1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.

57 844 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHẨU VĂN BỔTên đề tài: T ỨNG DỤNG MÔ HÌNH NUÔI GIUN ĐỎ ĐỂ XỬ LÝ RÁC THẢI HỮU CƠ QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ THƯỢNG LÂM HUYỆN LÂM BÌNH - TỈNH TUYÊN QUANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC C

Trang 1

CHẨU VĂN BỔ

Tên đề tài:

T

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH NUÔI GIUN ĐỎ ĐỂ XỬ LÝ RÁC THẢI

HỮU CƠ QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ THƯỢNG LÂM

HUYỆN LÂM BÌNH - TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

Thái Nguyên, 2014

Trang 2

-

CHẨU VĂN BỔ

Tên đề tài:

T

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH NUÔI GIUN ĐỎ ĐỂ XỬ LÝ RÁC THẢI

HỮU CƠ QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ THƯỢNG LÂM

HUYỆN LÂM BÌNH - TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn : TS Vũ Thị Quý

Thái Nguyên, 2014

Trang 3

động đáp ứng với nhu cầu của xã hội, để đạt được mục tiêu đó thì phương

châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn với thực tiễn”, “Nhà trường gắn

với xã hội” luôn được các trường vận dụng linh hoạt Quá trình thực tập tốt

nghiệp là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tiễn, áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, củng cố kiến thức, kĩ năng, chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp sau khi ra trường

Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa

Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của cô giáo: TS Vũ Thị Quý, em tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ

quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang ” Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn,

giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin trân trọng cảm ơn sự

đóng góp ý kiến của các Thầy Cô giáo trong khoa Môi trường Đặc biệt, tôi

xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo TS Vũ Thị Quý, người

đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện để tài này

Xin cảm ơn các cán bộ, nhân viên phòng Tài Nguyên Môi trường huyện Lâm Bình, các cán bộ xã Thượng Lâm cùng bạn bè và gia đình đã giúp

đỡ, động viên tôi hoàn thành khóa luận này

Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý, phê bình cùng các bạn đồng nghiệp để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014

Trang 4

Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt 5

Bảng 2.2 Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam 6

Bảng 2.3 Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 8

Bảng 2.4 Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007 9

Bảng 4.1 Lượng rác thải hữu cơ phát sinh tại các hộ gia đình tại xã Thượng Lâm 37

Bảng 4.2 Hiệu quả xử lý các loại rác thải hữu cơ khác nhau của giun đỏ theo thời gian 38

Bảng 4.3 Khả năng xử lý rác của hai phương pháp phân lớp và trộn rác của giun đỏ 39

Bảng 4.4 khả Năng sinh trưởng của giun đỏ trong nguồn thức ăn khác nhau 40

Bảng 4.5 Lượng phân giun tạo ra sau 20 ngày giun xử lý (Kg/ 20 ngày) 42

Bảng 4.6 Lượng chất thải hữu cơ được xử lý với lượng giun khác nhau 42

Trang 5

Hình 3.1 Giun đỏ 13

Hình 4.1 Thời gian giun đỏ xử lý các loại rác thải hữu cơ khác nhau 38

Hình 4.2 Khả năng sinh trưởng của giun trong các nguồn thức ăn khác nhau 40

Hình 4.3 Ảnh hưởng của lượng giun tới hiệu quả xử lý rác hữu cơ 43

Trang 6

TN&MT Tài nguyên môi trường

Trang 7

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

2.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 9

2.2.1 Những nghiên cứu ứng dụng giun đỏ ở trên Thế Giới 9

2.2.2 Những nghiên cữu ứng dụng giun đỏ ở Việt Nam 11

2.2.3 Những nghiên cữu ứng dụng giun đỏ ở huyện Lâm Bình 12

2.3 TỔNG QUAN VỀ GIUN ĐỎ 13

2.3.1 Những hiểu biết về giun đỏ 13

2.3.2 Đặc tính sinh hoc của giun đỏ 14

2.3.3 Đặc tính sinh lý 14

2.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng 15

2.3.4 Qúa trình sinh sản và phát triển 16

2.3.5 Cách chăm sóc,chánh địch hại và thu hoạch 16

2.4 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ TỪ RÁC VỚI SỰ THAM GIA CỦA GIUN ĐỎ 19

2.4.1 Nuôi trong khay chậu 19

2.4.2 Nuôi trên đồng ruộng có mái che 19

2.4.3 Nuôi trên đồng ruộng không có mái che 20

2.4.4.Nuôi trong nhà với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp 20

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 21

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21

3.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 21

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

Trang 8

3.5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU 25

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 25

3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 25

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

4.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ THƯỢNG LÂM, HUYỆN LÂM BÌNH – TỈNH TUYÊN QUANG 26

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Thượng Lâm 30

4.2 LƯỢNG PHÁT SINH RÁC THẢI HỮU CƠ TẠI XÃ THƯỢNG LÂM – HUYỆN LÂM BÌNH - TỈNH TUYÊN QUANG 36

4.3 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG XỬ LÝ CÁC LOẠI RÁC THẢI HỮU CƠ KHÁC NHAU CỦA GIUN ĐỎ 38

4.3.1 Hiệu quả xử lý các loại rác thải hữu cơ khác nhau của giun đỏ 38

4.3.3 Đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của giun đỏ trong các loại rác thải khác nhau 40

4.3.3.1 khả năng sinh trưởng của giun đỏ trong nguồn thức ăn khác nhau 40

4.3.3.2 Lượng bùn tạo ra do giun đỏ phân hủy các loại rác khác nhau 41

4.3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng giun khác nhau tới khả năng phân hủy rác thải sinh hoạt hữu cơ 42

4.3.5 Đánh giá ưu, nhược điểm của mô hình nuôi giun đỏ xử lý rác quy mô hộ gia đình 43

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

5.1 KẾT LUẬN 45

5.2 KIẾN NGHỊ 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 9

Đó là lời mở đầu của chỉ thị số 36-CT/TW Ngày 25/06/1998 của Bộ

Chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII về Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Quán triệt tinh thần và nội dung của chỉ thị trên, các nghành, các cấp trong cả nước đã và đang đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm và suy thoái môi trường

Cùng với cả nước, ban lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang trong những năm gần đây đã có những chủ trương chính sách, biện pháp giải quyết các vấn đề

về môi trường như: Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường;

Ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất sạch hơn

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã giúp cho tỉnh Tuyên Quang ngày càng phát triển hơn Một mặt tạo sự phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống cho người dân mặt khác đây cũng lá nguy cơ làm suy giảm chất lượng môi trường Hiện nay, ô nhiễm môi trường không còn là xa lạ với chúng ta và nó trở thành một vấn đề của toàn xã hội

Một trong những vấn đề môi trường cấp bách hiện nay ở nước ta đó là rác thải sinh hoạt – một thách thức lớn được toàn xã hội quan tâm

Nền kinh tế xã hội càng phát triển, dân số gia tăng thì nhu cầu tiêu thụ của con người cũng tăng lên, theo đó lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ngày càng nhiều Việc bùng nổ rác thải sinh hoạt là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, làm mất cảnh quan, văn hóa đô thị và nông thôn

Khoảng 1/3 tổng lượng chất thải sinh hoạt là chất thải hữu cơ có thể tái chế một cách dễ dàng Chất thải hữu cơ là một loại nguyên liệu thô có giá trị

Trang 10

có thể được chế biến thành phân ủ có chất lượng tốt nhất, đưa chất hữu cơ thiết yếu vào đất trồng Phân ủ đem lại sự phì nhiêu cho đất, cải tạo cấu trúc của đất, giúp giữ nước đồng thời còn làm cho đất tiêu úng tốt Nếu như loại chất thải này bị chon lấp thì tiềm năng của chúng bị mất đi và các chất gây ô nhiễm này sẽ phát tán vào không khí, nguồn nước gây ô nhiễm môi trường

Dùng giun để ủ phân là một phương pháp ủ có thể dễ dàng được sử dụng ngay

tại nhà Biện pháp này có thể làm giảm thời gian thu gom, hạn chế sự phát tán

ô nhiễm vào không khí, và tiết kiệm chi phí thu gom, phân loại rác

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế và được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của cô

giáo: TS Vũ Thị Quý, em tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng mô hình

nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang”

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục đích của đề tài

Mục đích của đề tài là xây dựng mô hình nuôi giun đỏ xử lý rác thải hữu cơ trên địa bàn xã Thượng Lâm để từ đó làm cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn để hưỡng dẫn cộng đồng khu dân cư xây dựng mô hình nuôi giun tại nhà từ đó dần hình thành nên ý thức và thói quen thu gom, phân loại rác tại nguồn nhằm làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá điều kiện tự nhiên tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thượng

Lâm, huyện Lâm Bình – tỉnh Tuyên Quang

huyện Lâm Bình – tỉnh Tuyên Quang

- Đánh giá khả năng xử lý các loại rác thải hữu cơ khác nhau của giun đỏ

- Đánh giá ưu, nhược điểm của mô hình nuôi giun đỏ xử lý rác hữu cơ

quy mô hộ gia đình

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

vụ cho công tác sau này

Trang 11

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

nguồn thức ăn cho cá, gia cầm

không gây độc hại

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1.1.Các khái niệm liên quan

* Khái niệm về chất thải

Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy Chất thải là kim loại, hóa chất và các loại vật liệu khác (Nguyễn Xuân Nguyên và CS, 2004)[5]

* Khái niệm rác thải sinh hoạt

Rác thải sinh hoạt là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động, sản xuất của con người và động vật Rác phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải… Trong đó, rác sinh hoạt chiếm tỉ lệ cao nhất Số lượng, thành phần, chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật Bất kỳ một hoạt động sống của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng…, đều sinh ra một lượng rác đáng kể

Theo bản tin môi trường chuyên đề (2003)[6], Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất Cho nên, rác sinh hoạt có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng

và vứt trả lại môi trường sống

2.1.1.2 Thành phần của rác thải sinh hoạt

Thành phần chủ yếu là chất hữu cơ, dễ phân hủy Cho nên chất thải

sinh hoạt có thể định nghĩa là thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt

động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi

Trang 13

trường Thống kê của Ngân hàng Thế giới và Bộ TN&MT năm 2003 cho

thấy, nước ta phát sinh hơn 15 triệu tấn rác thải từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó 80% là rác thải sinh hoạt, bao gồm: Rác thải từ hộ gia đình, nhà hàng, chợ và các cơ sở kinh doanh, khu công nghiệp… Đến năm 2010, con số này tăng lên hơn gấp 2 lần

Bảng 2.1: Thành phần rác thải sinh hoạt

Thành phần chất thải % khối lượng

Trang 14

- Rác tái sinh: là các loại rác có thể sử dụng lại nhiều lần trực tiếp hoặc chế biến lại như giấy, cacton, vỏ đồ hộp, thủy tinh, các loại nhựa,

quần áo cũ, bàn ghế cũ…

2.1.1.3 Tình hình rác thải sinh hoạt tại Việt Nam hiện nay

Rác thải đang là vấn đề bức xúc ở nước ta hiện nay Mỗi năm có khoảng hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh trên cả nước và theo dự báo thì tổng lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng trong những thập

kỷ tới đây, đặc biệt ở các đô thị lớn, khu du lịch Chất thải rắn được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau.Trong số hơn 15 triệu tấn CTR có:

- 12,8 triệu tấn (khoảng 80% tổng lượng chất thải) phát sinh từ các hộ gia

đình, nhà hàng, chợ, khu kinh doanh

- 2,6 triệu tấn (chiếm 17%) từ các cơ sở công nghiệp và Khoảng 160.000 tấn (chiếm 1%) là chất thải nguy hại, gồm chất thải y tế nguy hại, các chất dễ cháy, chất độc hại từ công nghiệp, các loại thuốc trừ sâu, thùng chứa thuốc, vỏ, bao bì (bảng 2.2)

Bảng 2.2: Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam

Loại chất thải rắn Toàn quốc Đô thị Nông thôn Tổng lượng chất thải rắn sinh họat (tấn/năm)

+ Các vùng đô thị

+ Các vùng nông thôn

Số lượng các cơ sở tiêu huỷ chất thải rắn

- Bãi rác và bãi chôn lấp không hợp vệ sinh

- Bãi chôn lấp hợp vệ sinh

74

17

(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam 2006)[14]

Trang 15

Lượng chất thải sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Ví dụ tại Hà Nội, khối lượng rác thải sinh hoạt tăng trung bình 15%/năm, vởi tổng lượng ước tính 5.000 tấn/ngày đêm, và dự đoán chỉ sang năm (2012) có thể không còn chỗ để đổ rác Thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có trên 7.000 tấn rác thải sinh hoạt, mỗi năm cần 235 tỷ đồng để xử

lý (Vietnamnet,2011)[15]

Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10-15% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tăng đồng

đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Theo thống kê năm 2002, lượng

CTR sinh hoạt trung bình từ 0,6-0,9 kg/người/ngày ở các đô thị lớn và 0,4-0,5 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ, thị trấn thị tứ Đến năm 2008 và đầu 2009, tỷ

lệ này ở các đô thị lớn đã tăng lên tương ứng là 0,9-1,3 kg/người/ngày ( bảng 2.3) Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, đô thị có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất là TP Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng chất thải rắn phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày;

TP Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày Như vậy, lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị (Lê Văn Khoa, 2010)[4]

Trang 16

Bảng 2.3: Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Khu vực

Lượng phát thải theo đầu người (kg/người/ngày)

%

So với tổng lượng chất thải

% Thành phần hữu

đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

đô thị là 4.441 tấn/ngày hay 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị

khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị

là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (Lê Văn Khoa, 2010) [4](bảng 2.4)

Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong quá trình hoạt động, sinh sống của con người Hiện nay đời sống của người dân đã được nâng cao, đặc biệt là người dân đô thị Quá trình hiện đại hóa công nghiệp hóa các ngành dịch vụ, mua sắm, ăn uống,… đã tạo ra một lượng rác thải sinh hoạt khổng lồ Đó là một thách thức không nhỏ đối với nước ta trong quá trình phát triển

Trang 17

Bảng 2.4: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007

STT Đơn vị hành chính

Lượng CTRSH bình quân đầu người (kg/người/ngày)

Tổng lượng CTRSH đô thị phát sinh (tấn/ngày)

đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Để quản lý tốt

nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt gây ra

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Những nghiên cứu ứng dụng giun đỏ ở trên Thế Giới

Nghề nuôi giun (giun đất, giun quế ) đã hình thành từ hàng trăm năm nay Do lợi ích của giun đất nên nhiều nước đã quan tâm nuôi và sử dụng giun, chọn lọc và lai tạo một số giống giun có năng suất và chất lượng cao, chủ yếu là giun Quế Mỹ đã có lịch sử nuôi và sử dụng giun từ hơn 80 năm nay Năm 1980, ở Mỹ đã có hơn 90.000 trang trại nuôi giun Ở Manila (Philipin) có hơn 50.000 hộ nuôi giun Trung Quốc bắt đầu nuôi giun từ cuối thập kỉ 70

Trang 18

Wormtech Limited là một công ty đóng tại hạt Monmouthshire (Anh) chuyên thu thập rác thải để tái chế Hiện nay, Wormtech đang gấp rút sửa sang năm căn nhà chứa máy bay ở Caerwent thành xưởng cho các "công nhân

giun" làm việc, cần tuyển khoảng 18 tỷ giun đất cho dự án tái chế của mình

Theo dự tính, phải có khoảng 30.000 tấn giun đất, nhờ đó tạo được công ăn việc làm cho khoảng 20 lao động địa phương Giun cần khoảng một tháng để làm phân hủy toàn bộ chỗ rác, cung cấp nguyên liệu để sản xuất khoảng 12 loại sản phẩm hữu cơ Owen cho biết: “Trên khắp nước Anh có khoảng 700 trại nuôi giun, và họ sẽ cung cấp giun cho chúng tôi Còn trong tương lai, chúng tôi sẽ tự mình nuôi lấy giun đất Với một loại máy nhặt giun đặc biệt, chúng tôi sẽ đảm bảo sao cho không có bất cứ con giun nào lọt được vào sản phẩm cuối cùng”[19]

Sử dụng giun để sản xuất phân bón phổ biến tại Vancouver (Canada)

từ những năm 80 Đối với các cư dân đô thị có ý thức về môi trường, chẳng

có căn bếp nào hoàn thiện nếu vắng một thùng giun! Bên trong thùng, giun biến thức ăn thừa thành một loại mùn hữu ích cho cây, đồng thời giúp giảm lượng rác ở bãi chôn lấp Trên mười năm qua, chính quyền thành phố Vancouver đã tài trợ cho một chương trình sản xuất phân bón từ giun Vào thứ bảy hàng tuần, 25 người quan tâm tới sản xuất phân bón từ giun tham

dự một lớp học kéo dài 1 giờ tại khu vườn thí nghiệm của City Farmer Tại

đó, họ học cách chăm sóc và quản lý giun Đối tượng tham gia rời khu

vườn với một chiếc thùng, lớp lót đáy, khoảng 0,5 kg giun Quế và sách hướng dẫn Đó là tất cả đồ nghề họ cần để ''vận hành'' giun tại nhà Cho tới nay, chương trình đã phân phát khoảng 3.500 thùng giun Mỗi thùng như vậy (cao 61 cm, dài 51 cm và rộng 30,5 cm) có thể xử lý khoảng 2,25 kg rác trong một tuần, ngăn khoảng 60 kg rác hữu cơ được chuyển tới bãi chôn lấp của thành phố mỗi năm Ngoài lợi ích có thể thấy được, chương trình còn thúc đẩy ý thức giảm rác thải của công chúng Ngày nay, chương trình này đã phổ biến tới mức hình thành một dịch vụ mới: Sản xuất phân bón từ giun Thành phố này cũng đã thiết lập một đường dây điện thoại nóng giành riêng cho loại hình dịch vụ này [8]

Trang 19

2.2.2 Những nghiên cữu ứng dụng giun đỏ ở Việt Nam

Nghiên cứu cơ bản về giun đất ở Việt Nam đã triển khai từ trước năm 1979: Thái Trần Bái và các cộng sự ở Đại học Sư phạm I Hà Nội Nghiên cứu

sử dụng giun làm dược liệu: có giáo sư Đỗ Tất Lợi đã sưu tầm những bài thuốc có sử dụng giun Trước năm 1975, có dược sĩ Hồ Thị Thu đã nghiên cứu sản xuất những dược phẩm từ giun Năm 1987 trường Đại học Y dược TP

Hồ Chí Minh nghiên cứu những hoạt chất chủ yếu, thành phần đạm, các acid amin, khoáng vi lượng trong thịt giun

Nghiên cứu nuôi giun: năm 1983 tiến sĩ nông hóa Nguyễn Văn Chuyển, một Việt kiều ở Nhật đã giới thiệu trên đài truyền hình TP Hồ Chí Minh kỹ thuật nuôi giun đất để lấy đạm động vật Năm 1986, nghiên cứu nuôi giun sớm nhất ở Viêt Nam là phòng sinh học thực nghiệm, Đại học Sư phạm I Hà Nội, nghiên cứu thành công việc thuần hóa giun quế, Perionyx excavatus, có trong tự nhiên ở Việt Nam, thành vật nuôi Tiến sĩ Nguyễn Văn Bảy, trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn TP Hồ Chí Minh đã nhập giun quế về Việt Nam để nghiên cứu nhân giống từ năm 1995 Một nhóm tác giả khoa sinh, Đại học Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh đã thí nghiệm nuôi giun bằng chất thải từ nghề trồng nấm.Đến nay việc nuôi giun đất đã

được triển khai tại nhiều tỉnh, TP – từ năm 1990 các tỉnh Cao Bằng, Hà

Giang, Bắc Thái; 1996 ở Bảo Lộc – Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh, Long An, các tỉnh miền Tây Nam bộ

Đề tài : “ Nuôi giun xử lý rác thải” TS.Huỳnh Thị Kim Hối (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) với công bố : “Chỉ cần từ 1 đến 2 lạng giun là có thể xử lý được không dưới 300 kilogam rác thải hữu cơ, với hiệu suất xử lý đạt 100%” (Báo khoa học , 2010)[9]

Hiện nay nhiều đề tài nghiên cứu của học sinh sinh viên trên toàn quốc

về giun đỏ xử lý rác thải hữu cơ như :

- Trần Kim Thanh Vũ và Đinh Thị Thu Hà là hai học sinh lớp 11 Trường THPT Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng Đề tài của hai bạn là

“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp lên men kết hợp nuôi Giun đỏ”

- “Phương pháp xử lý rác thải bằng giun quế” của nhóm sinh viên trường

Trang 20

đại học nông lâm Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của TS.Lê Quốc Tuấn

2.2.3 Những nghiên cữu ứng dụng giun đỏ ở huyện Lâm Bình

Năm 2013, dự án cá tầm Tuyên Quang được triển khai ở vùng lòng hồ Thuỷ điện Tuyên Quang thuộc huyện Lâm Bình Đây là một dự án có quy mô

và tổng số vốn đầu tư lớn, việc nuôi ươm thành công trứng cá tầm trên hồ Thuỷ điện Tuyên Quang tại huyện Lâm Bình đánh dấu một hướng đi mới trong phát triển kinh tế ở một huyện vùng cao còn nhiều khó khăn và mở ra một triển vọng mới cho nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Tuyên Quang Hiện nay, Công ty cổ phần Trứng cá tầm Việt Nam đang tập trung chăm sóc, nuôi ươm theo đúng quy trình kỹ thuật để đảm bảo tỷ lệ cá sống cao Đàn cá tầm đang sinh trưởng và phát triển tốt, nhu cầu sử dụng lượng thức ăn khá cao Chính vì vậy, Công ty cổ phần Trứng cá tầm Việt Nam đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 1, triển khai chuyển giao kỹ thuật nuôi giun quế cho các hộ gia đình ở xã Thượng Lâm phục vụ chăn nuôi cá tầm ở Lâm Bình Giun quế là loài thức ăn giàu đạm cao cấp dùng cho vật nuôi, đặc biệt thích hợp để làm nguồn thức ăn chính phục vụ các loài thuỷ sản, trong đó có loài cá tầm, một loài cá nước lạnh quý hiếm của Việt Nam Đây là lần đầu tiên, các

hộ gia đình ở xã Thượng Lâm, huyện lâm Bình được tiếp cận với kỹ thuật nuôi giun quế Việc đưa mô hình nuôi giun quế vào huyện Lâm Bình cho thấy khá phù hợp với điều kiện thực tế và tập quán chăn nuôi gia súc, gia cầm của người nông dân ở đây Thời gian nuôi giun quế nhanh, nguồn thức ăn phục vụ nuôi giun quế khá dồi dào, kỹ thuật nuôi đơn giản, hộ gia đình tham gia mô hình nuôi giun quế được Công ty cổ phần Trứng cá tầm Việt Nam hỗ trợ về giống và nhận bao tiêu sản phẩm Điều này đã mở ra một hướng đi mới trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở xã Thượng Lâm

Việc đưa mô hình nuôi giun quế ở huyện vùng cao Lâm Bình, ngoài việc giúp bà con thu được nguồn sản phẩm chính là giun quế phục vụ dự án nuôi cá tầm trên hồ thuỷ điện và các dự án nuôi trồng thuỷ sản khác thì nuôi giun quế còn góp phần cải thiện môi trường do nguồn thức ăn sử dụng cho việc nuôi giun quế là các loại phân gia súc Ngoài ra, phân do giun quế thải ra sau khi hấp thụ các loại phân gia súc là nguồn phân hữu cơ sạch Hiện nay, đã

Trang 21

có 10 hộ gia đình đăng ký tham gia mô hình nuôi giun quế Tới đây, huyện Lâm Bình sẽ nhân rộng mô hình nuôi giun quế trên địa bàn, vừa mở ra hướng

đi mới trong phát triển kinh tế hộ gia đình, đồng thời đáp ứng kịp thời nguồn

thức ăn phục vụ dự án nuôi cá tầm trên hồ Thuỷ điện Tuyên Quang (Báo điện

tử Tuyên Quang, 2013)[10]

2.3 TỔNG QUAN VỀ GIUN ĐỎ

2.3.1 Những hiểu biết về giun đỏ

Giun đỏ là loại giun ăn các loại phân do gia súc thải ra như phân trâu,

bò, dê, thỏ, gà Mức độ sinh sản rất nhanh, có hàm lượng đạm cao Giun quế

có giá trị trong chăn nuôi, là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài thủy cầm, gia cầm như lợn, gà, vịt, cá và một số loài đặc sản khác như ba ba, ếch, lươn, tắc kè Ngoài ra giun còn có vai trò làm tơi xốp đất, giữ độ ẩm, phân giun là loài phân hữu cơ rất tốt, tăng cường dinh dưỡng cho đất

Hình 3.1 Giun đỏ

Giun đỏ có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ Megascocidae (họ cự dẫn), ngành ruột khoang Chúng thuộc nhóm giun ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại với phần thể lớn và không có khả năng cải tạo đất trực tiếp như một số loài giun địa phương sống trong đất (Nguyễn Lân Hùng, 2009)[11]

Trang 22

2.3.2 Đặc tính sinh hoc của giun đỏ

Giun đỏ có kích thước tương đối nhỏ, độ dài vào khoảng 10 –15 cm, thân hơi dẹt, bề ngang của con trưởng thành có thể đạt 0,1 – 0,2 cm, có màu

từ đỏ đến màu mận chín (tùy theo tuổi), màu nhạt dần về phía bụng, hai đầu hơi nhọn Cơ thể giun có hình thon dài nối với nhau bởi nhiều đốt, trên mỗi

đốt có một vành tơ

Giun đỏ hô hấp qua da, chúng có khả năng hấp thu Oxy và thải CO2 trong môi trường nước, điều này giúp cho chúng có khả năng sống trong nước nhiều lần, thậm chí trong nhiều tháng Hệ thống bài tiết bao gồm một cặp thận

ở mỗi đốt các cơ quan này bảo đảm cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm

dưới dạng Amoniac và Urer (Nguyễn Lân Hùng & CS, 1986)[3]

2.3.3 Đặc tính sinh lý

Giun đỏ rất nhạy cảm, chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và biên độ nhiệt cao, độ mặn và điều kiện khô hạn Nhiệt độ thích hợp nhất với

thích hợp, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh Ở nhiệt độ quá thấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết; hoặc khi nhiệt độ của luống nuôi lên quá cao cũng bỏ đi hoặc chết Chúng có thể chết khi điều kiện khô và nhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại trong môi trường nước có thổi Oxy Giun đỏ rất thích sống trong môi trường ẩm ướt và có độ pH ổn định[1]

Trong tự nhiên, giun Quế thích sống nơi ẩm ướt và có độ pH ổn định, gần cống rãnh, hoặc nơi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thối rữa như trong các đống phân động vật, các đống rác hoai mục Qua các thí nghiệm thực hiện, cho thấy chúng thích hợp nhất vào khoảng 7.0 – 7.5, nhưng chúng

có khả năng chịu đựng được phổ pH khá rộng, từ 4 – 9, nếu pH quá thấp, chúng sẽ bỏ đi Chúng rất ít có mặt trên các đồng ruộng canh tác, dù nơi đây

có nhiều chất thải hữu cơ Có lẽ vì tỷ lệ C/N của những chất thải này thường cao, không hấp dẫn và không đảm bảo điều kiện độ ẩm thường xuyên (Trại giun quế PHT, 2009)[12]

Giun không có phổi Nó hô hấp qua da Nếu da bị khô là giun chết Vì vậy, giun luôn luôn sống ở những nơi ẩm ướt Nếu phải đi lại trên mặt đất thì

Trang 23

chúng cũng phải chờ quá nửa đêm – khi sương xuống mới dám bò lên Vào những hôm mưa rào, ta cũng thấy giun ngoi lên mặt đất Vì sao vậy? Chắc rằng, bùn nhão đã bám chặt quanh cơ thể của chúng, cản trở sự hô hấp nên nó phải tháo chạy Đây đã thành một bản năng Vì vậy, khi nuôi giun phải tránh

để mưa xối vào luống nuôi

Hệ thần kinh của giun chưa phát triển nhiều Tuy nhiên, các tế bào thụ cảm cũng giúp chúng nhận biết ánh sáng, nhiệt độ, áp suất khí quyển và những dấu hiệu của thời tiết Nó không có mắt, mũi, tai nên ta các tế bào thụ cảm nằm rải rác trên cơ thể phải làm thay Chúng “đoán” thời tiết rất giỏi Hễ sắp có giông bão, là họ nhà giun ngoi lên mặt đất và bỏ chạy tán loạn Người nuôi giun phải dè chừng trường hợp này để chủ động ngăn chặn.Khả năng

“ngửi” của giun kém Tuy nhiên, chúng cũng phân biệt được các loại thức ăn khác nhau Trong một luống nuôi, giun cũng có thể tìm tới những chỗ thức ăn ngon hơn Chúng tôi đã tiến hành nhiều thí nghiệm và nhận ra rằng, chỉ cần 4 tiếng đồng hồ (trong điều kiện tối và ẩm) giun sẽ tập kết đến những chỗ có thức ăn mà chúng cho là ngon nhất (Nguyễn Lân Hùng & CS, 1986)[3]

2.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng

Giun quế thích nghi với phổ thức ăn khá rộng, chúng ăn bất kỳ chất thải hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc, gia cầm ) Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ hấp dẫn chúng hơn, giúp chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn

Giun quế nuốt thức ăn bằng môi ở lỗ miệng, lượng thức ăn mỗi ngày

được nhiều nhà khoa học công nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể

của nó Sau khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều vi sinh vật cộng sinh, chúng thải phân ra ngoài rất giàu muỗi dinh dưỡng, những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệ thống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể của giun nhưng vẫn còn hoạt động ở “màng dinh dưỡng” trong một thời gian dài[2] Đây là một trong những nguyên nhân làm cho phân giun có hàm lượng dinh dưỡng cao

và có hiệu quả cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên Hệ thống bài tiết bao gồm một cặp thận ở mỗi đốt, các cơ quan này đảm bảo cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm dưới dạng Amoniac và

Trang 24

Urê Giun không có phổi mà hô hấp qua da, nếu da bị khô thì giun sẽ chết vì vậy quá trình nuôi giun phải thường xuyên duy trì độ ẩm của chất nền Những ngày trời mưa giun ngoi lên khỏi mặt đất vì vậy khi nuôi giun phải tránh để

nước mưa rơi xuống luống ( Nguyễn Lân Hùng & CS, 1986)[3]

2.3.4 Qúa trình sinh sản và phát triển

Giun quế sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối

ổn định và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía Nam Giun quế là

sinh vật lưỡng tính, chúng có đai và các lỗ sinh dục nằm ở phía đầu của cơ thể, có thể giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗi con, kén được hình thành ở đai sinh dục, trong mỗi kén mang từ 1 – 20 trứng, kén giun di chuyển dần về phía đầu và hơi ra đất Kén áo hình dạng thon dài, hai đẩu túm nhọn lại gần giống như hạt bông cỏ, ban đầu có màu trắng đục, sau chuyển sanh xanh nhạt rồi vàng nhạt Mỗi kén có thể nở từ 2 – 10 con

Khi mới nở, con nhỏ như đầu kim có màu trắng, dài khoảng 2 – 3mm, sau 5 – 7 ngày cơ thể chúng sẽ chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện một vằn đỏ thẫm trên lưng Khoảng từ 15 –30 ngày sau, chúng trưởng thành

và bắt đầu xuất hiện đai sinh dục (theo Arellano, 1997); từ lúc này chúng bắt

đầu có khả năng bắt cặp và sinh sản Con trưởng thành khỏe mạnh có màu

mận chín và có sắc ánh kim trên cơ thể[12]

2.3.5 Cách chăm sóc, địch hại và thu hoạch

2.3.5.1 Chăm sóc

Sau khi thả giống, để 2 – 3 ngày sau mới kiểm tra Lúc đó dỡ hé tấm phủ lên Nếu thấy có giun bò lên mặt là tốt Như vậy là nó đã thích ứng với chỗ ở mới và bắt đầu đi tìm “bạn đời” để quấn nhau

Công việc hàng ngày của chúng ta là kiểm tra chỗ nuôi, đề phòng dịch hại (cóc, nhái, ngóe,chuột trù, chim…) và giữ ẩm cho luống Không bao giờ để phân

bị khô Tấm phủ cũng phải luôn luôn ẩm Vì vậy, thấy tấm phủ sắp khô phải tưới

ẩm ngay Giun ăn phân gia súc và đùn phân của nó lên bề mặt Phân giun tơi như

mùn cưa, màu đen Khi nào giun ăn hết thức ăn phải bổ sung ngay thức ăn vào Vào mùa đông, cứ 7 – 10ngày lại cho thêm một lớp phân từ 3 – 5cm Còn mùa

hè, đôi khi chỉ 3 – 5 ngày là giun đã ăn hết và phải cho tiếp

Trang 25

2.3.5.2 Địch hại

Trước hểt, phải kể tới các lưỡng cư: cóc, nhái, ngóe, ễnh ương, chẫu chàng Cóc thường chui ngay vào trong luống nằm lẫn trong phân Da cóc có khả năng biến đổi cho thích ứng với môi trường Vì vậy, có khi ta mở tấm phủ

ra nếu nhìn không kỹ sẽ không phát hiện được những chú cóc nằm im trong luống Chúng bắt mồi bằng lưỡi, lưỡi của chúng dính với hàm trên Khi thấy giun ngoi lên, chúng phóng lưỡi ra, kéo con mồi gọn ghẽ vào trong mồm và nuốt chửng Nó nằm im một chỗ để ăn no giun Ta cần phải hết sức cẩn thận để loại trừ cóc Định kỳ mở toàn bộ tấm phủ ra để kiểm tra luống nuôi Phải quan sát kỹ các kẽ hở giữa các viên gạch dùng để quây thành luống Phát hiện thấy cóc là phải diệt ngay Các loài khác như nhái, ngóe, ếch ương, chẫu chàng … thường không nằm trong luống Chúng thường tập kích luống giun vào ban

đêm Ban ngày, chúng luồn ra xung quanh, nằm ẩn khuất trong các bụi cây,

hang hốc cạnh đó Nếu không để ý sẽ không thấy Vì vậy, chỗ đặt luống giun cần cân nhắc kỹ, phải đề phòng Cũng có nơi đã dùng nilon quây xung quanh chỗ nuôi giun, giống như kiểu chống chuột cho ruộng lúa Tuy nhiên tấm nilon

ở đây phải cao từ 1m trở lên Chuột trù cũng là kẻ thù của giun Các loài chuột

khác ăn ngũ cốc Riêng chuột trù ăn sâu bọ Chúng ăn cả giun Nhược điểm là

dễ bị phát hiện Chúng có mùi hôi nồng nặc và luôn gọi nhau chít chít Ban ngày chúng rất loạng choạng, dễ bắt hoặc đánh chết chúng Chúng lại không có khả năng leo trèo Vì vậy, nếu ta ngăn cửa hoặc ngăn quanh luống nuôi bằng một vách ngăn cao khoảng 40cm là chúng chịu chết, không vào

được Gà, vịt, chim chóc cũng là kẻ thù của giun Ta nuôi giun cho gà, vịt ăn

nhưng nếu để chúng vào luống thì chúng sẽ bới tung lên và ăn sạch cả giống

Vì vậy, phải quây lưới hoặc đan tấm phên phủ lên luống giun để ngăn bọn này phá hoại Nhiều người nuôi giun ngại nhất là việc chống kiến Thực tế, việc chống kiến lại rất đơn giản.Bình thường, kiến không chiu rúc vào chỗ ẩm

ướt như các luống giun Chúng ngại nước Tuy nhiên khi luống giun có giun

chết là chúng lao vào (Nguyễn Lân Hùng, 2009)[11]

2.3.5.3 Thu hoạch

Thu hoạch là khâu cuối cùng của toàn bộ quá trình nuôi Tuỳ theo mục

đích sử dụng của từng hộ gia đình mà chúng ta có thể lựa chọn những phương

pháp thu hoạch sao cho phù hợp và hiệu quả nhất Hiện nay, một số tài liệu đã

Trang 26

đưa ra rất nhiều phương pháp thu hoạch giun khác nhau như: thu hoạch bằng

nhử mồi, bằng đe doạ, bằng ánh sáng, bằng điện… nhưng phương pháp thu hoạch đơn giản và hiệu quả hiện nay đang được áp dụng nhiều nhất đó là:

- Phương pháp thu hoạch bằng ánh sáng

Đây là phương pháp thu hoạch hiện nay đang được áp dụng nhiều nhất

Ưu điểm của phương pháp thu hoạch này là đơn giản và có thể lấy được kiệt

giun, tuy nhiên nó có nhược điểm là mất khá nhiều thời gian nếu lượng chất nền lớn và với điều kiện giun đã ăn hết phân trên lớp bề mặt chất nền Trước khi thu hoạch 1 ngày ta phải kiểm tra xem giun đã ăn hết lượng phân trên bề mặt của chất nền chưa Chúng ta chỉ khai thác khi giun đã ăn hết lượng phân này

Ta có thể sử dụng 1 tấm bạt hoặc tấm ni lông có khổ rộng trải ra trên mặt đất Lưu ý là nơi thu hoạch cần phải có nhiều ánh sáng nhưng tốt nhất không nên để trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời vì tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời rất có hại cho giun và có thể làm chết giun Dùng tay mở tấm đậy ra, bới

và bóp nhỏ lớp chất nền trong luống nuôi cho tơi xốp vì trong quá trình nuôi lượng phân giun đã đóng thành từng khối, từng tảng Xúc phân giun và giun ở trong luống ra đổ thành đống trải đều giữa tấm bạt hoặc tấm ni lông (tốt nhất nên dùng các đồ vật bằng nhựa để xúc, không nên sử dụng các vật nhọn và sắc như: quốc, xẻng…vì nó có thể làm chết hoặc đứt giun) Do giun thường tập trung nhiều trên bề mặt của luống nuôi vì vậy để khai thác nhanh, chúng

ta nên chia khối chất nền ra làm hai phần: phần chất nền ở phía trên đổ riêng

về 1 phía, phần còn lại đổ sang phía đối diện Sau khi xúc phân xong, dùng tay bóp nhỏ những phần phân đóng thành tảng xót lại và vun lên thành ngọn Dưới tác động của ánh sáng, giun sợ sẽ chui xuống bên dưới Ta dùng tay bới lớp phân giun ở trên ngọn và hai bên thành đống gạt sang hai bên Giun lại tiếp tục chui xuống dưới, ta lại tiếp tục bới như trên đã làm, cứ làm như vậy ta

sẽ loại hết được phân giun ra và lấy được toàn bộ lượng giun ở dưới đáy (Nguyễn Lân Hùng, 2009)[11]

- Phương pháp nhử mồi

Phương pháp này cũng được áp dụng khá nhiều trong thực tiễn, người

ta thường sử dụng phương pháp này khi muốn san ô nuôi để làm giảm bớt mật

Trang 27

độ giun và khối lượng chất nền hiện có ở trong luống Tuy nhiên, nếu muốn

lấy sạch giun trong ô nuôi thì không thể sử dụng phương pháp này mà phải dùng phương pháp thu hoạch bằng ánh sáng

Khi quan sát thấy luống nuôi đã hết thức ăn, ta rải 1 lượt mỏng thức ăn mới lên trên bề mặt của khối chất nền Giun sẽ lập tức tập trung tấn công vào lượng thức ăn mới này Theo dõi đến khi giun ăn gần hết lượng thức ăn này,

mở tấm đậy và hớt lấy lớp phân trên bề mặt ta sẽ thu được rất nhiều giun

2.4 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ TỪ RÁC VỚI SỰ THAM GIA CỦA GIUN ĐỎ

2.4.1 Nuôi trong khay chậu

Áp dụng cho những hộ gia đình không có đất sản xuất hoặc muốn tận dụng tối đa các diện tích trống có thể sử dụng được Mô hình này có thể sử dụng các dụng cụ đơn giản và rẻ tiền như các thùng gỗ, thau chậu, thùng xô…

chiều cao khoảng 0,3 m) Các dụng cụ này nên được đặt trên những cái khung nhiều tầng để dễ chăm sóc và tận dụng được không gian Các dụng cụ nuôi nên được che mưa gió, đặt ở nơi có ánh sáng hạn chế càng tốt Chúng phải

được đục lỗ thoát nước, những lỗ này cần được chặn lại bằng bông gòn,

lưới… để không bị thất thoát con giống Mô hình nuôi này có ưu điểm là dễ thực hiện, có thể sử dụng lao động phụ trong gia đình hoặc tận dụng thời gian rảnh rỗi Công tác chăm sóc cũng thuận tiện vì dễ quan sát và gọn nhẹ Tuy nhiên, nó có nhược điểm là tốn nhiều thời gian hơn các mô hình khác, số lượng sản phẩm có giới hạn, việc chăm sóc chogiun Quế phải được chú ý cẩn thận hơn (Trại giun quế PHT, 2009)[13]

2.4.2 Nuôi trên đồng ruộng có mái che

Thích hợp cho quy mô gia đình vừa phải hoặc mở rộng, thích hợp cho những vườn cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm có bóng râm vừa phải Các luống nuôi có thể là ô đào sâu trong đất hoặc làm bằng các vật liệu nhẹ như bạt không thấm nước, gỗ…, có bề ngang từ 1 – 2 m, độ sâu (hoặc cao) khoảng 30 –

40 cm, bảo đảm thoát được nước và thông thoáng Mái che nên làm ở dạng cơ

động để dễ di chuyển, thay đổi trong những thời tiết khác nhau Độ dày chất

nền ban đầu và thức ăn nên được bổ sung hàng tuần Luống nuôi cần được che phủ để giữ ẩm, kích thích hoạt động của giun Quế và chống các thiên địch

Trang 28

2.4.3 Nuôi trên đồng ruộng không có mái che

Đây là phương pháp nuôi truyền thống ở các nước đã phát triển công

nghệ nuôi giun Quế như Mỹ, Úc và có thể thực hiện ở quy mô lớn Luống nuôi có thể nổi hoặc âm trong mặt đất, bề ngang khoảng 1 – 2 m, chiều dài thường không giới hạn mà tùy theo diện tích nuôi Với phương pháp này, người nuôi không phải làm lán trại, có thể sử dụng các trang thiết bị cơ giới

để chăm sóc và thu hoạch sản phẩm Nếu cho lượng thức ăn ban đầu ít và bổ

sung hàng tuần thì việc thu hoạch cũng khá dễ dàng Tuy nhiên, phương pháp nuôi này bị tác động mạnh bởi các yếu tố thời tiết, có thể gây tổn hại đến giun Quế và cần một diện tích tương đối lớn

2.4.4.Nuôi trong nhà với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp

Là dạng Cải tiến và mở rộng của luống nuôi có mái che trên đồng ruộng và nuôi trong thau chậu Các khung (bồn) nuôi có thể được xây dựng kiên cố trên mặt đất có kích thước rộng hơn hoặc được sắp thành nhiều tầng Việc chăm sóc có thể thực hiện bằng tay hoặc các hệ thống tự động tùy theo quy mô Phương pháp này có nhiều ưu điểm là chủ động được điều kiện nuôi Chăm sóc tốt, nuôi theo quy mô lớn nhưng chi phí xây dựng cơ bản và trang thiết bị cao Hiện nay, quy

mô nuôi công nghiệp với những trang thiết bị hiện đại được áp dụng khá phổ biến

ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, Canada

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thành phần rác thả i sinh hoạt  Thành phần chất thải  % khối lượng - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 2.1 Thành phần rác thả i sinh hoạt Thành phần chất thải % khối lượng (Trang 13)
Bảng 2.2: Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 2.2 Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam (Trang 14)
Bảng 2.3: Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 2.3 Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (Trang 16)
Bảng 2.4: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007 - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 2.4 Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007 (Trang 17)
Hình 3.1 Giun  đỏ - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Hình 3.1 Giun đỏ (Trang 21)
Bảng 4.1 Lượng rác thải hữu cơ phát sinh tại các hộ gia đình tại - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.1 Lượng rác thải hữu cơ phát sinh tại các hộ gia đình tại (Trang 45)
Bảng 4.2: Thời gian xử lý các loại rác thải hữu cơ khác nhau của giun đỏ - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.2 Thời gian xử lý các loại rác thải hữu cơ khác nhau của giun đỏ (Trang 46)
Bảng 4.4: Khả năng sinh trưởng của giun đỏ trong các nguồn thức ăn khác - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.4 Khả năng sinh trưởng của giun đỏ trong các nguồn thức ăn khác (Trang 48)
Bảng 4.5 Lượng bùn tạo ra do giun đỏ xử lý  các loại rác khác nhau (Kg/20 - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.5 Lượng bùn tạo ra do giun đỏ xử lý các loại rác khác nhau (Kg/20 (Trang 50)
Hình 4.3. Ảnh hưởng của lượng giun tới hiệu quả xử lý rác hữu cơ. - Ứng dụng mô hình nuôi giun đỏ để xử lý rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại xã Thượng Lâm - Huyện Lâm Bình - Tỉnh Tuyên Quang.
Hình 4.3. Ảnh hưởng của lượng giun tới hiệu quả xử lý rác hữu cơ (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w