1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.

55 1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 385,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở các thông tin và số liệu thu thập được, kết hợp với các quy hoạch phát triển của tỉnh cho phép dự báo lượng chất thải rắn Y tế phát sinh trong những năm tiếp theo và đề ra các

Trang 1

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

1.2 Mục đích nghiên cứu 1

1.3 Yêu cầu của đề tài 1

1.4 Ý nghĩa đề tài 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……… 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Cơ sở pháp lý 3

2.1.2 Cơ sở lý luận 4

2.1.2.1 Khái niệm thuật ngữ liên quan và phân loại rác thải y tế 4

2.1.2.2 Phân loại chất thải rắn y tế 5

2.2 Hiện trạng quản lý và xu hướng xử lý rác thải y tế trên thế giới 6

2.3 Hiện trạng quản lý và xu hướng xử lý rác thải y tế ở Việt Nam 7

2.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế 7

2.3.2 Xu hướng xử lý chất thải y tế 10

2.4 Các nguy cơ đến từ chất thải y tế 13

2.4.1 Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn[31] 13

2.4.2 Các nguy cơ từ chất thải hoá học và dược phẩm 16

2.4.3 Các nguy cơ từ chất thải gây độc gen tế bào 16

2.4.4 Các nguy cơ từ chất độc phóng xạ 17

2.5 Các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 18

2.5.1 Công nghệ xử lý hoá – lý 18

2.5.2 Công nghệ thiêu đốt 19

2.5.3 Công nghệ chôn lấp 19

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… 20

3.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

3.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn 20

3.3.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn 20

Trang 4

3.4.1 Phương pháp thống kê, kế thừa 21

3.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 21

3.4.3 Phương pháp chuyên gia 21

3.4.4 Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp 21

3.4.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu, tài liệu 21

3.5 Chỉ số nghiên cứu 21

3.5.1 Các chỉ số về thực trạng quản lý chất thải rắn Y tế 21

3.5.2 Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế 22

PHẦN 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN………23

4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ngân Sơn 23

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 23

4.1.1.1.Vị trí địa lý 23

4.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 23

4.1.1.3 Đặc điểm khí hậu - thủy văn 23

4.1.1.4 Đặc điểm tài nguyên 24

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn 26

4.1.2.1 Điều kiện kinh tế 26

4.1.2.2 Văn hoá - xã hội 26

4.1.3 Sơ lược hiện trạng môi trường huyện Ngân Sơn 27

4.1.3.1 Môi trường không khí 27

4.1.3.2 Môi trường nước 27

4.1.3.3 Môi trường đất 27

4.2 Thực trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn 27

4.2.1 Các nguồn phát sinh chất thải tại bệnh viện huyện Ngân Sơn 27

4.2.2 Thành phần chất thải rắn tại bệnh viện huyện Ngân Sơn 28

4.2.2.1 Thành phần chất thải sinh hoạt tại bệnh viện huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kan 28

4.2.2.2 Chất thải rắn y tế 29

4.3 Điều tra đánh giá thực trạng công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kan 30

Trang 5

4.3.2.1 Công tác phân loại chất thải rắn tại Nguồn phát sinh 31

4.3.2.2 Công tác thu gom chất thải rắn y tế 32

4.3.3 Công tác phân loại và thu gom rác thải rắn tại bệnh viện 33

4.3.3.1 Công tác phân loại 33

4.3.3.2 Hình thức thu gom: 34

4.3.4 Kết quả điều tra về khối lượng rác thải y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn 35

4.4 Kết quả đánh giá về công tác quản lý, thu gom rác thải y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn qua phiếu điều tra phỏng vấn 36

4.5 Những thuận lợi, khó khăn và giải pháp đối với công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn 37

4.5.1 Những thuận lợi và khó khăn 37

4.5 2.Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện viện huyện Ngân Sơn 38

4.5.2.1 Giải pháp thu gom, phân loại, xử lý, vận chuyển, lưu trữ 38

4.5.2.2 Giải pháp giảm thiểu 43

4.5.3 Giải pháp kiểm soát ô nhiễm 44

4.5.4 Một số giải pháp khác 44

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Kiến nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 6

Môi trường trong thời gian thực tập tốt nghiệp em đã tiến hành đề tài “Đánh

giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý”

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài này ngoài sự cố gắng rất nhiều của bản thân, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Các thầy cô trong trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đặc biệt là thầy cô trong khoa Môi trường đã trang bị cho em nền tảng kiến thức vững chắc về môi trường cũng như các phương pháp quản lý và xử lý bảo vệ môi trường và nhiều lĩnh vực liên quan khác

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo T.S Nguyễn Thị Lợi - khoa Quản Lý Tài Nguyên, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ

em rất nhiều để em hoàn thành được nội dung đề tài này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị tại Trung tâm Quan Trắc Môi Trường tỉnh Bắc Kạn đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại cơ sở

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè đã hết lòng động viên, giúp đỡ tạo điều kiện cả về vật chất và tinh thần cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Do trình độ và thời gian thực hiện đề tài có giới hạn nên đề tài không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 7

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của ngành Y tế Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,

hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải bỏ, bao gồm cả những chất thải bỏ nguy hại

Để quản lý tốt lượng chất thải rắn, chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động Y tế trên địa bàn huyện Ngân Sơn cần tiến hành thống kê, cập nhật thu

thập các số liệu về khối lượng thành phần các loại chất thải phát sinh Trên cơ

sở các thông tin và số liệu thu thập được, kết hợp với các quy hoạch phát triển của tỉnh cho phép dự báo lượng chất thải rắn Y tế phát sinh trong những năm tiếp theo và đề ra các phương ph áp quản lý và xử lý chất thải rắn Y tế cho phù hợp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ cảnh quan, bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững Do vậy, em lựa chọn đề tài

“ Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý”

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn;

- Đánh giá tình hình phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân

Sơn

- Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn trong lĩnh vực y tế của bệnh

viện huyện Ngân Sơn

Trang 8

- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn trong lĩnh vực y tế nhằm

giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng đến môi trường sống trên địa bàn huyện

1.4 Ý nghĩa đề tài

Đề tài góp phần đánh giá được thực trạng chất lượng môi trường Y tế

của bệnh viện huyện Ngân Sơn

Tìm hiểu được mức độ ô nhiễm của ngành Y tế, đưa ra những định hướng đúng đắn trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường

Trang 9

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cơ sở pháp lý

- Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Y

tế về việc Ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động;

- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”;

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;

- Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41- NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa

đất nước;

- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y

tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế;

- Quyết định số 2149/QĐ/TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050;

- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;

- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác

động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;

- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải Y tế giai đoạn 2011

- 2015 và định hướng đến năm 2020;

Trang 10

- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;

- Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT ngày 16/03/2012 của Bộ Tài nguyên và

Môi trường quy định về lập – thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản

2.1.2 Cơ sở lý luận

2.1.2.1 Khái niệm thuật ngữ liên quan và phân loại rác thải y tế

Khái niệm

- Môi trường: Theo điều 3, chương I, Luật Bảo vệ môi trường 2005

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”

- Chất thải y tế: Theo điều 3 chương I quy chế quản lý chất thải y tế

năm 2007: “Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ các

cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường Chất thải

y tế phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo y tế”

- Chất thải rắn y tế: Là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động y tế

như khám chữa bệnh, bào chế, sản xuất, đào tạo, nghiên cứu…

- Chất thải rắn y tế thông thường: Là chất thải rắn y tế không chứa

các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người

- Chất thải rắn y tế nguy hại: Là chất thải rắn y tế có chứa các chất và

hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người

- Quản lý chất thải rắn y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý

ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ rác thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện

- Phân loại chất thải rắn: Là một khâu rất quan trọng trong việc quản

Trang 11

lý và xử lý chất thải Nếu thực hiện tốt khâu phân loại thì các khâu sau sẽ đạt hiệu quả cao, hạn chế tốt được ô nhiễm

- Thu gom: Là việc tách, phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm

thời chất thải tại địa điểm tập trung chất thải của cơ sở y tế

- Vận chuyển: Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh tới

nơi xử lý ban đầu, lưu giữ và tiêu huỷ

- Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải

có nguy cơ lây nhiễm cao ngay gần nơi chất thải phát sinh trước khi vận

chuyển tới nơi lưu giữ và tiêu huỷ

- Tiêu huỷ: Là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập (bao gồm cả chôn

lấp) chất thải nguy hại, làm mất khả năng nguy hại đối với môi trường và sức khoẻ

con người

2.1.2.2 Phân loại chất thải rắn y tế

Theo hệ thống phân loại của tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

- Chất thải thông thường: Đó là các chất thải không độc hại, về bản chất tương tự như rác thải sinh hoạt

- Chất thải là bệnh phẩm: Mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác

động vật thí nghiệm, máu, dịch thể

- Chất thải chứa phóng xạ: Chất thải từ các quá trình chiếu chụp X quang, phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u

- Chất thải hoá học: Có tác dụng độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm

độc gen hoặc không độc

- Chất thải nhiễm khuẩn: Gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh như vi sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm khuẩn

- Các vật sắc nhọn: Kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ có thể gây thương tích cho người và vật

- Dược liệu: Dư thừa, quá hạn sử dụng

Theo hệ thống phân loại của Việt Nam

Tại Việt Nam, các chất thải bệnh viện được phân loại tuỳ theo nguồn gốc đặc tính của từng loại Chất thải bệnh viện của Việt Nam được phân thành 4 loại:

Trang 12

- Phế thải sinh hoạt: Có nguồn gốc từ khu nhà bếp, khu hành chính phòng bệnh nhân, hàng quán trong bệnh viện

- Phế thải chứa các vi trùng gây bệnh: Có nguồn gốc từ các ca phẫu thuật, từ quá trình xét nghiệm, hoạt động khám chữa bệnh

- Phế thải bị nhiễm bẩn: Các chất thải sau khi dùng cho bệnh nhân, các

đồ dùng của y bác sĩ sau phẫu thuật, từ quá trình lau rửa sàn nhà, bùn cặn nạo

vét từ các hệ thống cống rãnh, từ điều trị khám chữa bệnh và vệ sinh công cộng

- Phế thải đặc biệt: Là các loại chất thải độc hại hơn các loại trên như các kim loại nặng, chất phóng xạ, hoá chất, dược phẩm quá hạn sử dụng từ phòng chiếu chụp X quang, kho dược liệu và hoá chất [14]

2.2 Hiện trạng quản lý và xu hướng xử lý rác thải y tế trên thế giới

Theo kết quả điều tra tại 15 bệnh viện tư nhân tại tỉnh Fars (Iran) trong

số 50 bệnh viện, mỗi ngày có khoảng 4,45 kg/giường/ngày thải ra 1830 kg rác thải sinh hoạt (RTSH) (chiếm 71,44%), 721 kg rác lây nhiễm (chiễm 27,8%)

và 19,6 kg các vật sắc nhọn (chiếm 0,76%) Rác thải chưa được phân loại theo

đúng quy định Hai trong số các bệnh viện này sử dụng xe chuyên chở rác

không có nắp đậy, 9 bệnh viện đã được trang bị lò đốt nhưng 6 trong số chúng gặp khó khăn trong quá trình vận hành lò đốt Ở các bệnh viện này, các nhân viên không được đào tạo về quản lý chất thải y tế cũng như các mối nguy hại

mà rác thải y tế đem đến

Quản lý rác thải y tế (RTYT) đang trở thành vấn đề lớn ở hầu hết các nước, đặc biệt là quản lý chất thải y tế Vài năm gần đây, vấn đề RTYT ngày càng được quan tâm hơn do tình trạng bán rác thải trộm ra bên ngoài và nhiều vấn đề liên quan đến nguy cơ của nó gây ra Trong thời gian vừa qua tại Ấn

Độ xảy ra một vụ mua bê bối lớn về vấn đề quản lý RTYT: Đó là việc sử

dụng và mua bán các kim tiêm, bình nước biển, ống truyền, chai lọ đã qua sử dụng Theo kết quả điều tra của cán bộ có chức trách bang Gujarat, Tây Ấn

Độ thì đây chính là nguyên nhân đã góp phần làm bùng phát bệnh viêm gan

B Thời gian qua ở nước này khiến 56 người tử vong Ngoài ra, rác thải y tế còn có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường do có thể phát tán trong nguồn nước, không khí và đất

Trang 13

2.3 Hiện trạng quản lý và xu hướng xử lý rác thải y tế ở Việt Nam

2.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế

Việt Nam là quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định trong khu vực và quốc tế Tuy nhiên điều này cũng làm nảy sinh nhiều thách thức đối với môi trường, đặc biệt tại những khu đô thị lớn chiếm 24% dân số

cả nước Năm 2010, khu vực này phát sinh khoảng 60% tổng lượng chất thải của cả nước Lượng rác thải này đang trở thành mối nguy hại lớn của xã hội Theo WHO đánh giá: 18 – 64% số cơ sở y tế ở Việt Nam chưa có biện pháp

2003, lượng chất thải y tế nguy hại của cả nước ta khoảng 21500 tấn/năm, năm 2010 con số này khoảng 25.000 tấn/năm 27% tổng lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hoá (gần 6.000 tấn/năm), các tỉnh/thành phố khác có khối lượng phát sinh chất thải y tế nguy hại ít hơn, cỡ khoảng từ 0,2 đến 1,5 tấn/ngày 70% lượng chất thải y tế nguy hại tập trung ở các tỉnh/thành phố, thị xã thuộc các đô thị và 30% ở các huyện, xã nông thôn, miền núi

Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện theo các tuyến trong cả nước như sau:

Bảng 1.1 Lượng chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trong cả nước

Tuyến giường bệnh Tổng lượng chất thải (kg/giường bệnh/ngày)

Trang 14

Từ bảng 1.1 cho thấy lượng rác thải của bệnh viện Trung Ương lớn hơn rất nhiều so với các bệnh viện tỉnh, huyện và tăng lên theo các năm Năm

1998 tính chung cho cả nước mỗi ngày bệnh viện thải ra 0,86 kg rác, đến năm

2005 con số này là 1,33 kg tăng gấp 1,55 lần và theo dự báo thì con số này còn tăng nữa Năm 1998, ở bệnh viện Trung ương trong 1 ngày lượng rác thải

ra của 1 giường bệnh là 0,97 kg đến năm 2005 là 1,80 kg (gấp 1,86 lần), còn ở bệnh viện tỉnh năm 1998 trong 1 ngày lượng rác thải ra của 1 giường bệnh là 0,88 kg đến năm 2005 là 1,45 kg (gấp 1,65 lần) Ở bệnh viện huyện thì lượng rác thải không thay đổi, năm 1998 và năm 2005 đều là 0,73 kg/giường bệnh/ngày Lượng rác thải của bệnh viện Trung ương lớn hơn lượng rác thải ở bệnh viện tỉnh và huyện vì số lượng bệnh viện ở tuyến Trung ương nhiều hơn

ở các tỉnh, huyện Mặt khác, do trình độ của cán bộ y tế cũng như công nghệ

khoa học ở đây cao hơn hẳn so với ở tỉnh và huyện cho nên có nhiều người bệnh và người nhà bệnh nhân đến đây để khám chữa bệnh Chính vì lượng người đến các bệnh viện tuyến Trung ương nhiều hơn cho nên lượng rác thải cũng nhiều hơn Còn sự thay đổi lượng rác thải qua các năm là điều đương nhiên do dân số ngày càng gia tăng và nhu cầu khám chữa bệnh của con người cũng được nâng cao

Công tác phân loại rác y tế tại các bệnh viện ngày càng được hoàn thiện Ở nhiều nơi, như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vào

sử dụng các phương tiện chuyên dùng có thùng chứa kín, kể cả hệ thống làm lạnh bên trong Các thùng nhựa kín đã được sử dụng để lưu chứa và vận chuyển chất thải y tế để hạn chế sự phát tán và gây nguy hiểm cho nhân viên trực tiếp thực hiện thu gom.[]

Trang 15

Bảng 1.2 Khối lượng chất thải rắn y tế ở các bệnh viện của một số tỉnh,

thành phố trong năm 2002 Tỉnh, thành phố

Lượng chất thải rắn y tế nguy hại/tổng lượng chất thải rắn

(Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường, 2003 của các tỉnh, thành)

Nhìn vào bảng 1.2 cho thấy: lượng chất thải rắn (CTR) y tế nguy hại của thành phố Hồ Chí Minh thải ra hàng năm lớn nhất cả nước (4.730 tấn), sau đó đến Hà Nội (410 tấn), Bình Dương (368 tấn) Ở Phú Thọ lượng CTR y

tế nguy hại là thấp nhất (70 tấn), Cần Thơ là 110 tấn Như vậy, lượng CTR y

tế nguy hại ở các tỉnh, thành phố chênh nhau rất lớn Lượng CTR y tế nguy hại ở Thành phố Hồ Chí Minh cao gấp 67,57 lần so với lượng CTR y tế nguy hại ở Phú Thọ, ở Hà Nội cao gấp 5,86 lần so với Phú Thọ Nguyên nhân của

sự chênh lệch này là ở các vùng trung tâm này có nhiều Bệnh viện, các cơ sở

y tế khác có công nghệ khoa học tiến bộ cho nên người dân ở các tỉnh thành khác đổ xô về thành phố lớn để khám chữa bệnh Mặt khác, dân số ở các khu vực này rất lớn nên lượng CTR y tế nguy hại cao là điều tất yếu

Quy trình phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y

tế đã có nhiều tiến bộ, nhiều cơ sở y tế thực hiện đúng theo quy chế quản lý chất thải y tế Nhiều bệnh viện đã xây dựng khu lưu giữ chất thải tập trung tại bệnh viện

Trang 16

Tuy nhiên, sự hỗ trợ của các ban, ngành trong việc cấp kinh phí đầu tư trang bị phương tiện cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải y tế nguy hại còn hạn chế và chưa đồng bộ.[ ]

Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 1998 Việt Nam có 830 bệnh viện với tổng số 104.065 giường bệnh, hàng ngày các bệnh viện phát sinh gần 90 tấn chất thải trong đó sẽ có khoảng 14,5 tấn chất thải y tế nguy hại cần phải xử lý

Từ năm 2001 kết quả điều tra của dự án “Quy hoạch tổng thể mạng lưới bệnh viện” cho thấy: cả nước có 970 bệnh viện vớ 117 562 giường bệnh, trong

đó bệnh viện Nhà nước chiếm 98,5% còn lại 1,5% là bệnh viện tư nhân.[32]

Đến năm 2007 cả nước đã có hơn 1.047 bệnh viện với gần 140.000

giường bệnh và hơn 10.000 trạm y tế Trung bình mỗi ngày đêm, mỗi giường bệnh sẽ thải ra môi trường khoảng 2,5 kg rác trong đó có từ 10 – 15% là chất thải nguy hại Theo Bộ y tế, khoảng 2/3 bệnh viện vẫn chưa áp dụng phương pháp tiêu huỷ rác thải đảm bảo vệ sinh Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa

được phân theo đúng chủng loại, chưa được khử khuẩn trước khi thải bỏ Nhà

lưu chứa không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cao cho cộng đồng.[32]

Năm 2010, cả nước hiện có 1.087 bệnh viện (trong đó 1.023 bệnh viện Nhà Nước, 64 bệnh viện tư nhân) với tổng số hơn 140.000 giường bệnh Ngoài ra còn có hơn 10.000 trạm y tế xã, hàng chục ngàn phòng khám tư nhân, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, sản xuất dược phẩm, sinh phẩm y tế Ước tính mỗi ngày cả nước thải ra 500 tấn rác thải y tế

Một thực trạng tại nhiều bệnh viện, một số chất thải rắn bị bán trộm ra ngoài, trong đó có chất thải không nguy hại, nhiều chất thải sạch được đóng chung với chất thải bẩn vừa gây thất thoát nguồn thu vừa gây ô nhiễm môi trường Bộ Y tế sẽ có hướng dẫn cho phép tái chế và tái sử dụng một số chất thải y tế thông thường theo quy trình kiểm soát các vật liệu nhằm hạn chế tối

đa lượng chất thải phải xử lý, tiết kiệm nguyên liệu

2.3.2 Xu hướng xử lý chất thải y tế

Ở Việt Nam, việc xử lý chất thải chủ yếu do các công ty môi trường đô

thị (URENCO) thực hiện Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ chất thải sinh hoạt, bao gồm cả chất thải sinh hoạt gia đình, chất thải văn

Trang 17

phòng, đồng thời cũng là cơ quan chịu trách nhiệm xử lý cả chất thải công nghiệp và y tế trong hầu hết các trường hợp Về mặt lý thuyết, mặc dù các cơ

sở công nghiệp và y tế phải tự chịu trách nhiệm trong việc xử lý các chất thải

do chính cơ sở đó thải ra, trong khi Chính phủ đóng vai trò là người xây dựng, thực thi và cưỡng chế các quy định/văn bản quy phạm pháp luật liên quan Song trên thực tế, Việt Nam chưa thực sự triển khai theo mô hình này

Theo Dự thảo báo cáo quy hoạch tổng thể xử lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam, tính đến tháng 9 năm 2003 toàn quốc hiện có 61 lò đốt chất thải y

tế nguy hại đặ tại 43 tỉnh/thành phố Trong đó có 47 lò đốt ngoại được lắp đặt

và vận hành để xử lý chất thải y tế nguy hại, trong đó có 2 lò đốt công suất lớn (200kg/giờ và 1.000kg/giờ) đặt bên ngoài khuôn viên bệnh viện thuộc trách nhiệm của xí nghiệp xử lý chất thải y tế (trực thuộc URENCO) tại hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, còn lại hầu hết là các lò đốt có công suất nhỏ (từ 20 đến dưới 100kg/giờ) Số lượng lò đốt sản xuất trong nước là 14 lò với công suất xử lý dao động từ 20kg/giờ đến 50kg/giờ

Ví dụ: Tình hình quản lý chất thải y tế và xu hướng xử lý CTR y tế ở

đồng bằng sông Cửu Long: Chất thải rắn trong bệnh viện được phân làm hai

loại gồm chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn y tế nguy hại Chất thải rắn sinh hoạt chiếm 80% chất thải rắn y tế trong bệnh viện (gồm chất hữu cơ, giấy

gỗ, kim loại, sành sứ vỡ, thuỷ tinh, Plastic, nilon và các thành phần khác…) Loại này ít độc hại nhưng công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý phải được thực hiện tốt CTR y tế nguy hại từ các bệnh viện là nguồn tiềm ẩn lây lan bệnh tật, gây ô nhiễm môi trường nước và đất, tác động tới môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng Vậy nên nguồn CTR y tế nguy hại từ các bệnh viện cần phải được kiểm soát nghiêm ngặt và xử lý đạt yêu cầu của tiêu

chuẩn môi trường quy định

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ từ một số tỉnh trong khu vực, hầu hết các trung tâm y tế cấp huyện và bệnh viện đa khoa của tỉnh đã thực hiện thu gom chất thải rắn y tế Nhiều bệnh viện và trung tâm y tế đã tổ chức thu gom phân loại CTR y tế nguy hại tại nguồn như ở tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, Bạc Liêu Tại đồng bằng sông Cửu Long, khối luợng CTR

y tế từ bệnh viện có quy mô cấp huyện và bệnh viện đa khoa thải ra môi

Trang 18

trường là 41,7 tấn/ngày, trong đó có 8,3 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Ví dụ: tỉnh Đồng Tháp có 3,7 tấn/ngày CTR y tế, 0,7 tấn/ngày CTR y tế nguy hại; tỉnh An Giang có 5,3 tấn/ngày CTR y tế, 1 tấn/ngày CTR y tế nguy hại; tỉnh

Cà Mau có 3,8 tấn/ngày CTR y tế, 0,8 tấn/ngày CTR y tế nguy hại; tỉnh Trà Vinh có 2,1 tấn /ngày CTR y tế, 0,4 tấn/ngày CTR y tế nguy hại;

Sau khi phân loại CTR y tế tại bệnh viện, loại rác thải sinh hoạt thông thường sẽ được xử lý chung với RTSH đô thị, riêng RTYT nguy hại trong các bệnh viện từ cấp huyện trở lên đem đi đốt Cho đến nay mới có khoảng 7% bệnh viện có lò đốt rác đạt tiêu chuẩn môi trường Các tỉnh đã trang bị

1 lò đốt rác đạt tiêu chuẩn và đã đưa vào khai thác như: Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng và Cà Mau (loại lò Hoval MZ, RET, DHBK-HCM, với công suất từ 50 - 300kg/giờ) Còn lại 93% bệnh viện có lò đốt rác thủ công hoặc

xử lý thô sơ chưa đạt tiêu chuẩn môi trường Một điều đáng lưu ý nữa, ở một số bệnh viện đa khoa cấp tỉnh, được trang bị lò đốt rác đạt tiêu chuẩn nhưng chỉ khai thác sử dụng hết khoảng 1/3 - 1/4 công suất lò đốt, trong khi các trung tâm y tế cấp huyện lại đang thiếu nguồn kinh phí để trang bị

lò đốt rác nên phải xử lý CTR y tế nguy hại bằng công nghệ thô sơ thủ công không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường

Trong những năm qua, ngành y tế vùng đồng bằng sông Cửu Long đã

có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở, đặc biệt là quản lý CTR, nhưng trên thực tế còn có nhiều hạn chế

Đa số các tỉnh chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý CTR y tế Nguyên nhân là do nhận thức về tác hại gây ô nhiễm của chất thải y tế của các tỉnh còn yếu; thiếu mặt bằng xây dựng hệ thống xử lý chất thải; chưa chú trọng bố trí vốn đầu tư cho xử lý chất thải y tế hoặc nguồn kinh phí ngành y tế hạn hẹp

và các tỉnh chưa đặt vấn đề quy hoạch lò đốt CTR y tế nguy hại tập trung để giảm kinh phí đầu tư mà hiệu quả thiết thực

Một số bệnh viện đã đầu tư xây dựng lò đốt CTR y tế nguy hại nhưng

xử lý chưa đạt tiêu chuẩn cho phép do vận hành chưa đúng kỹ thuật hoặc thiếu nguồn kinh phí để vận hành Đồng thời, không thường xuyên bảo dưỡng

hệ thống lò đốt; công suất hệ thống xử lý chưa tương xứng so với nguồn rác

Trang 19

thải quá lớn của bệnh viện; công nghệ xử lý CTR chưa thích hợp.[21]

2.4 Các nguy cơ đến từ chất thải y tế

- Đối với môi trường: Khi chất thải y tế không được xử lý đúng cách (chôn lấp, thiêu đốt không đúng qui định, tiêu chuẩn) thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí Sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người và hệ sinh thái.[23]

- Đối với con người: Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các CTR y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Nhóm người có nguy cơ cao gồm: Bác sĩ, y tá, hộ lý, nhân viên hành chính của bệnh viên, bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú, khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân, những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ

sở khám chữa bệnh và điều trị, đặc biệt là những người thu gom và vận chuyển chất thải y tế.[23

2.4.1 Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn [31]

Các vật thể trong thành phần của CTR y tế có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật bệnh truyền nhiễm nào Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua: Da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da), các niêm mạc (màng nhầy), đường hô hấp (do xông, hít phải), đường tiêu hóa

Trang 20

Bảng 1.3 Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế, các loại sinh vật gây bênh và phương thức lây truyền

Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bênh Dạng chất thải y tế

Nhiễm khuẩn tiêu hóa Nhóm enterobacteri:

salmonella, shigella spp, vibrio cholerac, các loại

giun sán

Phân hoặc chất nôn

Nhiễm khuẩn hô hấp Vi khuẩn lao, virus sởi,

streptococcus pneumoniac

Các loại dịch tiết,

đờm

lassa, ebola, Marburg

Tất cả các sản phẩm máu và dịch tiết Nhiễm khuẩn huyết do

epidermidis

Máu

(Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới WHO)

Trang 21

Có một mối liên quan đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do HIV và virus viêm gan B, C, đó là những bằng chứng của việc lan truyền các bệnh truyền nhiễm qua đường rác thải y tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh

Trong các cơ sở y tế, tính đề kháng của vi khuẩn đối với các loại thuốc kháng sinh và các hóa chất sát khuẩn cũng có thể góp phần tạo ra những mối nguy cơ do sự quản lý yếu kém các chất thải y tế Điều này đã được minh chứng, chẳng hạn các plasmit từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y

tế đã được truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thuống xử lý chất thải Hơn nữa, vi khuẩn E Coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạt tính mặc dù ở đó có vẻ như không phải là môi truờng thuận lợi cho loại

vi sinh vật này trong điều kiện thông thường của hệ thống thải bỏ và xử lý rác, nước

Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm

các vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim tiêm qua da) hầu như là những mối nguy cơ tiềm ẩn sâu sắc đối với sức khỏe trong các loại chất thải bệnh viện Các vật sắc nhọn có thể không chỉ là những nguyên nhân gây ra các vết cắt, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh Theo WHO trong các cơ sở y tế, điều dưỡng viên và hộ lý là 2 nhóm người chính có nguy cơ cao do tổn thương bởi các vật sắc nhọn Tỷ lệ hàng năm khoảng 10-20/1.000 người bị vật sắc nhọn nhiễm khuẩn gây xước hoặc chọc thủng da.[31]

Ước tính mỗi năm trên toàn thế giới sử dụng 12.000 bơm tiêm và

không phải tất cả bơm tiêm đều được loại bỏ đúng cách, tạo nguy cơ gây chấn thương và nhiễm khuẩn, thậm chí bị tái sử dụng Trên toàn thế giới, hàng năm

có khoảng 8 - 16 triệu người bị viêm gan B, 2,3 - 4,7 triệu người bị viêm gan

C và 800 – 1.600 người bị nhiễm HIV do tái sử dụng bơm tiêm không tiệt trùng Hiện tượng này đặc biệt phổ biến như một số nước ở Châu Phi, Châu Á

và Đông Âu Ở các nước đang phát triển, còn có thêm nguy hiểm do tìm bới rác và phân loại rác bằng tay ở bãi rác của các cơ sở y tế Những người thu nhặt có nguy cơ chấn thương tức thì do kim tiêm và tiếp xúc với chất độc hại hoặc chất bẩn.[7]

Trang 22

2.4.2 Các nguy cơ từ chất thải hoá học và dược phẩm

Nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người (các độc dược, các chất gây

độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây shock

phản vệ ) Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mòn, các hóa chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất dễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng

Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng những loại hóa chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao

Các sản phẩm hóa chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải sinh học hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên nhận được sự tưới tiêu bằng nguồn nước này Những vấn đề tương tự cũng có thể bị gây ra do các sản phẩm của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc khác, do các kim loại nặng như thủy ngân, phenol và các dẫn xuất, các chất khử trùng và tẩy uế

Chất thải Vacxin cũng tiềm ẩn nguy cơ gây hại rất cao Tháng 6 năm

2000 tại Vladivostock (Nga), 6 trẻ em được chẩn đoán bị bệnh đậu mùa dạng nhẹ sau khi chơi nghịch với các ống thuỷ tinh có chứa vacxin đậu mùa đã hết hạn trong đống phế thải

2.4.3 Các nguy cơ từ chất thải gây độc gen tế bào

Đối với các nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý

các loại chất thải gây độc gen tế bào và mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ

Trang 23

các rủi ro tiềm tàng sẽ phụ thuộc và các yếu tố như tính chất, liều lượng gây

độc của chất độc và khoảng thời gian tiếp xúc chất độc đó Quá trình tiếp xúc

với các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháp hóa trị liệu Nhưng phương thức tiếp xúc chính là hít phải hóa chất có tính nhiễm độc

ở dạng bụi hoặc hơi mùi qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua da do tiếp xúc trực

tiếp, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc Việc nhiễm độc qua đường tiêu hóa thường là do ảnh hưởng của những thói quen xấu, chẳng hạn như dùng miệng hút ống pipet trong các công việc như khi định lượng dung dịch, xét nghiệm sinh hóa Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra do tiếp xúc với các loại dịch thể và chất tiết, nhất là các bệnh phẩm cần xét nghiệm của những bệnh nhân đang trong giai đoạn điều trị bằng phương pháp hóa trị liệu

Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổng hợp hoặc quá

trình phân bào nguyên phân Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn như nhóm anky hóa, không phải là pha đặc hiệu, chỉ biểu hiện độc tính ở một vài

điểm trong chu kỳ tế bào Các nghiên cứu thực nghiệm cho ta thấy nhiều loại

thuốc chống ung thư lại gây lên ung thư và gây đột biến

Nhiều loại thuốc có tính độc gây kích thích cao độ và gây nên nhưng hậu quả hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt, chúng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da

Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng, vận chuyển chất thải gây

độc gen tế bào Việc làm thoát thải những chất thải như vậy vào môi trường

có thể gây nên những hậu quả sinh thái không thể lường trước được, nhiều khi tác hại tới môi trường và sinh thái rất nghiêm trọng

2.4.4 Các nguy cơ từ chất độc phóng xạ

Những bệnh do chất phóng xạ gây ra được xác định bởi liều lượng và kiểu phơi nhiễm Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như đau đầu, ngủ

gà, nôn đồng thời ảnh hưởng tới chất liệu di truyền

Trên thế giới các nguồn phóng xạ được sử dụng rộng rãi trong y học và trong những ứng dụng khác Có khi, dân chúng tiếp xúc với rác thải y tế có

Trang 24

hoạt tính phóng xạ thường có nguồn gốc từ liệu pháp điều trị phóng xạ không

được xử lý đúng tiêu chuẩn hoặc do tiếp xúc với các chất phóng xạ trong các

cơ sở điều trị do hậu quả của các thiết bị X - Quang hoạt động không an toàn hoặc do việc chuyên chở các dung dịch xạ trị không đảm bảo thiếu các thiết bị giám sát trong xạ trị liệu

Năm 1988, tại Brazil có 4 người chết vì hội chứng phóng xạ cấp tính và 28 người bỏng vì phóng xạ nặng Các tai nạn tương tự cũng đã từng xảy ra ở thành phố Mexico năm 1962, Algeria 1978, Maroc 1983 và Ciudad Juarez (Mexico) năm 1987.[9]

Chính vì những hậu quả này do chất thải y tế gây ra mà ta cần có những biện pháp phòng tránh:

- Có thể thay thế hoặc giảm lượng hoá chất độc hại sử dụng

- Cung cấp các phương tiện bảo hộ cho tất cả những người tiếp xúc trực tiếp với hoá chất

- Thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện pháp phòng

hộ và các trường hợp cấp cứu cho những người liên quan

- Bảo dưỡng các thiết bị y tế thường xuyên tránh rò rỉ hoá chất cũng như chất phóng xạ ra ngoài

2.5 Các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế

2.5.1 Công nghệ xử lý hoá – lý

Tức là sử dụng các quá trình biến đổi vật lý, hoá học để làm thay đổi tính chất của chất thải nhằm mục đích chính là giảm thiểu khả năng nguy hại của chất thải đối với môi trường Công nghệ này rất phổ biến để thu hồi, tái chế chất thải đặc biệt là một số loại chất thải nguy hại (CTNH) như dầu mỡ, kim loại nặng, dung môi Biện pháp tái chế, thu hồi chất thải bằng công nghệ hoá - lý thực sự chỉ mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường đối với những nhà máy xử lý chất thải quy mô lớn, đầu tư công nghệ hiện đại để có thể xử lý chất thải cho cả một vùng Hiện tại kinh phí để đầu tư một nhà máy hoàn chỉnh rất lớn có thể lên đến vài chục triệu đô

la, nên Việt nam chưa có điều kiện xây dựng những nhà máy xử lý như vậy Những năm tới, nếu có được sự đầu tư từ bên ngoài thì Việt Nam mới có thể xây dựng

được những nhà máy xử lý CTNH cấp vùng Ngoài ra việc lựa chọn địa điểm phù

hợp để xây dựng nhà máy cũng còn phải cân nhắc đến

Trang 25

2.5.2 Công nghệ thiêu đốt

Đốt là một quá trình oxy hoá chất thải ở nhiệt độ cao CTR và CTNH

hữu cơ có thể xử lý hoặc trong những lò đốt chuyên dụng hoặc được phân hủy trong những quá trình công nghiệp nhiệt độ cao Ví dụ, về quá trình này là việc sử dụng lò xi măng quay Nói chung, chất thải được xử lý bằng quá trình

đốt thông qua sự nhiệt phân đã từng được sử dụng đối với từng dạng chất thải

cụ thể như cao su, plastic, giấy, da, cặn dầu, dung môi hữu cơ, rác sinh hoạt, bệnh phẩm… Nhưng nhiệt phân không thể được xem là một công nghệ quản

lý chất thải đa năng

Sử dụng các lò đốt chuyên dụng để xử lý CTR y tế Quá trình xử lý các chất thải hữu cơ có thể cháy được trong các lò đốt để biến chúng thành dạng khí hơi và tro

Để đốt cháy hiệu quả chất thải trong lò đốt phải có 4 yêu cầu cơ bản như

sau:

Cung cấp đủ oxy cho quá trình nhiệt phân bằng cách đưa vào buồng

đốt một lượng không khí dư

Khí hơi sinh ra trong quá trình cháy phải được duy trì lâu trong lò đốt

đủ để đốt cháy hoàn toàn (thông thường ít nhất là 04 giây)

Nhiệt độ đốt phải đủ cao, thông thường cao hơn 10000C hay 11000C Yêu cầu trộn lẫn tất các khí và khí cháy – xoáy

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi ở nước ta

2.5.3 Công nghệ chôn lấp

Chôn lấp an toàn và hợp vệ sinh CTR y tế Chôn lấp an toàn hợp vệ sinh

là biện pháp tiêu hủy chất thải được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới Nhiều Quốc gia tiên tiến như Anh, Nhật cũng dùng biện pháp chôn lấp, kể cả một số loại chất thải nguy hiểm, lây nhiễm hoặc độc hại Theo công nghệ này chất thải CTR công nghiệp, CTNH dạng rắn hoặc sau khi đã cố định ở dạng viên được

đưa vào các hố chôn lấp có ít nhất 02 lớp lót chống thấm, có hệ thống thu gom

nước rò rỉ để xử lý, có hệ thống thoát khí, có giếng khoan để giám sát khả năng

ảnh hưởng đến nước ngầm

Trang 26

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chất thải rắn y tế bao gồm: Chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải thông thường

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm: Bệnh viện huyện Ngân Sơn

- Thời gian: Thời gian thực hiện từ tháng 1/2014 – tháng 4/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn

- Vị trí địa lý;

- Đặc điểm địa hình, địa mạo;

- Đặc điểm khí hậu, thủy văn;

- Đặc điểm các nguồn tài nguyên;

- Điều kiện kinh tế;

- Điều kiện xã hội;

- Sơ lược về điều kiện môi trường

3.3.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn

- Tải lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện

- Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện

- Thành phần và phân loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện

- Nhận xét một số thành tích đạt được và những tồn tại, hạn chế trong việc quản lý chất thải rắn y tế

3.3.3 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn

- Thực trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn trong lĩnh vực y tế;

- Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện;

- Thực trạng lưu trữ và vận chuyển chất thải rắn y tế tại bệnh viện;

- Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

Trang 27

3.3.4 Đề Xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

huyện Ngân Sơn

- Giải pháp thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu trữ;

- Giải pháp giảm thiểu;

- Giải pháp kiểm soát ô nhiễm;

- Một số giải pháp khác

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thống kê, kế thừa

Nhằm thu thập tất cả các tài liệu hiện có liên quan Trên cơ sở phân tích,

đánh giá sẽ kế thừa những thông tin, số liệu khoa học và công trình nghiên cứu

về bệnh viện đã được công bố một cách có chọn lọc để phục vụ thiết thực cho

đề tài

3.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa

Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực địa, khảo sát tại hiện trường khu vực các bệnh viện để so sánh, đối chiếu các khu vực khác nhau; kiểm định và khẳng định những kết quả đạt được từ quá trình phân tích hay tính toán; thu thập bổ sung các số liệu, tài liệu thực tế tại các khu vực nghiên cứu điển hình

3.4.3 Phương pháp chuyên gia

Trao đổi xin ý kiến các chuyên gia về chuyên môn, quản lý của các đơn

vị chức năng có liên quan, các trường đại học, các Viện, các Trung tâm, các

sở ban ngành của tỉnh Bắc Kạn có liên quan đến đề tài nghiên cứu v.v

3.4.4 Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp

Thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu,

tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu của đề tài

3.4.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu, tài liệu

Sử dụng phầm mềm Word và Excel để xử lý thông tin số liệu và được thể hiện dưới các dạng bảng, biểu, sơ đồ, biểu đồ…

3.5 Chỉ số nghiên cứu

3.5.1 Các chỉ số về thực trạng quản lý chất thải rắn Y tế

- Tổng lượng chất thải rắn y tế/ngày

- Khối lượng chất thải y tế kg/giường bệnh/ngày

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Lượng chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trong cả nước - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 1.1. Lượng chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trong cả nước (Trang 13)
Bảng 1.3. Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại  chất thải y tế, các loại sinh vật gây bênh và phương thức lây truyền - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 1.3. Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế, các loại sinh vật gây bênh và phương thức lây truyền (Trang 20)
Bảng 4.3: Thống kê nguồn phát sinh chất thải  tại bệnh viện huyện Ngân - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 4.3 Thống kê nguồn phát sinh chất thải tại bệnh viện huyện Ngân (Trang 34)
Bảng 4.4: Tỷ lệ thành phần chất thải rắn sinh hoạt  tại Bệnh viện huyện - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 4.4 Tỷ lệ thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại Bệnh viện huyện (Trang 35)
Bảng 4.6: Thực trạng công tác phân loại chất thải rắn tại  bệnh viện huyện - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 4.6 Thực trạng công tác phân loại chất thải rắn tại bệnh viện huyện (Trang 38)
Bảng 4.7 : Công tác thu gom chất thải rắn y tế tại  bệnh viện huyện Ngân - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 4.7 Công tác thu gom chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện Ngân (Trang 39)
Bảng 4.12. Công cụ thu gom rác thải tại bệnh viện - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 4.12. Công cụ thu gom rác thải tại bệnh viện (Trang 40)
Bảng 4.17: Hình thức thu gom rác tại bệnh viện - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 4.17 Hình thức thu gom rác tại bệnh viện (Trang 41)
Bảng 4.15: Khối lượng chất thải y tế tại bệnh viện - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 4.15 Khối lượng chất thải y tế tại bệnh viện (Trang 41)
Bảng 3.17. Ý kiến của bệnh nhân về công tác quản lý CTR y tế. - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Bảng 3.17. Ý kiến của bệnh nhân về công tác quản lý CTR y tế (Trang 42)
Hình 3.10. Sơ đồ quy trình thu gom, phân loại, quản lý chất thải rắn y tế - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý.
Hình 3.10. Sơ đồ quy trình thu gom, phân loại, quản lý chất thải rắn y tế (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w