1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

76 424 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 652,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư - Thu hồi đất: là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân

Trang 1

Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông chính quy

Chuyên ngành : Quản lý đất đai Khoa : Quản lý tài nguyên

Khoá học : 2012 - 2014

Trang 2

Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông chính quy

Chuyên ngành : Quản lý đất đai Khoa : Quản lý tài nguyên

Khoá học : 2012 - 2014 Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Yến

Khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Trang 3

của mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm Khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”

Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập, khóa luận tốt nghiệp của em

đã hoàn thành

Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và đào tạo hướng dẫn chúng em

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Nguyễn Thị Yến – người đã trực tiếp hướng dẫn em cũng như sự chỉ bảo giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ Địa chính xã đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Vì thời gian có hạn nên khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi thiếu sót Kính mong sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy cô để khóa luận tốt nghiệp của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Tuyên Quang, ngày 10 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Kiều Khánh Hòa

Trang 4

Bảng 4.1 Cơ cấu kinh tế 3 năm gần đây 37

Bảng 4.2 Kết quả thực hiện bồi thường của dự án 44

Bảng 4.3 Kết quả đền bù đất nông nghiệp 45

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện đền bù vật kiến trúc và nhà cửa 46

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện đền bù về cây cối và hoa màu 48

Bảng 4.6 Kinh phí hỗ trợ tái định cư 49

Bảng 4.7 Bảng tổng hợp Kinh phí bồi thường GPMB 50

Bảng 4.8 Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra GPMB 52

Trang 5

Hình 4.1 Hiện trạng sử dụng đất của xã Tú Thịnh năm 2013 42

Trang 6

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích 2

1.3 Yêu cầu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Khái quát về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4

2.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 4

2.1.2 Nguyên tắc bồi thường 5

2.1.3 Điều kiện để được bồi thường về đất 6

2.1.4 Những trường hợp thu hồi đất mà không được bồi thường 8

2.1.5 Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại 8

2.1.6 Cơ sở pháp lý của công tác giải phóng mặt bằng 9

2.1.6.1 Một số văn bản chủ yếu về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Chính phủ 9

2.1.6.2 Các văn bản về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 10

2.1.7 Trình tự lập phương án bồi thường và giải phóng mặt bằng tỉnh Tuyên Quang 11

2.2 Công tác bồi thường GPMB trong và ngoài nước 13

2.2.1 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên thế giới 13

2.2.1.1 Chính sách bồi thường khi thu hồi đất của Trung Quốc 13

2.2.1.2 Chính sách bồi thường khi thu hồi đất của Thái Lan 15

2.2.1.3 Chính sách bồi thường khi thu hồi đất của Hàn Quốc 15

2.2.2 Công tác GPMB trong nước 17

2.2.2.1 Trước khi có Luật Đất đai năm 1993 17

2.2.2.2 Thời kỳ 1993 đến 2003 21

2.2.2.3 Từ khi có Luật Đất đai 2003 24

2.3 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 28

Trang 7

3.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.2 Nội dung nghiên cứu 30

3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, quản lý sử dụng đất và ảnh hưởng của nó đến công tác GPMB tại xã Tú Thịnh huyện Sơn Dương 30

3.2.2 Đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư của dự án 31

3.2.2.1.Tổng quan về dự án 31

3.2.2.2 Đánh giá chung kết quả của dự án 31

3.2.3 Đánh giá đền bù về đất và các tài sản gắn liền với đất 31

3.2.4 Đánh giá về chính sách hỗ trợ, nguồn kinh phí để thực hiện GPMB 31

3.3.Tổng hợp, phân tích kết quả từ phiếu điều tra 31

3.3.1 Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra 31

3.3.2 Thuận lợi 31

3.3.3 Những hạn chế, tồn tại trong công tác GPMB 31

3.3.4 Bài học kinh nghiệp trong chỉ đạo công tác bồi thường GPMB 31

3.3.5 Đề xuất một số giải pháp 31

3.3 Phương pháp nghiên cứu 31

3.3.1 Điều tra số liệu sơ cấp 31

3.3.2 Điều tra số liệu thứ cấp 31

3.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu 31

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực GPMB 33

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

4.1.1.1 Vị trí địa lý 33

4.1.1.2 Địa hình địa mạo 33

4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn 33

4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên 34

Trang 8

4.1.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất và ảnh hưởng của nó đến công tác

GPMB 40

4.1.3.1 Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn xã Tú Thịnh 40

4.1.3.2 Hiện trạng sử dụng đất 42

4.2 Đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án 43

4.2.1 Tổng quan về dự án 43

4.2.2 Đánh giá chung Kết quả của dự án 44

4.3 Đánh giá đền bù về đất và các tài sản gắn liền với đất 45

4.3.1 Đánh giá đền bù về đất nông nghiệp 45

4.3.2 Kết quả thực hiện đền bù vật kiến trúc và nhà cửa 46

4.3.3 Kết quả thực hiện đền bù về cây cối và hoa màu 47

4.3.4 Đánh giá về chính sách hỗ trợ, nguồn kinh phí để thực hiện GPMB 49 4.3.4.1 Đánh giá chính sách hỗ trợ tái định cư 49

4.3.4.2 Đánh giá về nguồn kinh phí để thực hiện GPMB 50

4.4 Tổng hợp nhận xét thuận lợi, khó khăn chung của dự án 51

4.4.1 Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra 51

4.4.2 Những thuận lợi 53

4.4.3 Những hạn chế, tồn tại trong công tác bồi thường thiệt hại & giải phóng mặt bằng 53

4.4.4 Một số bài học kinh nghiệm chỉ đạo trong công tác bồi thường thiệt hại & giải phóng mặt bằng 54

4.4.5 Đề xuất một số giải pháp 55

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Kiến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 9

điều kiện cho sự phát triển lâu dài và bền vững là một vấn đề lớn và cấp thiết

Bởi vậy mà công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) đóng một vai trò hết sức quan trọng Vì nó là điều kiện ban đầu để triển khai nhanh, đúng tiến độ nhưng ngược lại nó cũng có thể trở thành rào cản và luôn tiềm ẩn nhiều nguy

cơ khiếu kiện, mất ổn định an ninh vì khi thực hiện công tác này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của tổ chức, các cá nhân và hộ gia đình

Với dân số ngày càng tăng, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng lớn Thực tế qua nhiều dự án cho thấy công tác GPMB vẫn còn nhiều bất cập, nhiều khó khăn Mặc dù Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp quy phục vụ cho công tác này như nghị định số 197/NP-CP về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi

đất, thông tư số 116/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định trên Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất, thông tư số

114/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định số 188/2004/NĐ-CP Nhưng để dung hoà giữa quyền lợi của người dân với lợi ích chung không thể giải quyết trong một sớm một chiều

Do đó, cần có một cách nhìn nhận và đánh giá toàn diện hơn về công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng, từ đó tìm ra những khó khăn và thuận lợi Rồi đưa ra những giải pháp có tính khả thi để giải quyết những khó khăn

đó một cách hiệu quả nhất tạo sự chặt chẽ trong việc quản lí nhà nước về đất đai và phát triển nền kinh tế của nước nhà

Trên địa bàn huyện Sơn Dương, những năm qua đã tổ chức thực hiện

Trang 10

nhiều dự án và công tác BT&GPMB đã thu được những kết quả tốt Nhưng bên cạnh đó cũng bộc lộ không ít những khó khăn liên quan đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Do vậy cần nghiên cứu để làm rõ và tìm ra giải pháp tháo gỡ trong cơ chế tổ chức và thực hiện

Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa TNMT, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Nguyễn Thị Yến, em tiến hành thực

hiện chuyên đề: “Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án

mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”

1.2 Mục đích

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương và những khía cạnh liên quan tới công tác BT&GPMB

- Tình hình quản lý và sử dụng đất tại xã Tú Thịnh

- Điều tra, đánh giá kết quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của

dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

- Đề xuất những giải pháp khắc phục những mặt còn hạn chế trong công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng của dự án

1.3 Yêu cầu

- Tìm hiểu luật đất đai 2003, các nghị định, thông tư có liên quan đến công tác bồi thường GPMB của Chính phủ cũng như của Uỷ ban nhân dân

tỉnh Tuyên Quang

- Nắm chắc các quyết định, tờ trình và các văn bản khác có liên quan

đến bồi thường GPMB ở địa phương

- Điều tra thu thập kết quả của công tác bồi thường GPMB, phân tích

và nhận xét, rút ra thuận lợi, khó khăn khi bồi thường dự án

- Đề xuất phương án giúp đẩy nhanh công tác bồi thường GPMB

1.4 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập: Việc hoàn thành đề tài sẽ là cơ sở giúp cho sinh viên củng cố và hoàn thiện kiến thức đã học, đồng thời là cơ sở để sinh viên bước đầu tiếp cận với thực tế công tác đền bù GPMB

Trang 11

- Ý nghĩa trong thực tiễn: Đề tài đánh giá, phân tích tìm ra những thuận lợi, khó khăn của công tác đền bù GPMB Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với thực tế của địa phương, khắc phục những bất cập còn tồn tại, góp phần đẩy nhanh công tác GPMB trong tương lai

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Khái quát về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

2.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Thu hồi đất: là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này (Khoản 5, Luật Đất đai 2003)

- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (khoản 6, Luật Đất đai 2003)

- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để

di dời đến địa điểm mới (khoản 7, Luật Đất đai 2003) Các hình thức hỗ trợ theo Điều 17, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ qui định cụ thể như:

+ Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; + Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề

và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp;

+ Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở;

+ Hỗ trợ khác

- Tái định cư: Là trường hợp hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi

đất ở mà không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư

Đối với địa bàn tỉnh Tuyên Quang, việc người dân cam kết tự lo được đất ở thì Nhà nước sẽ hỗ trợ bằng tiền theo qui định tại Điều 6, Quyết định

số 19/2009/QĐ-UBND ngày 29/10/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc quy định Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (hỗ trợ một khoản tiền bằng 10% giá trị quyền sử dụng đất của 01 (một) lô đất ở được bồi

Trang 13

thường tại vị trí bị thu hồi (đối với địa bàn thị trấn và các phường thuộc thị

xã Tuyên Quang); bằng 20% giá trị quyền sử dụng đất của 01 (một) lô đất ở

được bồi thường tại vị trí bị thu hồi (đối với địa bàn còn lại) theo hạn mức

giao đất tại Quyết định số 66/2005/QĐ-UBND ngày 04/8/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang)

2.1.2 Nguyên tắc bồi thường

1 Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng có đủ điều kiện quy

định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 Nghị định số

197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP) và các Điều 44, 45 và 46 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình

tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP) thì

được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì Ủy ban

nhân dân cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ

2 Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì

được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không

có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất tại thời điểm quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy

định sau:

a) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ lớn hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền mua nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch;

b) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền mua nhà ở tái định cư thì người tái định cư phải nộp phần chênh lệch

3 Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi

đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy

Trang 14

định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính

vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước

4 Nhà nước điều tiết một phần lợi ích từ việc thu hồi, chuyển mục đích

sử dụng đất để thực hiện các khoản hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi

2.1.3 Điều kiện để được bồi thường về đất

1 Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng

10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân cấp

xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo

quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất

4 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên

có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện

Trang 15

thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp

5 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất

ổn định, không có tranh chấp

6 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy

định tại khoản 1, 2, 3 Điều này, nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước

ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là

đất đó không có tranh chấp (Đã bãi bỏ, thực hiện theo Điều 44, Nghị định số

84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ)

7 Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

đã được thi hành

8 Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến thời điểm có quyết định thu hồi đất, mà tại thời điểm sử dụng không vi phạm quy hoạch; không vi phạm hành lang bảo vệ các công trình,

được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã công bố công khai, cắm mốc; không

phải là đất lấn chiếm trái phép và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp (Đã bãi bỏ, thực hiện theo Điều

45, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ)

9 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý, mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn

sử dụng

10 Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, chùa, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp

11 Tổ chức sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

Trang 16

a) Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất

đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;

b) Đất nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp mà tiền trả cho việc chuyển nhượng không có nguồn từ ngân sách nhà nước;

c) Đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân

2.1.4 Những trường hợp thu hồi đất mà không được bồi thường

1 Người sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này

2 Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc

từ ngân sách nhà nước; được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm; đất nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước

3 Đất bị thu hồi thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản

2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 Luật Đất đai 2003

Việc xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất đối với đất bị thu hồi quy định tại khoản này được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 34 và Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

4 Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng

5 Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn

6 Người bị Nhà nước thu hồi đất có một trong các điều kiện quy định tại Điều 8 của Nghị định này nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này

2.1.5 Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại

1 Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục

Trang 17

cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi;

b) Bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra, nếu giá đất tại thời

điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi

thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi

3 Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế người sử dụng đất

đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng bao gồm: tiền

thuê đất trả trước còn lại, chi phí san lấp mặt bằng và một số chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất, mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được

2.1.6 Cơ sở pháp lý của công tác giải phóng mặt bằng

2.1.6.1 Một số văn bản chủ yếu về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Chính phủ

- Nghị định 17/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một

số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số

187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định

bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng của người sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất

Trang 18

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy

định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ

trợ và tái định cư

- Thông tư số 14/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi giao đất, cho thuê đất

2.1.6.2 Các văn bản về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

* Văn bản áp dụng chung trên toàn tỉnh

- Về qui trình thực hiện công tác bồi thường áp dụng theo Quyết định

số 16/2009/QĐ-UBND ngày 21/10/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc Ban hành quy định về trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;

- Chính sách hỗ trợ áp dụng theo Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 29/10/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc quy định Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;

- Đơn giá bồi thường về tài sản áp dụng theo Quyết định số 22/2011/QĐ-UBND ngày 31/10/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang

về việc ban hành Đơn giá bồi thường thiệt hại về tài sản (vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi) trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang; Quyết định số 19/2012/QĐ-UBND ngày 06/11/2012, của UBND tỉnh Tuyên Quang quy định về việc sửa

đổi, bổ sung đơn giá bồi thường thiệt hại về tài sản (vật kiến trúc, cây trồng,

vật nuôi) trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (vẫn còn hiệu lực)

- Quyết định số 11/2011/QĐ-UBND ngày 23/8/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc bổ sung một số quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục

đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục tiêu phát

triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;

Trang 19

- Quyết định số 21/2011/QĐ-UBND ngày 24/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang Quy định mức trích kinh phí, nội dung và mức chi kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi

đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích

công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;

- Quyết định số 40/2013/QĐ-UBND ngày 21/12/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về ban hành giá đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

- Quyết định số 39/2013/QĐ-UBND ngày 21/12/2013 của UBND tỉnh Tuyên Quang ban hành quy định phân khu vực, phân loại đường phố và phân

vị trí đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;

* Một số văn bản về chủ trương thực hiện dự án Mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính, xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương

- Quyết định số 140/QĐ-UB ngày 11/5/2005, của ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt quy hoạch tổng mặt bằng xây dựng công trình: Khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương;

- Quyết định số 936/QĐ-UBND ngày 12/8/2013, của Ủy ban nhân dân huyện Sơn Dương về việc phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình: Mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang;

- Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 22/12/2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về ban hành giá đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

- Quyết định số 23/2012/QĐ-UBND ngày 22/12/2012 của UBND tỉnh Tuyên Quang ban hành quy định phân khu vực, phân loại đường phố và phân

vị trí đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

2.1.7 Trình tự lập phương án bồi thường và giải phóng mặt bằng tỉnh Tuyên Quang

Thực hiện theo quy định về trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,

an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên

địa bàn tỉnh Tuyên Quang:

Trang 20

Bước 1: UBND huyện ra văn bản thông báo chủ trương thu hồi đất;

quyết định thành lập Hội đồng BT&GPMB; họp với các hộ gia đình, cá nhân,

tổ chức nằm trong phạm vị bồi thường giải phóng mặt bằng để thông báo chủ trương thu hồi đất và triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng; phát tờ khai về sử dụng đất và tài sản trên đất thu hồi; hướng dẫn người bị thu hồi đất kê khai

Bước 2: Cơ quan Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất thu hồi, hoàn chỉnh gửi Hội đồng bồi thường đảm bảo đúng quy định

Bước 3: Người bị thu hồi đất thực hiện kê khai về đất, tài sản trên đất thu

hồi, các chế độ chính sách, các giấy tờ liên quan để chứng

Bước 4: Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng tổ chức lập biên bản

kiểm tra, kiểm kê về đất, tài sản trên đất thu hồi, các chế độ chính sách, các giấy

tờ liên quan để chứng

Bước 5: Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng họp xét bồi thường xác

định các trường hợp được bồi thường, không được bồi thường, hoàn thiện biên

bản họp xét bồi thường chuyển cho chủ đầu tư

Bước 6: Chủ đầu tư có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hoàn thiện

phương án bồi thường chuyển cho Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng để lấy ý

Bước 7: Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng niêm yết công khai

phương án bồi thường để lấy ý kiến về phương án bồi thường

Bước 8: Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng họp với người bị thu

hồi đất để giải quyết những vướng mắc, tổng hợp các ý kiến tham gia phương án bồi thường gửi cho chủ đầu tư

Bước 9: Tổ thẩm định bồi thường giải phóng mặt bằng tổ chức thẩm định

phương án bồi thường, gửi kết quả thẩm định cho chủ đầu tư để lấy ý kiến

Bước 10: Chủ đầu tư gửi hồ sơ thu hồi, giao đất đến cơ quan Tài nguyên

và Môi trường thẩm định trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp phê duyệt

Bước 11: Trong thời hạn không quá 3 ngày, kể từ ngày nhận được quyết

định thu hồi đất Tổ thẩm định phương án bồi thường trình Uỷ ban nhân dân

huyện, thị xã phê duyệt phương án bồi thường

Trang 21

Bước 12: Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng thông báo công

khai phương án bồi thường giải phóng mặt bằng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Bước 13: Chủ đầu tư thực hiện việc chi trả tiền bồi thường theo phương

án đã được phê duyệt

Bước 14: Người bị thu hồi đất tháo dỡ, di chuyển giải phóng mặt bằng bàn

giao đất cho chủ đầu tư

Bước 15: Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng phối hợp với chủ đầu

tư, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết đối những hộ không thực hiện giải phóng mặt bằng

Bước 16: Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng quyết toán kinh phí tổ

chức thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng

2.2 Công tác bồi thường GPMB trong và ngoài nước

2.2.1 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên thế giới

2.2.1.1 Chính sách bồi thường khi thu hồi đất của Trung Quốc

Có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng

như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu

tư Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi

đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số Tiền bồi thường cho hoa

màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại

Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc

đảm bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Việc quản

lý giải phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa

Trang 22

phương đảm nhiệm Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng

Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức

chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau:

Một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới

và nhà cũ;

Hai là, giá đất tiêu chuẩn;

Ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở

Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng

đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể

Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc

có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư là do:

Thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối

với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư

Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh

Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư

Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ

trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất

đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm

kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng

Trang 23

Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là

vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà tái định cư…

2.2.1.2 Chính sách bồi thường khi thu hồi đất của Thái Lan

Cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường

điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được

tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù

Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân

đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường

2.2.1.3 Chính sách bồi thường khi thu hồi đất của Hàn Quốc

Vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu

đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư,

chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư

Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5km Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng

nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc

* Nhận xét, đánh giá

Việc xây dựng và phát triển các công trình đều cần đất Do đất đai không phải lúc nào cũng có sẵn để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của mỗi nước Vì thế, mọi Nhà nước đều phải sử dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu đất của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia Ở mỗi nước, quyền lực thu hồi, trưng thu

Trang 24

đất được ghi trong Hiến pháp hoặc tại Bộ Luật đất đai hoặc một bộ luật khác

Nếu việc thu hồi, trưng thu đó phù hợp với quy định của Pháp luật mà người

sở hữu hoặc người sử dụng đất không thực hiện thì Nhà nước có quyền chiếm hữu đất đai Việc thu hồi đất, trưng thu đất và bồi thường thiệt hại về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó quy

định Tuy nhiên, các chính sách đó đều có các nội dung chủ yếu sau:

Đối tượng được bồi thường về đất: Tất cả những người đang sử dụng

đất mà bị Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu, kể cả những người thiếu chứng

chỉ hợp pháp về đất đai, chiếm đất bất hợp pháp trước ngày Nhà nước thực hiện thu hồi đất hoặc trưng thu đất mà đó tồn tại không có tranh chấp hoặc khiếu nại đều được bồi thường Hay nói cách khác là tất cả những người có

đất bị ảnh hưởng bởi dự án đều có quyền được bồi thường

Phương thức bồi thường đất: Việc bồi thường được thực hiện theo hai

phương thức là bồi thường bằng hiện vật (đất, nhà, lương thực, vật liệu xây dựng, ) hoặc bồi thường bằng tiền cho đất đai bị thiệt hại Tuy nhiên, dù thực hiện theo phương thức nào thì cũng đều phải xác định giá trị đất bị thu hồi để làm cơ sở thực hiện việc bồi thường

Giá trị đất bị thu hồi, trưng thu: Giá trị đất bị thu hồi hoặc trưng thu

được tính trên cơ sở giá trị thực của đất Nguyên tắc chung là giá bồi thường,

giá trưng thu phải là giá thị trường hoặc giá thay thế

Chính sách hỗ trợ khi bị thu hồi đất, trưng thu đất: Ngoài việc bồi

thường cho người bị thu, trưng thu, trưng mua hoặc thu hồi đất, các quốc gia cũng quy định việc hỗ trợ cho người bị thu hồi đất hoặc bị trưng thu đất Đó

là các khoản hỗ trợ bổ sung ngoài bồi thường nhằm tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất hoặc bị trưng thu đất ổn định và cải thiện đời sống, sản xuất, thu nhập, chuyển đổi nghề nghiệp

Qua nghiên cứu cho thấy chính sách bồi thường, hỗ trợ & GPMB của một số nước, Việt Nam chúng ta cần học hỏi một số kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường thiệt hại & GPMB ở một số điểm sau:

- Hoàn thiện các quy định về giá đất nói chung và định giá đất để bồi thường thiệt hại & GPMB nói riêng

Trang 25

- Bổ sung thêm một số giải pháp nhằm hỗ trợ người dân có đất bị thu hồi khôi phục thu nhập, ổn định cuộc sống, đặc biệt là đối với lao động trên

35 tuổi

2.2.2 Công tác GPMB trong nước

2.2.2.1 Trước khi có Luật Đất đai năm 1993

Quá trình hình thành các triều đại phong kiến, trong mỗi kiểu Nhà nước, tuỳ theo tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và những đặc điểm truyền thống, huyết thống, tập tục, mà các hình thức sở hữu đất đai luôn được giai cấp thống trị chú trọng Ngay từ thời kỳ phát triển Nhà nước Trung Ương tập quyền đến thời Nguyễn, chính sách bồi thường cho người bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đã được xác lập và chủ yếu tập trung vào bồi thường cho ruộng đất canh tác, đất ở không được quan tâm nhiều so với các loại đất khác Hình thức bồi thường chủ yếu bằng tiền, mức bồi thường được quy định chặt chẽ, tương xứng với những thiệt hại của người bị thu hồi đất Tuy nhiên, về bản chất, những chính sách nêu trên dù được áp đặt dưới bất kỳ hình thức nào thì cuối cùng chỉ để phục vụ lợi ích giai cấp thống trị trong các triều đại phong kiến đương thời

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng thực hiện chính sách lập

đồn điền, ban hành một số Hiệp ước, Nghị định (Hiệp ước Patenôtre 1884,

Nghị định 07 tháng 7 năm 1888 của Toàn quyền Richaud, Nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 13/12/1913, ) bất bình đẳng để chiếm hữu đất đai

và khai thác tài nguyên của đất nước ta

Sau cách mạng tháng 8/1945, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946) chỉ rõ: “Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này

là nhằm bảo toàn lãnh thổ giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết Quốc gia trên nền tảng dân chủ ” Với mục tiêu người cày có ruộng, ngày 04/12/1953, Luật cải cách ruộng đất ra đời nhằm thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của nông dân, đồng thời tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng Cuộc cải cách ruộng đất hoàn thành, nông dân có quyền sở hữu ruộng đất được chia cấp

Ngay sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc (1954), Đảng và Nhà nước đã khẳng định con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là xây dựng

Trang 26

Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Để đáp ứng nhiệm vụ xây dựng đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, ngày 14/4/1959, Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 151/TTg quy

định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất Đây có thể coi là văn bản pháp

quy đầu tiên liên quan đến bồi thường và tái định cư bắt buộc ở Việt Nam Tiếp sau đó, liên Bộ Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư Liên bộ số 1424/TTLB ngày 06/7/1959 hướng dẫn việc thi hành Nghị định 151/TTg với các nguyên tắc cơ bản như phải đảm bảo kịp thời và

đủ diện tích cần thiết cho xây dựng, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi

và đời sống của người có ruộng đất, những người có ruộng đất bị trưng dụng

được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn

việc làm, chỉ được trưng dụng số ruộng đất cày cấy trồng trọt, hết sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa, đền, những người có ruộng đất trưng dụng cần được báo trước một thời gian là hai (02) tháng để kịp di chuyển

Khi trưng dụng ruộng đất, Nhà nước xác định, cách bồi thường tốt nhất

là vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhượng ruộng đất cho người bị trưng dụng để họ tiếp tục sản xuất Trường hợp không làm được như vậy, về đất sẽ

được bồi thường bằng tiền từ 1 - 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị

trưng dụng Mức bồi thường căn cứ vào thực tế ở mỗi nơi, đời sống của nhân dân cao hay thấp, ruộng đất ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định Đối với ruộng

đất bị đào để tu bổ đường xá, làm đập thì tuỳ theo đất bị đào sâu hay nông, sản

lượng bị giảm nhiều hay ít mà định mức bồi thường nhưng không quá hai (02) năm sản lượng thường niên Nếu ruộng đất bị trưng dụng chuyên trồng cây ăn quả, cây công nghiệp lưu niên thì bồi thường cao hơn so với các loại hoa màu khác Nếu phải dời nhà, giếng nước đi nơi khác thì sẽ được giúp đỡ để xây dựng cái khác Ruộng đất bị trưng dụng thuộc Hợp tác xã nông nghiệp thì không cần bồi thường nếu như có khả năng thu xếp để việc trưng dụng không

ảnh hưởng đến đời sống xã viên hoặc chỉ được bồi thường một phần nào

Những ruộng đất công do nhân dân sử dụng thì cơ quan cần ruộng đất phải báo cho người sử dụng biết trước khi làm thời vụ, nếu không báo trước

Trang 27

mà phải trưng dụng ngay thì cơ quan cần ruộng đất phải bồi thường tiền giống, công cấy, trường hợp cần thiết phải có biện pháp giúp đỡ họ tiếp tục sản xuất, sinh sống Các khu tự trị, căn cứ vào tình hình địa phương, căn cứ thể lệ chung để giải quyết cho hợp lí

Có thể nói, Nghị định 151/TTg ra đời phần nào đáp ứng nhu cầu trưng dụng ruộng đất trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định này chưa có quy

định hoặc hạn định cụ thể về mức bồi thường mà chủ yếu dựa vào sự thoả

thuận giữa các bên Cho đến nay, một số nguyên tắc chung khi trưng dụng ruộng đất của Nghị định số 151/TTg vẫn còn nguyên giá trị

Ngày 11/01/1970, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố

Nguyên tắc bồi thường theo quy định của Thông tư 1972/TTg là phải bảo

đảm thoả đáng quyền lợi kinh tế của các Hợp tác xã và của nhân dân, nhưng cũng

không vì thiên lệch về phía nhân dân mà Nhà nước phải bồi thường quá

Về hình thức bồi thường, trước hết là các ngành, các cơ quan xây dựng phải đến liên hệ với chính quyền các cấp để tiến hành thương lượng với nhân dân, căn cứ vào tài sản hiện có hoặc hoa màu, công sức bỏ ra khai phá và phân loại đất đai của địa phương mà định giá bồi thường cho phù hợp

Về mức bồi thường, Thông tư số 1792/TTg quy định như sau:

- Đối với nhà ở, trước hết căn cứ vào diện tích chính và phụ, giá trị sử dụng của ngôi nhà để định giá bồi thường; giá cả bồi thường căn cứ vào giá quy định bình quân cho 1 m2 trong kế hoạch của Nhà nước thời kỳ đó đối với từng loại nhà, bảo đảm số tiền đủ để xây dựng nhà khác có diện tích tương

- Như vậy, mặc dù chính sách bồi thường về đất chưa được quy định trong Luật và thể chế thành một chính sách đầy đủ, song quy định về bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất tại Thông tư 1792/TTg đã có sự thay đổi

Trang 28

so với Nghị định 151/TTg, từ “chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của những người có ruộng đất bị trưng dụng” trước đây sang “đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của Hợp tác xã và của nhân dân”, đồng thời những quy định tại Nghị định số 151/TTg trước đây chỉ có tính nguyên tắc thì đến Thông tư

1792 - TTg đã được quy định cụ thể mức bồi thường nhà ở, đất đai, cây lâu năm, hoa màu trên đất

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, cả nước bước vào giai đoạn xác định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội, ổn định kinh

tế - chính trị, văn hoá - xã hội, khôi phục đất nước Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Hiến pháp năm 1980 ra đời, bước đầu tạo ra sự đổi mới về nhận thức cũng như phương thức quản lý kinh tế Điều 19 của Hiến pháp khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng sự phát triển kinh tế vẫn dựa trên cơ sở chế độ bao cấp Về đất đai, pháp luật không quy định đất

có giá và không cho phép đất đai tham gia chuyển dịch dân sự, điều này thể hiện trong Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ

“không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất

cứ hình thức nào, không được dùng đất để thu những khoản lợi không do lao

động mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định” Khi có nhu cầu sử dụng đất, Nhà nước sẽ cấp đất và không thu tiền sử dụng đất, cần bao nhiêu, Nhà

nước cấp bấy nhiêu, quan hệ đất đai chỉ là quan hệ giữa Nhà nước với người

sử dụng đất, tức là quan hệ đơn thuần, quan hệ “giao - thu”

Luật đất đai 1988 ra đời dựa trên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, vì vậy khi đất đai bị Nhà nước thu hồi phục vụ cho các mục đích công cộng, người sử dụng đất không được Nhà nước bồi thường bằng đất, chỉ được bồi thường bằng tiền, tài sản hoa màu có trên diện tích đất bị thu hồi

Tóm lại, do thời kỳ này đất đai chưa được thừa nhận là có giá cho nên các chính sách bồi thường thiệt hại & GPMB còn nhiều hạn chế, thể hiện trong cách tính giá trị bồi thường, phương thức thực hiện Tuy nhiên, nhìn nhận một cách công bằng thì những chính sách này cũng đã đóng vai trò tích cực trong việc GPMB, dành đất cho việc xây dựng các công trình quan trọng trong hệ thống cơ sở hạ tầng ban đầu của đất nước

Trang 29

2.2.2.2 Thời kỳ 1993 đến 2003

Hiến pháp 1992 đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường thiệt hại & GPMB qua những điều, khoản quy định cụ thể như sau:

- Điều 17: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”

- Điều 23: “ Trong những trường hợp thật cần thiết vì lí do Quốc phòng - An ninh, lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường”

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Với quy định “đất có giá” và người sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi thường thiệt hại & GPMB của Luật Đất đai 1993

Những quy định về bồi thường thiệt hại & GPMB của Luật đất đai năm

1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế - xã hội,

nó đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện

đẩy nhanh tốc độ GPMB, đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, đồng thời

bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai đã được thông qua ngày 29/6/2001

Để cụ thể hoá các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi thường GPMB đã được ban hành, bao gồm:

- Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích Quốc phòng - An ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

- Nghị định số 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/2004 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích Quốc phòng - An ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, thay thế Nghị định số 90/CP nói trên

- Thông tư 145/1998/TT - BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/ NĐ - CP ngày 24/4/2004 của Chính phủ

Chính sách bồi thường thiệt hại & GPMB theo quy định của Nghị định

số 22/1998/NĐ - CP và Thông tư số 145/1998/TT - BTC đã quy định rõ phạm

Trang 30

vi áp dụng bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đối tượng phải bồi thường thiệt hại, đối tượng được bồi thường thiệt hại, phạm vi bồi thường thiệt hại và các chính sách cụ thể về bồi thường thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất, việc lập khu tái định cư cũng như việc tổ chức thực hiện

Về phạm vi áp dụng: Chính sách bồi thường thiệt hại & GPMB theo

quy định của Nghị định số 22/1998/NĐ - CP và Thông tư số 145/1998/TT - BTC áp dụng chung cho mọi trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất Đây là một

điểm khác so với Nghị định số 90/CP

Đối tượng phải bồi thường thiệt hại: Người sử dụng đất được Nhà

nước giao đất hoặc cho thuê đất có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về đất và tài sản cho người có đất bị thu hồi để giao hoặc cho mình thuê

Đối tượng được bồi thường thiệt hại: Phải là người có quyền sử dụng

đất, người sở hữu tài sản hợp pháp theo quy định của Pháp luật

Phạm vi bồi thường thiệt hại, gồm:

- Bồi thường thiệt hại về đất cho toàn bộ diện tích đất bị thu hồi

- Bồi thường thiệt hại về tài sản hiện có

- Trợ cấp đời sống và sản xuất cho những người phải di chuyển chỗ ở,

di chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh

- Trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp cho người có đất bị thu hồi

- Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, di chuyển, giải phóng mặt bằng

Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại về đất: Khi Nhà nước thu hồi đất thì

tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có đất bị thu hồi được bồi thường bằng tiền, nhà ở hoặc bằng đất Khi bồi thường bằng đất hoặc nhà ở mà có sự chênh lệch về giá trị thì người được bồi thường được nhận hoặc phải trả lại phần chênh lệch giá trị đó bằng tiền

Về điều kiện được đền bù: Do chính sách đất đai của Nhà nước Việt

Nam qua các thời kỳ lịch sử có nhiều thay đổi và do còn nhiều bất cập trong công tác quản lý, sử dụng đất, Nghị định số 22/1998/NĐ - CP đã quy định rất

cụ thể, chi tiết các trường hợp được bồi thường thiệt hại về đất, về tài sản

Về giá đất để tính bồi thường thiệt hại: Giá đất để tính bồi thường

thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy

Trang 31

định của Chính phủ nhân với hệ số K để đảm bảo giá đất tính bồi thường

phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở

địa phương

Về chính sách hỗ trợ: Thực tế, khi Nhà nước thu hồi đất của người

đang sử dụng đất ổn định, lâu dài, hậu quả là người dân bị mất đất ở, mất tư

liệu sản xuất, nhiều trường hợp phải di chuyển chỗ ở, đời sống của người bị thu hồi đất gặp nhiều khó khăn, nên việc thực hiện các chính sách hỗ trợ để khôi phục thu nhập, cải thiện mức sống của những người bị ảnh hưởng là rất cần thiết Chính sách hỗ trợ quy định trong Nghị định số 22/1998/NĐ - CP bao gồm:

- Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống, chi phí đào tạo chuyển nghề

- Trợ cấp ngừng việc cho cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp trong thời gian ngừng sản xuất kinh doanh đến lúc sản xuất kinh doanh trở lại hoạt động bình thường

- Trợ cấp chi phí di chuyển, hỗ trợ tạo lập chỗ ở mới đối với người

đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, thưởng tiến độ

- Hỗ trợ cho các đối tượng chính sách

Về tái định cư: Chính sách tái định cư được đề cập đầy đủ hơn so với

các Nghị định trước đó, việc Nhà nước chuẩn bị đủ điều kiện để lập khu tái

định cư (bao gồm quỹ đất, quỹ nhà ở và quỹ tiền mặt) là một phần đảm bảo

cho công tác GPMB thực hiện nhanh chóng Lập khu tái định cư được cụ thể hoá một chương trình riêng trong Nghị định 22/1998/NĐ - CP, bao gồm quy

định thẩm quyền phê duyệt lập khu tái định cư, điều kiện bắt buộc phải có

khu tái định cư, nguyên tắc bố trí đất ở cho các hộ gia đình tại khu tái định cư

và nguồn vốn xây dựng khu tái định cư, ngoài ra còn có một số quy định về chính sách hỗ trợ lập khu tái định cư, góp phần khôi phục cuộc sống của người dân trong vùng giải toả Lập khu tái định cư thể hiện chính sách đổi mới của Nhà nước về quan điểm và mục tiêu lấy con người làm trọng tâm trong quá trình bồi thường thiệt hại đối với người bị thu hồi đất

Nhìn chung, trong thời kỳ 1993 - 2003, chính sách thu hồi đất và bồi thường GPMB đã có những tiến bộ nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển của

Trang 32

đất nước ta Tuy nhiên, cơ chế bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất

trong thời kỳ này vẫn còn một số nhược điểm như sau:

- Vấn đề xác định giá đất để tính bồi thường cho người bị thu hồi đất chưa được quy định theo một chuẩn mực nhất quán, có nhiều quyết định của UBND các tỉnh về giá đất để tính bồi thường còn thiếu sơ sở, giá đất do các

địa phương quy định hầu hết đều thấp hơn giá trên thị trường, người bị thu hồi đất Nông nghiệp thường chịu thiệt thòi, người bị thu hồi đất Phi nông nghiệp

thường được lợi

- Việc thu hồi đất được tiến hành theo dự án, công trình đã được phê duyệt nên người bị thu hồi đất coi đất đang sử dụng vào mục đích Nông nghiệp như đất Phi nông nghiệp theo dự án đang triển khai và thường dẫn đến việc so bì giá bồi thường đất với giá đất Phi nông nghiệp

- Nhà đầu tư dự án, công trình thường phải làm việc với rất nhiều đối tác để thực hiện việc bồi thường thiệt hại & GPMB, có trường hợp phải làm việc với UBND cả ba cấp tỉnh, huyện, xã, làm việc với Ban bồi thường thiệt hại & GPMB và làm việc với người có đất bị thu hồi

- Thu hồi đất nhưng không ưu tiên trả bằng đất mà chủ yếu là trả bằng tiền, nhiều trường hợp phải tái định cư cho người bị thu hồi đất nhưng chưa

được giải quyết thoả đáng, điều kiện của các khu tái định cư không bằng khu

dân cư đã thu hồi

2.2.2.3 Từ khi có Luật Đất đai 2003

Trong quá trình triển khai Nghị định 22/1998/NĐ - CP, thực tế cho thấy, sau khi Nhà nước thu hồi đất và thực hiện bồi thường GPMB, người chịu ảnh hưởng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những người bị thu hồi hết đất sản xuất phải chuyển sang ngành nghề khác, với giá trị được bồi thường, người có đất bị thu hồi không có khả năng tạo lập nơi ở mới cũng như không

có khả năng đầu tư để chuyển sang ngành nghề khác Hoà chung với sự phát triển của đất nước, dưới tác động của cơ chế thị trường cùng với số lượng dự

án gia tăng công tác bồi thường thiệt hại GPMB khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp, thực tiễn đòi hỏi phải có sự thay đổi về mặt chính sách, cơ chế, năng lực thể chế trong công tác này, đồng thời Nhà nước cần có chính sách phù hợp về nhà ở, lao động, việc làm, để giải quyết

Trang 33

những vấn đề liên quan đến đời sống, kinh tế cộng đồng và ổn định xã hội Sau một số năm triển khai thực hiện, quá trình thực hiện của một số tổ chức tổ chức Quốc tế cho các dự án đầu tư phát triển (chủ yếu là các dự án phát triển

cơ sở hạ tầng) Nghị định 22/1998/NĐ - CP đã thể hiện tính bất cập trong việc

áp dụng thi hành và có nhiều quy định không phù hợp với chính sách bồi thường và tái định cư của các dự án, phần nào hạn chế hiệu quả đầu tư, tiến

độ thực hiện và chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, cần

thiết phải có một văn bản pháp luật mới thay thế Nghị định 22/1998/NĐ - CP

về chính sách bồi thường thiệt hại & GPMB và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu sử dụng và lợi ích quốc gia

Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 là luật có phạm vi điều chỉnh bao quát nhất, thể hiện đầy đủ nhất hơi thở của cuộc sống so với các Luật Đất đai đã ban hành trước đó Luật

Đất đai 2003 có nhiều nội dung mới, trong đó tập chung vào các vấn đề đặt ra

trong quản lý sử dụng đất đai sau:

1 Làm rõ nội dung quyền sở hữu toàn dân về đất đai với những quyền

định đoạt, quyền hưởng lợi cụ thể và vai trò của Nhà nước với tư cách là

người đại diện chủ sở hữu

2 Hoàn chỉnh chính sách đất đai đối với khu vực nông nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường và tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

3 Coi trọng chính sách đất đai đối với khu vực công nghiệp và dịch vụ tạo ra sự chủ động về chuyển đổi cơ cấu sử dụng quỹ đất đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp và dịch vụ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

4 Thiết lập sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xoá bỏ cơ bản sự khác biệt giữa người trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài và thu hẹp đáng kể sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc tiếp cận đất đai, thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

5 Xoá bỏ bao cấp về đất đai trên cơ sở coi đất là nguồn vốn, nguồn nội lực to lớn của đất nước cần phải được định giá theo đúng quy luật của kinh tế

Trang 34

thị trường và phải được đối xử như một loại hàng hoá có tính đặc thù trong quá trình giao dịch trên thị trường bất động sản

6 Khuyến khích phát triển các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất trên cơ sở coi quyền sử dụng đất là tài sản của người sử dụng đất, hạn chế sự can thiệp về hành chính không cần thiết trong thực hiện các quyền chuyển

đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất và tài

sản gắn liền với đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

7 Khắc phục về cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng - an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi dự

án phải thu hồi đất

8 Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai bằng việc phân cấp toàn bộ các quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho chính quyền địa phương, quy định cụ thể thủ tục và trình tự thực hiện các thủ tục hành chính về quản lý và sử dụng đất

9 Đổi mới công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai theo hướng phát huy vai trò của toà án trong giải quyết các tranh chấp dân sự và các khiếu nại hành chính về đất đai, khắc phục tình trạng đùn đẩy tránh nhiệm dẫn tới khiếu kiện kéo dài và vượt cấp

Hiện nay, có rất nhiều các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp, khu thương mại đang được thực hiện và trong tương lai con số các dự

án không ngừng tăng lên Sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản dưới Luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, tái định cư bao gồm:

- Nghị định số 188/2004/NĐ - CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Thông tư số 114/2004/TT - BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính

về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ - CP

Nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 35

Những nội dung mới đề cập trong Nghị định 197/2004/NĐ - CP:

Điều kiện được bồi thường về đất đã có những quy định cụ thể các đối

tượng được bồi thường Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích

đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công

bố theo quyết định của Chính phủ, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng

Điều 3: Chi trả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1 Nhà nước tổ chức thực hiện việc bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định

cư và GPMB

a) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất thì tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định này được tính vào vốn đầu tư của

dự án

b) Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất có trách nhiệm chi trả trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy

định của Nghị định này và được trừ vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất

phải nộp

c) Tổ chức cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài

đầu tư vào Việt Nam thì không phải trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư,

trường hợp đã chi trả thì được trừ số tiền đã trả vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp

2 Chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được xác định thành một mục riêng trong tổng vốn đầu tư của dự án

Điều 4: Tái định cư

Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị

định này mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong

các hình thức sau:

1 Bồi thường bằng nhà ở

2 Bồi thường bằng giao đất ở mới

3 Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới

Trang 36

Điều 5: Bồi thường, hỗ trợ

Bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này được quy định như sau:

1 Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước thu hồi

2 Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi

3 Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất

4 Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái định cư

Từ thực tế tình hình quản lý Nhà nước và các chính sách đất đai, chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ và hiện tại, chúng ta thấy rằng việc chỉnh lý, bổ sung chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là cần thiết góp phần đẩy nhanh tiến độ GPMB thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, ổn định nâng cao đời sống nhân dân

2.3 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Đến hết quý I năm 2014, Ban bồi thường GPMB huyện đã tham mưu

trực tiếp cho UBND huyện và Hội đồng bồi thường cơ bản hoàn thiện đối với

12 công trình do UBND huyện làm chủ đầu tư; 5 công trình do đơn vị khác làm chủ đầu tư (Trung tâm viễn thông và văn phòng giao dịch Viettel huyện Sơn Dương; Xưởng chế biến chè Vĩnh Tân, xã Tân Trào ) hiện còn một số công trình chưa có vốn hoặc đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để giải quyết tồn tại vướng mắc và lập hồ sơ trình phê duyệt bổ sung cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức (công trình Cải tạo, nâng cấp

đường từ xã Thượng Ấm đi xã Đại phú; Khu dân cư đô thị mới thị trấn Sơn

Dương; Cải tạo nâng cấp Quốc lộ 2C; xây dựng cầu Kim Xuyên tại xã Hồng Lạc; Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư Quốc lộ 2C; công trình Cải tạo, nâng cấp đường 13B thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương )

Một số công trình hiện đang triển khai thực hiện mới (5 công trình) trong đó 03 công trình do UBND huyện làm chủ đầu tư gồm: Trụ sở làm việc của Đảng Ủy, HĐND và UBND xã Đông Lợi; Trạm y tế xã Ninh Lai; Trụ sở làm việc của Đảng Ủy, HĐND và UBND xã Lương Thiện; 02 công trình do

Trang 37

đơn vị khác làm chủ đầu tư là: công trình Thuê đất trồng cỏ của công ty

TNHH sữa cho Tương lai tại xã Phúc ứng; Khai thác cát sỏi lòng sông Lô tại soi Dù Dì, xã Sầm Dương

- Một số khó khăn vướng mắc khi thực hiện công tác giải phóng mặt bằng tại địa phương:

+ Chưa bố trí kịp khu tái định cư

+ Đơn giá bồi thường về đất, tài sản vật kiến trúc còn thấp so với giá trị chuyển nhượng thực tế trên thị trường

+ Công tác khảo sát và lập qui hoạch còn chưa kỹ, do vậy một số công trình còn chưa thu hồi được do thu hồi diện tích đất trồng lúa của nhân dân và phải đợi xin ý kiến của Chính phủ (công trình Trung tâm viễn thông và văn phòng giao dịch Viettel; công trình xây dựng Trụ sở làm việc của UBND xã Lương Thiện )

+ Một số công trình chậm triển khai do chưa bố trí kịp nguồn vốn bồi thường

+ Một số công trình phải chờ cấp có thẩm quyền phê duyệt thiết kế bổ sung do trong quá trình thi công bị thay đổi và phát sinh khối lượng không có trong hồ sơ thiết kế như công trình Nâng cấp tuyến để tả sông Lô, kết hợp cứu

hộ, cứu nạn qua xã Cấp Tiến và xã Đông Thọ; công trình Cải tạo, nâng cấp

đường từ xã Thượng Ấm đi xã Đại Phú

Trang 38

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: thực trạng và kết quả công tác BT&GPMB, ảnh

hưởng của công tác GPMB đến đời sống của người dân bị thu hồi đất, các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sau khi GPMB tại dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Thời gian: từ ngày 24/2 đến ngày 10/5

- Địa điểm: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, quản lý sử dụng đất và ảnh hưởng của nó đến công tác GPMB tại xã Tú Thịnh huyện Sơn Dương

3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý

- Địa hình địa mạo

- Khí hậu, thủy văn

- Các nguồn tài nguyên

- Điều kiện đất đai

3.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Cơ cấu kinh tế 3 năm gần đây  STT  Thành phần kinh tế - Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.1. Cơ cấu kinh tế 3 năm gần đây STT Thành phần kinh tế (Trang 45)
Hình 4.1. Hiện trạng sử dụng đất của xã Tú Thịnh năm 2013 - Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Hình 4.1. Hiện trạng sử dụng đất của xã Tú Thịnh năm 2013 (Trang 50)
Bảng 4.2. Kết quả thực hiện bồi thường của dự án - Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.2. Kết quả thực hiện bồi thường của dự án (Trang 52)
Bảng 4.3. Kết quả đền bù đất nông nghiệp - Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.3. Kết quả đền bù đất nông nghiệp (Trang 53)
Bảng 4.4. Kết quả thực hiện đền bù vật kiến trúc và nhà cửa - Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.4. Kết quả thực hiện đền bù vật kiến trúc và nhà cửa (Trang 54)
Bảng 4.6. Kinh phí hỗ trợ tái định cư - Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.6. Kinh phí hỗ trợ tái định cư (Trang 57)
Bảng 4.7. Bảng tổng hợp Kinh phí bồi thường GPMB - Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.7. Bảng tổng hợp Kinh phí bồi thường GPMB (Trang 58)
Bảng 4.8. Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra GPMB - Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.8. Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra GPMB (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm