Qua điều tra sơ bộ ban đầu, công tác chăn nuôi lợn trên địa bàn thị trấn Bích Động còn nhỏ lẻ, không tập trung, phân tán trong nông hộ, phương thức chăn nuôi còn lạc hậu, thủ công, việc
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy
Chuyên ngành : Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp
Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2013 – 2015
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy
Chuyên ngành : SP TKNN
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập lý thuyết tại trường và sau hơn 2 tháng thực tập tốt nghiệp tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi
- Thú y đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và dìu dắt em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Em xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong quá trình thực tập tại thị trấn
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ đã quan tâm giúp đỡ em nhiệt tình trong suốt quá trình thực tập cũng như hoàn thành chuyên đề thực tốt nghiệp
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân đã động viên tạo mọi điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian em học tập và trong thời gian thực tập vừa qua
Bắc Giang, ngày 15 tháng 09 năm 2014
Sinh viên
Đinh Thị Hoa
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp của thị trấn Bích Động 8
Bảng 3.1 Tổng số lượng đàn gia súc, gia cầm của toàn thị trấn Bích Động 36
Bảng 3.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 40
Bảng 3.3: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại một số khu, thôn điều tra 41
Bảng 3.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo các lứa tuổi 42
Bảng 3.5 Tỷ lệ lợn con chết do mắc bệnh phân trắng 44
Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng sau khi áp dụng một số biện pháp phòng bệnh 45
Bảng 3.7 Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng hai loại thuốc Norfloxacin 5% và Colistin 46
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 Sự cần thiết để tiến hành chuyên đề 2
1.3 Điều kiện để tiến hành chuyên đề 3
1.3.1 Điều kiện bản thân 3
1.3.2 Điều kiện của cơ sở thực tập 3
1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên 3
1.3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 5
1.3.3.3 Tình hình sản xuất 7
1.3.3 Đánh giá chung 14
1.3.3.1 Thuận lợi 14
1.3.3.2 Khó khăn 15
1.4 Mục tiêu sau khi kết thúc chuyên đề 15
1.5 Tổng quan tài liệu 16
1.5.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề 16
1.5.1.1 Đặc điểm của lợn con giai đoạn 1-21 ngày tuổi 16
1.5.1.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con 19
1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 30
1.5.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 30
1.5.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 32
Phần 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 34
2.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 34
Trang 72.4 Phương pháp thực hiện 34
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 34
2.5 Một số công thức tính toán 35
Phần 3 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 36
3.1 Công tác phục vụ sản xuất 36
3.1.1 Công tác chăn nuôi 36
3.1.2 Công tác thú y 37
3.1.2.1 Công tác tiêm phòng 37
3.1.2.2 Công tác chẩn đoán và điều trị 37
3.1.3 Công tác khác 40
3.2 Kết quả thực hiện chuyên đề 41
3.2.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 41
3.2.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo các lứa tuổi tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 42
3.2.3 Tình hình lợn con chết do mắc bệnh phân trắng tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 43
3.2.4 Hiệu quả phòng bệnh phân trắng cho lợn con 45
3.2.5 Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng hai loại thuốc Norfloxacin 5% và Colistin 46
Phần 4 KẾT LẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 48
4.1 Kết luận 48
4.2 Tồn tại 48
4.3 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 8Thịt lợn chiếm vị trí hàng đầu trong việc sản xuất và tiêu thu thịt ở trong nước và trên thế giới Do đóng vai trò quan trọng nên Đảng và Nhà Nước đã chú trọng quan tâm hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn trên nhiều phương diện như cơ chế chính sách, vốn, các nhà khoa học từng bước lai tạo, cải tiến giống lợn phù hợp với điều kiện chăn nuôi nước ta cũng như thị hiếu người tiêu dùng và kinh tế thị trường cạnh tranh Tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi cũng dần dần được người chăn nuôi áp dụng giúp tăng hiệu quả kinh tế cao
Trong chăn nuôi "Giống là tiền đề, thức ăn là cơ sở" song công tác thú
y cũng đóng vai trò quan trọng đặc biệt và là nhân tố thứ ba góp phần quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Trong chăn nuôi lợn, giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến cai sữa có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm tiền đề tạo con giống khoẻ mạnh không bệnh
Trang 92
ngay từ ban đầu Bởi giai đoạn này cơ thể lợn con còn yếu, chưa phát triển hoàn chỉnh, khẳ năng chống đỡ bệnh tật kém, dễ mắc một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con nếu không được chữa trị kịp thời, đúng phương pháp lợn con sẽ chết Đây là bệnh phổ biến trong chăn nuôi lợn con giai đoạn sơ sinh gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi
Qua điều tra sơ bộ ban đầu, công tác chăn nuôi lợn trên địa bàn thị trấn Bích Động còn nhỏ lẻ, không tập trung, phân tán trong nông hộ, phương thức chăn nuôi còn lạc hậu, thủ công, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật còn gặp nhiều khó khăn, công tác phòng, chống dịch bệnh của người chăn nuôi còn chủ quan, lơ là Do đó tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con là rất cao
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự nhất trí của Khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng
dẫn và cơ sở thực tập, tôi tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình phòng
và trị bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 - 21 ngày tuổi tại thị trấn Bích Động-Việt Yên-Bắc Giang"
1.2 Sự cần thiết để tiến hành chuyên đề
- Thực hiện phương châm "Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất"
- Tạo phong cách làm việc sáng tạo, khoa học
- Nắm bắt được tình hình phát triển chăn nuôi, phương thức chăn nuôi, công tác phòng, chống dịch bệnh của địa phương
- Nghiên cứu tình hình, đặc điểm nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại
một số khu vực thuộc thị trấn Bích Động
- Xác định hiệu lực của một số loại thuốc trị bệnh phân trắng lợn con
- Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con
Trang 103
1.3 Điều kiện để tiến hành chuyên đề
1.3.1 Điều kiện bản thân
- Dựa vào kiến thức tiếp thu được trong quá trình học tập từ các môn học
- Thường xuyên liên hệ trao đổi và xin ý kiến của giảng viên hướng dẫn
- Tham khảo các tài liệu chuyên môn trên sách, báo, mạng và các phương tiện thông tin đại chúng khác
- Tích cực học hỏi từ các cán bộ chuyên môn đi trước
1.3.2 Điều kiện của cơ sở thực tập
1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Thị trấn Bích Động nằm ở trung tâm văn hóa chính trị của huyện Việt Yên, có đường quốc lộ 37 và tỉnh lộ 298 chạy qua với chiều dài hơn 7 km, có một chợ trung tâm là chợ huyện là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông sản cho nhân dân địa phương và các vùng lân cận, có ranh giới tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp xã Minh Đức;
Phía Nam và phía Tây giáp xã Bích Sơn;
Phía Đông giáp xã Hồng Thái
Với vị trí địa lý có đường quốc lộ và tỉnh lộ chạy qua nối với các đường liên thôn, liên xã, liên huyện đã tạo cho thị trấn Bích Động giao lưu đi lại dễ dàng, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội
* Điều kiện địa hình, đất đai
Thị trấn Bích Động có địa hình cao thấp xen kẽ, phân làm 6 đơn vị thôn, phố Trong đó 03 thôn ( thôn Trung, thôn Đông, thôn Dục Quang) chủ yếu các hộ sống bằng nghề nông nghiệp, 03 khu phố (khu 1, khu 2, khu 3) các
hộ chủ yếu là cán bộ, hộ kinh doanh dịch vụ Có thể chia làm 3 loại:
- Địa hình cao chiếm 40% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác trong thị trấn, thích hợp cho việc bố trí dân cư
Trang 114
- Địa hình vàn chiếm 30% diện tích tự nhiên phân bố rải rác trong toàn thị trấn nhưng chủ yếu là đất canh tác của thị trấn, ở địa hình này rất thích hợp cho phát triển 3 vụ cây trồng
- Địa hình thấp (trũng) chiếm 30% diện tích đất tự nhiên, phân bố rải rác, chủ yếu ở 3 thôn nông nghiệp, thích hợp cho việc phát triển cây nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
* Điều kiện khí hậu, thủy văn
Theo số liệu của đài khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Giang, thị trấn Bích Động nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có những đặc điểm sau: + Nhiệt độ
Tổng nhiệt độ trong năm 85000c - 86000c, nhiệt độ trung bình từ 230c -
+ Gió
Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện từ đầu tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mang theo mưa phùn, nhiệt độ xuống thấp, giá rét ảnh hưởng đến sản xuất và sức khỏe của người dân
Gió Đông Nam xuất hiện từ cuối tháng 4 đến tháng 9 mang theo nhiều hơi nước và thường xuyên có mưa lớn Thời kỳ này thường xuất hiện bão
Trang 12ẩm không khí cao gần 90%, tạo điều kiện cho nhiều loại dịch bệnh phát triển
ở người, gia súc và các loại cây trồng
Tháng 5 và tháng 6 độ ẩm không khí thấp, ảnh hưởng đến khả năng phơi màu, thụ phấn của cây trồng như lúa, ngô do đó ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm
* Điều kiện giao thông, thủy lợi
Thị trấn có hệ thống ngòi Cầu Sim chảy qua là nguồn cung cấp nước tưới tiêu thường xuyên cho 3 thôn nông nghiệp của thị trấn Bên cạnh đó còn
có hàng trăm ao hồ lớn nhỏ cùng hệ thống kênh mương liên thôn đến nội đồng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Hệ thống đường giao thông kiên cố, thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân và giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế thị trấn Bích Động hội với các vùng, các địa phương khác
Hệ thống thủy lợi tương đối hoàn thiện, hiện nay thị trấn đã xây dựng kênh liên thôn đảm bảo cho việc chủ động tưới tiêu cho toàn bộ diện tích cây trồng của 3 thôn nông nghiệp
1.3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
* Tình hình dân cư trên địa bàn thị trấn
Có thể nói nguồn lực con người luôn là yếu tố có vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế xã hội Chính vì vậy việc nắm giữ nguồn lao động
và biết cách khai thác hợp lý nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi vùng
Trang 13497 hộ chiếm 27,4 %
Xu hướng chung là số khẩu nông nghiệp và số lao động nông nghiệp ngày một giảm Điều đó là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Số lao động nông nghiệp chuyển dần sang các ngành khác như dịch
vụ, tiểu thủ công nghiệp có hiệu quả hơn
Với những đặc điểm về dân số và lao động của thị trấn thì có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương Lao động đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực, đa dạng hóa sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao thúc đẩy phát triển kinh tế của thị trấn
* Văn hóa xã hội, y tế, giáo dục và một số ngành nghề khác
- Công tác giáo dục-đào tạo:
Toàn thị trấn có 3 trường mầm non, trong đó một trường đạt trường tiên tiến xuất sắc của tỉnh, trường tiểu học và trường trung học cơ sở đã đạt trường chuẩn quốc gia Cơ sở vật chất của trường trong thị trấn Bích Động đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục đào tạo học sinh
- Công tác văn hoá-thể thao-thông tin và truyền thanh:
Tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, tham dự hội diễn văn nghệ tại thành phố và phối hợp với đoàn thanh niên tổ chức những buổi giao lưu văn nghệ tại thị trấn
Trang 147
Người dân trong thị trấn thực hiện và xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá.Trên địa bàn thị trấn có đầy đủ hệ thống đường dây thông tin và truyền thanh, từ đó việc tuyên truyền cho nhân dân các thông tin cần thiết rất thuận tiện
- Chính sách xã hội:
Tổ chức phát động tết vì người nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa cho các
mẹ Việt Nam anh hùng, các nhà có hoàn cảnh khó khăn Quan tâm đến các gia đình thương binh, liệt sỹ, những người có công với cách mạng, làm hồ sơ hưởng trợ cấp thường xuyên cho các cụ 85 tuổi trở lên
- Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em:
Trang thiết bị y tế đầy đủ để phục vụ công tác khám chữa bệnh Hàng năm trạm y tế có tiêm phòng vaccine cho các bà mẹ mang thai và cho trẻ trong độ tuổi
Tăng cường công tác giáo dục truyền thống dân số và các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình, thực hiện mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh từ 1-2 con để nuôi dạy con cho tốt, hạn chế thấp nhất tỷ lệ sinh con lần 3
1.3.3.3 Tình hình sản xuất
* Tình hình phát triển trồng trọt
Trồng trọt cung cấp lương thực cho dân cư trên địa bàn thị trấn Bích Động, cho ngành chăn nuôi và là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông phẩm Để tăng năng suất trồng trọt, thị trấn đã chú trọng cải tiến kĩ thuật đưa giống mới năng xuất cao vào sản xuất thông qua các dự án, hội thảo, hoạt động tham quan, mô hình trình diễn.Tuy nhiên trong những năm gần đây cùng với sự chuyển dịch của cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng tạo nguồn nông sản tập trung, có chất lượng cao thì cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt
Trang 15350
335 53,5
180
155 3,5 7,3 4,2
2,655
105
217 16,800
327
310 58,3
325
307 60,1
165
142 5,7 6,3
6
2,875
112
227 18,200
(Nguồn: Văn phòng thống kê thị trấn Bích Động)
* Tình hình phát triển chăn nuôi
Ngành chăn nuôi là một ngành không thể thiếu được trong sản xuất và phát triển nông thôn, nó đóng góp đáng kể trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước Trước kia ngành chăn nuôi ít được chú trọng vì xưa kia bà con nông dân luôn nghĩ chăn nuôi là phụ, trồng trọt mới là chính Chăn nuôi chủ yếu cung cấp sức cày kéo và phân bón cho việc phát triển cơ cấu cây trồng mà thôi, hơn nữa việc mua sản phẩm thịt, trứng, sữa là rất khó khăn Do
đó mà ngành chăn nuôi ít được chú trọng phát triển
Trang 169
Nhưng hiện nay, với xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn đã đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất và chăn nuôi, cho nên đời sống của người dân ngày càng được nâng cao Mức sống của người dân đã khá hơn rất nhiều so với mấy năm trước đó, người dân đòi hỏi cao hơn về chất lượng sản phẩm
Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân thì ngành chăn nuôi cũng đang từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng đàn gia súc, gia cầm Hiện nay, ngành chăn nuôi của thị trấn đang phát triển, đặc biệt là chăn nuôi trâu bò và chăn nuôi lợn ngày càng đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi Trong thị trấn đã có nhiều gia đình làm giàu từ chăn nuôi như gia đình bác Lê Văn Thịnh(thôn Trung), gia đình bác Nguyễn Văn Công(thôn Dục Quang), gia đình bác Đỗ Mạnh Hải (thôn Đông)…
Với tình hình như hiện nay thì ngành chăn nuôi đã góp phần vào sự phát triển chung của thị trấn
- Chăn nuôi trâu bò:
Chăn nuôi trâu bò ở thị trấn Bích Động được nhân dân chú trọng vì nó mang lại hiệu qủa kinh tế khá cao
Hiện nay, giống trâu bò nuôi ở thị trấn chủ yếu là giống bò vàng Thanh Hoá, giống bò lai Sind, giống trâu đen Đối với việc chăn nuôi bò: Do nhà nước có chính sách Sind hoá đàn bò ở Việt Nam Nhận thức được điều đó người dân đã có xu hướng thay đổi giống bò, dùng bò địa phương lai với bò Sind để tạo ra đời con có 1/2 máu nội và 1/2 máu ngoại Do vậy, đời con sẽ có năng suất và phẩm chất thịt cao hơn bò vàng Thanh Hoá
Ngày nay, với biện pháp khoa học kỹ thuật hiện đại, công tác thụ tinh nhân tạo ngày càng phát triển thì vấn đề nhân giống bò lai Sind bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo ngày càng phổ biến Đặc biệt cán bộ thú y cơ
Trang 17- Chăn nuôi lợn:
Ngành chăn nuôi lợn của thị trấn Bích Động ngày càng phát triển, hầu hết hộ gia đình nào cũng nuôi, vì chăn nuôi lợn vừa cung cấp thịt cho người dân lại vừa cung cấp phân bón cho nông nghiệp, cung cấp thức ăn cho chăn nuôi cá Chính vì vậy mà chăn nuôi lợn không thể thiếu được trong mỗi gia đình
Do những ưu điểm của việc chăn nuôi lợn đem lại cho nên số lượng lợn
ở thị trấn Bích Động ngày càng tăng
Trên địa bàn thị trấn hiện nay chăn nuôi lợn chủ yếu là theo hình thức chăn nuôi hộ gia đình và trang trại với quy mô vừa và nhỏ Lợn được nuôi chủ yếu là lợn nái sinh sản và lợn thịt Lợn nái thì chủ yếu có 2 giống đó là: lợn Móng Cái và lợn Lang Hồng, 2 giống này có ưu điểm là phàm ăn, dễ nuôi, chịu đựng kham khổ tốt, nuôi con khéo, mắn đẻ, khả năng chống chịu
Trang 18ăn Còn đối với lợn thịt thì tuỳ theo hộ gia đình, gia đình nào nuôi ít thì nấu cám cho ăn, còn gia đình nào nuôi nhiều theo hướng công nghiệp thì nấu cám trộn lẫn với thức ăn công nghiệp hay cho ăn thẳng
+ Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng:
Hiện nay, ý thức của người dân đã được nâng cao, do đó họ đã có chế
độ chăm sóc nuôi dưỡng rất tốt Hàng năm họ đếu tiến hành tiêm phòng cho lợn nái sinh sản, lợn thịt lợn đực giống và lợn con
Đối với lợn con thì tiêm phòng thiếu sắt, phòng bệnh sưng phù đầu, phòng phó thương hàn…
Đối với lợn nái sinh sản, lợn đực giống, lợn thịt thì hưởng ứng đợt tiêm phòng của trạm thú y thành phố kết hợp với ban thú y thị trấn Bích Động tổ chức tiêm phòng một số bệnh như: tụ huyết trùng, dịch tả…
Khi lợn có biểu hiện triệu chứng bỏ ăn hay ăn kém thì người dân đã gọi cán bộ thú y đến ngay để điều trị kịp thời nhằm mục đích giảm thiệt hại trong chăn nuôi và nâng cao năng suất trong lao động
+ Tình hình vệ sinh chuồng trại:
Chuồng trại được xây dựng và bố trí hầu như hợp lý Chuồng được xây
ở nơi cao dáo, chắc chắn, được xây theo hướng Nam hoặc Đông Nam Chuồng có chỗ gom phân và nước tiểu để làm phân bón cho trồng trọt
Trang 19ăn, vòi nước uống tự động, có hố ủ phân và gom phân xử lý hàng ngày…
Đối với lợn đực giống thì mỗi con được nhốt riêng vào một ô chuồng
có cửa cài chắc chắn
Về vệ sinh chuồng trại thì đa số người dân đã có ý thức vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, khô dáo, thoáng mát để tránh bệnh tật cho lợn.Tuy nhiên vẫn còn một số hộ gia đình vẫn chưa nhận thức được vệ sinh chuồng trại là một yếu tố rất cần thiết trong chăn nuôi lợn, nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và phát triển của lợn Nó có thể gây lên các bệnh: ghẻ, viêm loét da, bệnh tiêu chảy…
- Chăn nuôi gia cầm:
Trên địa bàn thị trấn Bích Động hiện nay có rất nhiều giống gia cầm khác nhau như: Gà ri, gà Lương Phượng, vịt tàu, vịt cỏ, ngan ta, ngan pháp Nhưng do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm H5N1 trong vòng 4 năm trở lại đây số lượng gia cầm có xu hướng giảm Tuy phong trào chăn nuôi là rất phát triển, song vẫn có những gia đình gặp không ít khó khăn trong chăn nuôi, nguyên nhân chính là do giá cả thị trường bấp bênh, mà giá thức ăn lại cao, đặc biệt là dịch cúm H5N1 đang có nguy cơ quay trở lại Bên cạnh đó người chăn nuôi vẫn chưa tuân thủ các quy trình chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại còn kém, phòng bệnh không tốt do đó mà gặp nhiều khó khăn trong chăn nuôi gia cầm + Về thức ăn:
Phương thức chăn nuôi theo kiểu chăn thả tự do, thức ăn chủ yếu là sản phẩm phụ trong vườn, trong gia đình như: cơm, gạo, cám, ngô, rau…Với
Trang 20Trên địa bàn thị trấn chuồng trại dành cho gia cầm chưa được quan tâm nhiều, nền chuồng thường bị ẩm ướt cho nên hay mắc các bệnh tự nhiên - Chăn nuôi các loài khác:
Ngoài việc chăn nuôi trâu, bò, lợn , gà…ra thì một số hộ gia đình còn chăn nuôi ngựa, chó, mèo…
Chăn nuôi ngựa chủ yếu lấy sức kéo là chính
Chăn nuôi chó mèo thì hầu hết gia đình nào cũng có.Vì chăn nuôi mèo
để bắt chuột, chăn nuôi chó không những chỉ để coi nhà mà còn đem lại thu nhập khá cao cho hộ gia đình
Nhìn chung, tình hình chăn nuôi của thị trấn Bích Động đang ngày càng phát triển, nhờ đó mà nguồn thu nhập từ chăn nuôi cao hơn so với các ngành khác Mặt khác, thì ở thị trấn Bích Động vẫn còn tồn tại một số khó khăn như hình thức chăn nuôi chỉ vừa và nhỏ, đầu tư về vốn và kỹ thuật chưa cao nhất là về kỹ thuật chăn nuôi người dân chưa hiểu biết nhiều Chính vì vậy, thị trấn đang từng bước củng cố những khó khăn đó để giúp cho ngành chăn nuôi ngày càng phát triển hơn
* Công tác thú y
+ Tình hình dịch bệnh
Trong mấy năm qua tình hình dịch bệnh trên địa bàn thị trấn Bích Động diễn ra rất phức tạp
Trang 2114
Trâu bò: Thường mắc bệnh truyền nhiễm chính là lở mồm long móng,
tụ huyết trựng… bệnh thường xảy ra lẻ tẻ quanh năm chủ yếu vào vụ đông và xuân khi trời lạnh và ẩm ướt, khí hậu thay đổi nếu trâu bò nhốt trong tình trạng vệ sinh kém, người dân chưa tiêm phòng đầy đủ
Lợn: Thời gian vừa qua dịch bệnh làm rất nhiều trại lợn nhỏ và các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ bị thiệt hại rất lớn, lợn bệnh chết rất nhiều khiến cho đàn lợn trong huyện giảm mạnh,
Gia cầm: Chăn nuôi gia cầm ở thị trấn khá phát triển, xong những năm gần đây dịch bệnh xảy ra nhiều Gia cầm chăn nuôi ở các thị trấn Bích Động không những mắc các bệnh như Newcaste, bạch lỵ, tả, gumboro… mà còn mắc cả cúm gia cầm, gây thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế
Gia cầm: Tiêm vacxin Cúm (H5N1) cho gà, vịt, ngan
Lợn: Tiêm phòng vacxin tụ dấu – dịch tả, lở mồm long móng vào 2 lần/ năm trong các tháng 2, 3 và 7, 8
Chó: Tiêm phòng vacxin dại (Rabisin) vào 2 lần trong năm là tháng 2,
Trang 22Trình độ dân trí còn chưa đồng đều, nhận thức về công tác phòng, chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm cũng như tiếp thu về tiến bộ kỹ thuật còn hạn chế, do vậy việc tổ chức thực hiện các Nghị Quyết, các dự án phát triển kinh tế – xã hội còn gặp nhiều khó khăn.
Đội ngũ cán bộ thú y cơ sở tuy đã hình thành, nhưng cơ sở vật chất còn thiếu thốn, năng lực trình độ còn chưa phù hợp với yêu cầu của công tác thú y.Một số cơ chế chính sách hỗ trợ cho phát triển chăn nuôi tuy đã ban hành nhưng thực tế triển khai công việc còn chậm, chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có của thị trấn Chính quyền, đoàn thể ở thi trấn quan tâm chưa đầy
đủ tới công tác thú y
Thời tiết thay đổi bất thường theo mùa nên thị trấn Bích Động cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp do vậy số lượng đàn gia súc, gia cầm cũng bị ảnh hưởng
1.4 Mục tiêu sau khi kết thúc chuyên đề
- Đánh giá được tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi
- Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh phân trắng
- Đánh giá được hiệu lực điều trị của hai loại thuốc Norfloxacin 5% và Colistin
Trang 2316
- Thông qua đó khuyến cáo được cho người chăn nuôi về biện pháp phòng và trị bệnh phân trắng lợn con ở giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi
1.5 Tổng quan tài liệu
1.5.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề
1.5.1.1 Đặc điểm của lợn con giai đoạn 1-21 ngày tuổi
* Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con
Lợn con từ khi sơ sinh có khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh Qua nghiên cứu, thí nghiệm và thực tế cho thấy khối lượng con cai sữa 2 tháng tuổi gấp 12 – 14 lần so với khối lượng lợn con sơ sinh, nếu đem so sánh với các loại gia súc khác thì tốc độ tăng trưởng của lợn con nhanh hơn như bê nghé chỉ tăng 3 – 4 lần So với lúc sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng 4 lần
Lợn con sau khi sinh, sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm, sự giảm tăng trưởng là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con giảm
Để hạn chế sự giảm tăng trưởng chúng ta cần tập ăn sớm cho lợn con và tiêm
bổ sung Dextran-Fe cho lợn con vào 3 ngày tuổi và 10 ngày tuổi
Do khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn diễn ra rất mạnh Ở lợn con 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 – 14 g protein/ 1kg khối lượng, nhưng lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 – 0,4 g protein/ 1kg khối lượng Qua đó ta thấy cường độ trao đổi chất ở lợn con và lợn trưởng thành chênh lệch nhau khá lớn Mặt khác ta biết lợn con trong giai đoạn này chỉ tích lũy nạc là chính, vì vậy tiêu tốn ít thức ăn hơn so với lợn trưởng thành
Trang 2417
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004) [5], dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc
60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh Sự tăng về kích thước cơ qua tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005) [9], cho rằng: lợn con trước 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày, cũng do dich vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [5], vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh phân trắng lợn con, do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do
có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi
Enzim trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzim,
sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức
Trang 2518
ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh, hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn
và cai sữa sớm cho lợn con
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
* Đặc điểm của cơ năng điều tiết của lợn con
Lợn con dưới 3 tuần tuổi, cơ năng điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt lợn con chưa ổn định, sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa được cân bằng, khả năng điều tiết nhiệt còn kém do nhiều nguyên nhân:
Hệ thống thần kinh điều khiển của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con phát triển chưa đầy đủ cho nên việc điều tiết thân nhiệt kém, năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi khí hậu bên ngoài thay đổi đột ngột
Lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi
Nói chung khả năng điều tiết của lợn con dưới 3 tháng tuổi còn kém đặc biệt là tuần mới sinh, cho nên việc chăm sóc lợn con giai đoạn này rất quan trọng Nếu nuôi lợn ở chuồng có nhiệt độ và độ ẩm không phù hợp thì thân nhiệt lợn con thay đổi nhanh Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp thì thân
Trang 2619
nhiệt của lợn con giảm càng nhanh, tuổi của lợn con càng ít thì thân nhiệt hạ xuống càng nhiều
1.5.1.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con
* Nguyên nhân gây bệnh
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [1], bệnh lợn con phân trắng do
E.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết hoặc
nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí chỉ
vài giờ Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do E.coli gây ra
E.coli là loại phổ biến nhất trong đường ruột, nó xuất hiện và sống
trong đường ruột của động vật chỉ vài giờ sau khi sinh Khi điều kiện chăm
sóc, nuôi dưỡng kém sức đề kháng của con vật giảm thì E.coli cường độc và
có khả năng gây bệnh, chúng sản sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy tổ chức thành ruột làm thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây bệnh tiêu chảy
Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli là vệ sinh
chuồng trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không
hợp vệ sinh, E.coli xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể Ngoài ra, trong
dịch vị thiếu HCl tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh, thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh phân trắng lợn con
Sử An Ninh và cs (1981) [4], cho biết: nguồn gốc sinh bệnh lợn con phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu: đường huyết, cholesteron, kẽm, kali, natri
Chăm sóc lợn mẹ (đặc biệt là thời gian mang thai) không đúng kỹ
Trang 2720
thuật: thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh, khẩu phần không đủ dinh dưỡng, thiếu các yếu tố đa, vi lượng làm cho lợn con sinh ra còi cọc, thiếu sắt, vitamin B12 khiến cơ thể lợn suy yếu do thiếu máu, khả năng chống đỡ với các môi trường kém nên dễ mắc bệnh
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [10], sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng và khă năng chống đỡ bệnh tật, ở động vật 1/2 lượng sắt cho
cơ thể nằm ở hemoglobin, một lượng ít nằm ở myoglobin và một số enzym Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, cơ thể suy nhược, không hấp thu được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh
Mặt khác, lượng sữa mẹ giảm dần và đến ngày thứ 20 giảm đột ngột, trong khi đó nhu cầu về dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng cao Đến ngày thứ 20 nếu dinh dưỡng của lợn mẹ không đảm bảo, lợn con càng thiếu sữa, chúng gặm, la liếm nền chuồng và thành chuồng nên dễ phát sinh bệnh đường tiêu hóa
- Đặc điểm hình thái
E.coli là một trực khuẩn hình gậy kích thước từ 2 - 3 x 0,6 µm, trong cơ
thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Trong canh trùng gà, vi khuẩn dài 4 - 8 µm
Phần lớn E.coli di động do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số
không di động Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô
- Đặc tính nuôi cấy
E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể phát triển ở
nhiệt độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp 7,2 - 7,4; vi khuẩn phát triển được ở pH 5,5 - 8
E.coli phát triển dễ dàng trong các môi trường nuôi cấy thông thường:
- Trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển thấp, môi trường rất
Trang 28Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R và khuẩn lạc dạng M
- Môi trường Istrati: Khuẩn lạc có màu vàng tươi
- Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng
- Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh
- Môi trường EMB (Eosin - Methylen - Blue): Khuẩn lạc có màu đen tím
- Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc
- Môi trường thạch SS (Salmonella - Shigella): E.coli có khuẩn lạc
màu đỏ
- Môi trường Endo: E.coli có khuẩn lạc màu đỏ
- Đặc tính sinh hóa
E.coli lên men sinh hơi từ các loại đường Fructoze, Glucoze, Galactoze,
Lactoze, Mannit, Dextroze Lên men không chắc chắn các loại đường Dulcitol, Saccharose
Các phản ứng khác: H2S, VP, urea: âm tính
MR, Indol: dương tính
Sữa đông sau 24 - 72 giờ ở 370C
Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông
trường Lysinedecacboxylase
- Cấu trúc kháng nguyên
Trang 29- Độc tố
Vi trùng E.coli tạo ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại độc tố
Ngoại độc tố: Là một chất không chịu được nhiệt dễ bị phá huỷ ở 560C trong vòng 10h30 phút dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố, ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử
Theo Đào Trọng Đạt và cs, (1986) [1], hiện nay việc chiết xuất ngoại độc
tố chưa thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới phân lập
Trang 3023
được khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng
+ Nội độc tố: Là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực khuẩn đường ruột
E.coli, chúng có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội độc
tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoặc chiết suất bằng Axittrichoxetic, Phenol dưới tác dụng của emzym
* Sức đề kháng của mầm bệnh
Trực khuẩn đường ruột không chịu được nhiệt độ cao bị tiêu diệt ở nhiệt độ
600C trong vòng 15 phút và bị tiêu diệt ở 1000C Trong đất và nước E.coli
sống được khoảng vài tháng, các chất sát trùng thông thường như axit Phenic,
formol… Có thể diệt E.coli trong 5 phút E.coli đề kháng với sự sấy khô
chúng có độ nhạy cảm cao với nhiều loại kháng sinh
Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1995) [11], khi nghiên cứu về tính mẫn
cảm và tính kháng thuốc của E.coli được phân lập từ các ổ lợn con bị bệnh
phân trắng ở nước ta đã cho biết, hiện nay những thuốc có tác dụng tốt trong
điều trị bệnh phân trắng lợn con do E.coli gây ra gồm Norfloxacin,
Furazolidon, Trimetho Brom và Colistin, còn các thuốc Streptomycin,
Sunphonamid ít có tác dụng với E.coli vì tỷ lệ E.coli kháng lại chúng cao từ
70 - 80% Theo các tác giả, những thuốc này đã dùng để điều trị thường xuyên, đôi khi dùng sai nguyên tắc
* Đường nhiễm bệnh
Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống Khi bị nhiễm E.coli phát
triển nhanh chóng trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng Limpho do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết Từ khi mới sinh ra hệ sinh vật phát triển trong đường tiêu hoá rất
đa dạng, tỷ lệ số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau