1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014.

67 855 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 772,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất đai thực sự trở thành nguồn vốn và động lực phát triển kinh tế để nguồn tài nguyên quốc gia được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công ng

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai

Khóa học : 2012 - 2014

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai

Khóa học : 2012 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Đức Nhuận

Khoa Quản lý Tài Nguyên - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

mỗi sinh viên, là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa:

Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã

nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014”

Sau thời gian nghiên cứu, học tập và thực tập tốt nghiệp em đã hoàn thành xong bản báo cáo của mình

Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và đào tạo hướng dẫn chúng em

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên TS Nguyễn Đức Nhuận người đã trực tiếp hướng dẫn em, cũng như sự chỉ bảo gióp đỡ nhiệt tình của các cán bộ viên chức Phòng Tài nguyên – Môi trường thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành bản báo cáo tốt nghiệp này

Do điều kiện trình độ, kiến thức cũng như năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên những nội dung nêu ra trong đề tài có thể còn chưa hoàn chỉnh, không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy em rất mong được sự

đóng góp của các thầy cô giáo trong nhà trường để bản báo cáo của em được

hoàn thiện và có ý nghĩa trong thực tiễn công tác sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Bắc Kạn, ngày … tháng … năm 2014

SINH VIÊN THỰC HIỆN

Ma Ngọc Đức

Trang 4

Bảng 4.1: Tình hình dân số và lao động trên địa bàn phường Sông Cầu 29

Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 35

Bảng 4.3: Tổng hợp các văn bản do thị xã Bắc Kạn ban hành có liên quan đến quá trình quản lý và sử dụng đất 36

Bảng 4.4: Tổng hợp hồ sơ địa giới hành chính phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 38

Bảng 4.5: Kết quả đo đạc thành lập bản đồ phường Sông Cầu, 38

thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 38

Bảng 4.6: Quy hoạch sử dụng đất của phường Sông Cầu đến năm 2020 40

Bảng 4.7: Chỉ tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch phường Sông Cầu 41

Bảng 4.8: Kết quả giao đất giai đoạn 2010 - 2013 phường Sông Cầu 42

Bảng 4.9: Kết quả đăng ký cấp GCNQSDĐ của phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2013 44

Bảng 4.10: Kết quả tổng hợp hồ sơ địa chính 45

Bảng 4.11: Kết quả cấp GCNQSDĐ 46

Bảng 4.12: Tình hình biến động đất đai phường Sông Cầu 47

Bảng 4.13: Kết quả kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất 51

Bảng 4.14: Kết quả giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết các khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai

phường Sông Cầu 53

Trang 5

- QH-KHSDĐ : Quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất

- TN&MT : Tài nguyên và Môi trường

- CTBCVT : Công trình bưu chính viễn thông

- TS,CQ,CTSNNN : Trụ sở, cơ quan, công trình sự nghiệp Nhà nước

Trang 6

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích, yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2 Mục tiêu của đề tài 3

1.2.3 Yêu cầu 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Những hiểu biết chung về công tác quản lý nhà nước về đất đai 4

2.1.2 Cơ sở pháp lý đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta 5

2.2 Những nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam theo luật đất đai 2003 8

2.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam và tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2013 9

2.3.1 Thực trạng quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam 9

2.3.1.1 Tổ chức bộ máy Nhà nước còn nặng nề, tổ chức biên chế vượt quá chức năng và nhiệm vụ 10

2.3.1.2 Sự chồng chéo giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp 11

2.3.1.3 Tình trạng tập trung quan liêu từ phía Trung ương và địa phương, cục bộ từ địa phương 12

2.3.1.4 Trong hoạt động xây dựng pháp luật còn nhiều sơ hở 13

2.3.1.5 Hiện tượng mất dân chủ còn xảy ra khá phổ biến 13

2.3.1.6 Sự trì trệ trong việc đơn giản hoá thủ tục hành chính tư pháp 14

2.3.1.7 Chức năng kiểm kê, kiểm soát của các cơ quan chức năng trong bộ máy Nhà nước và vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước còn bộc lộ những hạn chế 15

2.3.2.1 Tình hình thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai 16

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

Trang 7

tỉnh Bắc Kạn 24

3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên 24

3.3.1.2 Điều kiện kinh tế 24

3.3.1.3 Điều kiện xã hội 24

3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất của phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn,

tỉnh Bắc Kạn 24

3.3.3 Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2013 theo 13 nội dung quy định của Luật Đất Đai 2003 24

3.3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý sử dụng đất và những giải pháp nhằm tăng cường quản lý đất đai của phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu 25

PHẦN 4: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 26

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26

4.1.1.1 Vị trí địa lý 26

4.1.2.2 Các nguồn tài nguyên 27

4.1.2 Điều kiện kinh tế 28

4.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế 28

4.1.3 Điều kiện xã hội 29

4.1.3.1 Dân số 29

4.1.3.2 Lao động, việc làm, mức sống 31

4.1.3.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 32

4.1.3.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 33

4.2 Hiện trạng sử dụng đất phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 35

4.3 Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2013 36

Trang 8

lập bản đồ hành chính 37

4.3.3 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất 38

4.3.4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 39

4.3.5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất 42

4.3.6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 44

4.3.7 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 46

4.3.8 Đánh giá công tác quản lý tài chính về đất đai 48

4.3.10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người

sử dụng đất 49

4.3.11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý các vi phạm trong pháp luật về đất đai 51

4.3.12 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết các khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai 52

4.3.13 Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai 53

4.4 Đánh giá chung về công tác quản lý, sử dụng đất và những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai của phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 54

4.4.1 Đánh giá chung về công tác quản lý và sử dụng đất phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 54

4.4.1.1 Những kết quả đạt được 54

4.1.1.2 Những tồn tại và nguyên nhân 55

4.4.2 Một số giải pháp 55

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Kiến nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành

phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, an ninh, quốc phòng Nhưng đất đai là tài nguyên không thể tái tạo được, nó cố định về vị trí và có giới hạn về không gian

Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy

định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý theo

quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”

Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai sửa đổi năm 1998, năm 2001 và Luật

đất đai năm 2003 đã quy định rõ vớ 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai

Hiện nay, kinh tế nước ta đang phát triển mạnh mẽ theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước nên công tác trong quản lý và sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp các cấp, các ngành sắp xếp, bố trí, sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật người ta rất chú ý tới sự phát triển của khoa học đến tác động của môi trường trong quá trình hoạt động, sản xuất của con người Trong đó sử dụng và khai thác đất

đai hợp lý là yếu tố không thể không quan tâm Ngoài những tác động ảnh

hưởng của tự nhiên: đất, nước, khí hậu thì vai trò của con người tác động cũng rất lớn; lụt úng do phá rừng, canh tác bất hợp lý, khai thác bừa bãi Như vậy đất đai phải có nhà quản lý Tuy nhiên do sự thiếu hiểu biết của một bộ phận tầng lớp dân cư họ chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, đồng thời việc

đầu tư bồi bổ đất còn rất hạn chế làm cho đất đai ngày càng xấu đi Do vậy

hiệu quả sử dụng đất không cao, gây lãng phí đất Mặt khác quá trình tổ chức thực hiện Quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập nảy sinh nhiều vấn đề Tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất đai sự kiểm soát của pháp luật, nhất là tình trạng mua bán đất nông nghiệp Đặc biệt trong giai

đoạn hiện nay khi đất nước đang chuyển mình đổi mới nền kinh tế thực hiện

theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước làm cho kinh tế - xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho sự phát triển kinh tế

Trang 10

ngày càng tăng Quyền sử dụng đất trở thành đối tượng mua, bán, chuyển nhượng, cầm cố, thuê mượn Thị trường đất đai trở nên sôi động và khó kiểm soát Đất đai thực sự trở thành nguồn vốn và động lực phát triển kinh tế để nguồn tài nguyên quốc gia được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả

và đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

đạt mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp thì yêu

cầu cấp bách cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai Bên cạnh thực trạng về sử dụng đất của nước ta là sử dụng và cải tạo đất còn hạn chế, nhiều người chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà không nghĩ đến sự suy giảm chất lượng của nguồn tài nguyên không tái tạo này Thêm vào đó là công tác quản lý nhà nước về đất đai còn lỏng lẻo, quá trình tổ chức thực hiện còn hạn chế dẫn tới các hiện tượng vi phạm khi sử dụng đất: lấn chiếm, tranh chấp, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất

Như vậy cần xác định những tồn tại để đề ra biện pháp khắc phục sao cho quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và bền vững là việc làm hết sức cần thiết Góp phần quan trọng vào việc nắm chắc quỹ đất của từng địa phương nói riêng và đất nước nói chung để công tác quản lý Nhà nước về đất

đai ngày một tốt hơn

Xuất phát từ những vấn đề trên được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài

nguyên, với sự hướng dẫn của Thầy giáo - TS Nguyễn Đức Nhuận em tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về

đất đai của phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn

Trang 11

1.2.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá tình hình quản lý Nhà nước về đất đai tại phường Sông Cầu theo 13 nội dung của Luật Đất đai

- Phân tích được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình quản lý

- Những đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với thực tế của địa phương

- Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa học tập: Củng cố kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác quản lý Nhà nước về đất đai ngoài thực tế

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu tình hình quản lý Nhà nước về

đất đai của phường Sông Cầu, từ đó đưa ra những giải pháp giúp cho công tác

quản lý nhà nước về đất đai được tốt hơn

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Những hiểu biết chung về công tác quản lý nhà nước về đất đai

Quản lý nhà nước về đất đai là quá trình nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản của đất đai nhằm nắm chắc về số lượng, chất lượng từng loại đất

ở từng vùng, từng địa phương theo đơn vị hành chính của mỗi cấp Để thống

nhất về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trong cả nước từ Trung ương đến cơ sở thành một hệ thống quản lý đồng bộ, thống nhất, tránh tình trạng phân tán đất, sử dụng đất không

đúng mục đích, bỏ hoang hóa gây lãng phí

* Mục đích của quản lý nhà nước về đất đai:

- Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

- Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của Nhà nước

- Tăng cường hiệu quả sử dụng đất

- Bảo vệ cải tạo đất, bảo vệ môi trường

* Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai:

- Đảm bảo sự quản lý tập chung và thống nhất của Nhà nước

- Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hưu đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của người dân

- Tiết kiệm và hiệu quả

* Phương pháp quản lý Nhà nước về đất đai;

Các phương pháp quản lý nhà nước về đất đai nói chung và các phương pháp quản lý nhà nước về đất đai nói riêng có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý Các phương pháp quản lý về đất đai là tổng thể các cách thức tác động có chủ đích của Nhà nước lên hệ thống đất đai và chủ sử dụng đất nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra trong những điều kiện cụ thể về không gian và thời gian nhất định Có thể chia thảnh hai nhóm sau:

- Các phương pháp thu thập thông tin về đất đai: Phương pháp thống

kê, phương pháp toán học, phương pháp điều tra xã hội học

Trang 13

- Các phương pháp tác động đến con người trong quá trình quản lý đất

đai: Phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp tuyên

truyền, giáo dục

* Công cụ quản lý Nhà nước về đất đai:

- Công cụ pháp luật: Pháp luật là công cụ không thể thiếu được của một Nhà nước, Nhà nước dùng pháp luật để tác động vào ý chí của con người để

điều chỉnh hành vi của con người

- Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; Trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung không thể thiếu trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Vì vậy Luật

Đất đai 2003 quy định “Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch”

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất, nó đảm bảo cho sự chỉ đạo, lãnh đạo một cách thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã

được phê duyệt và sử dụng các loại đất được bố trí sắp xếp một cách hợp lý

Nhà nước kiểm soát mọi diễn biến về tình hình đất đai Từ đó, ngăn chặn

được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phi Đồng thời, thông qua quy

hoạch, kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình Quy hoạch đất đai được lập theo lãnh thổ và theo các ngành

- Công cụ tài chính; Tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế

2.1.2 Cơ sở pháp lý đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta

Công tác quản lý Nhà nước về đất đai phải dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật cuả nhà nước Từ năm 1992 đến nay Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về

đất đai, cụ thể như sau:

- Hiến pháp năm 1992;

- Luật Đất đai năm 1993;

- Luật Đất đai năm 2003;

Trang 14

- Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành văn bản quy định về giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp;

- Nghị định số 87/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về khung giá các loại đất;

- Nghị định số 09/NĐ-CP ngày 12/2/1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh;

- Nghị đinh số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về đền

bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;

- Nghị định số 88/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý sử dụng đất tại đô thị;

- Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng

- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về giá đất;

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;

Trang 15

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy

định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về sửa

đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004

của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung các loại đất;

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy

định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ

trợ và tái định cư;

- Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch kế hoạch sử dụng đất;

- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất;

- Thông tư 117/2004/TT-BTC ngày 17/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;

- Thông tư 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

- Thông tư số 05/2006/TT-BTNMT ngày 24/5/2006 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định

182/2004/NĐ-CP của Chính phủ về sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

- Thông tư 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

Trang 16

- Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản

- Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ

về một số biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thành cấp GCNQSDĐ nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở nông thôn;

- Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất;

- Chỉ thị số 01/2008/CT-TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển và quản lý thị trường bất động sản;

- Quyết định số 08/2008/QĐ-BTNMT ngày 10/11/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1;500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10.000…

- Quyết định số 12/2008/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành “quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về phân định

Trang 17

- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

- Khảo sát đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất

- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Thống kê, kiểm kê đất đai

- Quản lý tài chính về đất đai

- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản

- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất

đai và sử lý vi phạm pháp luật về đất đai

- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai

- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

2.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam và tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2013

2.3.1 Thực trạng quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam

Nước ta có tổng diện tích tự nhiên là 32.924.061 ha (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2008) trong đó:

- Vùng núi và Trung du Bắc bộ là 10,33 triệu ha, chiếm 31,37 % tổng diện tích tự nhiên của cả nước

- Vùng Tây nguyên là 5,5 triệu ha, chiếm 16,59 % tổng diện tích tự nhiên của cả nước

- Vùng Duyên hải miền trung là 4,4 triệu ha, chiếm 13,44% tổng diện tích tự nhiên của cả nước

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 3,9 triệu ha, chiếm 12,04% tổng diện tích tự nhiên của cả nước

Trang 18

- Vùng Đồng bằng Nam bộ là 2,4 triệu ha, chiếm 7,15% tổng diện tích

tự nhiên của cả nước

- Vùng Đồng bằng Bắc bộ là 1,3 triệu ha, chiếm 3,85% tổng diện tích

tự nhiên của cả nước

- Diện tích đất đã được khai thác và sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp, chuyên dùng, đất ở khoảng trên 22 triệu ha, chiếm 67% tổng diện tích

tự nhiên của cả nước

Tuy Đảng và Nhà nước đã hết sức quan tâm về công tác quản lý đất đai nhưng công tác này vẫn diễn ra một cách chậm chạp, mắc nhiều thiếu sót, hạn chế đến công tác quản lý và bất cập trong công tác ban hành văn bản luật

2.3.1.1 Tổ chức bộ máy Nhà nước còn nặng nề, tổ chức biên chế vượt quá chức năng và nhiệm vụ

Đây là quan điểm được Đảng ta đánh giá và cho rằng trong tiến trình đổi mới, càng phải có những giải pháp khắc phục

Quan niệm về một tổ chức Nhà nước nặng nề, cồng kềnh, không phải căn cứ vào số lượng thực, hoặc căn cứ vào các hoạt động cụ thể Nếu căn cứ vào số lượng thực tỷ lệ dân số thì bộ máy Nhà nước ta chưa nặng nề về mặt biên chế Các nước do trình độ phát triển, đời sống dân sự ở trình độ cao, năng suất lao động và tổng sản phẩm xã hội lớn, tỷ lệ bộ máy hành chính hoạt

động lập pháp (với thời gian dài hơn nước ta nhiều và số lượng các điều luật

gấp nhiều lần ở việc ban hành luật ở nước ta), hoạt động xét xử thì vẫn có thể thấy được sự cồng kềnh, nặng nề của bộ máy Nhà nước ta

Biên chế trong bộ máy Nhà nước luôn luôn có khuynh hướng vượt quá quy định của Chính phủ Có tình hình trên là vì những người trong biên chế Nhà nước phải dùng ngân sách để trả lương, người lãnh đạo có khuynh hướng

mở rộng bộ máy làm việc nhưng lại không phải “bỏ tiền túi” nên họ không chú

ý cho biên chế hợp lý Hơn nữa, hiện tượng đưa người thân vào cơ quan làm cho gánh nặng của biên chế, ngân sách Nhà nước không phải là ít Mặt khác, trách nhiệm của người lãnh đạo, quản lý khi để biên chế phình ra chưa rõ ràng nên sự “nặng nề”, “cồng kềnh” của bộ máy Nhà nước ta không tránh khỏi

Sự chồng chéo chức năng, sự cạnh tranh nhiệm vụ giữa các cơ quan không phải là hiếm ở nước ta hiện nay Cùng một việc, rất nhiều cơ quan đều

Trang 19

có thể can thiệp làm cho chẳng những cồng kềnh bộ máy, tốn kém ngân sách

mà còn phiền hà về thủ tục

Các cơ quan Nhà nước chưa mở rộng phạm vi phục vụ, có tính chất mở rộng dịch vụ trong khi biên chế vẫn tăng lên Nếu mở rộng dịch vụ thì các cơ quan thêm việc nhưng sự gia tăng biên chế đó sẽ do xã hội trực tiếp đảm bảo

về ngân sách Chẳng hạn, nếu thu tiền điện, tiền nước tại nhà, thu gom rác tại ngõ, xóm thì người dân sẽ trực tiếp trả thù lao Lực lượng đó nếu có tăng cũng không nặng nề

Về điểm này còn mở ra một cách nhìn : Nhà nước cần phải cân nhắc chức năng nào, nhiệm vụ nào cần có sự ổn định về biên chế, cần chi vào ngân sách, công việc Nhà nước làm, nếu có tính chất dịch vụ thì chuyển sang chế

độ hợp đồng bên ngoài nguồn ngân sách Nhà nước Đây là một yêu cầu của

quản lý Nhà nước có sự hỗ trợ của khoa học quản lý (LG: Hà Ngọc, 2007)

2.3.1.2 Sự chồng chéo giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Nếu xét theo chủ thể, Nhà nước là một tổ chức quyền lực thống nhất, nhưng hoạt động của Nhà nước tác động tới nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nên đòi hỏi nhà nước mà đại diện của nó là đội ngũ nhân lực có những chuyên môn ,phẩm chất và trình độ khác nhau Khoa học chính trị và khoa học quản lý đã phân chia, độc lập (từ giác độ của khoa học chính trị tư sản) hoặc phải định rõ ràng chức năng không được lẫn lộn (từ giác độ của khoa học quản lý)

Từ kinh nghiệm của lịch sử và thực tiễn trong nước, Đảng ta quan niệm rằng: Nhà Nước Việt Nam phải xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa bảo đảm thống nhất quyền lực và có sự phân công, phối hợp giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp

Lý luận, nhận thức thì như vậy nhưng thực tiễn thì có rất nhiều vấn đề

Từ khi xây dựng cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ nên chủ nghĩa xã hội (1991), quan điểm này đã được khẳng định Cho đến nay vấn đề này vẫn còn phải tiếp tục xem xét Một số lĩnh vực cần thiết phải có sự minh

định là:

Trong quan hệ các quyền nhất là pháp và hành pháp, lĩnh vực nào thì ban hành luật, pháp lệnh hay nghị định Chẳng hạn, điều chỉnh công chức ở

Trang 20

nước ta đã từng có sắc lệnh 76/SL từ 1950 do Chủ tịch nước ban hành Nghị

định 169 năm 1991 do Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ; nay chúng ta lại

có bản Pháp lệnh nhưng điều chỉnh cả cán bộ và công chức

Hiện nay phổ biến nhất là lĩnh vực điều chỉnh giữa luật và pháp lệnh

Điều đó bị chi phối bởi rất nhiều vấn đề về thời gian hoạt động của Quốc hội,

về năng lực, trình độ của đại biểu Quốc hội và về kinh nghiệm lập pháp nói chung của nền hành chính nước ta

Vấn đề là ở chỗ, chừng nào còn chưa phân định rõ thì chừng đó chưa

có sự phối hợp giữa các cơ quan một cách có hiệu quả Mặt khác mỗi cơ quan chủ trì xây dựng lập pháp (dự án, pháp lệnh, nghị định…) lại có cách nhìn khác nhau, dẫn đến khó khăn chung khi vận dụng vào xã hội với rất nhiều ngành, lĩnh vực của đời sống

2.3.1.3 Tình trạng tập trung quan liêu từ phía Trung ương và địa phương, cục bộ từ địa phương

Tập trung quan liêu là sự ôm đồm, giành lắm quyền lực từ phía cơ quan Trung ương, muốn chi phối càng nhiều càng tốt nhưng khả năng nắm bắt mọi vấn đề, mọi nơi hầu như không thể

Địa phương cục bộ là sự lạm dụng quá mức của chính quyền địa phương

khi giải quyết các vấn đề trong phạm vi lãnh thổ hành chính của từng cấp địa phương Điều đó thể hiện ở chỗ: làm lệch và những vấn đề toàn cục ở địa phương

; xa rời sự kiểm soát, hướng dẫn của cơ quan Nhà nước chuyên ngành từ Trung

ương; phối hợp là chiếu lệ, thu gom lợi ích địa phương mới là hiện thực; trên mở

rộng dân chủ, dưới thực hiện bằng cách hạn chế sự nhận thức chính sách, pháp luật của nhân dân (chẳng hạn vấn đề xây dựng hợp tác xã theo nguyên tắc tự nguyện ; danh mục thuế, lệ phí nhân dân thống nhất phải đóng góp; vấn đề thẩm quyền quản lý đất đai … là những lĩnh vực nhạy cảm)

Tập trung quan liêu và địa phương cục bộ là hai thái cực cần phải sửa chữa Vì điều đó làm cho quyền lực Nhà nước bị méo mó, chia cắt, mất tính thống nhất

Nhưng nếu làm ngược lại, từ bỏ tập trung ở Trung ương và bỏ mặc nhiệm vụ ở địa phương sẽ có tác hại ngược Ở Trung ương mất vai trò chỉ

đạo; ở địa phương mất tính tự quản sáng tạo

Trang 21

Rất nhiều vấn đề trong việc xây dựng dự án, phân bổ ngân sách, chủ trương đầu tư, thực thi dự án… còn kém hiệu quả vì nhiều lý do, trong đó có

sự yếu kém trong giải quyết mối quan hệ giữa Trung ương và địa

phương.(LG: Hà Ngọc, 2007)

2.3.1.4 Trong hoạt động xây dựng pháp luật còn nhiều sơ hở

Sơ hở của pháp luật là sự thiếu sót trong dự liệu các tình tiết, tình huống của thực tiễn, sự thiếu rõ ràng trong quy định dẫn đến khi áp dụng các chủ thể lợi dụng các “khoảng trống” các điểm “giao thoa” để lợi dụng mưu lợi cho mình, gây thiệt hại cho Nhà nước, đưa lại lợi ích bất chính cho một số cá nhân, tổ chức và địa phương

Sơ hở của pháp luật khác với sự thiếu vắng của pháp luật đối với một lĩnh vực nhất định trong quản lý xã hội

Sơ hở của pháp luật có thể bị lợi dụng một cách cố ý, cũng có thể áp dụng pháp luật đúng, nhưng do sơ hở mà gây thiệt hại Hậu quả của pháp luật là: một việc làm không trái với pháp luật gây thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân Đây là mảnh đất màu mỡ cho những người am hiểu pháp luật, nắm quyền và nắm tài sản nước lợi dụng

Vì lý lẽ đó khắc phục sự sơ hở của pháp luật là một vấn đề bức thiết với

các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.(LG: Hà Ngọc,2007)

2.3.1.5 Hiện tượng mất dân chủ còn xảy ra khá phổ biến

Mất dân chủ là hiện tượng xã hội mà ở đó, những quyền cơ bản của người dân bị vi phạm Do nhiều yếu tố, nhưng yếu tố hàng đầu thuộc về những người có chức vụ, quyền hạn quản lý theo kiểu quan liêu, có ý thức trục lợi, vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương phép nước

Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ Điều đó không có nghĩa là dân chủ

tự nó có thể hình thành và phát huy tác dụng Thực hiện dân chủ trong xã hội cần thông qua những cơ chế pháp lý, những chuẩn mực đạo đức thực tiễn với năng lực, phương pháp của nhà quản lý

Có nhiều lý do dẫn đến dân chủ nhưng lý do quan trọng nhất làm cho nhân dân không đồng tình là mất dân chủ từ những vi phạm pháp chế của các nhà quản lý Sự yếu kém về phẩm chất đạo đức và năng lực của họ Hơn nữa một số cán bộ không chịu tu dưỡng, rèn luyện phê bình và tự phê bình, bị chủ

Trang 22

nghĩa cá nhân chi phối là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới hiện tượng mất dân chủ từ những vi phạm pháp chế của các nhà quản lý Sự yếu kém về phẩm chất đạo đức và năng lực của họ Hơn nữa một số cán bộ không chịu tu dưỡng, rèn luyện tự phê bình và phê bình, bị chủ nghĩa cá nhân chi phối là nguyên nhân trực tiếp tới hiện tượng mất dân chủ trong xã hội

Công cuộc đổi mới đất nước, tiến trình xây dựng một Nhà nước phát

triển và ổn định đòi hỏi phải sớm khắc phục hiện tượng trên.(LG: Hà

Ngọc,2007)

2.3.1.6 Sự trì trệ trong việc đơn giản hoá thủ tục hành chính tư pháp

Một trong những đặc điểm quản lý của Nhà nước là: Để giải quyết một công việc, để thực hiện một nhiệm vụ cần có một quy trình, thủ tục; cần qua các bước nhất định mà chúng ta thường gọi với nghĩa chung nhất là các thủ tục

Thủ tục có thể diễn ra ở tất cả các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhưng trong xã hội thủ tục hành chính là một hiện tượng của quản lý tác động một cách phổ biến, liên tục và tạo sự phản ứng từ các phía nhiều nhất nhưng từ đó lại cho rằng hành chính mới cần thủ tục là một nhận thức chưa chính xác

Thủ tục hành chính liên hệ trực tiếp với việc chi phí thời gian, tiền bạc, tạo sự chờ đợi, sự còn hay mất một cơ hội nhất định của cá nhân hoặc tổ chức Lợi dụng tình hình đó, đã có một số cơ quan, nhất là một số cá nhân có trọng trách gây phiền hà cho nhân dân bằng cách tạo sự phiền hà về thủ tục không công khai, quan trọng hoá, thiếu trung thực để trục lợi

Tuy nhiên, sự phiền hà trong thủ tục còn có một lý do có tính khách quan (với nghĩa không chủ ý, không tỏ thái độ) Đó là sự yếu kém của khoa học quản lý Sự tách rời giữa năng lực pháp lý và hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ là một trong những lý do khách quan cho việc xây dựng thủ tục hành chính chưa khoa học Có thể nói sự phiền hà về thủ tục (nhiều bước, nhiều tầng lớp, nhiều chữ ký…) trong quản lý Nhà nước là đồng minh của những quan liêu và tham nhũng

Trang 23

2.3.1.7 Chức năng kiểm kê, kiểm soát của các cơ quan chức năng trong bộ máy Nhà nước và vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước còn bộc lộ những hạn chế

Kiểm kê, kiểm soát và kiểm tra, giám sát thuộc về một số chức năng của một số cơ quan chức vụ trong cơ quan Nhà nước và của nhân dân

Trước hết kiểm kê, kiểm soát là hoạt động bên trong của cơ quan Nhà nước Nó được thực hiện bằng một loại cơ quan chuyên ngành như Thanh tra, Tài chính và các cơ quan chuyên ngành khác kiểm kê, kiểm soát còn thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan, hoặc của cơ quan cấp trên trong hệ thống thứ bậc (như trong hành chính) Kiểm kê, kiểm soát là cần thiết bởi vì: hoạt

động của Nhà nước không phải luôn luôn đúng, luôn luôn chính xác Kiểm

kê, kiểm soát có khả năng cảnh báo, ngăn ngừa, ngăn chặn những hiện tượng trái với pháp luật trong quản lý Vì vậy, bỏ rơi kiểm kê, kiểm soát, hoặc là hình thức, chiếu lệ còn là vấn đề của quản lý Nhà nước hôm nay

Kiểm tra, kiểm soát là một quyền của nhân dân do Hiến pháp quy định nhân dân với vai trò là chủ thể của quyền lực thì kiểm tra, giám sát như một quyền tự nhiên Pháp luật là sự ghi nhận nó trên phương diện pháp lý Trong Nhà nước dân chủ, quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân không thể bị mất đi

Với tư cách là đối tượng của quản lý, nhân dân có quyền “kiểm định” trách nhiệm phục vụ của Nhà nước Vì trong Nhà nước pháp quyền, cơ quan hành chính Nhà nước và người thi hành công vụ chỉ được làm những gì pháp luật cho phép Vượt quá giới hạn hoặc không làm hết bổn phận đều là sự vi phạm pháp chế Vì vậy kiểm tra, giám sát của nhân dân là một cơ chế pháp lý

để điều chỉnh hoạt động của Nhà nước

2.3.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai ở tỉnh Bắc Kạn

Trong những năm qua, do các cấp Ủy Đảng, chính quyền ở Bắc Kạn đã quán triệt chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai, vận dụng vào địa phương một cách hợp lý, tăng cường tuyên truyền chính sách, pháp luật cho người sử dụng đất nhận thức rõ hơn về quyền sở hữu đất đai của Nhà nước và quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân, nên công tác quản lý đất đai ở tỉnh

đạt được những kết quả khá quan trọng, góp phần tích cực vào nhiệm vụ phát

triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng

Trang 24

Tuy nhiên, công tác quản lý đất đai theo quy hoạch, việc thực hiện kế hoạch

sử dụng đất hàng năm, công tác đo đạc bản đồ địa chính tiến độ còn chậm, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê

đất ổn định lâu dài vẫn còn nhiều bất cập, chưa thực hiện đầy đủ

2.3.2.1 Tình hình thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai

* Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử

dụng đất đai

Sai khi Luật Đất đai năm 2003 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai có hiệu lực, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có tổ chức các lớp tập huấn cho các cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở Đồng thời tổ chức tuyên truyền, tìm hiểu về Luật Đất đai trên các phương tiện thông tin đại chúng và bằng nhiều hình thức phong phú nhằm giúp người dân hiểu và thực hiện Luật Đất

đai Việc ban hành các văn bản cụ thể hóa các nội dung quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn theo thẩm quyền quy định của Luật Đất đai được thực

hiện khẩn trương như hạn mức công nhận đất ở của thửa đất có vườn, ao; ban hành bản giá đất hàng năm của tỉnh; các văn bản chỉ đạo kiểm kê đất đai; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận QSDĐ, đồng thời tổ chức

đôn đốc các cơ quan chức năng thực hiện các văn bản theo thẩm quyền,

* Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

Hiện nay việc quản lý ranh giới hành chính giữa các đơn vị trong địa bàn chủ yếu dựa vào hệ thống bản đồ và hồ sơ địa giới hành chính được thành lập theo Chỉ thị số 364/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Tuy nhiên, do quá trình thay đổi địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính trong tỉnh, vì thế trong thời gian tới cần có biện pháp chỉnh lý hồ sơ địa giới hành chính cho phù hợp với thực tế

* Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản

đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất

- Đo đạc lập bản đồ địa chính

Đến nay, 100% diện tích tự nhiên của tỉnh đã được đo đạc địa chính,

trong đó có 40.855,80 ha đo ở tỷ lệ 1/1.000 và 444.102,57 ha đo ở tỷ lệ 1/10.000

Trang 25

- Đánh giá, phân hạng đất

Công tác đánh giá phân hạng đất chưa được tổ chức thực hiện Việc

đánh giá tài nguyên đất đai trong địa bàn tỉnh Bắc Kạn chủ yếu dựa vào bản

đồ đất tỷ lệ 1/50.000 được Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp xây

dựng, đã được bổ sung chỉnh lý và chuyển đổi theo danh pháp và tiêu chuẩn phân loại đất theo hệ thống phân loại của FAO - UNESCO

- Lập bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch sử dụng đất

Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn hệ thống bản đồ hiện trạng, bản

đồ quy hoạch sử dụng đất được phủ khắp toàn tỉnh với hệ thống bản đồ ở cả 03

cấp; toàn bộ cấp huyện và cấp xã trong tỉnh đã được lập bản đồ hiện trạng

* Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

a Đối cấp tỉnh

Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1890/2010/QĐ-TTg ngày 14/10/2010 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn thời kỳ đến 2020 Đây là công cụ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai như việc thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất Tuy nhiên, việc lập quy hoạch từ năm 2010

đến nay đã có nhiều biến động, nhiều chỉ tiêu sử dụng đất đã vượt so với dự

kiến trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Bên cạnh đó, việc điều chỉnh lại mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 nên nhu cầu sử dụng đất của một số lĩnh vực như đất ở; đất công nghiệp; đất cơ sở sản xuất, kinh doanh;

đất giao thông; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng; đất trồng cây lâu

năm; đất trồng cây hàng năm còn lại tăng nhanh

Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, kế hoạch sử dụng

đất kỳ đầu (2011 - 2015) hiện đang được các cấp, các ngành trong tỉnh triển

khai theo tinh thần (đặc biệt là đối với đất lúa nước, đất rừng phòng hộ, đất

rừng đặc dụng) xuống cấp huyện

b Đối với cấp huyện, xã

Đến trước năm 2020, toàn bộ các huyện, thị xã và các xã, phường thị trấn

trong tỉnh đều lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, nhằm cụ thể hóa kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn

Trang 26

Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh, đến nay 100% các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh đã và đang tiến hành lập đồng thời quy hoạch sử dụng đất

đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 - 2015) của cấp huyện và

cấp xã Tuy nhiên do chưa có chỉ tiêu phân bổ từ cấp trên xuống nên tiến độ thực hiện còn chậm

Tuy đã có nhiều cố gắng, song công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn một số tồn tại cần khắc phục như sau:

- Việc công khai hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp theo quy

định của Luật Đất đai đã được thực hiện tương đối tốt, tuy nhiên do công tác

tuyên truyền còn hạn chế nên chưa thu hút được sự quan tâm của người dân

- Cán bộ quản lý đất đai các cấp còn thiếu kinh nghiệm trong việc lập quy hoạch, quản lý quy hoạch chưa được chặt chẽ, triệt để, chưa có sự phối hợp trong công tác chỉ đạo điều hành giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với các ngành hữu quan cùng UBND các huyện, thị xã nên việc triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp sau quy hoạch chưa đạt hiệu quả cao

- Công tác lập quy hoạch và xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm

ở cấp xã chất lượng còn hạn chế, tính khả thi chưa cao

* Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Hàng năm được sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường kết hợp cùng các Sở, ban ngành của tỉnh và UBND cấp huyện thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng đất theo phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến 2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 58/2007/NQ-CP ngày 28/11/2007

* Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Từ năm 2005 đến nay UBND tỉnh Bắc Kạn và UBND các huyện, thị xã

đã quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất một số dự án lớn như khu

công nghiệp bột giấy Thanh Bình (giai đoạn 1); các khu đô thị Quang Sơn, Bản Áng, Sông Cầu (thị xã Bắc Kạn); nhà thi đấu tỉnh; nhà văn hóa tỉnh… việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất được thực hiện theo đúng quy hoạch,

kế hoạch và nhu cầu thực tế Thẩm định hồ sơ theo đúng các quy định của Luật Đất đai, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, đáp ứng kịp

Trang 27

thời các nhu cầu về sử dụng đất

Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý sử dụng đất

được tỉnh quan tâm nhằm phát hiện ra những yếu kém trong quản lý sử dụng đất để có những giải pháp khắc phục kịp thời

* Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất

Trong những năm qua, công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đạt được những kết quả quan trọng Việc đăng ký, lập hồ sơ địa chính đã cơ bản hoàn thành, hệ thống sổ sách, hồ sơ địa chính như sổ mục kê, sổ địa chính, sổ theo dõi biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được hoàn thiện ở các cấp trong tỉnh theo đúng quy định

Đến nay tỉnh đã hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trên 108,57 ngàn hộ gia đình, cá nhân và 747 tổ chức, với diện tích

155,34 ngàn ha (trong đó: diện tích đất cấp cho hộ gia đình và cá nhân là 140,62 ngàn ha, diện tích đất cấp cho tổ chức là 14,72 ngàn ha)

* Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

Thực hiện công tác thống kê, kiểm kê đất đai, trong những năm qua ngành Tài nguyên và Môi trường Bắc Kạn đã phối hợp với các huyện, thị xã chỉ đạo công tác thống kê, kiểm kê đất đai hoàn thành đúng thời gian, số liệu kiểm kê đã có sự thống nhất với các ngành có liên quan và được UBND tỉnh phê duyệt, báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường đúng thời gian quy định Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành xong công tác kiểm kê đất đai năm

2010 (theo Chỉ thị số 618/CT-TTg ngày 15/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ)

và hoàn thành công tác thống kê đất đai đến năm 2013 của 3 cấp, theo đó:

- Thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai, cùng với sự chỉ

đạo hướng dẫn về chuyên môn của Bộ Tài nguyên và Môi trường, toàn tỉnh

đã triển khai công tác thống kê đất đai hàng năm và kiểm kê định kỳ 5 năm

- Xây dựng được bộ số liệu, bản đồ hiện trạng sử dụng đất của 3 cấp hành chính với độ tin cậy cao

* Quản lý tài chính về đất đai

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn việc thu các khoản tiền về sử dụng

Trang 28

đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất, thuế trước bạ được Cục thuế tỉnh

và Chi cục thuế tại các huyện, thị xã thực hiện nghiêm túc và đúng quy định của pháp luật

Trong giai đoạn 2010 - 2013, tổng thu cho ngân sách đạt 899.375 triệu

đồng, trong đó :

+ Tiền sử dụng đất 168.305 triệu đồng;

+ Tiền thuê đất 713.480 triệu đồng;

+ Tiền thuế chuyển

+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp 4.966 triệu đồng;

+ Thuế nhà đất 12.624 triệu đồng

Riêng trong năm 2013, các khoản thu từ đất cho ngân sách đạt 43.061 triệu đồng, trong đó:

+ Tiền sử dụng đất 31.376 triệu đồng;

+ Tiền thuê đất 2.894 triệu đồng;

+ Tiền thuế chuyển quyền sử dụng đất 3.343 triệu đồng;

+ Tiền thuế trước bạ 1.312 triệu đồng

+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1.256 triệu đồng;

Sau khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành và có hiệu lực, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường cùng UBND các huyện, thị xã trong tỉnh thành lập các Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, đến nay trên

địa bàn tỉnh có 9 Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (01 Văn phòng trực

thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường) Đây là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý

và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản, vì thế thị trường bất động sản có sự chuyển biến và phát triển nhanh

* Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Trang 29

Căn cứ vào quy định của pháp luật nói chung và Luật Đất đai nói riêng, trong những năm qua các cấp, các ngành trong địa bàn tỉnh đã và đang quản

lý, giám sát việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất ngày một tốt hơn điều đó thể hiện ở việc đã được các cấp Uỷ đảng, chính quyền thường xuyên quan tâm lãnh đạo, ra các Chỉ thị, Nghị quyết và cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để triển khai thực hiện ở địa phương, đảm bảo mọi quyền lợi hợp pháp của người dân, đồng thời cũng

động viên và huy động được nhân dân tham gia đóng góp nghĩa vụ với nhà

nước bằng việc thực hiện tốt các chính sách thuế

* Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai

Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý sử dụng đất

được tỉnh quan tâm nhằm phát hiện ra những yếu kém trong quản lý sử dụng đất để có các giải pháp khắc phục kịp thời

Trong thời gian qua Sở Tài nguyên và Môi trường kết hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thanh tra kiểm tra một số nội dung:

- Thực hiện các cuộc kiểm tra, thanh tra về đất đai đối với các tổ chức

* Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại; tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất

Công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân ở lĩnh vực

đất đai đã được UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo, giải quyết kịp thời Công tác

tiếp dân luôn được coi trọng và thực hiện có nề nếp, đúng quy định, quy chế tiếp dân và Luật Khiếu nại tố cáo

Tranh chấp đất đai tuy không xảy ra phổ biến như thời kỳ trước khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực, nhưng vẫn tồn tại, phức tạp và có lúc rất

Trang 30

gay gắt Nội dung chủ yếu của tranh chấp đất đai là đòi lại đất cũ, đất sản xuất trước đây khai hoang hoặc chiếm dụng Đất nông nghiệp mà nay hợp tác xã

đã khoán cho các hộ sản xuất khác Các tranh chấp thường là giữa các cá nhân

với nhau hoặc là giữa các doanh nghiệp nhà nước với người địa phương Xác

định được đây là vấn đề phức tạp, tỉnh đã chỉ đạo các ngành tập trung giải

quyết dứt điểm từng vụ việc, không để xảy ra các điểm nóng

Trong thời gian qua chủ yếu thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp

về đất đai của công dân, chưa tập trung thanh kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về môi trường Kết quả thực hiện:

- Tiếp trên 500 lượt dân đến khiếu nại, tố cáo và tìm hiểu chính sách pháp luật về tài nguyên và môi trường, qua quá trình tiếp dân đã giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật các vụ khiếu nại, tố cáo, phản ánh của nhân dân

- Giải quyết gần 200 vụ việc khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền xử lý của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường và của Chủ tịch UBND tỉnh

- Kiểm tra hướng dẫn UBND các huyện, thị xã trong tỉnh giải quyết trên

300 vụ việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp thuộc thẩm quyền của cấp huyện

* Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

Đến nay trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số trung tâm đo đạc bản

đồ, các trung tâm tư vấn của các ngành hoạt động phục vụ xây dựng lập bản

đồ, hồ sơ xin giao đất Việc giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất được thực hiện từ cấp huyện đến cấp tỉnh do cơ quan Tài nguyên

và Môi trường đảm nhận

Việc đăng ký quyền sử dụng đất, đăng ký biến động về đất thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất chưa theo kịp diễn biến và thực tế

sử dụng đất Hiện tượng tuỳ tiện chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền

sử dụng đất vẫn còn diễn ra trong những năm trước đây

Tình hình trên đã có nhiều chuyển biến tích cực trong thời gian gần

đây từ khi UBND tỉnh; Sở Tài nguyên và Môi trường và UBND các huyện,

thị xã triển khai việc thực hiện cơ chế "một cửa" nhằm đơn giản hoá thủ tục hành chính

Trang 31

Nhìn chung công tác quản lý nhà nước về đất đai của tỉnh thời gian qua

đã có bước chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đã góp

phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và ổn định an ninh trật tự trên địa bàn Tuy nhiên tiến độ thực hiện công tác đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất và lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các cấp còn chậm so với các tỉnh khác, chưa đủ để đáp ứng được nhiệm vụ quản chắc, quản chặt

- Việc phối kết hợp giữa các ngành, các cấp trong quản lý đất đai chưa chặt chẽ, một số cán bộ làm công tác địa chính chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, nên việc tham mưu cho địa phương trong công tác quản lý nhà nước

về đất đai còn hạn chế

- Công tác quản lý đất đai còn nhiều thủ tục hành chính chưa đồng bộ, nên gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện, việc thể chế các văn bản pháp luật áp dụng tại địa phương còn chậm

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xây dựng mang tính chất định hướng, xong để triển khai thực hiện lại thiếu nguồn vốn Việc công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tuy đã được thực hiện theo quy định, song mới chỉ dừng lại ở việc treo hồ sơ quy hoạch sử dụng dẫn đến việc thực hiện chưa

được chặt chẽ, quản lý theo quy hoạch gặp nhiều khó khăn

- Hiện nay ở các cấp cơ sở còn tồn tại nhiều loại hồ sơ theo mẫu cũ nhưng vấn được sử dụng Mức thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng được quy định tại Nghị định số 198/2004/NĐ- CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ còn quá cao nên vẫn còn xảy ra trường hợp các hộ gia đình cá nhân chuyển mục đích trái phép, gây thất thu cho ngân sách nhà nước

Trang 32

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Đất đai và các chủ thể quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2013

- Phạm vi: Đề tài được nghiên cứu trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai trong quy định Luật Đất đai năm 2003

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Phòng TN&MT Thị xã Bắc Kạn - Tỉnh Bắc Kạn

- Thời gian: 24/02/2014-10/05/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.3.1.2 Điều kiện kinh tế

+ Tình hình sản xuất của ngành nông nghiệp

+ Tình hình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

+ Du lịch - Dịch vụ

+ Tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng

3.3.1.3 Điều kiện xã hội

+ Giáo dục đào tạo

+ Y tế

+ Dân số, dân tộc và lao động…

3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất của phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

3.3.3 Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn phường

Trang 33

Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2013 theo 13 nội dung quy định của Luật Đất Đai 2003

3.3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý sử dụng đất và những giải pháp nhằm tăng cường quản lý đất đai của phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

3.4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu các văn bản luật và văn bản dưới luật về Quản lý Đất đai

đặc biệt là Luật Đất đai năm 2003 có quy định 13 nội dung quản lý nhà nước

về Đất đai

- Điều tra, thu thập các tài liệu, số liệu thứ cấp theo 13 nội dung quản lý nhà nước về Đất đai của UBND phường Sông Cầu

- Tổng hợp số liệu điều tra được, phân tích, so sánh, đối chiếu với quy

định của pháp luật Đất đai

- Sử dụng các phần mềm như Word, Excel…để tổng hợp, xử lý số liệu

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Tình hình dân số và lao động trên địa bàn phường Sông Cầu - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014.
Bảng 4.1 Tình hình dân số và lao động trên địa bàn phường Sông Cầu (Trang 37)
Bảng 4.3: Tổng hợp các văn bản do thị xã Bắc Kạn ban hành có liên quan - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014.
Bảng 4.3 Tổng hợp các văn bản do thị xã Bắc Kạn ban hành có liên quan (Trang 44)
Bảng 4.6: Quy hoạch sử dụng đất của phường Sông Cầu đến năm 2020 - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014.
Bảng 4.6 Quy hoạch sử dụng đất của phường Sông Cầu đến năm 2020 (Trang 48)
Bảng 4.7: Chỉ tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch phường Sông Cầu - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014.
Bảng 4.7 Chỉ tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch phường Sông Cầu (Trang 49)
Bảng 4.11: Kết quả cấp GCNQSDĐ - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014.
Bảng 4.11 Kết quả cấp GCNQSDĐ (Trang 54)
Bảng 4.12: Tình hình biến động đất đai phường Sông Cầu - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014.
Bảng 4.12 Tình hình biến động đất đai phường Sông Cầu (Trang 55)
Bảng 4.13: Kết quả kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014.
Bảng 4.13 Kết quả kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất (Trang 59)
Bảng 4.14: Kết quả giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết các khiếu - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Sông Cầu - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014.
Bảng 4.14 Kết quả giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết các khiếu (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w