lại Đó là bé Chơn năm tuổi (Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp Ri) được lôi ra từ dưới bụng người mẹ chết bom cùng bảy người ruột thịt khác trong gia đình, "nằm ngổn ngang trên mặt đất", đó là hai ông già Ba-
đoong và Cu-muôn bị chiến tranh đặt vào hai hàng ngũ đối lập một mất một còn
để ông Cu-muôn phải mang mãi tâm trạng đau đớn của một người đã tự tay giết
chết người bạn chí cốt từ thủa lọt lòng (Cây sến lửa), đó là nỗi đau khổ bức bối nhất của vợ chồng đại tá Chi trong truyện Cái lục lạc: sau nhiều năm xa cách, vợ
chồng anh chị gặp lại nhau và mơ ước có một đứa con, cố gắng vượt qua tất cả
để chờ đợi ngày đứa trẻ ra đời, nào ngờ đứa bé đó là một con người dị dạng, hậu
quả của chất độc màu da cam mà mẹ cháu bé đã bị nhiễm toàn thân, đó còn là
nỗi đau của những con người trong truyện ngắn Người lính hay nói trạng, Tiếng kèn Trôm-pét Những truyện ngắn như thế của ông cho chúng ta nhận ra tác giả
của nó không còn muốn dừng lại với chiến tranh dưới màu sắc rực rỡ và âm hưởng hào hùng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không còn muốn dừng lại ở những khúc tráng ca kì vĩ, những hình tượng sáng ngời vẻ đẹp lí tưởng và không chỉ dừng ở tiếng nói ngợi ca đất nước nhân dân, khẳng định chân lí, chính nghĩa trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc mà quên đi số phận, tâm trạng của những con người cụ thể đã đi qua cuộc chiến tranh ấy Vẫn là một cách để ngợi ca nhân dân, ngợi ca chiến thắng nhưng Nguyễn Quang Lập không chọn cái
vẻ hào hùng bên ngoài dễ nhìn thấy, ông viết về cái mất mát, khổ đau do chiến
tranh gây ra, nhằm chia sẻ cùng nhân dân chiến thắng Đây là cảm hứng chính
trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lập và cũng làm thành một nét hấp dẫn của ông đối với người đọc, bởi vì trong "thực đơn" thưởng thức ngày ấy, món này còn rất ít
Trang 29Sự chia sẻ và đồng cảm của Nguyễn Quang Lập không chỉ dừng lại ở những số phận không mấy vui vẻ trên đời một cách cụ thể, riêng lẻ và nhỏ hẹp, truyện của ông còn tiếp tục kể không dứt về những nỗi khổ đau của con người
mà ý nghĩa nhân sinh của nó có khi còn mang tính phổ biến hơn Người đọc sẽ nhìn thấy sự quan tâm chia sẻ của nhà văn được mở rộng sang những khía cạnh
khác trong những truyện như Bốn mươi chín cây cơm nguội, Hạnh phúc mong manh, Tiếng khèn bè Ở đó hiện lên những nỗi khổ đau vì hạnh phúc khó khăn,
những thất vọng trong tình yêu, niềm khát khao cuộc sống đôi lứa Những điều
ấy, tưởng như là những truyện xưa cũ, “biết rồi khổ lắm nói mãi” thế mà được ngòi bút đầy cảm thông của nhà văn thể hiện ra theo những cảnh ngộ riêng đầy xúc động, đọc lên ai cũng thấy, những chuyện như thế này đâu hề xưa cũ? Nó là cuộc sống hôm nay, là cuộc sống hiện tại, ai cũng cần được có Làm sao người đọc có thể quên cái thói hà khắc phi lý, mất nhân tính và giả dối ghê người của tay thủ trưởng binh trạm ở Trường Sơn năm nào, đã khiến một phụ nữ từng có một thời trẻ trung xinh đẹp, cơ hội để có được hạnh phúc gia đình trong tầm tay, thế mà ngoài bốn mươi tuổi mới biết thế nào là một nụ hôn mà chị nhận được từ một người đàn ông qua đường, không quen biết, để rồi cứ khát khao và tiếc nuối
cái thời trẻ trung đã qua (Bốn mươi chín cây cơm nguội) Vẫn là những khát khao hạnh phúc mà không được nhưng nhân vật Liên trong Hạnh phúc mong manh lại khổ đau theo cách khác Chị đã có thể sống qua mười năm chờ đợi, với
gánh nặng kỷ luật, gia đình hắt hủi, một đứa con thơ, qua sáu năm tìm kiếm người yêu Nhưng trước người đàn bà thứ hai của người yêu thì thì chị hoàn toàn
bất lực Ở truyện Tiếng khèn bè, người đọc vẫn bắt gặp những con người bất
hạnh trong tình yêu, họ khao khát hạnh phúc mà sao khó khăn đến vậy, đó là một ông Nông cô đơn với tiếng khèn u buồn, chứa chất nhiều tâm sự và mang nặng
Trang 30tình yêu thương, một cô giáo Hường xinh đẹp hoá thành điên dại vì trót yêu nhầm một tay Sở Khanh Những truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập khiến người đọc ngỡ tưởng nhà văn hoài nghi cái khả năng được hưởng hạnh phúc của con người Bởi vì, hầu hết các truyện của ông đều cho thấy các nhân vật trong truyện thật khó khăn biết nhường nào để đạt được tình yêu, hạnh phúc Thực ra không phải nhà văn hoài nghi, mà nhà văn muốn nói một điều rằng: cuộc sống đầy khó khăn và phức tạp, con người phải vật lộn với nó để giành lấy hạnh phúc cho mình dù rằng điều đó có thể rất mong manh
Có thể thấy, phần lớn truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập đều hướng về con người, chính xác hơn là hướng về thế giới tinh thần của con người với một
sự đồng cảm và sẻ chia cao độ Nhưng sâu sắc hơn nhà văn còn có "khả năng đi sâu khai thác những uẩn khúc, tạo nên tấm bi kịch ngầm diễn ra trong tâm hồn nhân vật” [50] Thể hiện rõ nét nhất điều đó là truyện ngắn Đò ơi Truyện kể về ông lái đò Bùi Việt Pháo đã có “năm mươi hai năm sống lương thiện và một giờ gây tội ác” Có người cho rằng truyện đã đặt ra vấn đề con người phải luôn tự
đấu tranh để hoàn thiện phẩm chất đạo đức, đó có thể là một cách hiểu Nhưng sâu sắc hơn, người đọc có thể nhận ra ẩn đằng sau “tảng băng trôi” là một ý nghĩa khác, đó là: con người có lúc lâm vào những tình cảnh éo le, cần được đồng loại thấu hiểu ngọn ngành để có một cách nhìn nhận xác đáng về phẩm chất đích thực của họ Dòng sông ngữ nghĩa vẫn luôn trôi, những truyện có khả năng khơi gợi ở người đọc nhiều lớp ý nghĩa mới là những truyện có giá trị, đó là
những truyện có độ mở cao Truyện của Nguyễn Quang Lập cũng thuộc vào
những loại truyện như thế
Nếu dõi theo gia tài văn chương của Nguyễn Quang Lập, người đọc đều
dễ dàng nhận thấy, phần lớn truyện của ông đều là những truyện buồn, truyện về
Trang 31những nỗi khổ đau, mất mát Nhưng không vì thế mà truyện của ông tăm tối, lạnh lẽo Bởi vì ánh sáng của lương tri, hơi ấm của lòng nhân ái luôn chan chứa trong từng trang viết Nhân vật trong truyện đều cố gắng vượt qua nỗi đau để hướng đến những điều tốt đẹp, người viết luôn hướng ngòi bút của mình đến những giá trị Chân – Thiện – Mỹ Truyện của Nguyễn Quang Lập vì thế, vừa có khả năng khơi gợi những nỗi đau nhân tình ở người đọc, lại vừa giúp họ có thêm
cơ hội cảm nhận cái đẹp, cái cao quý ở con người Chính điều đó đã khiến truyện ngắn của ông có một sức hấp dẫn riêng, dù có thể truyện của ông ít nhiều có sự kén chọn độc giả
Giữa bao nhiêu đề tài trong cuộc sống mới mà nhà văn có thể lựa chọn, Nguyễn Quang Lập đã chọn cho văn chương của mình một đề tài riêng, một lối thể hiện cũng rất riêng Viết về con người với những nỗi đau tinh thần thời hậu chiến, những khó khăn, những mất mát trong hạnh phúc là sự mạnh dạn của Nguyễn Quang Lập, nhưng điều mà nhà văn trăn trở và quan tâm khi xây dựng các truyện ngắn là làm sao có thể tìm được một cách thức kể cho thích hợp, tạo được hiệu quả nghệ thuật, gây được những xúc cảm thẩm mỹ cho người đọc? Và Nguyễn Quang Lập đã, đang làm được điều đó
Khảo sát các truyện ngắn của ông, chúng tôi bắt gặp những hình thức có tính chất kỹ xảo như cách sắp xếp lớp lang sao cho tạo được sự bất ngờ – từ đó gây ấn tượng mạnh - đến phút cuối cùng của truyện, vận dụng thủ pháp đồng hiện mờ chồng như trong điện ảnh, hoặc mượn đến hình thức huyền thoại v.v Nhưng có thể nhận thấy, phương diện chính tạo nên ấn tượng cho người đọc lại không nằm ở những kỹ xảo bề ngoài đó Điều hấp dẫn người đọc ở truyện ngắn
Nguyễn Quang Lập chính ở việc nhà văn "khai thác mọi biện pháp trực tiếp nhất
để khắc hoạ đậm nét chiều sâu tâm lý và diễn biến tâm trạng của các nhân vật,
Trang 32qua đó mà bật lên tính cách” [50] Truyện ngắn của ông chủ yếu đi vào những
vấn đề của đời sống tinh thần, tình cảm của con người Những hình thức có tính chất kỹ xảo như trên cũng nhằm mục đích thể hiện điều này Bởi vì, cái thế giới bên trong phức tạp, đầy những uẩn khúc, những dày vò đau đớn của những số phận khác nhau đã tìm được dịp thể hiện khá thích hợp, khá nổi bật dưới ngòi
bút của nhà văn Trong truyện Đò ơi, nhân vật ông lái đò Bùi Việt Pháo như bị
bủa vây bởi lớp lớp ký ức, hồi tưởng dày đặc, về mối tình xưa xa lắc, về người đàn bà ngẫu nhiên có mặt trong túp lều của ông giữa đêm mưa gió bão giông Giữa lớp lớp ký ức đó, ông quằn quại với nỗi cô đơn và ân hận, với nhớ tiếc và xót thương Con người tưởng chỉ ngang tàng trên sông nước ấy bỗng trở nên thật sâu lắng, rồi dữ dội Đó chính là kết quả từ cái chủ định nghệ thuật đã nêu
của người viết truyện Còn ở truyện Hạnh phúc mong manh, tác giả lại tạo nên
một sự kết hợp phong phú giữa các biện pháp hồi tưởng, độc thoại nội tâm Những lời tự vấn, lời phân tích của người kể chuyện và ngôn ngữ người kể chuyện hoá thành ngôn ngữ nhân vật mong diễn tả được hết tâm trạng giằng xé của bộ ba nhân vật Liên – Thạc – Mai, những cuộc tranh chấp thật sự giữa nhu cầu được hưởng hạnh phúc với đức hi sinh, giữa thói xấu và sự hối hận, giữa
lòng vị tha và thói vị kỷ Các truyện Bốn mươi chín cây cơm nguội, Tiếng khèn
bè, Giọt rượu cuối đời v.v đều có thể là những minh chứng cho những điều trên
Có thể thấy rằng, truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập chủ yếu được nhà văn khám phá mọi khía cạnh của tâm lý nhân vật, vì thế các chi tiết, kết cấu, nhiều khi, ít nhiều thiếu đi sự chặt chẽ, kín kẽ Tuy nhiên hạn chế đó không đủ
làm giảm đi sức hấp dẫn của nó đối với người đọc Đặc biệt là truyện Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp Ri, một truyện mà ở đó chúng ta không thể “tóm” được
cái gọi là các biện pháp nghệ thuật để có thể “chỉ mặt đặt tên”, như ở các truyện
Trang 33khác Vậy sức hấp dẫn của truyện là ở đâu? "Phải chăng, khi mọi điều đã chín trong tác giả, thì ấn tượng mạnh nhất, cái gây hiệu quả lớn nhất chính là sự tự nhiên” [50, tr.39]
Như vậy, trong không khí của thời kỳ văn học đổi mới, khi mà các nhà văn cố gắng thể hiện sự năng sản của chủ thể sáng tạo, Nguyễn Quang Lập cũng bước đầu tạo được cho mình một chỗ đứng trên văn đàn Sau khi thử sức ở nhiều thể loại, Nguyễn Quang Lập đã tạo nên cho mình một phong cách ổn định ở thể loại truyện ngắn Qua những trang viết của ông, người đọc thấy sự phấn đấu không mệt mỏi của người viết để có được những sắc thái riêng trong nội dung cũng như trong hình thức thể hiện Đó cũng là hướng phấn đấu của nhiều cây bút Vì viết, xét đến cùng phải là một hình thức tự làm mới mình, hơn nữa, sức sống của văn chương chính ở những cá tính không lặp lại của mỗi nhà văn
1.3 Quan niệm của Nguyễn Quang Lập về truyện ngắn
Quan niệm nghệ thuật được hiểu là “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [19, tr.273] Như vậy, nói tới quan niệm nghệ
thuật là nói đến sự sáng tạo về chất trong cảm thụ và miêu tả đời sống
Quan niệm xét về bản chất “là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu, thể hiện tầm lí giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là tầm hiểu biết của chủ thể”[Dẫn theo 71] Như vậy,
giới hạn mà quan niệm nghệ thuật mang lại cho tư duy nghệ thuật ở từng nghệ sĩ sáng tạo thực thụ trở thành những nguyên tắc cắt nghĩa có tính cá nhân đối với thế giới và con người, quy định biên độ của tưởng tượng, hư cấu Hay nói cách khác, đây là quan niệm của một nhà văn về con người, là cách lí giải về thế giới
Trang 34và con người qua cái nhìn riêng của chủ thể sáng tạo Phải có quan niệm nghệ thuật mở rộng và không ngừng vươn tới giới hạn tối đa trong cách hiểu về thế giới và con người, nhà văn mới có khả năng chiếm lĩnh và phản ánh chiều sâu
phong phú của con người, của đời sống Bởi vì “quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống”[19, tr.275]
Quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người của mỗi nhà văn là cái mạch ngầm kết nối hệ thống các phương tiện, phương thức biểu hiện nghệ thuật trong tác phẩm của nhà văn ấy Qua đó thấy được sự năng động, sáng tạo của họ trong việc phản ánh hiện thực, lí giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật
và khả năng thâm nhập, chiếm lĩnh đời sống
Có thể nói, quan niệm nghệ thuật cũng chính là cánh cửa dẫn dắt người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của nhà văn Từ việc xem xét những biểu hiện cụ thể như hiện thực được phản ánh, chủ đề, nhân vật ta sẽ có một cái nhìn bao quát về chân dung tinh thần và chiều sâu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
Sau 1975, khi chiến tranh đã lùi về quá khứ, hòa bình trở lại trên đất nước
ta, nhưng cuộc sống không hề đơn giản xuôi chiều mà đa dạng, phức tạp hơn nhiều so với những năm tháng chiến tranh khốc liệt Đúng như lời nhận xét của
nhà văn Nguyễn Khải “Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh, giản
dị của nó Hòa bình yên tĩnh mà chứa chấp bao nhiêu sóng ngầm, bao nhiêu gió xoáy bên trong” Là tấm gương phản chiếu cuộc sống nên khi cuộc sống thay đổi
thì tất yếu văn học cũng thay đổi theo Bằng sự tinh tế, nhạy cảm nhiều nhà văn
đã nhanh chóng bắt nhịp với cuộc sống mới, con người mới thể hiện sâu sắc bức tranh đời sống vô cùng đa dạng, nhiều vẻ Trần Thùy Mai lặng lẽ đi sâu tìm hiểu những số phận cá nhân riêng lẻ, những khát vọng, những bi kịch nhân sinh từ
Trang 35góc quan sát khá hẹp, ấy là gia đình và tình yêu với những quan hệ rất đời thường Đọc truyện ngắn Lê Minh Khuê, người ta thấy tâm trạng xã hội qua các thời kỳ khác nhau Nối tiếp cảm hứng náo nức trong trẻo, đến những ước mơ hồn nhiên đến lạ kỳ thời chống Mỹ, chị bàng hoàng nhận ra cuộc sống sau chiến tranh làm mòn mỏi một thời Đó là bi kịch, là nỗi trăn trở thường xuyên của lương tâm trước sự sa sút của nhân tính, của lòng vị tha trước sự gia tăng của thói đạo đức giả, của cái ác Cũng như Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ cũng có cách tiếp cận rất nhạy bén với “cái đời thường” thời mở cửa song có phần riết róng hơn Chị khám phá con người ở góc độ đời tư trong khuôn gian hẹp với sự trăn trở về những bi kịch gia đình và xã hội trước sự sụp đổ giá trị đời sống Ở đó chị đã phát hiện thấy những con người ích kỷ, chạy theo hưởng thụ, lảng tránh trách nhiệm cá nhân mà không quan tâm đến đời sống gia đình Có thể nói, Nguyễn Thị Thu Huệ luôn thích đi sâu vào những cảnh đời bức bối ngột ngạt và đau đáu cùng nhân vật trong hành trình đi tìm sự bình yên và hạnh phúc của đời người Hồ Anh Thái lại rất quan tâm đến thực trạng xã hội xuống cấp của đạo đức, nhân cách của con người trong xã hội hiện đại Cái xã hội với nhiều người giàu lên nhanh chóng nhưng cũng sa sút về đạo đức nhanh chóng, vì thế
đã xảy ra bao nhiêu chuyện bi hài Như vậy, khi cái cao cả bị đẩy lùi, khi cuộc sống đặt ra vấn đề thân phận con người một cách nổi cộm nhất thì rất nhiều nhà văn đã khơi vào đó để phát hiện những bi kịch ở đời, mà chủ yếu do sự tác động của cuộc sống mới và dưới cái nhìn của mỗi nhà văn, hiện thực đời sống lại được cảm nhận, khám phá và phản ánh dưới nhiều góc độ và phương thức khác nhau
Sáng tạo trong cách nhìn hiện thực, Nguyễn Quang Lập đã hình thành một quan niệm nghệ thuật riêng biệt Nhà văn đã tạo ra một ngã rẽ, ông không đi vào những vấn đề thời sự mà cuộc sống đang đặt ra, cũng không viết về những khúc
Trang 36tráng ca kỳ vĩ, những hình tượng sáng ngời mang vẻ đẹp lí tưởng mà chiếm lĩnh hiện thực ở tầng sâu khi hướng vào những số phận cá nhân, những mất mát trong chiến tranh, những dằn vặt khao khát giữa đời thường bằng một cái nhìn nhân bản Bởi thế, hiện thực trong tác phẩm của ông không thể nhìn bằng con mắt thường mà phải cảm nhận bằng cả tâm hồn thông qua những bi kịch nội tâm Dẫu vẫn có sự đan cài giữa cái tầm thường và cao cả, sự ích kỷ và bao dung nhưng điều quan trọng là Nguyễn Quang Lập dùng hiện thực ấy để giúp con người có thêm cơ hội để cảm nhận cái đẹp, cái cao quý ở con người và hướng người ta tới niềm tin Bởi thế cho nên đọc văn Nguyễn Quang Lập, độc giả tuy thấy sự gồ ghề, hỗn tạp của đời sống với những bi kịch nhưng vẫn đầy những tin yêu
Bằng sự nhạy cảm, ngòi bút của Nguyễn Quang Lập hướng vào số phận bi kịch của con người, đặc biệt là những người mang trong mình nỗi đau của chiến tranh, đang trực tiếp gánh chịu những chứng tích mà chiến tranh để lại Nhà văn
đã không né tránh những mặt trái của chiến tranh, bởi chiến tranh không chỉ là những mất mát trong những năm tháng chiến đấu, những mất mát trên chiến trường, chiến hào mà còn là biết bao mất mát, đau thương dai dẳng ở cuộc sống thời bình Đó không chỉ là những mất mát cụ thể hữu hình mà còn là những mất mát về nhân tính Bởi vì từ mặt trái của nó chiến tranh không chỉ là môi trường rèn luyện, thử thách con người, nó cũng không chỉ là nơi để con người sống, phát
triển, trở thành những anh hùng như người Trung đoàn trưởng trong Tiếng kèn trom pet mà còn là nơi phát sinh, hình thành và nuôi dưỡng những thói phi nhân,
chiến tranh bào mòn, hủy hoại nhân tính con người như tay thủ trưởng binh trạm
trong Bốn mươi chín cây cơm nguội, chiến tranh cũng đã nhào nặn một con người người hồn nhiên, ngay thẳng như Ba Đoong trong Cây sến lửa trở thành
một con thú
Trang 37Nhưng nhà văn đặc biệt quan tâm đến những tổn thương sâu sắc trong tâm hồn, tình cảm của những người đã trực tiếp tham gia cuộc chiến Đó là nỗi buồn
của vợ chồng đại tá Chi trong Tiếng Lục lạc, họ đã cống hiến hơn nửa cuộc đời
cho cuộc chiến để rồi khi chiến tranh kết thúc họ trở về cuộc sống bình thường
với một tâm hồn không lành lặn khi sinh ra đứa con “dị dạng” mà nguyên nhân
chính là do chất độc màu da cam, hậu quả của chiến tranh để lại Hay đó còn là
bi kịch tình yêu và gia đình trong Hạnh phúc mong manh, nhà văn đã đặt nhân
vật vào những day dứt, giằng xé để buộc họ phải đấu tranh với chính mình, lựa
chọn cho mình hành vi đạo đức đúng đắn nhất Trong Tiếng kèn Trom pet, một
cô diễn viên múa xinh đẹp, đầy nhiệt huyết cũng như bao người nghệ sỹ thời ấy, chị tình nguyện dấn thân vào bom đạn để phục vụ chiến trường Nhưng không may chị bị bom tọa độ cưa đứt mất đôi chân, chị trở thành một người tàn phế, người yêu hi sinh nơi trận địa Về với cuộc sống thời bình nhưng chiến tranh vẫn không thôi ám ảnh chị, cả vết thương trên cơ thể và vết thương trong tâm hồn vẫn luôn nhức nhối Chiến tranh đã gây cho con người biết bao nỗi đau, họ cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình cho cuộc chiến để rồi trở về với vết thương cả
là nỗi đau thời hậu chiến thì Vọng trắng là nỗi đau trực tiếp trong chiến tranh
Trong một cuộc chiến, phụ nữ vẫn là người chịu nhiều đau khổ nhất, bởi nỗi đau
ở hậu phương nhiều khi còn lớn hơn nỗi đau ngoài mặt trận Cũng như Tiếng lục lạc, Vọng trắng đã làm xúc động lòng người, và chúng ta cũng đã thấy, ngỡ như
Trang 38niềm vui ở Tiếng lục lạc không thể cầm được trong tay, mà nỗi đau lại là có thật, tuy nó không trực tiếp được nói ra, Vọng trắng thì ngược lại, niềm vui đột ngột
trở về với họ, đó là giấc mơ có thật trong cuộc đời Có thể thấy, ngòi bút của tác giả đầy sâu lắng, cảm thông và chia xẻ thầm lặng qua sự mô tả diễn biến tâm lí của từng nhân vật trong truyện Truyện ngắn tiếp tục là một cách nhìn mới về
chiến tranh – kể từ tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng, tác giả không đi vào
những vấn đề thời sự nóng bỏng, không đi tìm những vùng hào quang chói lọi
mà đi tìm những góc khuất của cuộc đời Đó luôn là cái nhìn nhân bản trong
chiến tranh Như lời nhận xét của Hoàng Phủ Ngọc Tường “Nguyễn Quang Lập
đã không dừng ở thái độ của một người tố cáo chiến tranh, qua cách giãi bày của một người muốn nhìn thẳng sự thật, người ta vẫn cảm nhận được cái tâm của tác giả: đó là nỗi căm ghét cái ác, sự đòi hỏi về nhân phẩm và lòng khát khao hòa bình và hạnh phúc cuộc sống”[69]
Nhìn lại truyện ngắn hiện đại sau 1975, có thể thấy văn học luôn đi tìm mhững giá trị phổ quát trong bản chất người Nhà văn ít khi quan tâm đến khía cạnh giai cấp của nhân vật mà nhìn dưới góc độ nhân loại Nhà văn đã thoát khỏi cảm hứng ngợi ca thường thấy trước đây để đi vào khám phá thế giới bên trong của nhân vật nguyễn Quang Lập cũng vậy, có điều quan niệm nghệ thuật cũng
mang “dấu ấn sáng tạo cá tính của nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ”[59]
Vì thế, từ chính tác phẩm của ông, người đọc thấy toát lên một quan niệm nghệ thuật đầy tính khám phá Ông đã hướng ngòi bút của mình vào những bi kịch tinh thần để từ đó thể hiện giá trị nhân văn cao đẹp
Trang 39CHƯƠNG 2: CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN QUANG LẬP
2.1 Cốt truyện
2.1.1 Vài nét về cốt truyện Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì cốt truyện là “hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận
cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch”[19, tr.99] Cốt truyện có một tiến trình vận động, thường bao
gồm các thành phần: trình bày, khai đoạn (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút) Cốt truyện có hai chức năng nghệ thuật cơ bản: một mặt, cốt truyện là một phương diện tổ chức bộc lộ tính cách; mặt khác, cốt truyện còn là phương diện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội thông qua hệ thống sự kiện Đây cũng là cách hiểu cốt truyện theo tinh thần truyền thống
Giáo sư Trần Đình Sử trong giáo trình Dẫn luận thi pháp học, trên cơ sở
bao quát các cách tiếp cận của Thi pháp học hiện đại, đã đưa ra sự nhận thức sâu sắc về cốt truyện Tính quan niệm của cốt truyện văn học được nhấn mạnh, sự
phân biệt giữa “cốt truyện tự nhiên” và “cốt truyện nghệ thuật” đồng thời được
xem xét trong mối tương quan giữa chúng đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát về cốt truyện trong tính đầy đặn, nghệ thuật của nó
Đáng lưu ý là Lí thuyết chủ nghĩa hình thức Nga, đặc biệt là
B.Tomachevski đã luận giải sâu sắc về khái niệm cốt truyện Ông cho rằng “Cốt truyện không những đòi hỏi chỉ số thời gian, mà còn chỉ số nhân quả Mối quan
hệ nhân quả ấy càng thứ yếu bao nhiêu thì mối quan hệ thời gian càng quan
Trang 40trọng”[68] Và “Người ta có thể xem việc phát triển một cốt truyện như là sự chuyển từ một tình huống này sang một tình huống khác”[69] Ông chú thích:
“cũng áp dụng với truyện ngắn tâm lý, ở đây những nhân vật kế tiếp và các mối
quan hệ của họ được thay thế bằng chuyện nội tâm của riêng một nhân vật Nhưng mô-típ tâm lí trong các hành động của họ, những khía cạnh khác nhau của đời sống tinh thần, những bản năng, những ham mê của họ đóng vai trò
của các nhân vật thông thường”[68] Và khái niệm cốt truyện được xác định:
“Cốt truyện là tên gọi chỉ tổng thể các sự kiện liên quan nhau được thông báo trong tác phẩm ( ) Đối lập với cốt truyện là cốt truyện nghệ thuật, vẫn là các
sự kiện ấy, nhưng ở trong sự trình bày, trong trật tự mà chúng được thông báo trong tác phẩm, trong mối liên hệ mà chúng được cung cấp trong thông báo về chúng trong tác phẩm”[59]
Như vậy, dù theo cách hiểu truyền thống hay theo quan điểm Thi pháp học hiện đại thì sự kiện vẫn được xác định là đơn vị cơ bản của cốt truyện Tuy nhiên, thi pháp học hiện đại xem xét sự kiện trong hệ thống quan niệm, sự kiện
trong cốt truyện nghệ thuật là sự kiện mang quan niệm của nhà văn “một sự kiện trở thành sự kiện đối với nhà văn này nhưng không phải là sự kiện đối với nhà văn kia”[59] Cũng có nghĩa là ý nghĩa của sự kiện được xác lập trong một “môi