Thỏi Nguyờn, ngày thỏng năm 2014 Sinh viờn Trang 3 STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ 1 CTR Chất thải rắn 2 CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt 3 WB Ngõn hàng thế giới 4 ĐVT Đơn vị tớnh 5 ODA
Trang 1- -
HOÀNG VĂN THIẾT
Tên đề tài:
THẢI SINH HOẠT TẠI THỊ TRẤN HÙNG QUỐC, HUYỆN
TRÀ LĨNH, TỈNH CAO BẰNG”
Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Khoa học mụi trường Khoa : Mụi trường
Khoỏ học : 2010 - 2014 Giảng viờn hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Khắc Thỏi Sơn
Khoa Mụi trường - Trường Đại học Nụng Lõm Thỏi Nguyờn
Thỏi Nguyờn, năm 2014
Trang 2tập, nó giúp cho sinh viên có cơ hội được tiếp xúc với các vấn đề thực tế bên ngoài so với lý thuyết đã học
Được sự đồng ý của Khoa Môi Trường - Trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên, được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của PGS TS Nguyễn
Khắc Thái Sơn, em đã tiến hành thực hiện đề tài: ”Đánh giá thực trạng công
tác Quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng“ Trong quá trình thực hiện em đã thu được nhiều kiến thức bổ ích
cũng như những kết quả nhất định
Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy dỗ của Ban giám
hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS TS Nguyễn Khắc Thái Sơn - giảng viên khoa Môi Trường là người trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho em thực hiện đề tài trong suốt thời gian qua
Cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phòng Tài Nguyên - Môi Trường huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em cũng như các sinh viên khác hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp của mình
Em xin cảm ơn gia đình, người than, bạn bè những người luôn ở bên em,
động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập cũng như thời gian nghiên
cứu của mình để hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này
Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp này, do kinh nghiệm và kiến thức thực tế còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót và khuyết
điểm Em rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến từ phía các thầy
cô giáo, anh chị và các bạn để khoá luận của em được hoàn thiện hơn nữa
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Hoàng Văn Thiết
Trang 3STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
6 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Association
of Southeast Asian Nations)
8 URENCO Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một
thành viên Môi trường Đô thị
10 VSMT Vệ sinh môi trường
11 BVMT Bảo vệ môi trường
12 RTSH Rác thải sinh hoạt
13 TN – MT Tài nguyên – Môi trường
Trang 4Trang
Bảng 2.1: Định nghĩa thành phần của CTRSH……… 8
Bảng 2.2: Tỷ lệ CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước
Bảng 2.3: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam năm 2007……….20
Bảng 2.4: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý Việt Nam đầu năm 2007…21
Bảng 2.5 Khối lượng CTRSH phát sinh tại tỉnh Cao Bằng……….27
Bảng 2.6 Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn tại tỉnh Cao Bằng……….29
Bảng 2.7 Hiện trạng các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Cao
Bằng 30 Bảng 4.1: Thành phần chủ yếu của rác thải sinh hoạt ở huyện Trà Lĩnh …… 40
Bảng 4.2 mức phí thu gom rác ở thị trấn Hùng Quốc……… 44
Bảng 4.3 Ước tính khối lượng và thành phần rác thải sinh
hoạt thu gom tại thị trấn Hùng Quốc giai đoạn 2011
Bảng 4.4 Mức độ quan tâm của người dân về môi trường ……… 49Bảng 4.5 Thành phần rác tái chế, tái sử dụng được trong rác thải sinh hoạt trên
địa bàn huyện Trà Lĩnh và giá bán……… 51
Hình 4.1 Các nguồn phát sinh rác thải rắn tại huyện Trà Lĩnh……… 42 Hình 4.2 Thành phần rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc………45
Trang 51.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu đề tài 3
1.4 Ý nghĩa đề tài 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.1.1 Cơ sở pháp lý 5
2.1.2 Cơ sở khoa học 5
2.1.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng 9
2.2 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt 12
2.2.1 Tình hình chung trên thế giới Error! Bookmark not defined 2.2.2 Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 18
2.2.3 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Cao Bằng 26
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU31 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
3.2 Địa điểm nghiên cứu 31
3.3 Nội dung nghiên cứu 31
3.4 Phương pháp nghiên cứu 31
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị trấn Hùng Quốc 34
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
4.2 Kết quả nghiên cứu về công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng 39
4.2.1 Tình hình phát sinh rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc 39
4.2.2 Hiện trạng thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng 42
4.2.3 Thực trạng xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc 46
4.2.4 Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công quản lý rác thải sinh hoạt 48
Trang 6trấn Hùng Quốc 52
4.3.2 Đề xuất một số giải pháp về quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng 53
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 7
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Môi trường và phát triển bên vững đang là mối quan tâm hàng đầu của nhân loại Nhận thức được xu thế này, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm sau sắc tới vấn đề bảo vệ môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái và sự phát triển lâu dài, bền vững của đất nước
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WHO đã tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,
điều đó cũng có nghĩa Việt Nam đang đứng trước cơ hội mới và trách thức
mới Trong đó vấn đề bảo vệ môi trường để phát triển bền vững luôn được quan tâm, chú trọng Lấy vấn đề bảo vệ môi trường làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hoá ở Việt Nam cũng đang phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn quy mô, cả về số lượng cũng như chất lượng Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc nước ta, tuy là một tỉnh thuộc vùng núi, có nền kinh tế kém phát triển so với các tỉnh khác nhưng bước vào thời kỳ CNH, HĐH bộ mặt toàn tỉnh Cao Bằng có nhiều chuyển biến tích cực cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực đô thị hóa Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, tình trạng ô nhiễm môi trường ở tỉnh Cao Bằng
đang là vấn đề bức xúc, ảnh hưởng đến sản xuất và chất lượng cuộc sống của
con người Vì thế, một trong những vấn đề được tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm, giải quyết là vấn đề VSMT đô thị
Thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng có những đặc
điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội, tự nhiên riêng, tuy là một thị trấn thuộc vùng
cao nhưng cũng đang trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội theo hướng
Trang 8CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, bên cạnh đó dân số ngày càng tăng nhanh, tốc độ đô thị diễn ra khá nhanh dẫn đến lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ngày càng nhiều Phải gánh chịu hệ quả của việc ô nhiễm do rác thải sinh hoạt gây nên Từ nhiều năm qua công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn đã được triển khai, tuy nhiên do ý thức người dân và công tác quản lý còn yếu kém cho nên rác thải sinh hoạt đang là vấn đề nan giải trên địa bàn thị trấn Do đó công tác quản lý rác thải là vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền và nhân dân trong những năm qua Trước tình hình cấp thiết trên
và nhằm đánh giá về thực trạng công tác quản lý CTRSH tại thị trấn Hùng Quốc, tìm ra những khó khăn và tồn tại, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm góp phần bảo vệ môi trường trên địa bàn Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo
PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
thực trạng công tác Quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng“
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng và từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải sinh hoạt, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng môi trường sống cho người dân trên địa bàn 1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn Hùng Quốc
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương
Trang 9- Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn tồn tại trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Thị trấn Hùng Quốc nói riêng và huyện Trà Lĩnh nói chung nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý rác thải sinh hoạt để bảo vệ môi trường và sức khoẻ người dân
1.3 Yêu cầu đề tài
- Điều tra đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại huyện Trà Lĩnh
và thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng
- Tiến hành điều tra, phỏng vấn, thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp Các số liệu thu thập được phải chính xác và khách quan
- Đưa ra đánh giá về thực trạng thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng
- Tìm ra những khó khăn cũng như những tồn tại và đưa ra các giải pháp khắc phục
- Đề ra một số giải pháp có tính khả thi có thể áp dụng tại khu vực nghiên cứu đề tài
1.4 Ý nghĩa đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức, tích luỹ kinh nghiệm thực tế
- Kết quả của đề tài là tài liệu để tham khảo và là cơ sở cho các nghiên
cứu khoa học liên quan đến mảng kiến thức này
- Giúp cho sinh viên củng cố hệ thống hoá kiến thức đã học và áp dụng vào thực tế Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với những nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức, tích luỹ kinh nghiệm thực tế
- Đánh giá công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng
Trang 10- Vận dụng và phát huy những kiến thức đã học được trong giảng đường
đại học vào thực tế và trưởng thành cho bản than
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá đúng hiện trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn
Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải sinh hoạt để cải thiện và góp phần bảo vệ môi trường sống cho người dân
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở pháp lý
2.1.1.1 Các văn bản của Quốc hội
- Luật bảo vệ môi trường của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam số 52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005
2.1.1.2 Các văn bản của chính phủ
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật BVMT, 2005
2.1.2.1 Các khái niệm về môi trường và chất thải rắn
* Quản lý chất thải rắn: Là bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý,
đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom,
lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
* Môi trường: Là bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người có ảnh hưởng đến đời sống sản suất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005)
Trang 12* Tiêu chuẩn môi trường: Là giới hạn cho phép của các thong số chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng các chất ô nhiễm trong chất thải
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo
vệ môi trường (luật bảo vệ môi trường 20051)
* Ô nhiễm môi trường: Là sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vật (luật bảo vệ môi trường 2005)
* Chất thải rắn: là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác
* Thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu trữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều địa điểm thu gom tới địa điểm hoạt cơ
sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận
* Vận chuyển chất thải rắn: là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối cùng
* Lưu trữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến nơi xử lý
* Xử lý chất thải rắn: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn
* Rác: là thuật ngữ dung để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố
định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con người Rác sinh hoạt hay chất thải rắn
sinh hoạt là bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người
Trang 13* Phân loại rác tại nguồn: Là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay còn gọi là nguồn thải Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác
xử lý rác về sau
2.1.2.2 Nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn
* Các nguồn phát sinh CTR chủ yếu từ các hoạt động: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và thương mại, khu dân cư, trường học, bệnh viện
* Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần lý, hóa của CTRSH rất khác nhau, tuỳ thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Có rất nhiều thành phần CTR trong rác thải có thể tái chế, tái sử dụng Vì vậy việc nghiên cứu thành phần CTRSH là điều hết sức cần thiết Từ đó ta có cơ
sở để tận dụng những thành phần có thể tái chế, tái sử dụng để phát triển kinh
tế
Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: Khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là thực phẩm, giấy, carton, nilon, nhựa, cao su, gỗ… Khu công nghiệp và xây dựng là các phế phẩm, bao bì sản phẩm và các vật liệu xây dựng như gỗ, gạch, sắt, thép… Nông nghiệp và chăn nuôi là cây cối mục, rơm rạ, bao bì phân bón, thuốc chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, xác chết động vật…
Trang 14Các loại đồ dung, nội thất như tủ, bàn ghế, đồ chơi
e Chất dẻo,
nhựa
Các vật liệu và sản phẩm
được làm từ chất dẻo và nhựa
Chai lọ, vỏ dây điện, vòi nước, đồ gia dụng, đồ chơi
f Da và cao su Tất cả các vật liệu và sản
phẩm chế tạo từ da và cao su
Giày, dép, săm lốp xe…
2 Các chất không cháy
a Các kim loại Các vật liệu và sản phẩm
được làm từ kim loại
Dao, kéo, dây điện, nắp chai lọ, xô, chậu, đồ điện tử…
b Thuỷ tinh Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ thuỷ tinh
Chai lọ, bóng đèn, bát đĩa, cốc chén, đồ thí nghiệm
…
c Đất đá và
sành sứ
Các vật liệu và đồ dùng được làm từ đất đá, sành sứ
Đá cuội, đất, cát…
Trang 152.1.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng
2.1.3.1 Ảnh hưởng của CTR đến sức khoẻ cộng đồng
Một trong những dạng chất thải nguy hại được xem là ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và môi trường là các chất hữu cơ bền vững Những hợp chất này rất bền vững, tồn tại lâu dài trong môi trường, có khả năng tích luỹ sinh học trong nông sản, thực phẩm, trong các nguồn nước, mô mỡ động vật gây ra hàng loạt các bệnh nguy hiểm đối với con người và sinh vật Đặc biệt các chất hữu cơ này được sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày của con người ở các dạng dầu thải trong các thiết bị gia đình, các thiết bị ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, trong các loại dầu chịu nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát,… Theo đánh giá của các chuyên gia, các loại chất nguy hại ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng khác ô nhiễm môi trường do chất thải rắn cũng đã đến mức báo động
Hiện nay, kết quả phân tích mẫu đất, nước, không khí đều tìm thấy sự tồn tại của các hợp chất hữu cơ trên Cho đến nay, tác hại nghiêm trọng của chúng đã thể hiện rõ qua những hình ảnh các em bé dị dạng, số lượng bệnh nhân mắc các bệnh tim mạnh bệnh đường hô hấp, rối loạn thần kinh, các bệnh ngoài da ngày càng tăng và đặc biệt là xuất hiện các làng ung thư do chất thải gây ra Điều đặc biệt là các căn bệnh ngày càng gia tăng mà việc chẩn đoán cũng như xác định phương pháp điều trị lại rất khó khăn, đáng lo ngại là hầu hết các chất thải rắn đều rất khó phân huỷ và để xử lý các hợp chất này là rất tốn kém và cần một phương pháp hợp lý nếu không các chất lại tiếp tục liên kết với nhau tạo hợp chất hữu cơ bền và thậm chí sinh ra chất khí cực độc thoát ra môi trường
2.1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường đất
- Đất bị ô nhiễm bởi các nguyên nhân chủ yếu sau:
Trang 16+ Do thải vào đất một khối lượng lớn chất thải nghiệp như xỉ than, khai khoáng, hoá chất… Các chất ô nhiễm không khí lắng đọng trên bề mặt sẽ gây
ô nhiễm đất, tác động đến các hệ sinh thái đất
+ Do thải ra mặt đất những rác thải sinh hoạt, các chất thải của quá trình
xử lý nước
+ Do dùng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý các mầm bệnh
ký sinh trùng, vi khuẩn đường ruột,… đã gây ra các bệnh truyền từ đất cho cây sau đó sang người và động vật…
- Chất thải rắn vứt bừa bãi ra đất hoặc chôn lấp vào đất chứa các chất hữu cơ khó phân huỷ làm thay đổi pH của đất
- Rác còn là nơi sinh sống của các loài côn trùng, gặm nhấm, vi khuẩn, nấm mốc…những loài này di động mang theo các vi trùng gây bệnh truyền nhiễm cộng đồng
- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khi đưa và môi trường đất sẽ làm thay đổi thành phần cấp hạt, tăng độ chặt, giảm tính thấm nước, giảm lượng mùn, làm mất cân bằng dinh dưỡng…làm cho đất bị chai cứng không còn khả năng sản xuất Tóm lại rác thải sinh hoạt là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất 2.1.3.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường nước
- Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, nước làm lạnh tro xỉ,… làm ô nhiễm nước ngầm
- Nước mưa chảy qua các bãi chôn lấp, bãi rác, hố phân chảy vào các mương, rãnh, ao, hồ, sông suối,… làm ô nhiễm nước mặt Nước này chứa các
vi trùng gây bệnh, kim loại nặng, các chất hữu cơ, các muối vô cơ hoà tan vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần
2.1.3.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí
Trang 17- Rác thải hữu cơ phân huỷ tại ra mùi và các khí độc hại như CH4 , CO2,
NH3, gây ô nhiễm môi trường không khí
- Khí thoát ra từ các hố phân hoặc chất sản xuất phân, chất thải chôn lấp
có các thành phần khí độc gây ô nhiễm
- Khí sinh ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng, chất độc trộn lẫn trong đó
2.1.3.5 Chất thải rắn làm giảm mỹ quan đô thị
Chất thải rắn, đặc biệt là CTRSH nếu không được thu gom, vận chuyển,
xử lý sẽ làm giảm mỹ quan môi trường đô thị Nguyên nhân của hiện tượng này là do ý thức người dân chưa cao Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi
đường, vỉa hè, mương nước, lòng sông, lòng suối, ao hồ,… vẫn còn phổ biến
gây ô nhiễm và làm mất mỹ quan môi trường
2.1.3.6 Rác là nơi sinh sống và cư trú của rất nhiều loài côn trùng gây bệnh Hiện nay Việt Nam cũng như rất nhiều nơi khác trên thế giới đang phải
đối mặt với nhiều dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do môi trường bị ô
nhiễm, CTR đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ cộng đồng, nghiêm trọng nhất
là đối với các khu dân cư ở các khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải,… và các vùng nông thôn, đô thị khác bị ô nhiễm bởi chất thải sinh hoạt đã đến mức báo động Nhiều dịch bệnh như các bệnh ngoài da, bệnh
đường hô hấp, bệnh tim mạch, ung thư,… ngày càng có xu hướng gia tăng mà
phần lớn nguyên nhân các dịch bệnh này là do môi trường sống bị ô nhiễm, hậu quả của tình trạng rác thải sinh hoạt đổ bừa bãi ở gốc cây, đầu đường, góc hẻm, hoặc các bãi rác lộ thiên không được xử lý, đây sẽ là nơi ở và nuôi dưỡng các loài vật, côn trùng như ruồi, muỗi, nhặng, chuột, là nguyên nhân lây truyền mầm bệnh và gây mất mỹ quan môi trường xung quanh Rác thải hữu cơ phân huỷ tạo ra các khí gây mùi và gây độc hại như CH4, CO2, NH3,… làm ô nhiễm môi trường không khí Nước thải ra từ các bãi rác hay nước mưa
Trang 18chảy qua bãi rác rồi ngấm xuống đất làm ô nhiễm nguồn nước ngầm, chảy vào các dòng sông, suối, ao hồ,… làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt Đối với những người do điều kiện công việc hay nơi ở mà thường xuyên
bị tiếp xúc với các khu vực bị ô nhiễm sẽ gây nguy hại cho sức khoẻ bản thân
và gia đình, người thân, những người thường xuyên phải tiếp xúc với nhau
2.2 Khái quát những vấn đề liên quan đến rác thải và xử lý rác thải sinh hoạt
- Khái niệm: Rác thải sinh hoạt là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động, sản xuất của con người và động vật Rác phát sinh
từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải…
- Phân loại rác thải:
+ Phân loại theo bản chất nguồn tạo thành:
• Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt độ
ng của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các
cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại
• Chất thải rắn công nghiệp: là các chất thải phát sinh từ các hoạt độ
ng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Cụ thể :
Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện…
Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất;
Các phế thải trong quá trình công nghệ;
Bao bì đóng gói sản phẩm…
• Chất thải xây dựng:
Các phế thải do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình
Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng;
Đất đá do việc đào móng trong xây dựng ;
Trang 19Các vật liệu như kim loại, chất dẻo…
Các chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm
xử lý nước thiên nhiên, nước thải sinh hoạt , bùn cặn từ các cống thoát nước thành phố
• Chất thải rắn nông nghiệp: là những chất thải và mẫu thừa thải
ra từ các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, thu hoạch cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, của các lò giết mổ…
+ Phân loại theo mức độ nguy hại :
Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại,
chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ gây cháy nổ, hoặc các chất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan…có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe người, động vật và cây cỏ Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu t
ừ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp
Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất
các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
- Các phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt
+ Phương pháp chôn lấp chất thải hợp vệ sinh: Phương pháp này chi phí rẻ nhất, phương pháp này thường phù hợp với các nước đang phát triển
+ Phương pháp chế biến chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ thành phân ủ hữu cơ (compost): Phương pháp này chi phí thông thường từ 8-10 USD/tấn Thành phẩm thu được dùng để phục vụ cho nông nghiệp, vừa có tác dụng cải tạo đất vừa thu được sản phẩm không bị nhiễm hoá chất dư tồn trong quá trình sinh trưởng Thành phần này được đánh giá cao ở các nước phát triển Nhược điểm của phương pháp này là: Quá trình xử lý kéo dài, bình thường
là từ 2-3 tháng, tốn diện tích Một nhà máy sản xuất phân hữu cơ từ chất thải rắn công xuất xử lý 100.000 tấn chất thải/năm cần có diện tích là 6ha
Trang 20+ Tái chế, tái sử dụng rác: Đây là phương pháp mạng lại hiệu quả cao về mặt kinh tế, xã hội và môi trường, trong rác thải sinh hoạt có nhiều thành phần có thể tái chế và tái sử dụng được, nếu thực hiện tốt việc phân loại, tái chế và tái sử dụng rác thì có thể tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức, tiết kiệm được nguồn tài nguyên thiên nhiên
+ Phương pháp thiêu đốt: Phương pháp này chi phí cao, thông thường từ 20-30 USD/tấn nhưng chu trình xử lý ngắn, chỉ từ 2-3 ngày, diện tích sử dụng chỉ bằng 1/6 diện tích làm phân hữu cơ có cùng công suất
Chi phí cao nên chỉ có các nước phát triển áp dụng, ở các nước đang phát triển nên áp dụng phương pháp này ở quy mô nhỏ để xử lý chất độc hại như: Chất thải bệnh viện, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp
+ Các kỹ thuật khác: Ép ở áp lực cao các thành phần vô cơ, chất dẻo để tạo ra các sản phẩm như tấm tường, gạch, trần nhà, tủ, bàn ghế,
- Các biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt:
Lưu trữ tại nguồn: Chất thải rắn phát sinh được lưu trữ trong các loại
thùng chứa khác nhau tùy theo đặc điểm nguồn phát sinh rác, khối lượng rác cần lưu trữ, vị trí đặt thùng chứa, chu kỳ thu gom, phương tiện thu gom,… Một cách tổng quát, các phương tiện thu chứa rác thường được thiết kế, lựa chọn sao cho thỏa mãn các tiêu chuẩn sau: (1) chống sự xâm nhập của súc vật, côn trùng, (2) bền, chắc, đẹp và không bị hư hỏng do thời tiết, (3) dễ cọ rửa khi cần thiết
Thu Gom:Rác sau khi được tập trung tại các điểm quy định sẽ được thu
gom và vận chuyển đến trạm trung chuyển/trạm xử lý hoặc bãi chôn lấp
Vận chuyển: Rác sau khi thu gom sẽ được vận chuyển đến nơi xử lý
bằng xe chuyên dụng
Quản lý chất thải rắn là vấn đề then chốt trong việc đảm bảo môi trường sống của con người, để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý môi trường nói chung
Trang 21và quản lý rác thải sinh hoạt nói riêng thì các cơ quan chức năng có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: công cụ pháp luật, công cụ kinh tế, tuyên truyền, giáo dục cộng đồng nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của từng người trong việc bảo vệ môi trường
2.3 Tình hình quản lý rác thải trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình quản lý rác thải trên thế giới
Mức độ đô thị hoá và phát triển kinh tế càng cao thì thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tăng lên tính theo đầu người Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh thải nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 6 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8 kg/người/ngày, ở các nước đang phát triển là 0,5 kg/người/ngày Ví dụ cụ thể
ở một số nước hiện nay như sau: Canada là 1,7 kg/người/ngày, Mỹ là 1,9
kg/người/ngày,Thuỵ Sỹ, Trung Quốc là 1,3, Ausstralia là 1,6 kg/người/ngày
Mỹ và châu Âu là hai "nhà sản xuất" rác đô thị chủ yếu với hơn 200 triệu tấn
cáo của Ngân hàng thế giới (WB),2004) Chi phí quản lý cho rác thải ở các nước đang phát triển có thể lên đến 50% ngân sách hàng năm, cơ sở hạ tầng
để tiêu huỷ an toàn rác thải thường rất thiếu thốn Khoảng 30 - 60 % rác thải
đô thị không được cung cấp dịch vụ thu gom
Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh, dân cư ở mỗi khu vực Tuy nhiên, dù ở khu vực nào thì cũng có xu hướng chung của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều
Các nước phát triển trên thế giới đã có những mô hình phân loại và thu gom rác thải rất hiệu quả:
Trang 22Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định; rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thuỷ tinh, rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại được đưa đến
cơ sở tái chế hàng hoá, tại đây, rác được được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để Sau quá trình xử lý đó rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm đi rất nhiều, các cặn rác không còn mùi sẽ
được đem nén thành các viên gạch lát vỉa hè, những viên gạch này rất xốp và
còn có tác dụng hút nước khi trời mưa
Mỹ: Mỹ được mệnh danh là “ nhà sản xuất “ rác, lượng rác thải sinh hoạt của nước này lên đến khoảng 210 triệu tấn/năm, tính trung bình mỗi người
Mỹ thải ra gần 2kg rác/ngày Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế Rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là hơn 16 USD/tháng Nếu có những phát sinh khác như khối lượng rác tăng hay xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các toà nhà lớn thì sẽ phải trả thêm 5 USD/tháng Phí thu gom được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Các thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác nhằm giảm giá thành thu gom rác (theo Nguyễn Thị Anh Hoa, 2006)
Singapore: Đây là nước đô thị hoá 100% và là đô thị sạch nhất thế giới
Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống pháp luật nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được, được đưa
Trang 23về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác
để thiêu huỷ hay xử lý bằng các cách khác nhau, tuỳ thuộc vào từng loại chất
thải khác nhau Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào việc thu gom
và xử lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty
tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công
ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở khoa học công nghệ và môi trường Ngoài ra, các hộ dân cư và các công ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân vào các công ty xử lý rác Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác thải trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla Singapore/tháng, thu gom rác thải trực tiếp tạ các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đôla Singapore/tháng
Đức: có thể nói ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu thế giới hiện nay
Việc phân loại rác đã được thực hiện nghiêm túc ở Đức từ năm 1991, rác bao
bì gồm hộp đựng thức ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại hay catton được thu gom vào thùng màu vàng, thùng xanh dương cho giấy, thùng xanh lá cây cho rác sinh học, thùng đen cho rác thủy tinh Những lò đốt rác hiện đại của nước Đức hầu như không có khi thải độc hại ra môi trường Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhỏ bắt đầu từ việc phân loại rác là một trong những phương pháp mà các nhà quản lý tại Đức đã áp dụng Rác được phân loại triệt để là điều kiện để tái chế, xử lý rác trở nên thuận lợi và dễ dàng
Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để sử lý rác thải tỷ lệ rác thải được sử lý theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới
được giới thiệu ở bảng sau:
Trang 24Bảng 2.2: Tỷ lệ CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước
trên thế giới (ĐVT: 0 / 0 )
STT Nước Tái chế Chế biến phân vi
(Nguồn: Hội bảo vệ thiên nhiên & Môi trường)
2.3.2 Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam
Việt Nam đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về phát triển kinh tế - xã hội Từ năm 2005 đến nay, GDP liên tục tăng, bình quân đạt trên 7%/năm Năm 2005, tốc độ này đạt 8,43%, là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 9 năm qua Đến cuối năm 2005, dân số Việt Nam là 83.119.900 người Từ năm 2000 - 2005, dân số Việt Nam tăng 5,48 triệu người, trong đó tỉ lệ dân số thành thị tăng từ 24,18% năm 2000 - 26,97% năm
2005, tương ứng tỉ lệ dân số nông thôn giảm từ 75,82% xuống 73,93% Dự báo đến năm 2010, dân số thành thị lên tới 30,4 triệu người, chiếm 33% dân
số và đến năm 2020 là 46 triệu người, chiếm 45% dân số cả nước
Trang 25Năm 1990, Việt Nam có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ Tính đến tháng 6/2007 có tổng cộng 729 đô thị các loại, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), 4 đô thị loại I (thành phố), 13 đô thị loại II (thành phố), 43 đô thị loại III (thành phố), 36 đô thị loại IV (thị xã), 631 đô thị loại V (thị trấn và thị tứ) Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh
đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân
số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ
lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000
Trang 26tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị
Bảng 2.3: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam năm 2007
STT Loại đô thị
Lượng CTRSH bình quân trên đầu người (kg/người/ngày)
(Nguồn: kết quả khảo sát năm 2006 - 2007 và báo cáo các địa phương,
Cục Bảo vệ môi trường)
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ
có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07%), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (Hình 2.2) Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày
Trang 27Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 - 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương
đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh
CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển du lịch như TP Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP Hội An 1,08kg/người/ngày; TP Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; TP Ninh Bình 1,30kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân
đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là
Lượng CTRSH phát
sinh Tấn/ngày Tấn/năm
Trang 28Với kết quả thống kê chưa đầy đủ cho thấy, tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm và theo dự báo đến năm 2020 khoảng gần 2 triệu tấn/năm Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái
sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu huỷ thích hợp nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTRSH gây ra
Lượng CTR đô thị phụ thuộc vào hai yếu tố chính đó là sự phát triển của nên kinh tế và dân số Theo thống kê mức CTR ở các nước đang phát triển trung bình là 0,3 kg/người/ngày Tại các đô thị ở nước ta, trung bình mỗi ngày mỗi người thải ra khoảng 0,5 kg - 0,8 kg rác Khối lượng rác tăng theo sự gia tăng của dân số Rác tồn đọng trong các khu tập thể, trong phố xá phụ thuộc vào yếu tố như địa hình, thời tiết, hoạt động của người thu gom… Rất khó xác
định thành phần CTR đô thị, vì trước khi tập trung đến bãi thì rác đã được thu
gom sơ bộ Tuy thành phần CTR ở các đô thị là khác nhau nhưng đều có chung 2 đặc điểm là:
- Thành phần rác hữu cơ khó phân huỷ, thực phẩm hư hỏng, lá cây, cỏ trung bình chiếm khoảng 30 - 60%, đây là điều kiện tốt để chôn, ủ hay chế biến phân hữu cơ
- Thành phần đất, cát, vật liệu xây dựng và các chất vô cơ khác chiếm khoảng 20 - 40%
Bên cạch đó, thành phần và khối lượng CTR thay đổi theo các yếu tố sau đây: Điều kiện kinh tế - xã hội, thời tiết trong năm, thói quen và thái độ của xã hội, quản lý và chế biến trong sản xuất, chính sách của nhà nước về chất thải
Trang 29Theo báo cáo môi trường quốc gia, tỷ lệ phát sinh CTR đã tăng từ 0,9 kg lên 1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn, từ 0,5 kg lên 0,65 kg/người/ngày tại các đô thị nhỏ Dự báo, tổng lượng CTR phát sinh có thể lên đến 35 triệu tấn vào năm 2015, 45 triệu tấn vào năm 2020 Trong khi đó, tỷ lệ thu gom CTR ở các vùng đô thị trung bình đạt khoảng 70%, ở các vùng nông thôn chỉ
đạt dưới 20% Và phương thức xử lý rác thải chủ yếu là chôn lấp Cả nước 91
bãi chôn lấp rác thải thì có tới 70 bãi chôn lấp không đạt tiêu chuẩn, không hợp vệ sinh Ngành công nghiệp tái chế chưa phát triển do chưa được quan tâm đúng mức Một số địa phương đã và đang thực hiện những dự án 3R (3R
là viết tắt của 3 từ tiếng anh REDUCE - REUSE - RECYCLE, có nghĩa là
Nội, nhưng nhìn chung mới chỉ thực hiện nhỏ lẻ, không đồng bộ Nếu phân loại tốt tại nguồn thì CTRSH có thể tái chế đến khoảng 60 - 65 % Chất thải hữu cơ cao trong rác thải sinh hoạt có tiềm năng lớn trong việc chế biến phân compost Với lĩnh vực công nghiệp, rác thải của nó có thể tái sử dụng, tái chế tới 80% Thậm chí, các công nghệ mới như Seraphin, Tâm Sinh Nghĩa, Công
ty thuỷ lực đã áp dụng ở một số thành phố như Hà Nội, Vinh, Huế đem lại tỷ
lệ tái chế tới 90%, đồng nghĩa với chất thải phải chôn lấp chỉ còn khoảng 10% Như vậy, chất thải có vai trò khá quan trọng trong việc tiết kiệm nguồn tài nguyên quốc gia Do đó, chất thải cần được quan tâm, được thống kê, đánh giá, phân loại để tái chế, tái sử dụng tốt trước khi đem tiêu huỷ
Hiện nay phần lớn rác thải sinh hoạt ở Việt Nam vẫn được xử lý bằng hình thức chôn lấp Tuy nhiên, cũng mới chỉ có 12 trong tổng số 64 tỉnh thành có bãi chôn lấp hợp vệ sinh, đúng kỹ thuật Phần lớn các bãi chôn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách là hết sức khó khăn và hạn chế Lượng chất thải rắn tại các đô thị
được thu gom mới đạt khoảng 70% tổng lượng chất thải phát sinh Trong khi
Trang 30đó, việc tái chế và tái sử dụng mới chỉ giảm khoảng 10 - 12% khối lượng
chất thải
Ở nước ta mới chỉ có khoảng 7 người/1 triệu dân làm công tác quản lý
nhà nước về môi trường, trong khi con số này ở các nước láng giềng và trong khu vực ASEAN như Trung Quốc là 20 người, Campuchia là 55 người, Thái Lan là 30 người, Malaysia là 100 người, Singapore là 330 người Còn đối với các nước phát triển thì con số này còn cao hơn nhiều, ví dụ như Canada là 155 người, Anh là 204 người Ngoài ra do hệ thống chính sách, pháp luật về bảo
vệ môi trường vẫn còn thiếu, chưa tương thích kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Các quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, CTR mặc dù đã được Chính phủ ban hành song vẫn còn mang tính hình thức, số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổng kinh phí mà Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính còn quá thấp, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa Bên cạch đó, các cơ quan chức năng còn lung túng trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường…Do đó công tác quản lý môi trường còn nhiều lỏng lẻo
Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh:
Tại Hà Nội: Theo số lượng tính toán của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Môi trường Đô thị (URENCO), mỗi ngày Hà Nội thải ra khoảng 3.000 tấn rác thải sinh hoạt, tức một năm thải ra trên dưới 1 triệu tấn Hiện nay, ngoài URENCO còn có nhiều đơn vị khác cùng tham gia thu gom rác như Công ty cổ phần Thăng Long, Công ty cổ phần Tây Đô, Công ty cổ phần Xanh, Hợp tác xã Thành Công,… Nhưng tất cả vẫn không thể thu gom hết vì lượng rác thải sinh hoạt đang ngày một tăng nhanh Tỷ lệ thu gom rác thải ở nội thành hiện nay đạt khoảng 95%, còn các tuyến ngoại thành mới chỉ đạt khoảng 60% Hà Nội vẫn còn 66% số xã chưa có nơi chôn lấp hoặc xử lý rác
Trang 31thải Khu vực ngoại thành có 361/435 xã, thị trấn đã thành lập tổ thu gom rác, trong đó có 148 xã đã tổ chức vận chuyển rác đi xử lý, chôn lấp tại các bãi chôn lấp tập trung của thành phố
Tại Cần Thơ: Ước tính toàn thành phố thải ra khoảng 650 tấn chất thải
rắn sinh hoạt mỗi ngày, nhưng tỷ lệ thu gom chỉ đạt khoảng 65% (2009) Lượng rác thải còn lại vẫn chưa được thu gom, xử lý mà thải ra môi trường Năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn các quận nội thành nhìn chung khá tốt, nhưng tại các quận, huyện ngoại thành thì việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt đạt hiệu quả chưa cao
Tại TP Hồ Chí Minh: Là đô thị lớn nên mức độ phát sinh chất thải rắn
đô thị hàng năm rất cao Theo số liệu của Sở Tài nguyên - Môi trường, mỗi
ngày trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thải ra khoảng 5.800 - 6.200 tấn rác thải sinh hoạt, 500 - 700 tấn chất thải rắn công nghiệp, 150 - 200 tấn chất thải nguy hại, 9 - 12 tấn rác thải y tế Nguồn chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng cao nhất, chủ yếu phát sinh từ các nguồn: hộ gia đình, trường học, chợ, nhà hàng, khách sạn
Tại Đồng Nai: Theo Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Đồng Nai, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh mới chỉ đạt khoảng 71%, còn 29% rác thải sinh hoạt còn lại đang thải ra môi trường mà chưa qua xử lý Trong
đó, tổng số lượng chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh khoảng
1.167 tấn/ngày, bao gồm 1.080 tấn chất thải sinh hoạt ngoài khu công nghiệp
và 87 tấn rác thải trong các khu công nghiệp Tình trạng xử lý rác thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều bãi chứa rác cũng như không có các điểm trung chuyển rác
Tại Hưng Yên: Theo thống kê của ngành môi trường tỉnh Hưng yên, trung bình mỗi ngày một người dân thải ra khoảng 0,5 kg rác thải sinh hoạt Như vậy, với số dân khoảng 1,2 triệu người của tỉnh Hưng Yên thì mỗi ngày
Trang 32toàn tỉnh có tới 600 tấn rác được thải ra môi trường Tuy nhiên, theo thống kê thì Hưng Yên mới chỉ thu gom, xử lý được khoảng 70% lượng rác thải Như vậy, mỗi ngày vẫn còn hàng trăm tấn rác thải sinh hoạt xả trực tiếp ra môi trường Tính đến năm 2009, toàn tỉnh đã quy hoạch được 627 bãi rác thải sinh hoạt quy mô nhỏ
Tại Thái Nguyên: Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên năm 2005, tính đến thời điểm 6/2005 hầu hết các thị trấn thuộc các huyện thị trong tỉnh đều có hợp tác xã thu gom rác thải sinh hoạt Tại TP Thái Nguyên, những năm trước đây, làm nhiệm vụ môi trường trên địa bàn thành phố chỉ có một đơn vị là Công ty Quản lý đô thị làm công tác thu gom và vận chuyển rác thải từ các điểm tập kết đến bãi rác của Thành phố Cho đến nay đã có 22/28
đội vệ sinh phường, xã được thành lập và đi vào hoạt động có hiệu quả Đặc
biệt, được sự quan tâm của Nhà nước và chính phủ Đan Mạch, thành phố Thái Nguyên được chọn là nơi triển khai thực hiện dự án Danida về đầu tư xây dựng nhà để xe thu gom rác thải Cho đến nay TP Thái Nguyên đã lựa chọn
địa điểm và xây dựng được 20 nhà để xe rác đi vào hoạt động đảm bảo tính
hữu ích và vệ sinh môi trường
2.3.3 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Cao Bằng
2.3.3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị và công nghiệp
Hoạt động của con người trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ và sinh hoạt đều phát sinh chất thải rắn Chất thải rắn trên địa bàn tỉnh bao gồm hai loại chính: Chất thải rắn nguy hại và chất thải rắn thông thường
Chất thải thông thường
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Cao Bằng 2010, lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân khoảng 0,9 - 1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn
và 0,5 - 0,65 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ và hầu hết các loại chất thải rắn
đều tập trung chủ yếu ở đô thị Dân số hiện nay của Cao Bằng là 510.884
Trang 33người, theo số liệu điều tra khảo sát về chất thải rắn thì khối lượng chất thải rắn thải ra trong một ngày khoảng 55,3 tấn, thành phần chủ yếu của CTRSH
là các chất hữu cơ dễ phân hủy ngoài ra còn một số thành phần khác như nilon, nhựa, giấy vụn, sành sứ, kim loại, cao su,… Tỷ lệ phần trăm các chất
có trong rác thải không ổn định, biến động theo mỗi địa điểm thu gom, khu vực sống và phát triển sản xuất Tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ chiếm khoảng 50% tổng lượng chất thải Khối lượng CTRSH ở Cao Bằng có xu hướng tăng theo các năm
Bảng 2.5 Khối lượng CTRSH phát sinh tại tỉnh Cao Bằng
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng Môi trường tỉnh Cao Bằng, 2010)
Chất thải rắn từ hoạt động sản xuất công nghiệp: Nguồn chất thải rắn này phát sinh từ các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở khai thác khoáng sản Chủ yếu
là chất thải rắn sau hoạt động sản xuất Thành phần của các loại chất thải rắn này mang tính trơ như: các cơ sở khai thác khoáng sản là đất đá, cát thải sau khai thác; tại các nhà máy luyện fêrô, thiếc thành phần là xỉ thải; nhà máy sản xuất bia và sản xuất đường là bã thải dạng hữu cơ dễ phân hủy; Ngoài ra tại một số cơ sở gia công kim loại, gương, kính thành phần là kim loại, thủy tinh, sành sứ Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng hiện nay có 1.675 cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh, dịch vụ công nghiệp, tổng lượng chất thải rắn thông thường phát sinh là 167,6 tấn/ngày đêm (theo số liệu tổng hợp năm 2009)