Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai như quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; mục đích sử dụng đất; hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất và t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MINH ĐỨC
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG VIÊN NA CỒ THỊ TRẤN BẮC HÀ – HUYỆN BẮC HÀ – TỈNH LÀO CAI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành : Địa chính Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MINH ĐỨC
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG VIÊN NA CỒ THỊ TRẤN BẮC HÀ – HUYỆN BẮC HÀ – TỈNH LÀO CAI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành : Địa chính Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : ThS Dương Thị Thanh Hà
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương trâm “ học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế” Thực tập tốt nghiệp là thời gian để mỗi sinh viên sau khi học tập, nghiên cứu tại trường có điều kiện củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thục tế Đây là giai đoạn không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên các trường đại nói chung và sinh viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin cảm ơn cô giáo Ths Dương Thị Thanh Hà đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực
hiện chuyên đề này
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên, các thầy giáo, cô giáo, cán bộ trong khoa đã truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Phòng TNMT huyện Bắc Hà, các cán bộ, nhân viên đang công tác tại Phòng đã giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Em cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập và thời gian em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Trong quá trình học tập và làm chuyên đề, em đã cố gắng hết mình nhưng
do kinh nghiệm còn thiếu và kiến thức còn hạn chế nên chuyên đề tốt nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để chuyên đề được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Hoàng Minh Đức
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 3
2.1.1 Các văn bản pháp quy của nhà nước có liên quan đến công tác bồi thường GPMB 3
2.1.2 Các văn bản pháp quy của địa phương có liên quan đến công tác bồi thường GPMB 4
2.2 Các nội dung liên quan tới công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 5
2.2.1 Bồi thường thu hồi đất 5
2.2.2 Hỗ trợ, tái định cư 5
2.2.3 Chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 5
2.2.4 Quản lý nhà nước về đất đai 6
2.2.5 Tác động của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 8
2 2 6 Tác động của công tác giao đất, cho thuê đất 9
2.2.7 Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, thống kê, kiểm kê đất đai 9
2.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong và ngoài nước 10
2.3.1 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới 10 2.3.2 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại một số địa phương trên cả nước 16
2.4 Vài nét về dự án 23
Trang 5PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội thị trấn Bắc Hà 24
3.3.2 Kết quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 24
3.3.3 Ảnh hưởng của dự án tới kinh tế - xã hội - môi trường 25
3.3.4 Đánh giá công tác BTGPMB qua ý kiến của người dân 25
3.3.5 Đề xuất phương án giải quyết 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Thu thập tài liệu thứ cấp có liên quan 25
3.4.2 Phương pháp điều tra phát phiếu 25
3.4.3 Sử dụng phương pháp thông kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, viết báo cáo 25 PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị trấn Bắc Hà 26
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27
4.2 Kết quả công tác bồi thường GPMB dự án xây dựng công viên Na Cồ - thị trấn Bắc Hà - huyện Bắc hà - tỉnh Lào Cai 31
4.2.1 Kết quả thống kê về đất, tài sản cây cối, hoa màu, vật kiến trúc đã được bồi thường trong dự án xây dựng công viên Na Cồ 31
4.2.2 Kết quả bồi thường về đất, cây cối hoa màu, vật kiến trúc trong dự án xây dựng công viên Na Cồ 34
4.2.3 Kết quả hỗ trợ do bị thu hồi đất 38
4.2.4 Tổng hợp kinh phí bồi thường và GPMB dự án xây dựng công viên Na Cồ 39
Trang 64.3 Ảnh hưởng của dự án tới kinh tế - xã hội - môi trường 39
4.3.1 Ảnh hưởng tới kinh tế 39
4.3.2 Ảnh hưởng tới xă hội 40
4.3.3 Ảnh hưởng tới môi trường 40
4.4 Đánh giá công tác BTGPMB qua ý kiến của người dân 41
4.5 Đề xuất phương án giải quyết 42
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị 44
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH TRONG KHÓA LUẬN
Hình 1 Bản đồ địa giới hành chính thị trấn Bắc Hà……… 26
Bảng 4.1 Nhóm người chia theo độ tuổi của thị trấn Bắc Hà năm 2013 28
Bảng 4.2 Tình hình lao động của thị trấn Bắc Hà năm 2013 28
Bảng 4.3 Kết quả điều tra về tình hình dân trí của thị trấn Bắc Hà 29
Bảng 4.4 Thành phần dân tộc của thị trấn Bắc Hà 30
Bảng 4.5 Tốc độ tăng trưởng kinh tế thị trấn Bắc Hà năm 2013 30
Bảng 4.6 Thống kê diện tích đất bị thu hồi 31
Bảng 4.7 Thống kê về cây cối, hoa màu 32
Bảng 4.8 Thống kê về vật kiến trúc trên đất bị thu hồi 33
Bảng 4.9 Kết quả bồi thường về đất đai 34
Bảng 4.10 Kết quả bồi thường về cây cối, hoa màu 35
Bảng 4.11 Kết quả bồi thường về vật kiến trúc trên đất bị thu hồi 36
Bảng 4.12 Kết quả hỗ trợ bị thu hồi đất do thực hiện dự án 38
Bảng 4.13 Bảng tổng hợp số tiền bồi thường,hỗ trợ của dự án 39
Bảng 4.14 Bảng đánh giá công tác BTGPMB qua ý kiến của người dân 41
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CPI : Consumer Price Index (Chỉ số giá tiêu dùng) CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CN-TM : Công nghiệp thương mại
THCN : Trung học chuyên nghiệp
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
UBND : Uỷ ban nhân dân
WB : World Bank (Ngân hàng thế giới)
Trang 9Ngay phần mở đầu của Luật đất đai 1993 nước CHXHCN Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân
bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương
máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai như quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; mục đích sử dụng đất; hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất; thu hồi, định giá đất…
Trong đó, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế
là một khâu quan trọng, then chốt của quá trình phát triển Bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển khai thực hiện các dự án và góp phần rất lớn trong việc giảm lạm phát Bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng cũng là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp liên quan tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và cộng đồng dân cư, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của Nhà nước, của Chủ đầu tư, đặc biệt với các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi trên phạm vi cả nước, của từng địa phương Huyện Bắc Hà là một huyện nghèo của tỉnh Lào Cai đang trong quá trình phát triển, do vậy trong những năm qua trên địa bàn huyện đã tổ chức thực hiện rất nhiều các dự án xây dựng các công trình phúc lợi xã hội mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho người dân nhưng bên cạnh đó cũng bộc lộ rất nhiều khó khăn liên quan tới lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Do vậy rất cần
Trang 10công tác nghiên cứu, đánh giá để làm rõ về cơ sở lý luận và tìm ra các giải pháp tháo gỡ trong công tác thực hiện và tổ chức của các dự án
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu, ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
dưới sự hướng dẫn của cô giáo, Ths Dương Thị Thanh Hà, em tiến hành
thực hiện Đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại dự
án xây dựng công viên Na Cồ - thị trấn Bắc Hà – huyện Bắc Hà – tỉnh Lào Cai”
1.2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá kết quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án
Từ đó tìm ra những mặt thuận lợi và khó khăn của dự án
- Đề xuất phương án có tính khả thi cao và rút kinh nghiệm cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Tìm hiểu Luật Đất đai năm 2003, các Nghị định, thông tư có liên đến
công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng
- Điều tra thu thập kết quả của việc GPMB, phân tích và nhận xét
- Đề xuất phương án, những giải pháp dựa trên những kết quả thu thập được
- Đánh giá trung thực và khách quan quá trình thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn thị trấn Bắc Hà và tại dự án điều tra
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập: Đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong học tập
và nghiên cứu khoa học, giúp cho người học tập nghiên cứu củng cố lại những kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Nắm chắc các quyết định về bồi thường và giải phóng mặt bằng bằng việc áp dụng trực tiếp vào thực tế
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Thông qua quá trình nghiên cứu giúp sinh viên nắm được những thuận lợi và khó khăn để từ đó đề ra các giải pháp góp phần thúc đẩy nhanh tiến độ bồi thường GPMB Giúp cho các nhà quản lý đất đai rút ra được kinh nghiệm, nhận ra được những ưu, nhược điểm trong công tác thường giải GPMB Từ đó có thể thực hiện dự án theo đúng tiến dộ và yêu cầu của nhà đầu tư
Trang 11PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
2.1.1 Các văn bản pháp quy của nhà nước có liên quan đến công tác bồi thường GPMB
- Bộ luật dân sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Luật Đất Đai ngày 26/11/2003
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai năm 2003
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ xung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng
- Nghị định số 22/1998/NĐ- CP ngày 24 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- Nghị định số 188/2004/NĐ – CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02/08/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Trang 12- Thông tư số 14/2009/TT- BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên
& Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
- Thông tư số 57/2010/TT-BTC ngày 16/4/2010 của Bộ Tài chính quy
định việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
2.1.2 Các văn bản pháp quy của địa phương có liên quan đến công tác bồi thường GPMB
- Quyết định số 26/2013/QĐ-UBND ngày 25 tháng 7 năm 2013 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Lào Cai về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai
- Quyết định số 58/2012/QĐ-UBND ngày 26 tháng 12 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai về việc Ban hành quy định về giá các loại đất, phân khu vực đất, phân loại đường phố, phân vị trí các loại đất trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2013
- Quyết định số 22/2011/QĐ-UBND ngày 18/8/2011 của UBND tỉnh Lào
Cai về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của ban Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai
- Quyết định số 13/2013/QĐ-UBND ngày 23/5/2013 của UBND tỉnh Lào Cai về bổ sung giá đất ở đô thị tại Phụ lục số 09 ban hành kèm theo Quyết định số 58/2012/QĐ-UBND ngày 26/12/2012 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành quy định về giá các loại đất, phân hạng đất, phân vùng đất và phân loại đường phố, vị trí đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Lào Cai
- Quyết định số 37/2013/ QĐ-UBND ngày 20/8/2013 của UBND tỉnh Lào Cai về bổ sung giá đất ở nông thôn khu vực I tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Quyết định số 58/2012/QĐ-UBND ngày 26/12/2012 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành quy định về giá các loại đất, phân hạng đất, phân vùng đất và phân loại đường phố, vị trí đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Trang 132.2 Các nội dung liên quan tới công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
2.2.1 Bồi thường thu hồi đất
Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra Đền bù là trả lại xứng với giá trị hoặc công lao Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị
hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thê khác Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi và những tài sản trên đất
cho người bị thu hồi đất
2.2.2 Hỗ trợ, tái định cư
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí di dời
đến địa điểm mới…
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi ở mới để sinh sống và làm
ăn Tái định cư bắt buộc là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi nhà nước thu hồi đất hoặc trưng dụng đất để thực hiện các dự án phát triển
TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản,
di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu thập, cơ sở vật chất, tinh thần ại đó TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về KT-XH đối với bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung của đất nước
Hiện nay nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở
- Bồi thường bằng đất ở mới
- Bồi thường bằng tiền để xây dựng nơi ở mới
TĐC là việc không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng
2.2.3 Chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Chi phí để tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gồm các nội dung sau:
- Chi cho công tác tuyên truyền, phổ biến quyết định thu hồi đất và quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; tổ chức vận động
Trang 14các đối tượng thực hiện quyết định thu hồi đất và khảo sát, điều tra về tình hình kinh tế, xã hội
- Chi cho việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao gồm: lập phương án bồi thường từ khâu ban đầu tính toán các chỉ tiêu bồi thường, phê duyệt phương án bồi thường, niêm yết công khai phương án bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư
- Chi cho việc thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bằng 0,2% tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ
- Chi cho việc thẩm định các điều kiện được bồi thường
- Kiểm tra, hướng dẫn thực hiện quy định về bồi thường, giải quyết những vướng mắc trong công tác bồi thường và tổ chức thực hiện chi trả bồi thường;
- Thuê văn phòng và trang thiết bị làm việc của tổ chức làm nhiệm
vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cơ quan thẩm định
- Chi in ấn và văn phòng phẩm, xăng xe, hậu cần phục vụ và các khoản phục vụ cho bộ máy quản lý được tính theo nhu cầu thực tế của từng dự án;
- Chi phí trả lương, bảo hiểm xã hội cho việc thuê nhân công thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm lập dự toán chi phí cho công tác này của từng dự với điều kiện kinh phí đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được trích không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án Đối với các dự án thực hiện trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, dự án xây dựng công trình hạ tầng theo tuyến thì tổ chức được giao thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được lập dự toán kinh phí
tổ chức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án theo khối lượng công việc thực tế, không khống chế mức trích 2%
2.2.4 Quản lý nhà nước về đất đai
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
+ Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước
Trang 15về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tính hình thực tế
Ở nước ta, do các đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội của đất nước trong mấy thập kỷ qua, có nhiều biến động lớn, nên các chính sách về đất đai cũng theo đó không ngừng được sửa đổi bổ sung Từ năm 1993 đến năm 2003, Nhà nước đã ban hành hơn 200 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất Sau khi quốc hội thông qua Luật đất đai 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã nhanh chóng đi vào cuộc sống Với một hệ thống quy phạm khá hoàn chỉnh, chi tiết, cụ thể, rõ ràng, đề cập mọi quan hệ đất đai phù hợp với thực tế
Theo đó, chính sách bồi thường GPMB cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi nhằm giải quyết các vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB, phù hợp với yêu cấu thực tế triển khai Với những đổi mới về pháp luật đất đai, thời gian qua công tác GPMB đã đạt những kết quả đáng khích lệ, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho việc phát triển các dự án đầu tư Tuy nhiên bên cạnh đó, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiến triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường GPMB Hệ thống văn bản pháp luậ đất đai còn có những nhược điểm như là số lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi trong sử dụng, nội bộ hệ thống chưa đồng bộ, chặt chẽ gây lung túng trong xử lý và tạo kẽ hở trong thực thi pháp luật
Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật đất đai năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy UBND các cấp đều có ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất đai nhưng nhận thức về các quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ
sở còn rất yếu Từ đó dẫn tới tình trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giả quyết giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo Trong khi đó việc tuyên
Trang 16truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa thật sát sao Tại nhiều địa phương đang tồn tại tình trạng nể nang, trọng tình hơn chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các mối quan hệ về đất đai Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất long tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ GPMB
2.2.5 Tác động của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai và không gian sử dụng đất đai có hạn Để tồn tại và duy trì cuộc sống của mình, con người phải dựa vào đất đai, khai thác và sử dụng đất đai
để sinh sống Quy hoạch sử dụng đất đai là biện pháp quản lý không thể thiếu được trong việc tổ chức sử dụng đất của các nghành kinh tế - xã hội và các địa phương, là công cụ thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tác dụng quyết định để cân đối giữa nhiệm vụ an toàn lương thực với nhiệm vụ CNH-HĐH đất nước nói chung và các địa phương nói riêng
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để
tổ chức việc bồi thường GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò là người tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường GPMB nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất Quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai
trên hai khía cạnh:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng
- Quy hoạch, kế hoạch sử đụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất, từ đó tác động tới giá đất
tính bồi thường
Tuy nhiên chất lượng quy hoạch nói chung còn thấp, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp, đặc biệt là thiếu tính bền vững Phương án quy hoạch chưa dự báo sát tình hình, quy hoạch còn mang nặng tính chủ quan duy
Trang 17ý chí, áp đặt, nhiều trường hợp quy hoạch theo phong trào Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng quy hoạch “ treo”, dự án “treo”
(Nguồn: Nguyễn Đình Thi, 2005,)[8]
2.2.6 Tác động của công tác giao đất, cho thuê đất
Nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi thường GPMB và TĐC Nguyên tắc giao đất, cho thuê đất, phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch là điều kiện bắt buộc, nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này, hạn mức đất được giao và nghĩa vụ đóng thuế đất quy định không rõ ràng, tình trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến khó khăn cho công tác bồi thường hỗ trợ Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường tính từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến ngày 28/2/2007 thì tổng diện tích đã giao, cho thuê là 1.081.011 ha, trong đó diện tích đất đã giao là 925.631 ha (giao đất có thu tiền sử dụng đất là 581.620 ha, giao đất không thu tiền là 344.011 ha); diện tích đất đã cho thuê là 155.380 ha (trong đó diện tích đất cho các nhà đầu từ nước ngoài thuê là 1.386 ha)
2.2.7 Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, thống kê, kiểm kê đất đai
+ Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đăng ký đất đai (Land Regitration) là một thành phần cơ bản quan trọng nhất của hệ thống quản lý đất đai, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền
sở hữu đất đai, bất động sản, sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu đất Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng Ở nước ta, theo quy định của Luật đất đai, người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) và được cấp GCNQSDĐ Chức năng của đăng ký đất đai là cung cấp những căn cứ chuẩn xác và an toàn cho việc thu hồi, chấp thuận và từ chối các quyền về đất
Trong công tác bồi thường GPMB, GCNQSDĐ là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt công tác đăng
ký biến động về sử dụng đất, việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa hoàn tất Chính
vì vậy mà công tác bồi thường GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn Làm tốt
Trang 18công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ thì công tác bồi thường GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn
+ Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính
Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống hồ sơ địa chính (HSĐC) có vai trò quan trọng hàng đầu để “quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trường bất động sản”, là cơ sở xác định tính pháp lý của đất đai Trước tháng 12 năm 2004, rất nhiều địa phương chưa lập đầy đủ HSĐC theo quy định, đặc biệt có nhiều xã, phường, thị trấn chưa lập sổ địa chính (khoảng trên 30% số xã đã cấp GCN)
để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng đất đai, một số địa phương chưa lập
đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp GCN như thành phố Hà Nội, các tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Kiên Giang, Trà Vinh,…
- Từ năm 2004 đến nay, việc lập HSĐC phải thực hiện theo quy định tại thông tư 29/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, nhưng còn nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện, nếu có thực hiện cũng là chưa đầy
đủ, chưa đồng bộ ở cả 3 cấp Vì các tài liệu đo đạc bản đồ này có độ chính xác thấp nên đang làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý đất đai như không đủ cơ sở giải quyết tranh chấp đất đai, khó khăn trong giải quyết bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Vì vậy việc đo vẽ lại bản đồ địa chính chính quy để thay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại HSĐC là rất cần thiết Giải
quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo các vi phạm trong việc sử dụng đất đai 2.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong và ngoài nước
2.3.1 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới
2.3.1.1 Công tác bồi thường GPMB ở Trung Quốc
Về pháp luật đất đai có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai ở Việt Nam Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông dân lao động Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp giấy), giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất
Trang 19Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất được sử dụng cho cơ quan nhà nước, phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì được Nhà nước giao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc là cho thuê đất
Trong trường hợp Nhà nước có thu hồi đất của người đang sử dụng để
sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia… thì Nhà nước có chính sách bồi thường và tổ chức TĐC cho người bị thu hồi đất
Về vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và
chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà nước
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định,
người nào sử dụng đất thì người có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường do người sử dung đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất
bị thu hồi Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000 – 2.175.000 nhân dân tệ/ha
Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp TĐC, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất
Trang 20Về nguyên tắc bồi thường: Các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo
cho người dân bị thu hồi có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Ở Bắc Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với tiền tiết kiệm của họ có thể mua được một căn hộ mới Còn đối với người dân ở khu vực nông thôn có thể dùng khoản tiền bồi thường mua được hai căn hộ ở cùng một nơi
Tuy nhiên, ở thành thị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi thường cũng không mua nổi một can hộ để ở Những đối tượng trong diện giải tỏa mặt bằng thường được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước, song trên thực tế họ thường mua nhà bên ngoài thi trường
Về tổ chức thực hiện và quản lý giải tỏa mặt bằng: Cục quản lý tài
nguyên đất đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải tỏa mặt bằng Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng khu đất đó, thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải tỏa
Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và TĐC của Trung Quốc đều nhằm bảo vệ những người mà sức sống có thể bị giảm do việc thu hồi đất
để thực hiện các dự án Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật về TĐC của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông “đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cả WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện TĐC”
(Nguồn: http://tailieu.vn)[13]
2.3.1.2 Công tác bồi thường GPMB ở Inđônêsia
Đối với Inđônêsia di dân TĐC, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển của xã hội từ trước đến nay vẫn bị coi là sự “hi sinh” mà một số người phải chấp nhận vì lợi ích của cộng đồng Các chương trình bồi thường TĐC chỉ giới hạn theo Luật cho đất bị dự án chiếm dụng, hoặc cho một số ít trường hợp thu hồi đất để xây dựng khu TĐC
Tuy nhiên, quan điểm nhìn nhận về công tác bồi thường TĐC đang từng bước thay đổi, nhận thức về hậu quả xấu có thể xảy ra đối với vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường trong quá trình thu hồi đất và di dân, mặt khác từ thực tế khách quan và sự chuyển biến nhận thức, người bị ảnh hưởng quan tâm ngày càng lớn về quyền lợi và phúc lợi cho họ, vì vậy TĐC ngày càng
Trang 21được xem là chương trình phát triển của quốc gia Kinh nghiệm thực tiễn đã giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia lập kế hoạch và các nhà thực thi đi đến thống nhất rằng chi phí phải trả cho những tổn thất do sự thiếu quan tâm và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách TĐC có thể lớn hơn rất nhiều chi phí TĐC đúng đắn Hơn nữa, những người bị bần cùng hóa đến một thời điểm nhất định sẽ là nguyên làm kiệt quệ nền kinh tế quốc dân
Do vây, tránh hay giảm thiểu những ảnh hưởng xấu trong việc di dân TĐC, cộng với việc thỏa đáng cho những người bị ảnh hưởng, ngoài việc lợi ích về nền kinh tế, còn đảm bảo tính công bằng đối với họ, điều này giúp cho các chủ thể an tâm trong quá trình triển khai thực hiện dự án
TĐC được thể hiện theo ba yếu tố quan trọng:
- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất
- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ
tư và những nguyên tắc chính phải đề cập đến gồm:
- Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di dân bắt buộc, nếu không thể tránh được khi triển khai dự án
- Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để việc phát triển kinh tế xã hội của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp không có dự án: đất đai, nhà cửa, cơ sở hạ tầng thích hợp và các loại bồi thường khác tương xứng như trước khi có dự án phải được cấp cho người bị ảnh hưởng Chú trọng đến người dân bản địa, dân tộc thiểu số, nông dân vì họ
là những người có quyền lợi theo phong tục đối với đất và các tài sản khác bị
dự án chiếm dụng
- Các dự án về TĐC phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt, các kế hoạch TĐC phải được soạn thảo và xác lập tương ứng với thời gian và ngân sách phù hợp, người di chuyển được hưởng các cơ hội về nơi ở, nguồn lực ổn định cuộc sống càng nhanh càng tốt
Trang 22- Người bị ảnh hưởng được thông báo đầy đủ được tham khảo ý kiến chi tiết về các phương án bồi thường TĐC, người bị ảnh hưởng được hỗ trợ ở mức cao nhất về hòa nhập cộng đồng dân cư địa phương bằng cách mở rộng lợi ích của dự án đến cả các cộng đồng dân cư địa phương
- Các chủ đầu đặc biệt tư chú ý đến tầng lớp những người nghèo nhất, trong đó có những người không hoặc chưa có quyền hợp pháp về đất đai, tài sản, những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ Đồng thời có kế hoạch xác định quyền hợp pháp của họ, hạn chế những trường hợp coi lý do ngăn cản bồi thường TĐC là việc thiếu quyền sở hữu, quyền sử dụng đất hợp pháp
- Để không ngừng cải tiến sự hộ trợ của ngân hàng với các dự án trong lĩnh vực nhạy cảm, Chính phủ Inđônêsia đã thông qua và thực hiện một số chính sách bồi thường TĐC bắt buộc Chính phủ này nêu rõ các mục tiêu và phương pháp, định ra các tiêu chuẩn trong hoạt động của các tổ chức ngân hàng khi tham gia đầu tư vào các công trình TĐC
( Nguồn: http://www.tapchibatdongsanvietnam.vn)[13]
2.3.1.3 Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Hàn Quốc
Hàn Quốc là một đất nước nước nhỏ hẹp với 70% diện tích là núi cho nên đất công cộng được coi là một vấn đề quan trọng Do đó, để sử dụng quốc thổ nhỏ bé này một cách có hiệu quả hơn thì các quy hoạch và quy chế được coi như một hình thức pháp luật
Nói chung, Luật đất đai của Hàn Quốc được dựa trên Luật Quy hoạch đo thị cho từng đô thị và Luật quản lý sử dụng quốc thổ bao gồm tất cả các đô thị, nhà nước chỉ định năm khu vực sử dụng đề cân bằng sự phát triển đồng bộ
Đặc biệt, khái niệm cơ bản của Luật quản lý sử dụng quốc thổ là công bố công khai rõ ràng về đất đai Đây có nghĩa là tách riêng hai phần QSH và quyền
sử dụng đất (QSDĐ) để nhấn mạnh tầm quan trọng của đất công cộng trong xã hội Chế độ này giúp việc sử dụng đất một cách hữu dụng bằng cách thúc đẩy QSDĐ nhiều hơn QSH đất Với khái niệm công khai đất đai, hạn chế sở hữu đất, hạn chế sử dụng đất, hạn chế lợi ích phát sinh, hạn chế thanh lý các quy chế công cộng được áp dụng theo luật pháp và các tính cách quy chế như thế này được xem là đặc trưng của luật liên quan đến đất đai của Hàn Quốc
Luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc được chia thành hai thể chế
Một là “đặc lệ” liên quan đến bồi thường thiệt hại cho đất công cộng đã đạt
Trang 23được theo thủ tục thương lượng của pháp luật được lập vào năm 1962 hai là
“sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp được lập vào
naem 1975 tuy nhiên, dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật
“đặc lệ” thương lượng không đạt được thoả thuận thì luật “sung công đất”
được thực hiện bằng cách cưỡng chế nhưng như thế thì lặp đi lặp lại và đôi khi bị trùng hợp cho nên người thời gian có thể kéo dài và chi phí bồi thường
Thứ hai: pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có QSH đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất Quy trình chấp nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng chấp nhận thu hồi
Thứ ba: biện phấp di dời là một đặc điểm quan trọng Chế dộ này được nhà nược hỗ trợ tích cực về mặt chính sách bảo đảm sự sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng cần thiết của nhà nước Đây là công việc có hiệu quả, loi cuốn người dân tự nguyện di dời và liên quan rất nhiều tới việc GPMB Theo luật bồi thường, nếu như toà nhà nơi dự án sẽ được thực hiện có trên 10 nguòi
sở hữu thì phải xây dựng cho các đối tượng này nơi cư trú mới hoặc hỗ trợ 30% trị giá của toà nhà đó Còn nếu như các dự án xây dựng chung cư nhà ở thì cung cấp cho các đối tượng này chung cư hoặc nhà ở thấp hơn giá thành
Đối với các đối tác kinh doanh để kiếm sống nhưng không có pháp nhân, các đối tác kinh doanh, nông nghiệp gia cầm thì có chính sách mang tính chất ân huệ, thì ngoài biện pháp di dời còn ưu tiên cung cấp cho họ các cửa hàng hoặc các khu kinh doanh
Trang 24Luật bồi thương của Hàn Quốc được thực hiện theo ba nguyên tắc trên đối với đất đai, BĐS và các quyền kinh doanh, nông nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản… để cung cấp tiền bồi thường và chi phí di dời
Chế dộ luật GPMB: theo luật sung công đất đai thì nếu như đã trả hoặc đặt cọc tiền bồi thường xong nhưng không chịu di dời thì dược xem như gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải toả Thực chất biện pháp GPMB thường bị các thường dân hoặc người ở thuê phản đối và chống trả quyết liệt gây ảnh hưởng xấu đến xã hội cho nên tốt nhất là phải có
sự nghiên cứu tìm ra biện pháp cho dân tự nguyện di dời là hay hơn cả
Quy trình bồi thường, GPMB quy định rất cụ thể và nghiêm ngặt
- trước khi cưỡng chế cơ quan nhà nước có thẩm quyền gửi 03 lá thư cảnh cáo tới người bị cưỡng chế giải toả, thông báo cho chính quyền địa phương Đồng thời ngừng cung cấp điện và nước, nếu có chi phí phất sinh người bị di dời (không chấp hành) phải chịu;
- Tiền bồi thường không tăng lên nhưng có thể thêm các hỗ trợ khác;
- Phải được cơ quan nhà nước cho phép mới được cưỡng chế;
- Tại Hàn Quốc có từ 20 đến 30 công ty giám định giá, mỗi công ty đều
có chi nhánh, đại lý trên toàn quốc Khi định giá 1 khu đất phải giao cho 2 công ty thực hiện (1 công ty của Nhà nước, còn lại là của tư nhân), lấy giá bình quân làm giá bồi thường Cho người bị thu hồi đất dược chỉ định công ty
định giá thứ 3
(Nguồn: http://tailieu.vn)[13]
2.3.2 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại một số địa phương trên
cả nước
2.3.2.1 Công tác bồi thường GPMB của tỉnh Hà Nam
Tỉnh Hà Nam được tái lập năm 1997, nhu cầu sử dụng đất để phục vụ việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trụ sở cơ quan và phát triển kinh tế - xã hội là rất cần thiết Tỉnh ủy, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm đến công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) Để chỉ đạo thực hiện tốt công tác này, Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác GPMB các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh nhằm chấn chỉnh, đưa công tác bồi thường GPMB trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp, đúng quy định
Trang 25Tại mỗi thời điểm thu hồi đất, căn cứ vào Luật Đất đai và các văn bản pháp quy của nhà nước, UBND tỉnh đã ban hành các quy định về trình tự, thủ tục thực hiện GPMB; về thu hồi, giao đất; cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; về giá đất; về đơn giá bồi thường cây trồng, vật nuôi, tài sản, vật kiến trúc trên đất; về xử lý vi phạm, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cơ sở cho việc bồi thường đúng chính sách, pháp luật, bảo đảm quyền lợi của người bị thu hồi đất
Từ khi tái lập tỉnh đến nay, tỉnh Hà Nam đã thu hồi đất và GPMB 1.643
dự án với tổng diện tích 6.199,2 ha để phục vụ đầu tư các dự án quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế Từ 01/7/2004 đến nay, tổng dự án thu hồi đất phải thực hiện việc bồi thường GPMB là 983
dự án với tổng diện tích 5.263,5 ha Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành, các đoàn thể có liên quan tập trung tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật, đặc biệt là chính sách bồi thường, hỗ trợ dưới nhiều hình thức khác nhau Các cơ chế chính sách về đất đai, bồi thường, hỗ trợ theo quy định của nhà nước được UBND tỉnh vận dụng, quy định hợp lý, phù hợp với thực tế tại địa phương, được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ và chấp hành Tuy nhiên ðến nay vẫn còn một số dự án đang triển khai công tác bồi thường GPMB hoặc chưa hoàn thành dứt điểm GPMB do một số nơi cấp
ủy đảng, chính quyền chưa quan tâm, chú trọng đến công tác này, coi đây là việc của các cơ quan chuyên môn và của chủ đầu tư; cán bộ chính quyền luôn thay đổi, trong đó có cả cán bộ chuyên môn về công tác quản lý đất đai; việc xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư ở một số nơi thực hiện chưa nghiêm túc; chính sách về bồi thường, hỗ trợ tái định cư luôn thay đổi qua các năm; nhận thức về Luật Đất đai và các chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư của người dân còn hạn chế
Ðể tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác GPMB, thúc đẩy tiến
độ các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn, tỉnh Hà Nam quyết tâm thực hiện một số giải pháp: Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân về Luật Đất đai, cơ chế, chính sách trong việc thu hồi đất, bồi thường GPMB; đổi mới, cải cách thủ tục hành chính, rà soát, kiểm tra, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành để phù hợp với quy định của
Trang 26pháp luật về đất đai; tăng cường công tác kiểm tra việc sử dụng đất trong đó
có đất công ích của cấp xã; công khai kịp thời các quy hoạch khi được phê duyệt; hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho các trường hợp sử dụng đất, bố trí đủ kinh phí, nhân lực để thực hiện công việc này; thực hiện nghiêm trình tự thu hồi đất, trình tự xây dựng, thẩm định
và phê duyệt phương án bồi thường, GPMB; chuẩn bị quỹ đất tái định cư, đất
ở hỗ trợ để phục vụ cho việc thu hồi đất, bồi thường GPMB; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý sử dụng đất…
Với quyết tâm cao của cấp ủy và chính quyền địa phương, cùng sự đồng thuận, ủng hộ của người dân, tin rằng trong thời gian tới công tác giải GPMB của tỉnh sẽ đạt nhiều kết quả, bảo đảm tiến độ thực hiện các dự án
(Nguồn : http://hanam.gov.vn)[13]
2.3.2.2 Công tác bồi thường GPMB của tỉnh Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc khu vực Tây Bắc của Tổ quốc, được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên khoáng sản, khí hậu, đất đai, có
vị trí địa lý thuân lợi là cầu nối giữa ASEAN và miền Tây Trung Quốc nằm trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội - Hải Phòng Với những tiềm năng và lợi thế Lào Cai trở thành một trung tâm kinh tế trọng điểm của vùng Tây Bắc Để thực hiện mục tiêu đó hàng năm tỉnh Lào Cai phải thu hồi, chuyển mục đích hàng ngàn ha từ đất nông, lâm nghiệp và đất ở sang sử dụng vào mục đích đất phi nông nghiệp, đặc biệt là phục vụ cho việc xây dựng cơ sở
hạ tầng, phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và an ninh quốc phòng Căn cứ vào quy định của pháp luật, thời gian qua tỉnh Lào Cai đã ban hành nhiều quy định về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng), gần đây nhất, Căn cứ vào quyết định 26/2013/QĐ-UBND ngày ngày 25 tháng 7 năm 2013 của ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai về việc ban hành quy định về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh
tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai Bằng việc cụ thể hóa quy định của Luật Đất đai,
các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đồng thời quy định một số nội dung cụ thể theo thẩm quyền của UBND tỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Quyết định số 26
Trang 27đã khẳng định Nhà nước với tư cách là đại diện duy nhất cho quyền sở hữu toàn dân về đất đai, đồng thời điều chỉnh về bản lợi ích của người sử dụng khi bị Nhà nước thu hồi đất Có thể nói Quyết định số 26 đã khắc phục về cơ bản những vướng mắc, bất cập trong công tác BTGPMB trên địa bàn khi thực hiện Quyết định số 68/2007/QĐ-UBND của UBND tỉnh; đã trở thành căn cứ pháp lý cho UBND các cấp thực hiện tốt công tác BTGPMB cho các công trình dự án trên địa bàn tỉnh; đặc biệt là việc BTGPMB và bàn giao đất kịp thời cho nhà đầu tư xây dựng đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai, hay việc GPMB để thực hiện các dự
án trong Khu Công nghiệp Tằng Loỏng, các tiểu khu đô thị thuộc khu đô thị mới Lào Cai- Cam Đường, khu Công nghiệp Bắc Nhạc Sơn, khu CN-TM cửa khẩu, các công trình thủy điện, khai thác khoáng sản và nhiều công trình dự án phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng khác trên địa bàn Tuy nhiên trong quá trình thực hiện công tác BTGPMB trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc đó là: Biến động về đất đai (cả về hình thể, diện tích, mục đích và chủ sử dụng) ở địa phương chưa cập nhật kịp thời; giá đền bù tài sản là nhà cửa, vật kiến trúc, cây cối hoa màu theo quy định tại Quyết định số 45 chưa được điều chỉnh kịp thời theo giá cả của thị trường; việc quy hoạch, xây dựng các khu tái định cư (TĐC) thường chậm làm ảnh chung đến tiến độ thực hiện công tác BTGPMB và gây khó khăn cho người dân bị thu hồi đất, nguyên nhân của những khó khăn vướng mắc trên là:
- Công tác quản lý nhà nước về đất đai của một số địa phương còn yếu, chưa thực hiện tốt công tác công bố, tuyên truyền và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; chưa quản lý chặt chặt chẽ và cập nhật kịp thời biến động đất đai đặc biệt là việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất;
- Một số chủ dự án chưa thực sự quan tâm đến việc đầu tư xây dựng khu TĐC cho người dân bịthu hồi đất GPMB;
- Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân còn yếu (do thiếu hiểu biết kiến thức pháp luật và do tính toán lợi ích cá nhân) không chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Giá cá thị trường biến động quá lớn, theo chiều hướng tăng liên tục (chỉ
số giá tiêu dùng CPI năm 2012 tăng trên 11%, bình quân 4 tháng đầu năm 2013 tăng gần 14%) đặc biệt là nhóm các mặt hàng chiến lược như điện, xăng dầu, sắt
Trang 28thép, xi măng … làm giá thành xây dựng tăng nhanh trong khi đó giá đền bù nhà cửa, tài sản vật kiến trúc, cây cối hoa màu xây dựng theo giá trung bình Quý IV/2009 chưa được điều chỉnh kịp thời dẫn đến việc người dân không đồng thuận
Để công tác BTGPMB trên địa bàn tỉnh được thuận lợi, đảm bảo việc bàn giao mặt bằng để triển khai các công trình, dự án đúng tiến độ, trên cơ sở tuân thủ pháp luật, ổn định lâu dài, trong thời gian tới các cấp, các ngành của tỉnh cần giải quyết tốt một số vấn đề, cụ thể như sau:
- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn, đặc biệt
là ở cấp cơ sở Trong đó tập trung vào việc quản lý, thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; Làm tốt công tác đăng ký, cập nhật kịp thời biến động đất đai, kiên quyết chấm dứt tình trạng sử dụng đất tự phát, chuyển đổi mục đích sử dụng đất không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, đặc biệt là pháp luật về đất đai đến các tầng lớp nhân dân, các đối tượng sử dụng đất;
- Tiếp tục rà soát sửa đổi Quyết định số 26 theo hướng: Rà soát chỉnh sửa các quy định đã có (ban hành kèm theo Quyết định) cho chặt chẽ, bổ sung một
số nội dung còn thiếu trên cơ sở đảm bảo các quy định của pháp luật và phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Trong đó quy định cụ thể tránh nhiệm của UBND các cấp, của chủ đầu tư trong việc quy hoạch xây dựng các khu TĐC khi thực hiện các công trình dự án, chỉ bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư khi hoàn thành bàn giao khu TĐC cho người dân đu điều kiện làm nhà ở; phân công, phân nhiệm cụ thể cho các sở ngành, UBND các cấp trong công tác GPMB Trong đó phân cấp cho UBND các huyện, thành phố xác định giá đền bù, hỗ trợ chi tiết đối với một số loại nhà cửa, tài sản vật kiến trúc, cây cối hoa màu cho phù hợp với điều kiện của các địa phương; Sửa đổi, bổ sung các phụ biểu quy định đơn giá đền bù nhà cửa, tài sản vật kiến trúc, cây cối hoa màu theo hướng sát với giá thị trường, đồng thời có quy định mở cho việc điều chỉnh khi giá cả thị trường biến động
(Nguồn : http://laocai.gov.vn)[13]
Trang 292.3.2.3 Công tác bồi thường GPMB của tỉnh Thanh Hóa
Chuẩn bị hành trang cho TP Thanh Hóa lên đô thị loại I trong năm
2014, hàng loạt dự án trọng điểm trên địa bàn đã và đang gấp rút triển khai thi công.Xác định làm tốt công tái bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) là góp phần quan trọng cho các dự án trọng điểm, đa mục tiêu hoàn thành, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nói riêng, cả tỉnh nói chung vì vậy Thành ủy, HĐND, UBND TP Thanh Hóa và các ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo sát sao, tăng cường kiểm tra tiến độ thực hiện và đề
ra biện pháp tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, tạo điều kiện cho các đơn vị liên quan làm nhiệm vụ Ban GPMB và tái định
cư thành phố (được thành lập từ tháng 7-2006) đã chủ động tham mưu cho UBND thành phố thành lập hội đồng bồi thường GPMB, tăng cường cán bộ bám hiện trường, tập trung chỉ đạo sâu, sát với mục tiêu mỗi dự án công tác GPMB không những bảo đảm tiến độ mà còn phải được triển khai theo đúng quy định của pháp luật
Từ khi thành lập đến năm 2013, Ban GPMB và Tái định cư thành phố
đã thực hiện GPMB trên 100 dự án Hiện nay ban đang gấp rút triển khai GPMB 77 dự án với diện tích thu hồi 967,45 ha, ứng với 19.772 hộ ảnh hưởng, trong đó có 5.962 hộ phải di chuyển Riêng trong năm 2013 đã phê duyệt được 1.018 tỷ đồng và chi trả được khoảng 900 tỷ đồng cho GPMB các
dự án trên địa bàn Đối với các hộ dân, đơn vị phải di dời đã được Ban GPMB
và Tái định cư tham mưu cho UBND TP Thanh Hóa bố trí tái định cư tại các phường, xã trên địa bàn theo hướng nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ Làm tốt công tác bồi thường GPMB đã góp phần quan trọng cho nhiều dự án trên địa bàn như dự án phát triển toàn diện kinh tế - xã hội TP Thanh Hóa, tiểu dự án 2 thuộc dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1A đoạn Dốc Xây-TP Thanh Hóa, khu đô thị số 1 trung tâm TP Thanh Hóa, Đại lộ Nam sông Mã, tuyến đường
từ ngã ba Voi (TP Thanh Hóa) đi thị xã Sầm Sơn, hệ thống tiêu úng Đông Sơn, nhiều khu dân cư, khu tái định cư trên địa bàn,v.v đã và đang đồng loạt triển khai thi công
Điển hình như dự án phát triển toàn diện kinh tế - xã hội TP Thanh Hóa Đây là dự án lớn, đa lĩnh vực, có phạm vi ảnh hưởng rộng, đi qua 11
Trang 30phường, xã của TP Thanh Hóa với diện tích đất phải thu hồi 87,3 ha, có 1.557
hộ bị ảnh hưởng, trong đó có 257 hộ và 6 cơ quan, đơn vị phải di chuyển, tổng kinh phí bồi thường GPMB dự án dự kiến khoảng 531 tỷ đồng Hơn nữa, thực hiện cam kết với các nhà tài trợ, công tác bồi thường GPMB dự án phải triển khai gấp rút, trong thời gian ngắn, bàn giao mặt bằng sạch cho các đơn
vị liên quan để triển khai thi công các công trình đúng tiến độ Do tập trung huy động các nguồn lực phục vụ GPMB dự án, đến tháng 12-2013, Ban GPMB và Tái định cư thành phố đã bàn giao mặt bằng tất cả các gói thầu xây lắp của dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị triển khai thi công đồng
bộ các hạng mục công trình Hiện nay, còn một số công trình trên tuyến như đường ống nước, cáp viễn thông, hệ thống điện phải di chuyển đang được Ban GPMB và Tái định cư thành phố khẩn trương thực hiện để sớm bàn giao 100% mặt bằng sạch cho Ban Quản lý Dự án phát triển toàn diện kinh tế - xã hội TP Thanh Hóa
Nét nổi bật trong GPMB các dự án trên địa bàn TP Thanh Hóa là Ban GPMB và Tái định cư đã triển khai các giải pháp đồng bộ, huy động các nguồn lực, tập trung chỉ đạo quyết liệt với mục tiêu thực hiện khẩn trương, dứt điểm công tác bồi thường GPMB Cùng với việc kiên trì tuyên truyền, vận động, Ban GPMB và Tái định cư thành phố và các phường, xã có đất phải thu hồi đã quán triệt sâu rộng trong đảng viên và nhân dân Nhất là các quyền của người sử dụng đất, khung giá bồi thường các loại đất; các chính sách bồi thường GPMB của Nhà nước; mục đích, ý nghĩa của dự án sau khi hoàn thành xây dựng; niêm yết công khai phương án bồi thường GPMB để người dân, đơn vị ảnh hưởng có ý kiến, vv Ban GPMB và Tái định cư đã phối hợp với các phòng, ban liên quan thuộc UBND thành phố, các phường, xã xác định nguồn gốc đất bị ảnh hưởng; tổ chức họp với từng thôn, xóm, hộ dân, đơn vị
bị ảnh hưởng, tạo điều kiện cho tất cả các hộ dân, đơn vị dân chủ bàn bạc và quyết định những công việc liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình Việc kiểm kê nhà cửa, cây cối, tính toán áp giá phục vụ GPMB theo chỉ đạo của UBND TP Thanh Hóa là chính xác, đúng với chính sách của Đảng và Nhà nước, không để người dân, đơn vị ảnh hưởng thiệt thòi Những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của dân đã được ghi nhận và giải quyết thấu tình, đạt
Trang 31lý Đồng thời, Ban GPMB và Tái định cư thành phố đã tìm địa điểm, lập quy hoạch xây dựng một số khu tái định cư để di chuyển các hộ dân bị ảnh hưởng
về nơi ở mới tái định cư để di chuyển các hộ dân bị ảnh hưởng về nơi ở mới
(Nguồn : http://thạnhhoa.gov.vn)[13]
2.4 Vài nét về dự án
Tên dự án: Dự án xây dựng công viên Na Cồ - thị trấn Bắc Hà - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai
Địa điểm xây dựng: thị trấn Bắc hà - huyện Bắc hà - tỉnh Lào Cai
Thời gian thực hiện dự án : Phần sử dụng vốn của các nhà đầu tư thực hiện theo tiến độ của các nhà đầu tư; phần sử dụng vốn ngân sách nhà nước thực hiện theo kế hoạch UBND tỉnh giao trong đó phân kỳ đầu tư :
- Giai đoạn I: Thi công các hạng mục: Mặt bằng, đường giao thông T1+T2 (cả phần rãnh tam giác và bó vỉa), sắp xếp cấp thoát nước và một phần sân đường công viên
- Giai đoạn II: Thi công các hạng mục còn lại
Diện tích đất sử dụng :
- Đất bố trí tái định cư và tạo vốn để xây dựng 8.390 m2
- Đất xây dựng công trình công cộng 2.720 m2
- Đất xây dựng hồ công viên 98.900 m2
- Đất xây dựng công trình GT, sân đường nội bộ 24.200 m2
- Đất khuôn viên cây xanh 81.390 m2
- Đất xây dựng các công trình kiến trúc 4.500 m2
Tổng mức dầu tư của dự án : 46.023.795.000 đồng
Trong đó
- Chi phí xây lắp 25.332.769.000 đồng
+ Giai đoạn I 9.849.289.000 đồng +Giai đoạn II 12.445.469.000 đồng
- Chi phí khác 1.832.011.000 đồng
- Chi phí dự phòng 1.206.000.000 đồng
(Nguồn: UBND tỉnh Lào Cai, Quyết định số 112)[11]
Trang 32PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự
án xây dựng công viên Na Cồ - thị trấn Bắc Hà - huyện Bắc hà - tỉnh Lào Cai (Bao gồm bồi thường về đất, tài sản vật kiến trúc, cây cối hoa mầu và các hỗ trợ khác)
- Phạm vi nghiên cứu: Tại khu công viên Na Cồ - thôn Nậm Cáy - thị trấn Bắc Hà - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại thị trấn Bắc Hà - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai
- Thời gian nghiên cứu: Thực hiện từ ngày 30/1/2014 - 30/4/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội thị trấn Bắc Hà
- Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý
+ Điều kiện thời tiết khí hậu
+ Địa hình, địa mạo
- Điều kiện kinh tế - xã hội
+ Kinh tế
+ Xã hội
3.3.2 Kết quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
3.3.2.1 Kết quả thống kê về đất đai và vật trên đất
* Thống kê về đất đai bị thu hồi
* Thống kê về cây cối, hoa màu
* Thống kê về nhà cửa, vật kiến trúc
3.3.2.2 Kết quả về bồi thường
* Bồi thường về đất đai bị thu hồi
* Bồi thường về cây cối, hoa màu
* Bồi thường về nhà cửa, vật kiến trúc
Trang 333.3.2.3.Kết quả về hỗ trợ do bị thu hồi đất
3.3.2.4 Tổng hợp kinh phí bồi thường GPMB
3.3.3 Ảnh hưởng của dự án tới kinh tế - xã hội - môi trường
3.3.3.1 Ảnh hưởng tới kinh tế
3.3.4 Đánh giá công tác BTGPMB qua ý kiến của người dân
3.3.5 Đề xuất phương án giải quyết
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Thu thập tài liệu thứ cấp có liên quan
* Phương án GPMB
* Kết quả bồi thường, đền bù
* Các văn bản, thông tư triển khai công tác bồi thường GPMB
* Khung giá đất, tài sản trên đất …
3.4.2 Phương pháp điều tra phát phiếu
Phát phiếu điều tra cho các hộ thuộc diện GPMB
- Số lượng : 49 hộ
3.4.3 Sử dụng phương pháp thông kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, viết báo cáo
Trang 34PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị trấn Bắc Hà
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc giáp xã Tả Chải
- Phía Đông giáp xã Tả Chải
- Phía Nam giáp xã Tả Chải, xã Na Hối
- Phía Tây giáp Na Hối
Hình 1 Bản đồ địa giới hành chính thị trấn Bắc Hà
Trang 35* Thị trấn Bắc Hà được chia làm 19 thôn :
4.1.1.2 Điều kiện thời tiết khí hậu
Thị trấn Bắc Hà có độ cao từ 1100 m đến 1200 m so với mực nước
biển, có khí hậu ôn hoà, mùa hè mát mẻ, mùa đông lạnh khô hanh, với nhiệt
độ bình quân từ 250
C– 280C Khí hậu ở đây thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, và phát triển vùng cây ăn quả và cây nông nghiệp chè
tuyết san
Thị trấn Bắc Hà cũng bị ảnh hưởng thời tiết khắc nghiệt như: nhiệt độ
có độ chênh lệch ngày đêm và các tháng trong năm khá cao; sương muối, mưa
đá kèm với dòng chảy mạnh của sông Bắc Hà vào mùa lũ, làm gia tăng các
hoạt động xâm thực bào mòn, ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất nông
nghiệp, du lịch và sinh hoạt của nhân dân
4.1.1.3 Địa hình địa mạo
Thị trấn Bắc Hà nằm ở thung lũng của các ngọn núi nên có diện tích
tương đối nhỏ và hẹp vào khoảng 1,83 km² Địa hình tương đối bằng phẳng,
không bị chia cắt Thị trấn có tuyển tỉnh lộ và sông Bắc Hà chảy qua từ bắc
xuống nam
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động của thị trấn Bắc Hà
Theo thống kê của UBND thị trấn Bắc Hà năm 2013 thì thị trấn có
1.124 hộ dân với 4042 khẩu, trong đó nam có 2132 người, nữ là 1910 người
Mật độ dân số là 2208,7 người/km² Thống kê về dân số và lao động của thị
trấn Bắc Hà được thể hiện rõ qua bảng 4.1 và bảng 4.2