Không riêng gì đối với những đô thị phát triển, việc chọn công nghệ xử lý chất thải như thế nào để đạt hiệu quả cao, không gây nên hậu quả xấu về môi trường trong tương lai và ít tốn kém
Trang 1LƯƠNG TUẤN VŨ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI, KHÍ THẢI, CHẤT THẢI RẮN TẠI NHÀ MÁY LỌC CHÌ THỎI THÔN AN TRI –XÃ BÌNH TRUNG –HUYỆN CAO LỘC –TỈNH
LẠNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành : Quản lý đất đai Khoa : Quản lý tài nguyên
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa quản lý tài nguyên, các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập
và truyền đạt lại cho em những kiến thưc quý báu trong suốt khóa học vừa qua
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Nông, người thầy rất tâm huyết đã tận tình hướng dẫn,
động viên, dành nhiều thời gian và định hướng chỉ bảo em trong suốt thời
gian thực tập để em hoàn thành bài khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ của nhà máy lọc chì thỏi đã tạo điều kiện tốt nhất để em được thực tập tại cơ quan Ngoài ra, còn giúp em học hỏi được thêm kinh nghiệm trong cuộc sống
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tới các cán bộ trong nhà máy đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình triển khai điều tra thu thập số liệu thực
địa để phục vụ cho bài khóa luận này
Cuối cùng em xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình của em Gia đình đã thực sự là nguồn động viên lớn lao và là những người truyền nhiệt huyết để
em hoàn thành bài khóa luận này
Trong thời gian thực tập em đã cố gắng hết sức mình, nhưng do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn hẹp nên bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót và khuyết điểm Em rất mong các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên đóng góp thêm ý kiến để bài khóa luận này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh Viên Lương Tuấn Vũ
Trang 3STT Chữ viết tắt Nghĩa
1 BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
7 CTNH Chất thải nguy hại
10 AHU & FCU Hệ thống làm lạnh không khí
Trang 4PHẦN 1MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 3
1.2.1 Mục đích của đề tài 3
1.2.2 Yêu cầu của để tài 3
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 4
2.1.3 Cơ sở pháp lý 5
2.2 Những vấn đề cơ bản về chất thải 7
2.2.1 Khái niệm về chất thải rắn 7
2.2.2 Khái niệm về xử lý chất thải 7
2.2.3 Phân loại chất thải 7
2.2.4 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn 8
2.3 Mối quan hệ giữa chất thải với con người và môi trường 10
2.3.1 Nguồn gây ô nhiễm 10
2.3.2 Biện pháp giảm thiểu 11
2.4 Tình hình xử lý chất thải rắn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 13
2.4.1 Trên thế giới 13
Trang 52.5 Một số quy trình công nghệ xử lý chất thải trên thế giới và ở Việt Nam 15
2.5.1 Trên thế giới 15
2.5.2 Ở Việt Nam 16
PHẦN 3ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.3 Nội Dung nghiên cứu 18
3.3.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của nhà máy tại thôn An Chi, xã Bình Trung, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất huyện Cao Lộc) 18
3.3.2 Quy trình sản xuất chì thỏi của nhà máy lọc chì Error! Bookmark not defined 3.3.3 Phương pháp nghiên cứu 19
PHẦN 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế ,xã hội, cơ sở hạ tầng của huyện Cao Lộc, Tỉnh Lạng Sơn (Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất huyện Cao Lộc) 20
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 20
4.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 21
4.1.3 Đặc điểm cơ sở hạ tầng Error! Bookmark not defined 4.1.4 Đặc điểm về giáo dục, y tế Error! Bookmark not defined 4.2 Đánh giá quy trình xử lý chất thải tại nhà máy lọc chì 23
4.2.1 đối với nước thải của nhà máy lọc chì thải ra 23
4.2.2 Nước thải sinh hoạt do nhà máy lọc chì thải ra 31
4.2.3 Nước mưa chảy tràn trên bề mặt nhà máy 35
Trang 64.2.4 Nước thải sản xuất của nhà máy lọc chì 25
4.2.5 Đối với khí thải của nhà máy lọc chì Error! Bookmark not defined 4.2.6 Đối với chất thải rắn của nhà máy lọc chì 51
4.2.6.1 Chất thải thông thường 51
4.2.6.2 Chất thải rắn nguy hại 54
4.3 Giới thiệu chung về nhà máy lọc chì 23
4.4 Một số thuận lợi, khó khăn và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quy trình xử lý chất thải tại nhà máy lọc chì 54
4.4.1 Thuận lợi 54
4.4.2 Khó khăn 55
4.4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý chất thải tại nhà máy 55 PHẦN 5KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 7Bảng 1 : Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 32
Bảng 2 : Chất lượng nước thải sinh hoạt sau sử lý 35
Bảng 3 : Thành phần chính của nước thải sản xuất 26
Bảng 4 : chất lượng nước thải sản xuất sau sử lý 31
Bảng 5 : Đặc trưng khí thải và tác động môi trường 39
Bảng 6 : kết quả đo đạc chất lượng khí thải công nghiệp 43
Bảng 7 : thiết bị chính của hệ thống xử lý khí SO2 48
Bảng 8 : cân bằng xác định lượng chất thải sản xuất 51
Trang 8Hình 2 : sơ đồ hệ thống thoát nước mưa chảy tràn 37
Hình 3 : Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải 30
Hình 4 : Nguồn phát sinh khí thải từ các công đoạn sản xuất chì Error! Bookmark not defined Hình 5 : Sơ đồ nguyên lý sản suất sữa vôi 47
Hình 6 : sơ đồ hệ thống xử lý khí SO2 47
Hình 7 : sơ đồ nguyên lý hệ thống không khí 49
Hình 8 : sơ đồ thông gió cho nhà xưởng sản xuất 50
Hình 9 : Sơ đồ cân bằng vật chất của công nghệ luyện chì thỏi 52
Hình 10 : Quy trình phân loại chất thải rắn của nhà máy 53
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển là một xu hướng tất yếu của xã hội Các hoạt động phát triển
ở mức vĩ mô, các hoạt động này là chính sách, các chiến lược, các chương
trình và kế hoạch dài hạn về sự phát triển kinh tế xã hội Ở mức vĩ mô là các
dự án phát triển cụ thể và khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất hàng hóa, xây dựng cơ sở hạ cấp tầng, cung dịch vụ cần thiết cho con người (Trần Yêm, Trịnh Thị Thanh 1998).[9]
Theo dự báo Việt Nam sẽ là một nước trong những nước có tốc độ phát triển nhanh trên thế giới với tốc độ tăng trưởng được dự báo là 7% trong thập
kỷ tới Xã hội phát triển nhắm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của mọi người, song cũng dẫn tới vấn đề nan giải như gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Chất thải là vấn để nhức nhối đối với toàn xã hội, nhất là trong quá trình đô thị, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay Ở các đô thị lớn của Việt Nam, chất thải đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Xử lý chất thải từ các nhà máy là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý môi trường Không riêng gì đối với những đô thị phát triển, việc chọn công nghệ xử lý chất thải như thế nào để đạt hiệu quả cao, không gây nên hậu quả xấu về môi trường trong tương lai và ít tốn kém chi phí luôn là nỗi bức xúc của các ngành chức năng
Chất thải là sự đồng hành tất yếu trong mọi hoạt đông kinh tế và phát triển Trong điều kiện tiến bộ khoa học và công nghệ hiện nay và trong tầm nhìn dài hạn (vài thập kỷ tới), lượng chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng có xu hướng gia tăng cùng với sự gia tăng của sản xuất và tiêu dùng trong quá trình phát triển của xã hội Sự gia tăng của chất thải đã, đang và vẫn tiếp tục là một tác nhân, nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm môi
Trang 10trường và suy giảm chất lượng môi trường, đe dọa tính bền vững trong quá trình phát triển cả ở tầm vi mô (các nhà máy, xí nghiệp nhỏ) Tác nhân, nguyên nhân này được kìm hãm và khắc phục đồng thời theo cả hai hướng: Một là bằng các công nghệ nhằm giảm thiểu, hạn chế lượng chất thải ra môi trường và hai là bằng các giải pháp quản lý đối với chất thải trong suốt quá trình phát sinh và vận động của chất thải
Xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc đối với các địa phương trong cả nước, đặc biệt là ở các đô thị, khu công nghiệp
Trong bối cảnh chung của nước ta là đang trên đà phát triển Thành phố Lạng Sơn cũng đang thực hiện nhiệm vụ chung của đất nước đã và đang phát triển mạnh mẽ Trong đó kinh tế chất thải đang trở thành nghành kinh tế trọng
điểm trong việc góp phần và sự phát triển bền vững thì việc giải quyết chất
thải bằng các quy trình xử lý hiệu quả là điều tất yếu
Nhà máy chế biến chì thỏi thuộc công ti cổ phần kim loại màu Bắc Bộ, công suất 10.000 tấn/năm nằm trong khu công nghiệp phía Tây Bắc Thành phố Lạng Sơn, cách Thành phố Lạng Sơn hơn 20km Nhà máy sẽ góp phần tăng cường mật độ các nhà máy hình thành mội cụm khu công nghiệp lớn, giả quyết tốt vấn đề phân bố dân cư, biến một vùng đồi núi thưa thớt dân cư trở thành vùng công nghiệp sầm uất, tạo điều kiện cho người dân miền núi có thêm công ăn việc làm
Qua quá trình thực tế tình hình chất thải tại Nhà máy chì thỏi của Công
ty kim loại màu Bắc Bộ và sự đồng ý của nhà trường, Bạn chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên, cùng với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn
Ngọc Nông em tiến hành thực hiện đề tài : “Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải, khí thải, chất thải rắn tại nhà máy lọc chì thỏi thôn An Tri –Xã Bình Trung –Huyện Cao Lộc –Tỉnh Lạng Sơn”
Trang 111.2 Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
- Đánh giá được quy trình xử lý chất thải của nhà máy
- Đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả của công nghệ xử lý chất thải của nhà máy
- Xác định những thuận lợi khó khăn trong quá trình xử lý chất thải tại nguồn Từ đó đề ra những phương hướng để nâng cao hiệu quả của quy trình
xử lý chất thải của nhà máy
1.2.2 Yêu cầu của để tài
- Theo dõi quy trình xử lý chất thải tại nhà máy
- Kết quả đánh giá quy trình xử lý chất thải phải chính xác Những kiến nghị ra phải phù hợp với thực trạng của nhà máy và thành phố
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài
- Trong học tập và trong nghiên cứu khoa học: Thấy được quy trình xử
lý chất thải của nhà máy và có thể củng cố kiến thức đã học để áp dụng vào
địa phương mình hoặc nơi mình làm việc
- Trong thực tiễn: Trên cơ sở thu thập, đánh giá, phân tích, quy trình xử
lý rác tại xí nghiệp qua đó biết được hiện trạng quy trình xử lý rác, từ đó đóng góp, đề xuất ý kiến để giải quyết hiện trạng trên
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của để tài nghiên cứu
2.1.1 Cơ sở lý luận
Ngành công nghiệp luyện kim, nhất là luyện kim màu có một vai trò hết sức trọng yếu trong nền công nghiệp của một đất nước đang phát triển và phát triển Nó đóng góp hết sức quan trọng trong việc chủ động nguồn nguyên liệu trong nước, không phụ thuộc nước ngoài, không phụ thuộc vào việc nhập khẩu góp phần chống nhập siêu, tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động trong xã hội, làm cho nền công nghiệp phát triển cân đối, đồng đều, đa dạng hoá sản phẩm và phát triển vững chắc
Vì vậy, việc hình thành Nhà máy chế biến chì thỏi, công suất 10.000 tấn/năm nằm trong khu công nghiệp phía Tây Bắc Thành phố Lạng Sơn, cách Thành phố Lạng Sơn hơn 20km, là một vần đề cần thiết nhưng bên cạnh đó là nguồn thải từ nhà máy và các nguồn thải phát sinh trong gia đoạn sản xuất, nên có các biện pháp giảm thiểu, phòng ngừa , về vấn đề chất thải mà nhà máy tạo ra.[2]
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Ngày nay chất thải từ sản xuất đang trở thành vấn đề lớn được các nhà quản lý môi trường của Việt Nam cũng như nước ngoài hết sức quan tâm Thành phần chất thải nhà máy lọc chì của nhà máy đang là vấn đề nổi cộm và nhức nhối Số lượng ngày càng nhiều vì lượng sản xuất của nhà máy là 10.000 tấn/năm số lượng rất lớn khiến lượng chất thải tạo ra cũng rất lớn, với lương công nhân viên của nhà máy khá là nhiều, kèm theo nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất cũng như trong sinh hoạt, có biện pháp sử lý và giảm thiểu nguồn gây ô nhiễm là một vấn đề cấp thiết đối với nhà máy nhằm
Trang 13đảm bảo sự phát triển của nhà máy và làm tổn hại môi trường ít nhất có
thể.[1]
2.1.3 Cơ sở pháp lý
Báo cáo xây dựng Nhà máy chế biến chì thỏi, công suất 10.000 tấn/năm
được lập theo các căn cứ pháp luật hiện hành sau đây :
- Luật Bảo vệ môi trường do Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày
09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Trang 14- Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày
13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 1 năm 2005 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng
- Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của
Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng cho mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích kinh tế, mục đích phát triển kinh tế để bồi thường đất, tài sản, hỗ trợ và bố trí tái định cư cho ngời bị thu hồi đất
- Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược,
đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước
- Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn hành nghề và lập thủ tục hồ sơ, đăng
ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại
Trang 15- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 01 tháng 12 năm 2004 hướng dẫn thi hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18 tháng 12 năm 2006 của
Bộ TN&MT về việc bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ TN&MT về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại
- Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của
Bộ TN&MT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.[1]
2.2 Những vấn đề cơ bản về chất thải
2.2.1 Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn là toàn bộ các loài vật chất (không ở dạng khí và không hòa tan được) được con người loại bỏ trong các hoạt động KT-XH của mình (Bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng) Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt
động sản xuất và hoạt động sống.[11]
2.2.2 Khái niệm về xử lý chất thải
Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và không làm ảnh hưởng đến môi trường, tái tạo lại các sản phẩm có lợi ích cho
xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế Xử lý chất thải là một công tác quyết
định đến chất lượng bảo vệ môi trường Hiện nay, ô nhiễm môi trường và suy
thoái về môi trường là nỗi lo của nhân loại, môi trường đất bị hủy hoại, môi trường nước bị ô nhiễm, đặc biệt môi trường không khí bị ô nhiễm nặng, nhất
là các thành phố lớn tập trung đông dân cư, tài nguyên môi trường cạn kiệt.[11]
2.2.3 Phân loại chất thải
Theo nguồn gốc phát sinh :
Trang 16- Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại
- Chất thải rắn công nghiệp : là chất thải phát sình từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như Đất, đá (do các hoạt động đào móng trong xây dựng) gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá vỡ, dỡ bỏ công trình xây dựng.[2]
2.2.4 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn
Các phương pháp xử lý chất thải rắn thường được sử dụng là chôn trong đất (landfilling) hoặc đốt Hiện nay, phương pháp chôn trong đất ngày càng ít được lựa chọn do chúng ngăn cản sự thu hồi các sản phẩm có thể dùng lại được (plastic, giấy, các vật liệu xây dựng ) và chúng không hiệu quả lắm trong việc thu hồi năng lượng (biogas) Hơn nữa, chôn trong đất ngâm có thể gây ra sự bốc mùi của khí gây ô nhiễm môi trường Tương tự như thế, các lò
đốt không cho phép thu hồi nguyên liệu mặc dù chúng có thể được thiết kế để
thu hồi năng lượng từ chất thải Các lò đốt có nhiều hạn chế như giá thành cao
và ngoài ra hệ thống khí của ống khói cần được thiết kế tinh vi để tránh ô nhiễm môi trường
Hiện nay, một phương thức xử lý chất thải rắn công nghiệp và đô thị khác đang được thực hiện nhờ vào thiết bị phân tách và sản xuất phân ủ Đây
là những thiết bị rất lớn và phức tạp, có năng suất cao (100.000 tới 300.000 tấn chất thải/năm), được thiết kế một hệ phân tách vật lý để thu hồi các vật liệu khác nhau từ các vật bỏ đi, như:
- Cát và sỏi bán lại như vật liệu xây dựng
- Sắt bán lại cho công nghiệp luyện kim
- Nhôm và các kim loại không chứa sắt khác có giá trị bán lại cao
Trang 17- Giấy và giấy cartoon bán cho công nghiệp giấy
- Các plastic cứng và mềm được dùng lại hoặc đốt
- Các chất hữu cơ có thể phân hủy sinh học được biến đổi thành phân ủ
và biogas Phân đoạn hữu cơ của chất thải rắn đô thị được dùng làm phân bằng phương pháp hiếu khí hoặc yếm khí Trong khi sản xuất phân hiếu khí là một công nghệ được ứng dụng từ lâu, thì những phát triển gần đây trong sản xuất phân yếm khí cũng đã có một vài tiến bộ Các công ty môi trường khác nhau đã thiết kế các hệ phân hủy yếm khí khác nhau cho chất thải rắn như:
được điều chỉnh tốt và ở tốc độ phản ứng lớn hơn nhiều Các tốc độ phản ứng
rất cao có thể đạt tối đa, giúp cho nó có khả năng hoàn thành quá trình phân hủy trong hai tuần thay cho 20 năm ở trong đất Vấn đề cốt lõi của quá trình này là nhiệt độ cao và cường lực phối trộn thông qua sự tuần hoàn khép kín cho phép tốc độ phản ứng cao hơn nhiều và cung cấp chất rắn trực tiếp vào trong bể phản ứng không cần bổ sung nước pha loãng Do khuấy cơ học không đủ khả năng làm khô, nên sản phẩm của bể phản ứng được thu hồi vài lần, với việc bổ sung nguyên liệu sạch cung cấp ở mỗi lần (passage) Vòng thu hồi đảm bảo phối trộn đầy đủ và cho phép đưa nguyên liệu cung cấp vào Sản phẩm cuối cùng là đất mùn được dùng làm phân ủ hiếu khí rất tốt trong trồng trọt Nguyên nhân để các phân ủ hiếu khí có thể gây độc đối với cây
Trang 18trồng là do hàm lượng muối cao của chúng, trong khi đó các phân ủ yếm khí hầu như ít muối do thực tế là khoảng một nửa trong số chúng bị đào thải bằng nước trong máy nén lọc Hơn nữa, các phân ủ yếm khí chứa ít hạt cỏ dại và các tác nhân gây bệnh vi sinh vật hơn so với phân ủ hiếu khí Tuy nhiên, giá trị thị trường của các phân ủ khá thấp và hậu xử lý đặc trưng sẽ phải được tìm kiếm cho các ứng dụng khác nhau Vấn đề sau có thể được thực hiện bằng cách bổ sung các vi sinh vật hữu ích như là cố định nitrogen và các vi khuẩn kích thích sinh trưởng thực vật, mycorrhizae hoặc các vi sinh vật điều khiển sinh học (biocontrol) Sự phục hồi các đất bị ô nhiễm cũng có thể hữu ích nhờ
bổ sung phân ủ vì chúng có thể giúp phân hủy các hợp chất xenobiotic trong các vùng đất này.[11]
2.3 Mối quan hệ giữa chất thải với con người và môi trường
2.3.1 Nguồn gây ô nhiễm
- chất thải rắn nguy hại: với khối lượng 60.100 tấn/năm chất thải rắn nguy hại chủ yếu là xỉ kim loại, khí thải ra môi trường mà không có biện pháp
xử lý thích hợp sẽ ảnh hưởng tới hệ sinh thái của đất và nguồn nước trong khu vực
- đối với tiếng ồn: là nguồn gây ô nhiễm khá quan trọng trong hoạt
động sản xuất của nhà máy Tiếng ồn cao hơn tiêu chuẩn cho phép sẽ gây các ảnh hưởng xấu đến môi trường và trước tiên là đến sức khỏe của người công
nhân trực tiếp sản xuất như mất ngủ, mệt mỏi, gây tâm lý khó chịu, giảm năng suất lao động Tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ cao trong thời gian dài sẽ làm cho thính lực giảm sút, dẫn tới bệnh điếc nghề nghiệp
Theo thống kê của Bộ Y Tế và Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo
hộ lao động của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam thì tiếng ồn gây ảnh hưởng xấu tới hầu hết các bộ phận trong cơ thể con người
Trang 19- Nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên của nhà máy: với lượng nhận viên và công nhân khá nhiều nên đây cũng là một trong những nguồn gây ô nhiễm khá lớn
- Nước mưa chảy tràn: pha loãng các kim loại bám trên đất trong khi sản xuất rơi ra làm lây lan và ảnh hưởng đên nguồn nước cũng như đên môi trường làm việc
- Lượng nước dùng cho hoạt động sản suất của nhà máy, lượng nước này được tuần hoàn tái sử dụng.[2]
2.3.2 Biện pháp giảm thiểu
- Chất thải rắn nguy hại: bao gồm giẻ lau dính dầu mỡ, cặn dầu, dầu mỡ thải không còn tái sử dụng được sẽ thu gom chứa trong thùng chứa đặt tại xưởng thiêu kết và định kì một tuần/lần đem đốt trong lò thiêu kết Chủ nhà máy đã đăng ký giấy phép hành nghề xử lý, tiêu hủy các loại chất thải nguy hại này theo quy định tại thông tư số 12/2006/TT-BTNMT
- Ô nhiễm tiếng ồn:
+ Sử dụng đệm chống ồn được lắp tại chân quạt và máy nén khí
+ Nhà điều hành sản xuất được cách ly riêng
+ Kiểm tra sự cân bằng của nhà máy khi lắp đặt Kiểm tra độ mòn chi tiết và cho dầu bôi trơn trường kỳ
+ Đúc móng máy đủ khối lượng (bê tông mác cao), tăng chiều sâu móng, đào rãnh đổ cát khô hoặc than củi để tránh rung theo mặt nền
+ Lắp đặt đệm cao su và lò so chống rung đối với các thiết bị có công suất lớn
- Nước thải của cán bộ công nhân viên nhà máy: nhà máy xây dựng nhà
vệ sinh, dưới mỗi nhà vệ sinh là một bể tự hoại
- Nước mưa chảy tràn: so với nước thải, nước mưa khá sạch do vậy sẽ cho chảy trược tiếp vào hệ thống thoát nước chung của nhà máy Tuy nhiên,
Trang 20dọc theo các mương thoát nước này cũng thiết kế hệ thống hố ga để lắng cát,
đất, chất lơ lửng
- Chất thải sản xuất : nước thải sản xuất sau quá trình tuần hoàn được
/ngđ cùng với nước thải sinh hoạt Bể xử lý nước thải tập trung có nhiệm vụ xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn theo quy định của TCVN 5945-2005 (loại B) trước khi đổ vào suối Lùng Uất.[13]
Trang 212.4 Tình hình xử lý chất thải rắn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
2.4.1 Trên thế giới
Trên thế giới việc quản lý chất thải nguy hại đã hình thành và có những thay đổi mạnh mẽ trong thập niên 60 và đã trở thành một vấn đề môi trường
được quan tâm hàng đầu trong thập niên 80 của thế kỷ XX Điều này có thể
thấy đây là hệ quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên toàn cầu
Sự phát triển của các loại hình công nghiệp ,sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ vật chất… đã dẫn đến một lượng lớn chất thải ra môi trường trong số đó có các chất thải nguy hại và độc hại Ngoài ra bên cạnh đó các cuộc chiến tranh nhằm giải quyết các mâu thuẫn khu vực hay các cuộc nội chiến cũng góp phần đưa một lượng lớn chất độc hại vào môi trường Từ các nguyên nhân trên làm phát sinh sự gia tăng của các loại hình chất thải nguy hại có thể kể đến như : sự phát triển của khoa học kỹ thuật (khoa học phân tích, y học ,độc chất học…), nhận thức của chủ thải và cộng đồng , hành vi cố tình, sự yếu kém của của bộ máy quản lý…đã dẫn đến các hậu quả bi thảm do chất thải nguy hại gây ra như : thuỷ ngân, PCB (polyclorinated biphenyl), PBB (polybrominated biphenyl), Cd, DDT(gây ung thư)… Từ những thực tế như vậy, trên thế giới các quốc gia đặc biệt là các nước Tiên tiến như Châu
Âu, Mỹ ,Nhật ,Úc…ngày càng hoàn thiện bộ Luật bảo vệ môi trường của mình, và trong đó các quy chế quản lý các chất thải nguy hại là các thành phần không thể thiếu được của bộ Luật Mặc dù vẫn còn nhiều khác biệt trong nội dung các điều khoản của các bộ Luật giữa những quốc gia khác nhau, nhưng nhìn chung các bộ Luật điều đã chỉ rõ được mối quan tâm của nhà nước đối với công tác quản lý chất thải nguy hại Vượt ra ngoài biên giới quốc gia, những công ước quốc tế có liên quan đến việc quản lý chất thải nguy hại cũng đã lần lượt ra đời, nói lên được sự cảnh báo cùng các mối quan tâm sâu sắc của toàn nhân loại đối với các chất thải nguy hiểm đang tồn tại và đe doạ cuộc sống xung quanh chúng ta và cần phải có sự phối hợp hành
động của nhiều quốc gia trong việc quản lý các chất thải nguy hiểm này.[12]
Trang 222.4.2 Tình hình xử lý chất thải rắn ở Việt Nam
Nước ta đang trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cùng với sự tăng thêm các cơ sở sản xuất với quy mô ngày càng lớn, các khu tập trung dân cư càng ngày nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn Tất cả những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng,
đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao mức sống
chung của xã hội, mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, v.v…
Trên thực tế, việc xử lý ô nhiễm môi trường và quản lý nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải gây ra đang trở thành vấn đề cấp bách của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay
chất thải công nghiệp, đến tháng 6 năm 2006, cả nước đã có 134 khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) được Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập, phân bố trên 47 tỉnh, thành trong cả nước và thu hút được hơn
1,2 triệu lao động trực tiếp và gián tiếp Quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KCX đã có đóng góp đáng kể vào công cuộc hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước; góp phần đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nước ta Tuy nhiên, vấn đề môi trường tại các KCN, KCX hiện nay đang còn nhiều
điều bất cập và ngày càng trở nên bức xúc Số liệu điều tra cho thấy, trong số
134 KCN, KCX chỉ có 33 khu đã có công trình xử lý nước thải tập trung, 10 khu đang xây dựng, các khu còn lại chưa đầu tư cho công trình xử lý nước thải
Đối với chất rắn, đa số các KCN chưa tổ chức được hệ thống phân loại,
thu gom và xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại một cách an toàn về môi trường Về khí thải công nghiệp, ô nhiễm không khí do khí thải công nghiệp
Trang 23gây ra chủ yếu là bụi, SO2, NO2,CO… Nồng độ bụi có xu hướng tăng theo thời gian và hầu hết đều vượt qua giới hạn cho phép, một số nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng (vượt tiêu chuẩn cho phép từ 20 đến 435 lần), công nghiệp khai thác than, các nhà máy luyện kim (vượt từ 5 đến 125 lần), khai thác và chế biến khoáng sản như than đá, apatit, cao lanh (vượt từ 10 đến 15 lần), các nhà máy cơ khí, đóng tàu (vượt khoảng 10 đến 15 lần), các nhà máy dệt, may (vượt từ 3 đến 5 lần) Tại một số khu vực dân cư gần khu công nghiệp, nồng
chuẩn cho phép, gây ô nhiễm nội vi, khu vực và ảnh hưởng tới sức khoẻ của cộng đồng dân cư xung quanh đang có xu hướng ngày càng gia tăng.[6][12]
2.5 Một số quy trình công nghệ xử lý chất thải trên thế giới và ở Việt Nam
2.5.1 Trên thế giới
Trong một hệ thống quản lý kỹ thuật chất thải nguy hại, nhất là hệ thống cần áp dụng cho nước ta và các nước trên thế giới cũng phải bao gồm các khâu liên quan từ nguồn phát sinh đến các kỹ thuật xử lý sau cùng Về cơ bản có thể chia hệ thống quản lý thành 5 giai đoạn :
+ Giai đoạn 1: là giai đoạn phát sinh chất thải từ các nguồn, trong phần này để giảm lượng thải doanh nghiệp có thể áp dụng các biện pháp giảm thiểu tại nguồn khác nhau
+ Giai đoạn 2: là giai đoạn bao gồm các công tác thu gom và vận chuyển trong nội vi công ty và vận chuyển ra ngoài
+ Giai đoạn 3: là giai đoạn gồm các công tác xử lý thu hồi
+ Giai đoạn 4: là giai đoạn vận chuyển cặn, tro sau xử lý
+ Giai đoạn 5: là giai đoạn chôn lấp chất thải
- Phương pháp chôn lấp chất thải hợp vệ sinh: Phương pháp này chi phí
rẻ nhất, bình quân ở các khu vực Đông Nam Á là 1-2 USD/tấn phương pháp này thường phù hợp với các nước đang phát triển
Trang 24- Phương pháp chế biến chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ thành phân ủ hữu cơ (compost): Phương pháp này chi phí thông thường từ 8-10 USD/tấn Thành phẩm thu được dùng để phục vụ cho nông nghiệp, vừa có tác dụng cải tạo đất vừa thu được sản phẩm không bị nhiễm hoá chất dư tồn trong quá trình sinh trưởng Thành phần này được đánh giá cao ở các nước phát triển
Nhược điểm của phương pháp này là: Quá trình xử lý kéo dài, bình thường là từ 2-3 tháng, tốn diện tích Một nhà máy sản xuất phân hữu cơ từ chất thải rắn công xuất xử lý 100.000 tấn chất thải/năm cần có diện tích là 6ha
- Phương pháp thiêu đốt: Phương pháp này chi phí cao, thông thường từ 20-30 USD/tấn nhưng chu trình xử lý ngắn, chỉ từ 2-3 ngày, diện tích sử dụng chỉ bằng 1/6 diện tích làm phân hữu cơ có cùng công suất.[8][10]
2.5.2 Ở Việt Nam
Cùng với xu thế chung của thế giới, ở nước ta trong những năm gần
đây chính phủ rất coi trọng việc bảo vệ môi trường và các biện pháp để quản
lí chất thải rắn Các phương pháp xử lý chất thải rắn đang được áp dụng tại
ViệtNam hiện nay tập chung vào:
- Tái chế chất thải: Việc tái chế chất thải chỉ mang tính tự phát, tập trung ở những thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh Các loại phế thải có giá trị như: Thuỷ tinh, Đồng, Nhôm, sắt, giấy được đội ngũ đồng nát thu mua ngay tại nguồn, chỉ còn một lượng nhỏ tới bãi rác và tiếp tục thu nhặt tại đó Tất cả phế liệu thu gom được chuyển đến các làng nghề Tại đây quá trình tái chế được thực hiện Việc thu hồi sử dụng chất thải rắn góp phần
đáng kể cho việc giảm khối lượng chất thải đưa đến bãi chôn lấp, tận dụng được nguồn nguyên liệu đầu vào cho các quá trình sản xuất, tạo công ăn việc
đốt chất thải còn được dùng để xử lí chất thải công nghiệp như lò đốt chất thải
giầy da ở Hải Phòng, lò đốt cao su công suất 2,5tấn/ ngày ở Đồng Nai
Trang 25- Chôn lấp chất thải rắn:
Chôn lấp đơn thuần không qua xử lí, đây là phương pháp phổ biến nhất theo thống kê, nước ta có khoảng 149 bãi rác cũ không hợp vệ sinh,trong đó 21 bãi rác thuộc cấp tỉnh - thành phố, 128 bãi rác cấp huyện – thi trấn.Được
sự giúp đỡ của nước ngoài đã xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, TP Hồ Chí Minh, Bắc Giang
- Chế biến thành phân hữu cơ: Phương pháp làm phân hữu cơ có ưu
điểm làm giảm lượng rác thải hữu cơ cần chôn lấp, cung cấp phân bón phục
vụ nông nghiệp Phương pháp này rất phù hợp cho việc xử lí chất thải rắn sinh hoạt, phương pháp này được áp dụng rất có hiệu quả như ở Cầu Diễn, Hà Nội (công nghệ ủ hiếu khí(compostry) – công nghệ Tây Ban Nha với công suất 50.000 tấn rác/năm – SP 13200 tấn/năm, công nghệ Pháp – TBN ủ sinh học chất thải hữu cơ áp dụng tại Nam Định với công suất thiết kế 78.000 tấn rác/năm ) Ở thành phố Việt Trì với công suất thiết kế 30.000 tấn rác/năm [8]
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về chất thải nhà máy lọc chì thỏi
- Nghiên cứu về các quy trình sử lý chất thải nhà máy lọc chì thỏi
* Phạm vi nghiên cứu: “Nhà máy lọc chì thỏi thôn An Tri –Xã Bình Trung –Huyện Cao Lộc –Tỉnh Lạng Sơn”
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Công ty cổ phần kim loại màu Bắc Bộ Thành Phố Lạng Sơn
- Thời gian nghiên cứu: 08/01/2014 – 30/4/2014
3.3 Nội Dung nghiên cứu
3.3.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của thôn An Chi, xã Bình Trung, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
3.3.1.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên
3.3.1.2 Đánh giá điều kiên kinh tế
3.3.1.3 Điều kiện về xã hội xã Bình Trung
3.3.2 Đánh giá hiện trạng môi trường nước, khí, chất thải rắn tại nhà máy lọc chì thỏi
3.3.2.1 Nước thải sinh hoạt do nhà máy lọc chì thải ra
3.3.2.2 Nước mưa chảy tràn trên bề mặt nhà máy
3.3.2.3 Nước thải sản xuất của nhà máy lọc chì
3.3.2.4 Đối với khí thải của nhà máy lọc chì
3.3.2.5 Đối với chất thải rắn của nhà máy lọc chì
3.3.3 Thuận lợi, khó khăn và các giả pháp nâng cao hiệu quả của quy trình xử lý chất thải tại nhà máy lọc trì thỏi
Trang 273.3.3.1 Thuận lợi
3.3.3.2 Khó khăn
3.3.3.3 Giải pháp
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp tham khảo tài liệu, điều tra số liệu thứ cấp
Tham khảo các tài liệu liên quan, tìm hiểu các tài liệu đề cập đến vấn
đề CTR-CTNH (CTR: chất thải rắn, CTNH: chất thải nguy hại) trong khu
công nghiệp, các tài liệu nói về các cách quản lý CTR-CTNH trong khu công nghiệp Ngoài ra cần tìm hiểu các văn bản pháp luật về định nghĩa, phân loại, quản lý, xử lý CTR-CTNH trong khu công nghiệp
3.4.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra, điều tra số liệu sơ cấp
Sử dụng phương pháp này, người điều tra sẽ soạn thảo phiếu thông tin, trong phiếu thông tin thể hiện những nội dung cần thu thập để thống kê thành phần và khối lượng CTR-CTNH phát sinh từ các đơn vị sản xuất Nội dung
chính của phiếu điều tra
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu lấy mẫu
- Phương pháp nghiên cứu lấy mẫu phân tích nước thải
- Phương pháp nghiên cứu lấy mẫu phân tích khí thải
- Phương pháp nghiên cứu lấy mẫu phân tích chất thải rắn
Trang 28PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế ,xã hội của xã Bình Trung
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên
* Điều kiện về địa lí địa chất
Vị trí khu đất của nhà máy : khu đất nhà máy lọc trì (giai đoạn 2) công suất 10.000 tấn/năm diện tích 6.272m2, nằm trong khu đất Công ty cổ phần kim loại màu Bắc Bộ có tổng diện tích là 60.000m2 tại Bãi Gốc Bưởi, thôn An Chi, xã Bình Trung, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
- Phía Đông giáp núi đá phía nhà máy Xi măng Hồng Phong
- Phía Tây giáp núi thấp thoải
- Phía Nam giáp núi đá
- Phía bắc giáp Quốc lộ 1B
Đặc điểm địa hình : khu vực dự án có địa hình thuộc kiểu Castơ được
tạo bởi phía trên có nguồn gốc chủ yếu là Eluvi, bên dưới là nền đá vôi Địa hình núi thấp xen lẫn đồi (cao 300-500m) cấu tạo biowr đá trầm tích tuổi trung sinh (Triat, Jara và Creta), núi đồi có dạng vòm với sườn thoải đến rất thoải (độ dốc trung bình 200) Bề mặt hiện tại tương đối bằng phẳng là đất trồng hoa màu của người dân thôn An Chi Nhà máy lọc chì công suất 10.000 tấn/năm, địa hình khu vực có những ưu, nhược điểm sau:
- Ưu điểm: giao thông thuận lợi do gần QL1B, xa khu dân cư tập trung, mặt bằng tương đối bằng phẳng nên khối lượng san lấp không lớn Địa hình thoải từ Đông sang tây nên khả năng thoái nước mưa nhanh, không gây ngập úng
- Nhược điểm: về mùa khô các con suối xung quanh đêu không có nước nên khả năng sử dụng nước mặt làm nguồn cấp nước rất khó khăn
* Điều kiện về khí tượng
Trang 29Nhiệt độ không khí: có ảnh hưởng đến sự lan truyền và chuyển hóa chất ô nhiễm trong không khí gần mặt đất và nguồn nước Tại nhà máy:
- Nhiệt độ trung bình năm giao động từ 17-200C
- nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 12,50C và trung bình tháng cao nhất là 27,50C
Độ ẩm không khí : độ ẩm tương đối của không khí càng lớn tạo điều
kiên vi sinh vật từ mặt đất phát tán và không khí phát triển nhanh chóng, lan truyền trong không khí và chuyển hóa các chất ô nhiễm trong không khí gây ô nhiễm môi trường Độ ẩm trung bình hàng năm ở khu vực nhà máy từ 80-85%
- Độ ẩm trung bình tháng cao nhất: 87%
- Độ ẩm trung bình tháng thấp nhất: 78%
Lượng mưa: mưa có tác dụng làm sạch môi trường không khí và pha loãng chất thải lỏng
- Lượng mưa trung bình năm 1105mm
- Lượng mưa trung bình tháng cao nhất 212,3mm, thấp nhất 18,5mm
- Lượng mưa trung bình ngày lớn nhất 326mm
Tốc độ gió và hướng gió: gió là yếu tố cơ bản nhất có ảnh hưởng đến
sự lan truyền chất ô nhiễm trong không khí và làm xao trộn các chất ô nhiễm trong nước Hướng gió thay đổi làm cho mức độ ô nhiễm và khu vực bị ô nhiễm cũng biến đổi theo Tại khu vực nhà máy
4.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội
* Đặc điểm kinh tế
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh năm 2012
và phương hướng nhiệm vụ năm 2013 số 26/BC-UBND ngày 10 tháng 12 năm 2012 của UBND xã Bình Trung:
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp
Trang 30Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2012 là 795,5 tấn đạt 111% so với cùng kỳ năm 2011 Diện tích lúa 134,76ha, sản lượng 512 tấn; ngô 63ha, sản lượng 283,5 tấn; đỗ tương 18,6ha; khoai lang 3,29ha; khoai tây 2,0ha; các loại cây trồng khác như sắn 1,0ha; lạc 0,8ha; mía 0,01ha; rau các loại 12,9ha
- Lâm nghiệp
Các dự án trồng rừng được triển khai sâu rộng, kịp thời đến với người dân Tổ chức ra quân đầu xuân trồng được 109 cây các loại; triển khai dự án trồng rừng hỗ trợ phát triển sản xuất năm 2012 với tổng diện tích 83,25ha
- Chăn nuôi
Tổng đàn gia súc 12.231 con, trong đó đàn trâu 570 con, đàn bò 70 con,
đàn lợn 965 con, đàn gia cầm 10.626 con (gà 9.240 con, vịt 1.386 con) Công
tác phòng chống dịch bệnh, phong chống sốt rét, chuẩn bị thức ăn cho gia súc, gia cầm trong mùa đông tương đối đảm bảo
- Xây dựng cơ bản
Bê tông hóa đường liên thôn 810m giúp tạo điều kiện cho xã phát triển
và thuận lợi cho việc đi lại giữa các thôn, xây 2 đập thủy lợi nhỏ, nạo vét kênh mương thủy lợi dài 250m
* Điều kiện về xã hội xã Bình Trung
- Công tác giáo dục – đào tạo
Công tác giáo dục và đào tạo đạt kết quả tích cực, tỷ lệ học sinh lên lớp
đạt kết quả trên 98% Trong năm 2012, tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến
trường đạt 100%; phổ cập giáo dục THCS và phổ cập tiểu học đúng độ tuổi
đạt từ 98 - 100%
- Công tác chính sách xã hội và xóa đói giảm nghèo
Công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn có nhiều chuyển biến so với năm 2011 Tổng số hộ nghèo năm 2012 là 202/452 hộ chiếm 44,69%; mục tiêu năm 2013 là 113/457 hộ chiếm 24,72% giảm 19,97% so với cùng kỳ
Trang 31thực hiện tốt chính sách người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trợ cấp khó khăn đột xuất kịp thời Đã giả quyết cứu đói giáp hạt được 3.400kg gạo cho các đối tượng thuộc diện hộ nghèo năm 2011; giải quyết cứu đói giáp hạt năm
2012 được 180 khẩu với tổng số gạo hỗ trợ là 5.400kg
- Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đảm bảo, y tế xã được củng cố, duy trì, 100% người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi đủ điều kiện đều được hưởng chính sách hỗ trợ về y tế tổng số khám bệnh 2.923 lượt, tổng số điều trị 2.642 lượt
Các công trình trên địa bàn có 3 trường mẫu giáo, 1 trường PTCS, 1 trạm y tế và 1 đình
Trạm y tế của xã có 1 bác sĩ, 3 y sĩ và 2 y tá Tram y tế có 3 giường bệnh, số bệnh nhân điều trị nội trú là 15, số bệnh nhân điều trị ngoại trú là 243 người/tháng, trạm được trang bị các dụng cụ khám bệnh thông thường như
ống nghe huyết áp, nhiệt kế và các dụng cụ sơ cứu ban đầu
4.2 Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải, khí thải, chất thải rắn tại nhà máy lọc chì thỏi
4.2.1 Giới thiệu chung về nhà máy lọc chì
Công ty Cổ phần Kim loại màu Bắc Bộ được thành lập vào tháng 8 năm 2008 với 90% vốn đầu tư nước ngoài
Công ty Cổ phần Kim loại màu Bắc Bộ được thành lập vào tháng 8 năm 2008 với 90% vốn đầu tư nước ngoài Từ ngày thành lập đến nay, hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty luôn đạt hiệu quả cao, doanh thu mỗi
năm hàng trăm tỷ đồng và đóng nộp ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng
Đặc biệt, gần đây công ty đã đầu tư thêm dây chuyền công nghệ mới nhằm
nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 32Trước năm 2013, công ty chỉ sản xuất sản phẩm chì thỏi với hàm lượng chì chiếm khoảng 98% và xuất khẩu toàn bộ sang thị trường Trung Quốc Với hoạt động sản xuất kinh doanh đó, công ty đã tạo việc làm cho khoảng 200 lao động với mức thu nhập bình quân khoảng 5 triệu đồng/tháng/người Năm
2012, tổng doanh thu thuần (sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí) của công
ty đạt 105 tỷ đồng Đến năm 2013, sau khi đầu tư thêm công nghệ mới, tình hình sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả tăng vượt trội, tính đến cuối tháng 8 năm 2013, tổng doanh thu thuần của công ty đã đạt xấp xỉ 90 tỷ
đồng, tăng 33% so với cùng kỳ năm 2012 Ông Vũ Đức Hạ, Phó tổng Giám đốc công ty cho biết: trước đây, công ty chỉ có dây chuyền công nghệ luyện
kim, không sản xuất được sản phẩm chì thỏi chất lượng cao, nên toàn bộ sản phẩm sản xuất được đều phải xuất khẩu sang Trung Quốc Trong năm 2012, công ty đã quyết định đầu tư xây dựng thêm dây chuyền công nghệ điện phân, sản phẩm chì thỏi sau quá trình luyện kim sẽ tiếp tục được chuyển sang quá trình điện phân để cho ra được sản phẩm chì thỏi cuối cùng với hàm lượng chì chiếm đến 99,99% Đầu tư công nghệ sản xuất được sản phẩm chì chất lượng hơn, đạt hiệu quả kinh doanh cao hơn, nhưng điều thành công hơn cả đó là sản phẩm chì không phải xuất khẩu toàn bộ nữa mà chủ yếu là tiêu thụ trong nước, phục vụ các lĩnh vực sản xuất công nghiệp khác như làm bình ắc quy, công nghệ chế tạo…Ông Đinh Kỳ Giang, Trưởng phòng Quản lý công nghiệp, Sở Công thương cho biết: Sở đánh giá rất cao sự đầu tư nâng cấp thêm dây chuyền công nghệ sản xuất của Công ty Cổ phần Kim loại màu Bắc
Bộ Thứ nhất là từ đổi mới công nghệ công ty đã nâng cao được hiệu quả sản xuất, góp phần vào sự phục hồi của sản xuất công nghiệp tỉnh nhà, tính đến thời điểm hiện tại chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tỉnh tăng 9,7% Thứ hai, sản phẩm của công ty được tiêu thụ trong nước, bảo vệ được nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước, đây cũng là chủ trương của Chính phủ Thứ
Trang 33ba, sản phẩm của công ty là phôi của nhiều ngành công nghiệp, giúp các công
ty sản xuất trong nước không phải nhập khẩu từ nước ngoài, từ đó chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào và giảm bớt được chi phí sản xuất kinh doanh, góp phần vào sự phát triển chung của ngành công nghiệp nước nhà Đồng thời tạo thêm việc làm cho các lao động Sau khi đầu tư thêm dây chuyền công nghệ công ty đã tạo thêm được việc làm cho 60 lao động, nâng tổng số lao động của công ty lên con số 260 người
Sau gần 8 tháng từ khi đầu tư dây chuyền công nghệ điện phân mới, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty đã tăng rõ nét về mọi phương diện,
mà điểm nhấn là sản phẩm sản xuất ra để phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp nước nhà Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, công ty cũng còn gặp khó khăn trong việc nhập nguyên liệu đầu vào Nói về vấn đề này, ông Hạ cho biết thêm: hiện nay, công ty khó tiếp cận và thu mua được nguyên liệu của các công ty khoáng sản
có sản lượng tinh quặng chì lớn Phần lớn sản lượng tinh quặng chì của các công ty đó để xuất khẩu ra nước ngoài chứ không bán tại thị trường trong nước Chính vì vậy, công ty thực sự gặp nhiều khó khăn và cần sự tạo điều kiện hơn nữa của các cơ quan chức năng…
Như vậy có thể thấy rằng, việc chú trọng đầu tư cho công nghệ đã góp phần giúp Công ty Cổ phần Kim loại màu Bắc Bộ đứng vững và phát triển trên thị trường Để tiếp tục phát triển, trong thời gian tới, công ty cần sớm tháo gỡ những khó khăn nhằm tiếp tục kinh doanh hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của tỉnh
4.2.2 Hiện trạng môi trường nước thải
a Nước thải sản xuất của nhà máy lọc chì
* Nguồn gây tác động do nước thải sản xuất