Điều dễ nhận thấy là người dân chưa có ý thức về bảo vệ môi trường, nên họ có hành động tuỳ tiện theo thói quen; đó là chăn nuôi gia súc thả rông, phân gia súc vương vãi xung quanh nhà v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MƯỜNG PHĂNG HUYỆN ĐIỆN BIÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MƯỜNG PHĂNG HUYỆN ĐIỆN BIÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đỗ Thị Lan Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2014
Trang 3rất nhiều của bản thân em, nhưng không thể thiếu sự giúp đỡ hỗ trợ của các thầy cô, bạn bè trong thời gian học tập
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS.TS.Đỗ Thị Lan đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, các thầy giáo, cô giáo và cán bộ trong trường, đã truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý bấu trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể anh chị chuyên viên phòng TN & MT huyện Điện Biên đã tạo mọi điều kiện để em được tiếp cận nhiều với kiến thức thực tế hơn trong suốt quá trình thực tập tại phòng
Em xin cảm ơn tới các bác, cô, chú, anh chị cán bộ UBND xã và nhân dân Mường Phăng đã tạo những điều kiện tốt nhất và giúp đỡ để em thực hiên
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Mùa A Kềnh
Trang 4Bảng 4.1 Vị trí nuôi, nhốt gia súc, vật nuôi của các hộ gia đình tại 22 thôn
bản người Thái 30
Bảng 4.2 Thể hiện hình thức chăn nuôi của các hộ gia đình người Mông 33
Bảng 4.3 Nguồn nước sử dụng ăn uống của các hộ gia đình 33
Bảng 4.4 Chất lượng nguồn nước ăn uống của các hộ gia đình 34
Bảng 4.5 Hệ thống nước thải của các hộ gia đình 37
Bảng 4.6 Hệ thống các nguồn tiếp nhận nước thải từ các hộ gia đình 38
Bảng 4.7 Hình thức đổ rác thải của các hộ gia đình 39
Bảng 4.8 Hệ thống nhà vệ sinh của hộ gia đình 40
Bảng 4.9 Số hộ gia đình sử dụng và không sử dụng các loại phân bón 41
Bảng 4.10 Số hộ gia đình sử dụng và không sử dụng các loại thuốc BVTV 42 Bảng 4.11 Kết quả điều tra sức khoẻ hộ gia đình 43
Bảng 4.12 Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường 45
Trang 5Hình 4.1 Bản đồ địa giới hành chính xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên 19 Hình 4.2 Một số hình ảnh đất làm nương rẫy trên địa bàn xã Mường Phăng 28 Hình 4.3.Nhốt trâu bò dưới gầm sàn 30 Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện vị trí nuôi, nhốt gia súc, vật nuôi của các hộ gia đình tại các bản người Thái 31 Hình 4.5 Buộc gia súc gần nhà ở 32 Hình 4.6 Thả rong vật nuôi, vật nuôi tự tiện thải phân ra đường xóm 32 Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện hình thức chăn nuôi của các hộ gia đình người Mông 33 Hình 4.9 Biểu đồ thể hiện chất lượng nguồn ăn uống của các hộ gia đình 35 Hình 4.10 Bể nước dùng chung được cấp nước theo mô hình nước tự chảy từ trên các khe, núi xuống 36 Hình 4.11 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hệ thống cống thải của các hộ gia đình 37 Hình 4.12 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nguồn tiếp nhận từ các hộ gia đình 38 Hình 4.13 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hình thức đổ rác của các hộ gia đình 39 Hình 4.14 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ về kiểu nhà vệ sinh của các hộ gia đình 40 Hình 4.15 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số hộ gia đình sử phân bón trong tổng số hộ gia đình không sử dụng phân bón 41 Hình 4.16 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số hộ gia đình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
và không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 42 Hình 4.17 Biểu đồ thể hiện một số loại bệnh thường gặp của các hộ gia đình 43Hình 4.18 Mô hình R-VAC trên đất dốc [15] 48
Trang 6khi đốt dùng trong đun nấu gia đình [14] 50 Hình 4.21 Mô hình lộc nước nấu ăn uống cho hộ gia đình mà nước bị đục sau khi mưa 52 Hình 4.22.Sơ đồ xử lý nước thải bằng bãi lộc ngầm và thực vật thuỷ sinh cho
hộ gia đình 54 Hình 4.23 Mô hình xử lý nước thải bằng bãi lọc ngầm và thực vật thuỷ sinh khoa MT – ĐH Nông lâm Thái Nguyên 55 Hình 4.24 Sơ đồ quy trình xử lý rác thải, phân gia súc vật nuôi làm phân bón compost 56 Hình 4.25 Mô hình nhà vệ sinh tự hoại 3 ngăn [8] 57 Hình 4.26 Cấu tạo, mô hình nhà tiếu 2 ngăn không dùng nước chỉ dụng tro [8] 58
Trang 7ĐDSH Đa dạng sinh học
FAO Tổ chức Lương thực Thực phẩm Thế giới
KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
PCCC Phòng cháy chữa cháy
R-VAC Rừng – Vườn ao chuồng
TN&MT Tài nguyên & Môi trường
Trang 8PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.2 Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên Thế giới và trong nước 5
2.2.1 Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên Thế giới 5
2.2.2 Tình hình hiện trạng về môi trường ở Việt Nam 11
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu 17
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 17
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 17
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 17
3.3 Nội dung nghiên cứu 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 18
3.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 18
3.4.3 Phương pháp quan sát đánh giá 18
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 18
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
Trang 94.1.1 Điều kiện tự nhiện 19
4.1.2 Điều kiện kinh tế -xã hội 22
4.2 Những thói quen của người dân trên địa bàn xã gâyảnh hưởng đến môi trường 27
4.2.1 Phát rừng làm nương rẫy ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và suy giảm tài nguyên rừng trên địa bàn 27
4.2.2 Thói quen thả rong, nhốt vật nuôi dưới gầm sàn gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, nguồn nước sinh hoạt 29
4.3 Hiện trạng môi trường trên địa bàn xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên 33
4.3.1 Vấn đề sử dụng nước sinh hoạt 33
4.3.2 Vấn đề nước thải 36
4.3.3 Vấn đề rác thải 39
4.3.4 Vệ sinh môi trường 40
4.3.5 Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và môi trường 41
4.3.6 Sức khoẻ và môi trường 43
4.3.7 Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường 44
4.4 Đánh giá chung, đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường 46
4.4.1 Đánh giá chung 46
4.4.2 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường 46
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nhìn chung nông thôn Việt Nam có cảnh quan thiên nhiên phong phú,
đa dạng, giàu giá trị văn hoá và môi trường trong lành Tuy nhiên, do đặc điểm khác nhau về điều kiện thiên nhiên, kinh tế - xã hội, cho nên các vùng nông thôn Việt Nam có nét đặc thù riêng và chất lượng môi trường có sự biến đổi khác nhau
Mường Phăng là xã thuộc vùng nông thôn miền núi của huyện Điện Biện tỉnh Điện Biên, do điều kiện cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, thiếu thốn và chủ yếu là dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng rất lớn của tập quán, thói quen lạc hậu đã tác động xấu tới môi trường sống Điều dễ nhận thấy là người dân chưa có ý thức về bảo vệ môi trường, nên họ có hành động tuỳ tiện theo thói quen; đó là chăn nuôi gia súc thả rông, phân gia súc vương vãi xung quanh nhà và đường đi, khi gặp nắng bốc mùi, gặp mưa bị rửa trôi làm ô nhiễm nguồn nước Hay tập quán nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn làm ô nhiễm môi trường sống của các thành viên trong gia đình Bên cạnh đó những hố xí tạm bợ của người dân được làm gần nhà bốc mùi hôi thối hoặc không có hố xí
đi đại tiện tự do trên đồi rừng khi gặp mưa bị rửa trôi làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt hoặc phát sinh ruồi muỗi gây bệnh tật
Ô nhiễm môi trường nông thôn nói chung và nông thôn miền núi nói riêng còn do người dân sử dụng các loại hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp (thuốc trừ sâu, trừ bệnh, thuốc trừ cỏ dại ) không đảm bảo an toàn;có tình trạng sau khi phun thuốc trừ sâu bệnh hoặc cỏ dại, người nông dân rửa bình bơm và đổ thuốc thừa ở bất cứ nơi nào mà không chú ý đảm bảo an toàn tới nguồn nước; bao bì, chai lọ chứa hoá chất độc hại được người dân vứt bỏ quanh nhà, quanh mương máng hoặc trên nương rẫy Điều đó đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nước sinh hoạt hàng ngày và là tiền đề phát sinh các loại bệnh tật mà người nông dân không thể nhận thấy ngay được
Ngoài ra, tại các vùng nông thôn miền núi trên địa bàn xã Mường Phăng, các loại rác thải chưa được thu gom và người dân tự do vứt các loại
Trang 11rác thải (túi nilông, xác động vật nuôi bị chết, các đồ dùng phế thải của gia đình…) ra môi trường xung quanh, cộng với phân gia súc, gia cầm vương vãi càng làm cho môi trường sống thêm ô nhiễm Mặt khác, làm nông nghiệp không chỉ dựa vào mấy loại cây trồng như lúa, ngô, đậu tương mà phải chăn nuôi để tăng nguồn thu nhập và lấy phân bón cho cây trồng Điều đó dĩ nhiên người dân phải tiếp xúc trực tiếp với phân gia súc, gia cầm Nếu không có biện pháp nuôi nhốt, thu gom và sử lý các nguồn phân gia súc hợp lý và khoa học thì vấn đề ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn miền núi trên địa bàn xã Mường Phăng hiện nay ngày càng chở nên nghiêm trọng hơn
Xuất phát từ vấn đề đó, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường ban chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo PGS.TS.Đỗ Thị Lan, em tiến hành
thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn và đề xuất giải
pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên”
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Phỏng vấn đại diện các tầng lớp, các lứa tuổi làm việc ở các ngành nghề khác nhau
- Thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại
xã Mường Phăng
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực
- Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi; bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc đánh giá
Trang 12- Các kiến nghị được đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương và
có tính khả thi cao
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Kết quả của chuyên đề sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của người dân về việc bảo vệ môi trường
+ Xác định hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên
+ Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho khu vực nông thôn thuộc tỉnh Điện Biên nói chung
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
- Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,
thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã Nông thôn là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Nông thôn có cơ cấu hạ tầng , trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Luật bảo vệ môi trường, 2005) [11]
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong
lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo
vệ đa dạng sinh học [11]
- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế
hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường [11]
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường
không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật [11]
- “Nâng cao chất lượng môi trường là mục đích chủ yếu của công tác BVMT Chất lượng môi trường phản ánh mức độ phù hợp của môi trường đối với sự tồn tại, phồn vinh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của nhân loại ở những năm 60 cùng với sự xuất hiện vấn đề chất lượng môi trường cũng ngày càng được quan tâm Người ta dần dần định mức độ tốt xấu của môi trường,
để biểu thị mức độ môi trường bị ô nhiễm” (Lê Văn Khoa và cs, 2003) [6]
Trang 142.2 Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên Thế giới và trong nước
2.2.1 Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên Thế giới
a) Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng
Vào cuối những năm 1990, mức phát tán dioxit cacbon (CO2) hàng năm xấp xỉ bằng 4 lần mức phát tán năm 1950 và hàm lượng CO2 đã đạt đến mức cao nhất trong những năm gần đây Theo đánh giá của Ban Liên Chính Phủ về biến đổi khí hậu thì có bằng chứng cho thấy về ảnh hưởng rất rõ rệt của con người đến khí hậu Toàn cầu Những kết quả dự báo gồm việc dịch chuyển của các đới khí hậu, những thay đổi trong thành phần loài và năng suất của các HST, sự gia tăng các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và những tác động đến sức khoẻ con người Các nhà khoa học cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên khoảng 0,50C và trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,5 - 4,50C so với nhiệt độ ở thế kỷ XX Trái Đất nóng lên có thể mang tới những bất lợi đó là:
- Mực nước biển có thể dâng lên cao từ 25 đến 140cm, do sự tan băng
và sẽ nhấn chìm một vùng ven biển rộng lớn, làm đất mất đi nhiều vùng sản xuất nông nghiệp, dẫn đến nghèo đói, đặc biệt ở các nước đang phát triển
- Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, động đất, phun trào núi lửa, hoả hoạn và lũ lụt Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự sống của loài người một cách trực tiếp và gây ra những thiệt hại về
kinh tế mà còn gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng khác (Nguồn:
Liên Hợp Quốc, 2000, GEO – 2000)[9]
b) Sự suy giảm tầng Ôzôn (O 3 )
Vấn đề gìn giữ tầng Ôzôn có vai trò sống còn đối với nhân loại Tầng Ôzôn có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia cực tím có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con người và các loài sinh vật trên trái đất Bức xạ tia cực tím có nhiều tác động, hầu hết mang tính chất phá huỷ đối với con người, động vật
và thực vật cũng như các loại vật liệu khác, khi tầng Ôzôn tiếp tục bị suy thoái, các tác động này càng trở nên tồi tệ Ví dụ, mức cạn kiệt tầng Ôzôn là
Trang 1510% thì mức bức xạ tia cực tím ở các bước sóng gây phá huỷ tăng 20% Bức
xạ tia cực tím có thể gây huỷ hoại mắt, làm đục thuỷ tinh thể và phá hoại võng mạc, gây ung thư da, làm tăng các bệnh về đường hô hấp Đồng thời, bức xạ tia cực tím tăng lên được coi là nguyên nhân làm suy yếu các hệ miễn dịch của con người và động vật, đe doạ tới đời sống của động và thực vật nổi trong môi trường nước sống nhờ quá trình chuyển hoá năng lượng qua quang hợp để tạo ra thức ăn trong môi trường thuỷ sinh [9]
Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí nằm trong tầng bình lưu khí quyển gần bề mặt Trái Đất và tập trung thành một lớp dày ở độ cao từ 16 - 40
km phụ thuộc vào vĩ độ Việc giao thông đường bộ do các phương tiện có động cơ thải ra khoảng 30 - 50% lượng NOx ở các nước phát triển và nhiều chất hữu cơ bay hơi (VOC) tạo ra Ôzôn mặt đất Nếu không khí có nồng độ Ôzôn lớn hơn nồng độ tự nhiên thì môi trường bị ô nhiễm và gây tác hại đối với sức khoẻ con người [9]
Ví dụ:Nồng độ Ôzôn = 0,2ppm: Không gây bệnh
c) Tài nguyên bị suy thoái
Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc Sa mạc Sa - ha - ra có diện tích rộng 8 triệu km2, mỗi năm bành trướng thêm từ 5 - 7km2 Một bằng chứng mới cho thấy, sự biến đổi khí hậu cũng là nguyên nhân gây thêm tình trạng xói mòn đất ở nhiều khu vực Gần đây, 250 nhà Thổ nhưỡng học được Trung
Trang 16tâm Thông tin và Tư vấn Quốc tế Hà Lan tham khảo lấy ý kiến đã cho rằng, khoảng 305 triệu ha đất màu mỡ (gần bằng diện tích của Tây Âu) đã bị suy thoái do bàn tay của con người, làm mất đi tính năng sản xuất nông nghiệp Khoảng 910 triệu ha đất tốt (tương đương với diện tích nước Úc) sẽ bị suy thoái ở mức trung bình, giảm tính năng sản xuất và nếu không có biện pháp cải tạo thì quỹ đất này sẽ bị suy thoái ở mức độ mạnh trong tương lai gần Theo Tổ chức Lương thực Thực phẩm Thế giới (FAO) thì trong vòng 20 năm tới, hơn 140 triệu ha đất (tương đương với diện tích của Alaska) sẽ bị mất đi giá trị trồng trọt và chăn nuôi Đất đai ở hơn 100 nước trên thế giới đang chuyển chậm sang dạng hoang mạc, có nghĩa là 900 triệu người đang bị đe doạ Trên phạm vi Toàn cầu, khoảng 25 tỷ tấn đất đang bị cuốn trôi hàng năm vào các sông ngòi và biển cả Theo tài liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, diện tích đất canh tác bình quân đầu người trên thế giới năm 1983 là 0,31ha/người thì đến năm 1993 chỉ còn 0,26 ha/người và còn tiếp tục giảm trong tương lai [9]
- Sự phá huỷ rừng vẫn đang diễn ra với mức độ cao, trên thế giới diện tích rừng có khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay diện tích này đã bị mất
đi một nửa, trong số đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rừng nhiệt đới chiếm 2/3 Sự phá huỷ rừng xảy ra mạnh, đặc biệt ở những nước đang phát triển Chủ yếu do nhu cầu khai thác gỗ củi và nhu cầu lấy đất làm nông nghiệp và cho nhiều mục đích khác, gần 65 triệu ha rừng bị mất vào những năm 1990 - 1995 [9]
- Với tổng lượng nước là 1386.106 km3, bao phủ gần 3/4 diện tích bề mặt Trái Đất, và như vậy Trái Đất của chúng ta có thể gọi là "Trái Nước", nhưng loài người vẫn "khát" giữa đại dương mênh mông, bởi vì với tổng lượng nước đó thì nước ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước, mà hầu hết tồn tại ở dạng đóng băng và tập trung ở hai cực (chiếm 2,24%), còn lượng nước ngọt mà con người có thể tiếp cận để sử dụng trực tiếp thì lại càng ít ỏi (chỉ chiếm 0,26%) Sự gia tăng dân số nhanh cùng với quá trình công nghiệp hoá,
đô thị hoá, thâm canh nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nước trên phạm vi Toàn cầu Gần 20% dân số Thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh an
Trang 17toàn Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng hơn và gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước ở nhiều nơi và đối với các khu vực ven biển đó là sự xâm nhập mặn Ô nhiễm nước uống là phổ biến ở các siêu đô thị, ô nhiễm nitrat (NO3 -) và sự tăng khối lượng các kim loại nặng gây tác động đến chất lượng nước hầu như ở khắp mọi nơi Nguồn cung cấp nước sạch trên thế giới không thể tăng lên được nữa ngày càng có nhiều người phụ thuộc vào nguồn cung cấp cố định này và ngày càng có nhiều người bị ô nhiễm hơn Mất đất, mất rừng, cạn kiệt nguồn nước làm cho hàng chục triệu người buộc phải di cư, tị nạn môi trường, gây xuống cấp các điều kiện sức khoẻ, nhà ở, môi trường Có khoảng 1 tỷ người không có đủ chỗ để che thân
và hàng chục triệu người khác phải sống trên các hè phố Thật không thể tin được rằng, Thế giới ngày nay cứ mỗi năm có 20 triệu người dân chết vì nguyên nhân môi trường, trong khi đó, số người chế trong các cuộc xung đột
vũ trang của hơn nửa thế kỷ tính từ sau năm 1945 tới nay cũng chỉ là 20 triệu người Bài toán tăng 75% lượng lương thực từ nay tới năm 2030 do FAO đề
ra là bài toán khó vẫn chưa có lời giải vì dân số liên tục gia tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp không tăng mà còn có xu hướng giảm, độ màu mỡ của đất ngày càng suy giảm [9]
d) Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng
Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thải vào đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngày càng rộng, đặc biệt là các khu đô thị Nhiều vấn đề môi trường tác động tương tác với nhau ở các khu vực nhỏ, mật độ dân số cao Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về môi trường Khoảng 30 - 60% dân số đô thị
ở các nước có thu nhập thấp vẫn còn thiếu nhà ở và các điều kiện vệ sinh Sự tăng nhanh dân số Thế giới có phần đóng góp do sự phát triển đô thị Bước sang thế kỷ XX, dân số Thế giới chủ yếu sống ở nông thôn, số người sống tại các đô thị chiếm 1/7 dân số Thế giới Nhưng đến cuối thế kỷ XX, dân số sống
ở đô thị đã tăng lên nhiều và chiếm tới 1/2 dân số Thế giới Ở nhiều quốc gia đang phát triển, đô thị phát triển nhanh hơn mức tăng dân số Châu Phi là
Trang 18vùng có mức độ đô thị hoá kém nhất, nay đã có mức đô thị hoá tăng hơn 4%/năm so với mức tăng dân số là 3%, số đô thị lớn ngày càng tăng hơn [9]
Hiện nay, trên thế giới, nhiều vùng đất đã được xác định là bị ô nhiễm
Ví dụ, ở Anh đã chính thức xác nhận 300 vùng với diện tích 10.000 ha bị ô nhiễm, tuy nhiên trên thực tế có tới 50.000 - 100.000 vùng với diện tích khoảng 100.000ha (Bridges, 1991) Còn ở Mỹ có khoảng 25.000 vùng, ở Hà Lan là 6.000 vùng đất bị ô nhiễm cần phải xử lý [9]
Con người là chủ của Trái Đất, là động lực chính làm tăng thêm giá trị của các điều kiện kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, xung lượng gia tăng dân số hiện nay ở một số nước đi đôi với đói nghèo, suy thoái môi trường và tình hình kinh tế bất lợi đã gây ra xu hướng làm mất cân bằng nghiêm trọng giữa dân số và môi trường [9]
Đầu thế kỷ XIX, dân số Thế giới mới có 1 tỷ người nhưng đến năm
1927 tăng lên 2 tỷ người năm 1960: 3 tỷ năm 1974: 4 tỷ năm 1987: 5 tỷ và năm 1999 là 6 tỷ người, trong đó trên 1 tỷ người trong độ tuổi từ 15 - 24 tuổi Mỗi năm dân số Thế giới tăng thêm khoảng 78 triệu người Theo dự tính đến năm 2015, dân số Thế giới sẽ ở mức từ 6,9 - 7,4 tỷ người và đến 2025 dân số
sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người 95% dân số tăng thêm nằm
ở các nước đang phát triển do đó các nước này sẽ phải đối mặt với những vấn
đề nghiêm trọng cả về kinh tế, xã hội đặc biệt là môi trường, sinh thái Việc giải quyết những hậu quả do dân số tăng của những nước này có lẽ còn khó khăn hơn gấp nhiều lần những xung đột về chính trị trên thế giới [9]
f) Sự suy giảm tính đa dạng sinh học (ĐDSH) trên trái đất
Các loài động và thực vật qua quá trình tiến hoá trên trái đất hàng trăm triệu năm đã và đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng môi trường sống trên trái đất, ổn định khí hậu, làm sạch các nguồn nước, hạn chế xói mòn đất, làm tăng độ phì nhiêu đất Sự đa dạng của tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp, dược phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người, và là nguồn gen phong phú để tạo ra
Trang 19các giống loài mới ĐDSH được chia thành 3 dạng: Đa dạng di truyền đa dạng loài và đa dạng sinh thái [9]
- Đa dạng di truyền: Vật liệu di truyền của vi sinh vật, thực vật và động vật chứa đựng nhiều thông tin xác định các tính chất của tất cả các loài và các
cá thể tạo nên sự đa dạng của Thế giới hữu sinh Theo định nghĩa, thì những
cá thể cùng loài có những đặc điểm giống nhau, những biến đổi di truyền lại xác định những đặc điểm riêng biệt của những cá thể trong cùng loài
- Đa dạng loài: Được thể hiện đối với từng khu vực, đa dạng loài được tính bằng số lượng loài và những đơn vị dưới loài trong 1 vùng [9]
- Đa dạng HST: Sự phong phú về môi trường trên cạn và môi trường dưới nước của Trái Đất đã tạo nên một số lượng lớn HST Những sinh cảnh rộng lớn bao gồm rừng mưa nhiệt đới, đồng cỏ, đất ngập nước, san hô và rừng ngập mặn chứa đựng nhiều HST khác nhau và cũng rất giàu có về ĐDSH Những HST riêng biệt chứa đựng các loài đặc hữu cũng góp phần quan trọng cho ĐDSH Toàn cầu Các sinh cảnh giàu có nhất của Thế giới là rừng ẩm nhiệt đới, mặc dù chúng chỉ chiếm 70% tổng diện tích của bề mặt Trái Đất, nhưng chúng chiếm ít nhất 50%, thậm chí đến 90% số loài của động và thực vật [9]
Sự đa dạng về các giống loài động thực vật trên hành tinh có vị trí vô cùng quan trọng Việc bảo vệ ĐDSH còn có ý nghĩa đạo đức, thẩm mỹ và loài người phải có trách nhiệm tuyệt đối về mặt luân lý trong cộng đồng sinh vật sống ĐDSH lại là nguồn tài nguyên nuôi sống con người [9]
Nguyên nhân chính của sự mất ĐDSH là:
- Mất nơi sinh sống do chặt phá rừng và phát triển kinh tế
- Săn bắt quá mức để buôn bán
- Ô nhiễm đất, nước và không khí
- Việc du nhập nhiều loài ngoại lai cũng là nguyên nhân gây mất ĐDSH
Hậu quả của quá trình này không dễ khắc phục, không chỉ gây tổn thất
về giá trị ĐDSH, mà còn gây tổn thất không nhỏ về kinh tế
Trang 20Hầu hết các loài bị đe doạ đều là các loài trên mặt đất và trên một nửa sống trong rừng Các nơi cư trú nước ngọt và nước biển, đặc biển là các dải san hô là những môi trường sống rất dễ bị thương tổn
2.2.2 Tình hình hiện trạng về môi trường ở Việt Nam
a) Rừng tiếp tục bị thu hẹp
Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích
tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%), đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%) Độ che phủ của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh (Nguồn: Hiện trạng môi trường Việt Nam và những lời báo động, 2013)[13]
Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá để sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới trồng bù được hơn 700 ha
b) Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao nhất thế giới Với các điều tra đã công bố, Việt Nam
có 21.000 loài động vật, 16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu, quý hiếm Tổ chức vi sinh vật học châu Á thừa nhận Việt Nam có không ít loài vi sinh vật mới đối với thế giới [13]
Thế nhưng, trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong Và, mặc dù có vẻ nghịch lý nhưng có một thực tế là các trang trại gây nuôi động vật hoang dã như nuôi những loài rắn, rùa, cá sấu, khỉ và các loài quý hiếm khác vì mục đích thương mại ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á lại không hề làm giảm bớt tình trạng săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, mà thậm chí còn làm cho vấn
đề trở nên tồi tệ hơn bởi những trang trại này đã liên quan tới các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã [13]
Trang 21Tiến sĩ Elizabeth L Bennett, Giám đốc Chương trình Giám sát nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã của Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã,
cho biết: “Thay vì hoạt động nhằm mục đích bảo tồn, các trang trại gây nuôi
động vật hoang dã lại vì mục đích thương mại nên trên thực tế trở thành mối
đe dọa với các loài động vật hoang dã trong tự nhiên Các phân tích từ những
báo cáo cho thấy tác động tiêu cực của các trang trại này lớn hơn rất nhiều
so với những ích lợi mà chúng có thể đem lại” Thậm chí, những trang trại
gây nuôi các loài sinh trưởng nhanh với tỷ lệ sinh sản cao cũng tác động tiêu cực đến công tác bảo tồn vì những trang trại này liên tục nhập khẩu các loài động vật có nguồn gốc tự nhiên [13]
Hơn 100 loài sinh vật ngoại lai đang hiện diện tại nước ta cũng là mối nguy lớn cho môi trường sinh thái, như: ốc bươu vàng, cây mai dương, bọ cánh cứng hại dừa, đặc biệt là việc nhập khẩu 40 tấn rùa tai đỏ - một loài đã được quốc tế cảnh báo là một trong những loài xâm hại nguy hiểm [13]
c) Ô nhiễm sông ngòi
Với những dòng sông ở các thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề là điều dễ dàng nhận thấy qua thực tế, cũng như qua sự phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, sông ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống [13]
Các dòng sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề nhất là: sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống sông Tiền và sông Hậu ở Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long Những con sông này đã trở nên độc hại, làm hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống, sức khoẻ của cộng đồng [13]
d) Bãi rác công nghệ và chất thải
Hiện các doanh nghiệp ở Việt Nam là chủ sở hữu của hơn một nghìn con tàu biển trọng tải lớn, cũ nát Hầu hết các cảng biển trên thế giới đều không cho phép loại tàu này vào, vì nó quá cũ gây ô nhiễm môi trường lại không bảo đảm an toàn hàng hải Thế nhưng, hơn một nghìn con tàu cũ nát đó
Trang 22vẫn đang được neo vật vờ ở các tuyến sông, cửa biển để chờ được “hóa kiếp” thành phế liệu mà việc phá dỡ loại tàu biển cũ này sẽ thải ra rác thải nguy hại làm ô nhiễm môi trường sống [13]
Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải Bài học
“xương máu” này đã từng xảy ra với ngành sản xuất xi măng, song vẫn có khả năng lặp lại nếu những dây chuyền luyện gang, thép bị loại bỏ ở Trung Quốc được đưa về lắp đặt ở Việt Nam [13]
e) Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp
Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao Trong đó, lo ngại nhất là chất thải từ chăn nuôi Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%), với tổng đàn gia súc 37,8 triệu con và trên 214 triệu con gia cầm Theo tính toán của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), lượng phân thải của bò khoảng 10 - 15 kg/con/ngày, trâu là
15 - 20 kg/con/ngày, lợn là 2,5 - 3,5 kg/con/ngày và gia cầm là 90 gr/con/ngày Như vậy, tính ra tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi của nước ta hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm [13]
Nuôi trồng thủy sản cũng đang gặp phải vấn đề tương tự Việc đẩy mạnh các biện pháp thâm canh, tăng năng suất tại các vùng nuôi tôm tập trung, trong đó chủ yếu là tôm sú đã làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước Cùng với đó, tình trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt một cách tràn lan, không có kiểm soát đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước Hiện nay, lượng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng, quá hạn sử dụng còn tồn đọng cần tiêu hủy là hơn 700 kg (dạng rắn) và hơn 3.400 lít (dạng lỏng) [13]
Kết quả điều tra năm 2006 cho thấy, khu vực nông thôn thải ra khoảng
10 triệu tấn/năm chất thải rắn sinh hoạt, nhưng đến năm 2010 tăng lên tới 13,5
Trang 23triệu tấn/năm Số rác thải này cộng với lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp đã khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên đáng lo ngại [13]
Ở nước ta, hàng năm sản xuất hàng triệu tấn phân lân từ các nhà máy lớn (Supephotphat Lâm Thao, Long Thành, Đồng Nai, Văn Điển và Ninh Bình) Dự báo đến năm 2015, lượng phân bón sử dụng ở nước ta sẽ trên 3,5 triệu tấn (Trần Văn Hiến, 2011, Viện lúa ĐBSCL) [5]
Trong nguyên liệu sản xuất phân lân có chứa 3% Flo Khoảng 50 - 60% lượng Flo này nằm lại trong phân bón Khi bón nhiều phân lân sẽ làm tăng hàm lượng Flo trong đất và sẽ làm ô nhiễm đất khi hàm lượng của nó đạt tới
10 mg/1kg đất [5]
Trong các chất thải của nhà máy sản xuất phân lân có chứa 96,9% các chất gây ô nhiễm mà chủ yếu là Flo Flo trong đất sẽ được tích lũy bởi thực vật, Flo gây độc cho người và gia súc, kìm hãm hoạt động của một số enzyme, ngăn quá trình quang hợp và tổng hợp protein ở thực vật [5]
Khi bón đạm cho cây trồng, cây chỉ sử dụng được 40 - 60%, phần còn lại nằm trong đất và gây ô nhiễm đất Các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng thường nói đến ảnh hưởng xấu của hàm lượng nitrat quá cao trong nông sản có thể gây ung thư [5]
Việc bón thúc đạm sẽ làm cho hàm lượng nitrat tích lũy trên mặt đất và làm giảm chất lượng nước Khi bón đạm cho cây trồng từ phân khoáng và phân hữu cơ thì sẽ có một lượng khí thải đưa vào không khí Trước hết là khí
NH3 làm ô nhiễm môi trường không khí, ngoài ra còn khí NO2 làm ảnh hưởng đến tầng ôzôn, thường số lượng khí N2O sản sinh ra từ phân bón là 15%.[5]
Khi trong sản phẩm có chứa nhiều đạm, nhất là không cân đối thì đạm
sẽ chuyển từ NH4-sang NO3- Đặc biệt hàm lượng NO3- tồn dư trong các loại rau rất cao, nguyên nhân là do sử dụng không hợp lý liều lượng và tỷ lệ phân đạm vô cơ và hữu cơ bón cho cây, phương thức bón không đúng do chạy theo lợi nhuận, bón thúc trễ, sát với thời điểm thu hoạch, sử dụng nguồn nước tưới
có hàm lượng NO3- rửa trôi cao [5]
Trang 24f) Ô nhiễm ở các làng nghề
Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất [13]
Ở các làng tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý đã thải trực tiếp vào không khí như ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nồng độ chì vượt quá 2.600 lần tiêu chuẩn cho phép Nghề thuộc da, làm miến dong ở
Hà Tây cũng thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho nước nhanh bị hôi thối, ô nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề [13]
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnh liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72% Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4% Còn tại làng nghề sản xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8%.[13]
g) Khai thác khoáng sản
Cùng với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu, nguồn tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất của nước ta đã bị khai thác khá mạnh Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009 - 2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1 - 2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung Quốc, nhưng chỉ mang lại giá trị 130 - 230 triệu USD Riêng năm
2012, lượng khoáng sản xuất khẩu vẫn gần 800.000 tấn thông qua đường chính ngạch Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng xuất khẩu còn lớn hơn nữa (vào năm 2008, chỉ riêng xuất lậu quặng ti-tan ước tính đã lên đến 200.000 tấn) [13]
Và hậu quả của ô nhiễm môi trường từ những hoạt động khai thác khoáng sản đã quá rõ ràng Qua điều tra, cứ 4.000 người dân Quảng Ninh có
Trang 252.500 người mắc bệnh, chủ yếu là mắc bệnh bụi phổi, hen phế quản, tai mũi họng (80%) Kết quả quan trắc của các cơ quan chuyên môn cho thấy nồng
độ bụi ở khu vực Cẩm Phả vượt từ 3 - 4 lần tiêu chuẩn cho phép, gần 0,3 mg/m3 trong 24 giờ (gồm bụi lơ lửng, bụi Pb, Hg, SiO2, khí thải CO, CO2,
NO2) Mỏ Đèo Nai phải xử lý lượng đổ thải chất cao thành núi trong mấy chục năm qua Mỏ Cọc Sáu với biển nước thải sâu 200m chứa 5 triệu m3có nồng độ a-xít cao và độ pH 4 - 4,5mgđl/l sẽ phải tìm công nghệ phù hợp để
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng môi trường nông thôn trên địa bàn xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên
Một số hoạt động tác động đến môi trường nông thôn
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng môi trường nông thôn trền địa bàn xã Mường Phăng huyện Điện Biên
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Tại Xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian: từ 15 tháng 01 năm 2014 đến 30 tháng 04 năm 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên
- Những thói quen ảnh hưởng xấu đến môi trường của các dân tộc thiểu số + Phát rừng làm nương rẫy ảnh hưởng đến chất lượng môi trường đất, suy giảm tài nguyên rừng trên địa bàn
+ Thói quen thả rong, nhốt vật nuôi dưới gầm sàn gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, nguồn nước sinh hoạt
- Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên về các vấn đề:
+ Nước sinh hoạt
+ Nước thải
+ Vệ sinh môi trường
+ Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và môi trường
+ Sức khoẻ và môi trường
+ Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường
Trang 27- Đánh giá chung, đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Thu thập các số liệu, tài liệu, văn bản pháp luật, có liên quan đến hiện trạng môi trường và bảo vệ môi trường
Thu thập các tài liệu thứ cấp của UBND xã Mường Phăng và Phòng tài nguyên và môi trường huyện Điện Biên
Thu thập các tài liệu có liện quan đến thực địa, sách báo, …
3.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Nội dung điều tra, phỏng vấn: Điều tra phỏng vấn người dân về tình hình hiện trang môi trường, chất lượng đời sống của nhân dân
Đối tượng phỏng vấn: Hộ gia đình và cá nhân
Cách lấy phiếu: Mỗi thôn bản đại diện 5 phiếu, phỏng vấn 26/26 thôn bản
Hình thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp bằng các câu hỏi trong phiếu điều tra
3.4.3 Phương pháp quan sát đánh giá
Đối tượng quan sát: Hiện trang cảnh quan những khu vực nông thôn có nhiều bức xúc về môi trường trên địa bàn xã
Phương thức quan sát: Quan sát trực tiếp, chụp hình kết hợp tham vấn ý kiến cộng đồng tại khu vực quan sát
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu thu thập được được tổng hợp trên phần mền Excel
Trang 28PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên
4.1.1 Điều kiện tự nhiện
Có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc – Tây Bắc
giáp:Xã Nà Tấu và Nà Nhạn huyện
Điện Biên
- Phía Nam – Đông Nam
giáp: Xã Pu Nhi huyện Điện Biên
Đông
- Phía Đông giáp: Xã Ẳng
Cang và xã Ẳng Nưa, huyện
Mường Ảng
- Phía Tây – Tây Nam giáp:
Xã Pá Khoang huyện Điện Biên Hình 4.1 Bản đồ địa giới hành chính
xã Mường Phăng huyện Điện Biên
tỉnh Điện Biên
4.1.1.2 Đặc điểm địa thế, địa hình
Địa hình xã Mường Phăng có độ cao từ 880 m đến 1.635 m so với mặt nước biển có 2 kiểu địa hình chính sau:
+ Kiểu địa hình núi trung bình: Đây là kiểu địa hình đặc trưng của xã gồm tòan bộ hệ thống núi đất có độ cao từ 880 m đến 1.635 m
Trang 29+ Kiểu địa hình thung lũng: Nằm xen với các dãy núi thuộc khu vực hồ
Pá Khoang tuy nhiên kiểu địa hình này diện tích không lớn
Địa thế: Gồm những dãy núi cao tiếp giáp với huyện Điện Biên Đông
và huyện Mường Ẳng có độ dốc từ 300
- 350 Những dãy núi này đã làm cho Mường Phăng thành thung lũng hẹp, thấp dần về phía Đông Bắc
4.1.1.3 Thời tiết, khí hậu
Xã Mường Phăng nằm trong vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm được chia làm hai mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 thời tiết mùa này nóng ẩm mưa nhiều + Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Mùa này thường lạnh và khô hanh lượng mưa ít, lạnh nhất vào tháng 12 và tháng 1 năm sau
+ Nhiệt độ bình quân trong năm 21,80c
+ Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 36,30c
+ Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 30c
+ Lượng mưa trung bình/năm từ 1.600 mm - 2.000mm
+ Lượng mưa thấp nhất khoảng 20 - 30 mm/tháng phân bố vào tháng 1
4.1.1.4 Thuỷ văn
Hệ thống thủy văn trên địa bàn xã gồm hệ thống suối sau:
Suối Nậm Phăng: Đây là suối chính chạy dọc xã bắt nguồn từ 2 khu vực: suối Lọng Luông và khu vực bản Nghịu rồi đổ vào hồ Pá Khoang tại bản Đông Mệt Nguồn nước được cung cấp từ nhiều các khe nhỏ khác nhau chủ yếu phục vụ sản xuất
Trang 30Suối Nậm Điếng: bắt nguồn từ đỉnh núi cao tiếp giáp với huyện Điện Biên Đông, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, qua địa phận bản Tân Bình, bản Khá rồi hợp với khe Phiêng Ma Lông đổ vào suối Nậm Phăng Ngoài cung cấp nước cho sản xuất, còn cung cấp nước sinh hoạt cho các bản: Tân Bình, bản Khá
Ngoài ra trên địa bàn xã còn nhiều khe suối khác như: Khe Tạc Điêng, khe Lọng Nghịu, khe Phiêng Ma Lông cung cấp nguồn nước cho hồ Pá Khoang để điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất trên cánh đồng Mường Thanh và sinh hoạt sản xuất người dân trong xã đồng thời còn là nguồn cung cấp nước cho các công trình thủy điện, tạo cảnh quan để phát triển du lịch sinh thái
(Nguồn:Báo cáo quy hoạch nông thôn mới xã Mường Phăng năm 2013)
- Nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi trung bình: Phân bố ở độ cao từ
950 m đến 1.600 m so với mặt nước biển, độ dốc bình quân > 250 Đá mẹ chủ yếu là nhóm đá macma axit và đá biến chất, có thành phần cơ giới trung bình hàm lượng mùn tương đối dày
- Nhóm đất thung lũng (do quá trình bồi tụ): Phân bố tập trung chủ yếu
ở ven suối, vùng đồi, thung lũng, có độ cao dưới 950 m so với mặt nước biển,
có độ dốc nhỏ Dạng đất này có tầng đất từ trung bình đến dày, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến cát pha, đất tơi xốp
Trang 31- Ngoài ra còn một số loại đất như: Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét (Fs), đất mùn vàng nhạt phát triển trên đá cát (Hq), đất mùn đỏ vàng trên đá sét Tuy nhiên những loại đất này chiếm tỷ lệ không lớn và phân bố chủ yếu ở những đỉnh núi cao thuộc khu vực giáp ranh với huyện Điện Biên Đông;
(Nguồn:Báo cáo quy hoạch nông thôn mới xã Mường Phăng năm 2013)
4.1.2 Điều kiện kinh tế -xã hội
4.1.2.1 Điều kiện kinh tế
a) Sản xuất Nông nghiệp
Theo số liệu “Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh 6 tháng đầu năm; mục tiêu nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu 6 tháng cuối năm 2013” đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Mường Phăng được tóm tắt qua những nét chính sau đây:
- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng nông nghiệp đạt: 988,19 ha, đạt
96,20 % kế hoạch, đạt 96,20% Nghị quyết kỳ họp thứ 6 HĐND xã giao Diện tích cây lượng thực đạt: 323 ha Tổng sản lượng lương thực đạt 2.160,44 tấn, vượt 9,52% so với kế hoạch huyện giao Các cây trồng chủ yếu gồm:
+ Lúa chiêm xuân: 165 ha, năng suất 65,5 tạ/ha, sản lượng 1080,75 tấn, vượt 14,5% so với kế hoạch huyện giao
+ Lúa mùa: 291 ha, năng suất 37 tạ/ha, sản lượng 1.079,66 tấn, vượt 10,01 % so với kế hoạch huyện giao
+ Ngô cả năm: 32 ha năng suất ước đạt 35,8 tạ/ha,sản lượng ước đạt 1.145,6 tấn, vượt 34,52% so với kế hoạch huyện giao
+ Cây công nghiệp ngắn ngày 38 ha, trong đó: Đậu tương 13,6 ha, năng suất 19,8 tạ/ha, sản lượng 26,93 tấn, vượt 1,35 % so với kế hoạch huyện giao Lạc: 11,9 ha, năng suất 16 tạ/ha, sản lượng 19,04 tấn, vượt 1,23 % so với kế hoạch huyện giao
+ Khoai lang: 9,2 ha, năng suất 12 tạ/ha, sản lượng 11,04 tấn, giảm 0,1
% so với kế hoạch huyện giao
+ Sắn: 154,1 ha, năng suất 96 tạ/ha, sản lượng 1.479,36 tấn, vượt 1,17% so với kế hoạch huyện giao
+ Dong giềng: 93 ha, năng suất 98,5 tạ/ha, sản lượng 916,05 tấn, vượt 3,89% so với kế hoạch huyện giao
+ Rau màu các loại: 39 ha, đặt 95,35% so với kế hoạch huyện giao
Trang 32+ Chăm sóc cây công nghiệp dài ngày 2,0ha, trong đó: chăm sóc cây ca phe năm thứ nhất cây sinh trưởng và phát triển bình thường
- Chăm nuôi: theo số liệu kiểm kê đến ngày 31 tháng 12 năm 2013:
+ Đàn trâu 969 con, không đạt 0,96% so với huyện giao
+ Đàn bò: 314 con 0,80% so với kế hoạch huyên giao
+ Đàn lợn: 3638 con, vượt 2,055% so với huyên giao
+ Đàn dê: 400 con; đàn ngựa 27 con
+ đàn gia cần các loại 43,839con, vượt 2,062% so với huyên giao b) Công tác lâm nghiệp
- UBND xã thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chỉ thị, nghỉ quyết của Đảng và Nhà nước về công tác quản lí bảo vệ rừng như Nghị định số 23/2006 NĐ- CP, ngày 03/3/2006 của chính phủ thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng; Chỉ thị số: 12/2003/CT- TTg, ngày 16/5/2003 của thủ tướng chính phủ về tăng cường các biệt phát cấp bách và phát triển rừng; Chỉ thị số 08/2006 CT- TTg, ngày 8/5/2006 của thủ tướng chính phủ về tăng cường các biện phát cấp bách ngăn trạng tình trạng chặt phá đốt rừng, khai thác rừng trái phép; Chỉ thịsố 15/2005 CTBNN, 13/2/2007 của bộ nông nghiệp PTNT về tăng cường quản lý công tác nương rẫy; Chỉ thị số
09 CT- UBND, ngày 21/5/2009 của uỷ bannhân dân tỉnh Điện Biên về việc chấn chỉ và tăng cường cong tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh
- UBND xã hàng năm kiện toàn và củng cố ban quan lý bảo vệ rừng, PCCC do đ/c Phó chủ tịch UBND xã phụ trách nông, lâm, nghiệp là trưởng ban; Đ/c Trưởng công an xã, Trưởng Quân sự xã làm phó ban thường trực; Trưởng các đoàn thể, Kiểm lâm địa bàn, các cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn
xã và Trưởng bản làm uỷ viên
- Thường xuyên tuyên truyền công tác quản lý bảo vệ rừng đến tận các tổ chức, các hộ gia đình không phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản
- Xây dựng quy ước, hương ước tại thôn bản về công tác quản lý bảo vệ rừng, quy định khu vực nương rẫy và thời gian đốt nương cho từng khu vực
Trang 33- Mở rộng hội nghị triển khai công tác QLBVR – PCCC tại UBND xã
Tổ chức cam giữa UBND xã với thôn bản, hộ gia đình thực hiện tốt quy ước, hương ước; Thành lập tổ bảo vệ rừng, tổ chức kiểm tra, tuyên truyền tác hại
+ Chặt hạ cây giải giác trong rừng trái pháp luật 11 vụ
+ Thu giữ cưa xăng 01 vụ
Trong đó, cấp huyện xử lý gỗ vô chủ là 08 vụ và xã xử lý 12 vụ, tổng
số tiền phạt nộp ngân sách xã có 08 vụ là 12.200.000 đồng và còn 04 vụ còn lại ( 01 thu cưa xăng và 03 vụ chặt hạ cây giải giác trong rừng) phạt 4.800.00 đồng nhưng chưa có tiền nộp do các hộ này là hộ nghèo không có tiền
- Tỷ lệ che phủ rừng trên toàn xã là 39,63%
c) Công tác thu chi ngân
- Tổng thu ngân sách đạt: 6.190.549.000 đồng, đạt 112%.Trong đó: +Thu ngân sách trên địa bàn 33.000.000 đồng, đạt 100%
+ Phí và lệ phí: 21.000.000 đồng
+ Quỹ An ninh quốc phòng: 5.000.000 đồng
+ Thu khác: 7.000.000 đồng
- Tổng chi ngân sách đạt: 6.190.549.000 đồng
4.1.2.2 Điều kiện về xã hội
a) Văn hoá – Thể thao
- Xã Mường Phăng có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó: dân tộc thái chiến tỷ lệ cao nhất,
- Xã có 2 nhà văn hoá, có 6 thôn bản đạt danh hiệu bản làng văn hoá
- Hoạt động phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao với chủ đề mừng Đảng, mừng xuân và thông tin tuyên truyền, đặc biệt là trào mừng các
Trang 34ngày sự kiện trong đại của đất nước được tổ chức đến các cở sở thôn bản Trong năm 2013 xã đã kết hợp với Phòng văn hoá huyện Điện Biên tổ chức lễ hội cầu mưa tại bản văn hoá Che Căn
- Thực hiện phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao tổ chức cho đoàn tham dư thi đấu tại cụm xã Mường Phăng +Nà Tấu+Nà Nhạn đạt được nhiều giải Văn nghệ đạt: 01 giải nhất toàn đoàn, văn nghệ quần chúng gồm:
01 giải A, 01 giải B, 02 giải C Thể dục thể thao đạt: 07 giải nhất, 01 giải nhì,
02 giải ba Ngày 24/11/2013 tại Đại hội thể dục thể thao khối các xã trong huyện tổ chức tại xã Thanh Chăn đạt: 01 toàn đoàn khối xã vùng cao, 02 giải nhất, 02 giải ba
- Tổ chức tuyên truyền về phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư Xây dựng quy ước, hương ước theo nếp sống mới 26/26 thôn bản Khen thưởng thôn bản văn hoá và gia đình văn hoá 26/26 thôn bản
b) Giao dục – Đào tạo
- Hoàn thành nhiện vụ năm học 2013 – 2014 Duy trì và giữ vững các tiêu chí đạt chuẩn về phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, giữ vững các trường đạt chuẩn Quốc gia được UBND tỉnh công nhận
- Trong năm học 2013 – 2014, toàn xã có 5 trường học, 61 lớp, 1.387 học sinh Trong đó: Cấp mần non 02 trường, 20 nhóm lớp, 382 cháu, cấp tiểu học 02 trường, 22 lớp, 545 học sinh, cấp trung học cơ sở: 01 trường, 19 lớp,
551 học sinh (Theo số liệu thống kê của xã Mường Phăng, 2013)
c) Công tác lao động – Thương binh xã hội
- Xã có 02 thương binh, 02 bệnh binh và 03gia đình liệt sỹ Việc thực hiện chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ, các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội thường xuyên được quan tâm, nhân dịp ngày lễ, tết nguyên đán xã tổ chức thăm và tặng quà động viên tinh thần các gia đình thương binh, bệnh binh và thân nhân gia đình liệt sỹ
- Số người được hưởng trợ cấp hàng tháng là 82 người, trong đó: 52 người cao tuổi,24 người tàn tật, 04 người tâm thần, 01 không người nuôi dưỡng và 01 người cô đơn, việc thực hiện chi trả các chế độ đãi ngộ được kịp thời
Trang 35d) Y tế - Dân số - kế hoạch hoá gia đình
+ Kết quả khám, chữa bệnh đạt được như sau: Tổng số giường bệnh được giao 03 giường; Tổng số lần khám bệnh 11.094 lần (chỉ tiêu giao: 11.000 lần) đạtkế hoạch giao; Số lần điều trị nội trú 45 lần (chỉ tiêu giao: 80 lần) chưa đạt kế hoạch giao; Số kê đơn thuốc 9484 lần (chỉ tiêu giao: 8.000 lần) đạt kế hoạch giao; Số kê đơn thuốc trẻ em dưới 6 tuổi 1.999 lần
- Dân số: Theo báo cáo UBND xã về thực hiện chương trình giảmTổng dân số 1002 hộ = 4671 nhân khẩu, trong đó: Nam: 2394 người Nữ: 2277 người Số người trong độ tuổi lao động: 2400 người, trong đó: Lao động nông nghiệp: 2199 người Cán bộ, công nhân, viên chức: 70 người, Lao động phi nông nghiệp: 200người
Về thành phần dân tộc: có 03 dân tộc, gồm:
+ Dân tộc Thái: 3601 người, chiếm 78,15 %;
+ Dân tộc Mông: 933người, chiếm 20,25 %;
+ Dân tộc Kinh:74người, chiếm1,6 %
- Kế hoạch hoá gia đình:
+ Thực hiện triển khai truyền thông giáo dục dân số, nâng cao nhân thức của người dân trong việc thực hiện chính sách dân số, tuyên truyền vận động chăm sóc sức khoẻ sinh sản, 100% thôn bản được tuyên truyền, vận động và tổ chức chiến dịch CSSKSS – KHHGĐ
+ Trong năm số cặp vợ chồng được áp dụng các biện pháp tranh thai
1159 cặp, số sinh 179 cháu, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 15,6%
(Nguồn: Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh 6 tháng đầu năm; mục tiêu nhiệm
vụ, giải pháp chủ yếu 6 tháng cuối năm 2013)
Trang 364.2 Những thói quen của người dân trên địa bàn xã gâyảnh hưởng đến môi trường
4.2.1 Phát rừng làm nương rẫy ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và suy giảm tài nguyên rừng trên địa bàn
Dân cư trên địa bàn xã chủ yếu là dân tộc thiểu số, với lỗi sống còn mang đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc, với những thói quen canh tác còn lạc hậu chưa khoa học, điểm hình là hình thức canh tác làm nương rẫy của đồng bào dân tộc Mông ở trên địa bàn xã Trong thời bởi kinh tế ở vùng núi còn nhiều khó khăn, khai hoang tận dụng những vùng đất dốc vào sản xuất để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống là một hoạt động giải pháp tích cực
Mặt khác, hoạt động sản xuất làm nương rẫy thường canh tác một vài
vụ, khi đất bạc màu thì lại bỏ hoang đi tìm những vùng đất khác chưa được khai hoang để khai hoang canh tác, do không có đất để khai hoàng thì những vùng đất được khai hoang sẽ được canh tác trong nhiều năm liên tục và do địa hình dốc sẽ bị xói mòn, rửa trôi làm mất các thành phần kết cấu của đất, dinh dưỡng trong đất, dẫn đến không canh tác được, hoặc những vùng đất thuộc những khu quy hoạch rừng đặc dụng và rừng phòng hộ sẽ bị chặt phá để khai hoang sản xuất, từ đó rừng đặc dụng và rừng phòng hộ sẽ bị thu hẹp, tài nguyên rừng bị suy giảm
Tuy nhiên, cho thấy hiện nay trên địa bàn trình độ dân trí vẫn còn thấp, chưa nắm vững hoặc chưa được tiếp thu các nền khoa học kỹ thuật vào sản xuất, năng suất thấp và đạt hiệu quả kinh tế thấp, gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân
Qua quá trình nghiên cứu khảo sát hiện nay, bà con chủ yếu là trồng các loại cây như: Cây sắn, cây dong giềng, cây ngô, cây lúa là chủ yếu Hơn nữa trồng các cây sắn, dong giềng trên đất dốc dễ làm cho đất bị bạc màu, xói mòn, dẫn đến không canh tác đươc
Việc sử dụng các loại thuốc trừ cỏ, trừ sâu trên nương rẫy ở những khu đầu nguồn rất đễ ngấm xuống nguồn nước Khi phun xong, dụng cụ, bình phun được rửa và đổ tuỳ tiện, thậm trí đổ luôn vào nguồn nước, điều này gây ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt và sức khoẻ của người dân.Vì vậy, cần