Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên, em đã về thực tập tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai với đề tài: “Đánh giá h
Trang 1NGUYỄN VĂN ĐỨC
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2NGUYỄN VĂN ĐỨC
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Quang Thi
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3Sau thời gian nghiên cứu và học tập tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đến nay khóa học 2010- 2014 đã bước vào giai đoạn kết thúc Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên, em đã về thực tập tại huyện Bảo Yên,
tỉnh Lào Cai với đề tài: “Đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất
nông nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Bảo Yên, Tỉnh Lào Cai”
Đến nay khóa luận tốt nghiệp đã hoàn thành, cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Thạc sĩ - Nguyễn Quang Thi người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Quản Lý Tài Nguyên Cán bộ UBND huyện, phòng Tài Nguyên & Môi trường huyện, phòng thống kê, cùng toàn thể bà con trong các xã: Xuân Hòa, Xuân Thượng, Nghĩa Đô đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập tốt nghiệp
Do lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu, với trình độ và năng lực bản thân có hạn, mặc dù đã hết sức cố gắng song không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô
và các bạn để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Trang 4
Bảng 2.1 Thực trạng sử dụng đất đai theo mục đích năm 2013 8
Bảng 4.1: Hiện trạng phát triển kinh tế huyện Bảo Yên 30
Bảng 4.2: Thực trạng tăng trưởng ngành nông, lâm và thủy sản huyện Bảo Yên 32
Bảng 4.3: Hiện trạng phát triển ngành công nghiệp và xây dựng 33
Bảng 4.4: Hiện trạng sử dụng đất huyện Bảo Yên năm 2013 41
Bảng 4.5 Cơ cấu các loại đất nông nghiệp của Bảo Yên 43
Bảng 4.6 Các loại hình sử dụng đất chính của huyện 45
Bảng 4.7: Diện tích, năng suất , sản lượng của một số cây trồng 48
Bảng 4.9: Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất 50
Bảng 4.10 Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất 51
Bảng 4.11 Hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất 52
Bảng 4.12 Tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 53
DANH MỤC CÁC HÌNH Trang Hình 2.1 Thực trạng sử dụng đất theo mục đích năm 2013 8
Hinh 4.1 Cơ cấu đất nông nghiệp huyện Bảo Yên năm 2013 44
Trang 5BVTV bảo vệ thực vật
DVT đơn vị tính
FAO tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc
GDP tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người
GTSX giá trị sản xuất
IUCN hiệp hội quốc tế các tổ chức bảo vệ thiên nhiên và tài
nguyên môi trường LUT loại hình sử dụng đất
NNBV nông nghiệp bền vững
UNDP chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc
UNEP chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
WCED ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới
Trang 6PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 4
2.1.1 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới 4
2.1.2 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam 7
2.1.3 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai 7 2.1.3.1.Thực trạng sử dụng đất của Huyện Bảo Yên năm 2013 7
2.1.3.2 Hiện trạng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện 8
2.2 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững 9
2.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 9
2.2.1.1 Bản chất của hiệu quả được hiểu như sau 9
2.2.1.2 Phân loại hiệu quả 10
2.2.2 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững 12
2.2.2.1 Một số khái niệm liên quan đến bền vững 12
2.2.2.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 13
2.2.2.3 Tiêu chí đánh giá tính bền vững 14
Trang 72.2.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác 16
2.2.3.3 Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức 17
2.2.3.4 Nhóm các yếu tố xã hội 17
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 19
3.3 Nội dung Nghiên cứu 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1 Điều tra thu thập số liệu thứ cấp 19
3.3.2 Điều tra thu thập số liệu sơ cấp 20
3.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả loại hình sử dụng đất 20
3.3.4 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan đến đề tài 21
3.3.5 Phương pháp tổng hợp thống kê và xử lý số liệu 21
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội 22
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
4.1.1.1 Vị trí địa lý 22
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo 23
4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn 24
4.1.1.4 Nguồn tài nguyên đất 25
4.1.1.5 Nguồn tài nguyên nước 27
4.1.1.6 Nguồn tài nguyên rừng 27
4.1.1.7 Nguồn tài nguyên khoáng sản 28
Trang 84.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế 30
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 31
4.1.2.3 Thực trạng về kết cấu hạ tầng 34
4.1.2.4 Dân số lao động, việc làm và thu nhập 38
4.1.2.5 Các nguồn tài nguyên 38
4.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Bảo Yên 40
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Bảo Yên năm 2013 40
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 của huyện Bảo Yên 42
4.3 Xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Bảo Yên 45
4.3.1 Các loại hình sử dụng đất của huyện 45
4.3.2 Mô tả các loại hình sử dụng đất 45
4.3.3 Diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng trên các loại hình sử dụng đất xuất nông nghiệp của mỗi hộ trên sào 48
4.4 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 49
4.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 49
4.4.2 Đánh giá hiệu quả xã hội 50
4.4.3 Đánh giá hiệu môi trường 51
4.4.4 Các loại hình sử dụng đất 53
4.5 Đinh hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp Huyện Bảo Yên 54
4.5.1 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 54
4.5.2 Đinh hướng sử dụng đất nông nghiệp 55
4.6 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững 57
4.6.1 Nguyên tắc lựa chọn 57
4.6.2 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất 57
Trang 94.7.1 Nhóm giải pháp chung 59
4.7.1.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 59
4.7.1.2 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 59
4.7.1.3 Giải pháp về vốn đầu tư 60
4.7.1.4 Giải pháp về thị trường 61
4.7.1.5 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 62
4.7.1.6 Giải pháp về nguồn nhân lực 63
4.7.2 Giải pháp cụ thể 63
4.7.2.1 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng 63
4.7.2.2 Thị trường 64
4.7.2.3 Thực hiện đầy đủ , nghiêm túc các chính sách, pháp luật về đất đai 64
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người và các sinh vật trên trái đất, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội an ninh và quốc phòng Vì vậy đất đai luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội, xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển thì không thể thiếu những nhu cầu thiết yếu như: Ăn, mặc và những tư liệu sinh hoạt khác, cái đó do nông nghiệp cung cấp Trước đây khi trình độ sản xuất chưa phát triển thì sản xuất nông nghiệp với những phương thức sản xuất lạc hậu đã là nguồn cung cấp chủ yếu các nhu cầu cuộc sống Đến nay khi xã hội phát triển, trình độ sản xuất đã phát triển ở mức độ cao, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp thì sản phẩm nông nghiệp vẫn là nguồn cung cấp lương thực,
thực phẩm và các nhu cầu khác của xã hội
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn nhiều tồn tại như: Sản xuất phần lớn còn nhỏ lẻ, lạc hậu, thiếu tập trung, hiệu quả kinh tế còn thấp, chưa đảm bảo được tính bền vững Đặc biệt trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp phát triển vẫn còn mang tính tự phát, chủ yếu chạy theo số lượng,
ít quan tâm đến chất lượng, giá thành sản xuất lại khá cao dẫn đến sức cạnh tranh trên thị trường còn kém Mặt khác thu nhập của người dân trong vùng nông thôn vẫn còn thấp, lao động nông thôn dư thừa nhiều, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, thị trường tiêu thụ không ổn định Đứng trước tình hình đó đòi hỏi phải có định hướng sử dụng đất hợp lý mang tính chiến lược, vì vậy việc sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là vấn đề cần thiết phải được quan tâm nghiên cứu, làm cơ sở cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất, đặc biệt cần khai thác có hiệu quả và bền vững đất nông nghiệp
Huyện Bảo Yên là cửa ngõ phí đông nam của tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai 75 km, cách Hà Nội 263 km Có diện tích tự nhiên 827,91 km2 ,
Trang 11kéo dài từ 2205’ đến 22030’ vĩ độ bắc, từ 104015’ đến 104037’ kinh đông Độ cao trung bình của huyện từ 300m đến 400m so với mực nước biển Điểm cao nhất là 1.120m trên dãy núi Con Voi (thuộc xã Long Khánh), điểm thấp nhất
là 50m, độ dốc bình quân toàn huyện từ 30 – 350.Toàn Huyện có một thị trấn
và 17 xã vẫn hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, tuy nhiên việc sản xuất nông nghiệp ở đây còn đang đối mặt với hàng loạt vấn đề như: Sản xuất còn nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, chất lượng nông sản thấp, khả năng hợp tác liên doanh cạnh tranh còn yếu, sự chuyển dịch cơ cấu còn chậm Vì vậy việc định hướng cho người dân trong vùng khai thác và sử dụng hợp lý,
có hiệu quả đất nông nghiệp là một trong những vấn đề hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất Để giải quyết vấn đề này thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm đề xuất hướng sử dụng đất và loại hình sử dụng đất thích hợp là việc rất quan trọng
Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là một hướng đi đúng đắn trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp hiện nay của nước ta, đồng thời đó cũng là điều kiện để thực hiện tiến trình hội nhập với kinh tế thế giới
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên – Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo: Th.S
Nguyễn Quang Thi em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và
định hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Bảo Yên, Tỉnh Lào Cai”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Lựa chọn được các loại hình sử dụng đất có hiệu quả
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu tài liệu thu thập được phải đảm bảo khách quan, trung thực, chính xác
Trang 12- Các nội dung nghiên cứu phải cụ thể, thực tế, phản ánh đúng thực trạng khu vực nghiên cứu và có thể sử dụng tốt cho việc định hướng sử dụng đất có hiệu quả tại địa phương
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập
- Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến
thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở
- Giúp cho sinh viên học được những kiến thức cơ bản từ kinh nghiệm
thực tiễn sản xuất và phát triển vấn đề một cách đầy đủ, chính xác
-Thông qua việc thực hiện đề tài, tôi đã phần nào hiểu rõ hơn về cuộc sống sinh hoạt của người dân nơi đây, thấy được cách thức canh tác trong sản xuất nông nghiệp, cũng như cách làm ăn của người dân trong sản xuất kinh doanh và dịch vụ Hơn hết là kinh nghiệm của người dân về tất cả các mặt: Văn hóa, giáo dục, y tế đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Để từ đó vạch
ra chiến lược phát triển phù hợp cho vùng đất này trước ngưỡng cửa hội nhập kinh
tế quốc tế của cả nước
- Cũng từ đó mối quan hệ, kỹ năng giao tiếp của sinh viên được củng cố, đây là nền tảng ban đầu cho quá trình vận dụng vào thực tiễn sau này
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả sẽ làm cho năng suất cây trồng tăng, ổn định an ninh lương thực cho quốc gia, đảm bảo đủ lương thực xuất khẩu nhất là trong thời kỳ tài nguyên đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ngày càng hạn hẹp
- Khai thác đất nông nghiệp hiệu quả đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ nông dân
- Khai thác và sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả sẽ tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động tại chỗ
- Có ý nghĩa trong bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường sống của con người
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
2.1.1 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Hiện nay trên thế giới, xu thế phát triển chung của các nước là hướng tới một nền kinh tế mà sản xuất công nghiệp là chủ đạo Tuy nhiên, ngành sản xuất nông nghiệp vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của tất
cả các nước Do vậy sản xuất nông nghiệp luôn được duy trì và phát triển Sản xuất nông nghiệp tạo ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người và đồng thời cũng là nguồn thu nhập đáng kể của các nước đang phát triển và kém phát triển Mức độ sử dụng đất có thể trồng trọt được ở các khu vực trên thế giới cũng rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện đất đai, khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi khu vực
Từ những năm 1980, Hiệp hội quốc tế các tổ chức bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên môi trường (IUCN), tổ chức FAO và chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã khởi xướng chương trình toàn cầu về bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu duy trì các nguồn gen, bảo vệ sử dụng hợp lý và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được Thế giới đang trải qua “thập kỷ nhận thức về môi trường” (1971 - 1981) và “thập kỷ hành động” (1981 - 1991) Bảo vệ môi trường trở thành chiến lược toàn cầu và chiến lược của mỗi quốc gia Mục tiêu của con người trong quá trình sử dụng đất là sử dụng khoa học và hợp lý Trong thực tế do quá trình sử dụng lâu dài, nhận thức
về sử dụng đất còn hạn chế dẫn tới nhiều vùng đất đai đang bị thoái hóa, ảnh hưởng tới môi trường sống của con người Những diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó con người phải mở mang thêm diện tích đất canh tác trên các vùng không thích hợp Hậu quả đã gây ra quá trình thoái hóa rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng
Trên thế giới tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km2 Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm 40,5% Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên Đất đai thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và các
Trang 14nước (châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%) Diện tích đất nông nghiệp giảm liên tục về số lượng và chất lượng Ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hóa do những hoạt động của con người gây ra
Theo nguồn tài liệu trích dẫn từ Nguyễn Đình Bồng,1995, hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12.000 m2, trong đó ở
Mỹ 20.000 m2, ở Bungari 7.000 m2, ở Nhật Bản 650 m2 Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia 0,27 ha; Philippin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt Nam 0,1 ha
Hiện tượng suy thoái đất, suy kiệt dinh dưỡng có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong điều kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng chất dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón
Báo cáo của Viện tài nguyên thế giới cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người Hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất thông qua quá trình thâm canh tăng vụ đã phá hủy cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng [20]
Tổng diện tích đất bị ảnh hưởng do quá trình hoang mạc hoá, ước tính từ
6 đến 12 triệu km2 (so với diện tích của các nước Brazil, Canada, Trung Quốc cộng lại là từ 8 đến 10 triệu km2) Đất khô hạn chiếm tới 43% diện tích đất canh tác của thế giới Suy thoái đất gây tổn thất cho sản xuất nông nghiệp ước tính 42 tỷ USD một năm Gần 1/3 diện tích đất trồng trọt của thế giới bị bỏ hoang trong 40 năm qua, do xói mòn không thể sản xuất được, đe doạ an ninh lương thực, gây đói nghèo của hơn 1 tỷ dân của hơn 110 nước trên thế giới, bên cạnh đó là những căng thẳng về chính trị và tạo xung đột khiến người dân càng nghèo khó hơn và đất đai thêm suy thoái
Trang 15Hàng năm có thêm 20 triệu ha đất nông nghiệp bị suy thoái quá mức không thể sản xuất được hoặc bị lấy mất để mở mang đô thị ở mức độ nào
đó, hoang mạc hoá đang diễn ra trên 30% diện tích đất có tưới, 47% diện tích đất nông nghiệp nhờ nước trời và 73% diện tích đất chăn thả gia súc Hàng năm ước tính có 1,5 đến 2,5 triệu ha đất có tưới, 3,5 đến 4 triệu ha đất nông nghiệp nhờ nước trời và khoảng 35 triệu ha đất chăn thả gia súc mất toàn bộ hay mất phần năng suất do suy thoái đất Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hóa đất ở một số nước vùng nhiệt đới châu Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam châu Á đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng NPK của hầu hết các hệ sinh thái đều bị giảm Nghiên cứu cũng chỉ ra những nguyên nhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi
hệ thống Đối với Việt Nam các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất đai ở vùng trung du, miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca và Mg Đất phù sa sông Hồng có hàm lượng dinh dưỡng khá, song quá trình thâm canh với hệ số sử dụng đất cao từ 2 đến 3 vụ trong năm nên lượng dinh dưỡng mà cây lấy đi lớn hơn nhiều so với lượng dinh dưỡng bón vào đất
Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị suy thoái thì N, P là hai yếu
tố cần phải được bổ sung thường xuyên Trong quá trình sử dụng đất do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hóa đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu Bên cạnh đó sự suy thoái đất còn liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội của vùng Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực như vậy gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn đến việc sử dụng phân bón hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều gây ảnh
hưởng tới môi trường
Trang 162.1.2 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm
về nông nghiệp… Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.069.348 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 9.415.568 ha, dân số trên 83 triệu người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1.133 m2/người Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động Theo kết quả kiểm
kê đất đai năm 2005, đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,43% tổng diện tích đất tự nhiên và diện tích đất chưa sử dụng chiếm 15,30% Đây là tỷ lệ cho thấy, cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục vụ cho các mục đích khác nhau So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp rất thấp Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại lớn Để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn
xã hội và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững
2.1.3 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
2.1.3.1.Thực trạng sử dụng đất của Huyện Bảo Yên năm 2013
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Bảo Yên là 82792,25 ha
-Đất nông nghiệp: 59189,99 ha
-Đất phi nông nghiệp: 4846,79 ha
-Đất chưa sử dụng: 18754,47 ha
Trang 17Bảng 2.1 Thực trạng sử dụng đất đai theo mục đích năm 2013
Diện tích (ha) % So với đất tự nhiên
2.1.3.2 Hiện trạng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
-Đất sản xuất nông nghiệp: 12904,17 ha, chiếm 21,08% quỹ đất nông nghiệp và bằng 15,58% diện tích đất tự nhiên toàn huyện Trong đó:
+ Đất trồng cây hàng năm: 9163,44 ha, chiếm 15,48% quỹ đất nông nghiệp
+ Đất trồng cây lâu năm: 3740,73 ha, chiếm 6,31% quỹ đất nông nghiệp
-Đất lâm nghiệp có rừng: 45813,20 ha, chiếm 77,40% quỹ đất nông nghiệp và bằng 55,33% diện tích đất tự nhiên toàn huyện Trong đó:
-Đất có rừng sản xuất: 31753,63 ha, chiếm 53,64% quỹ đất nông nghiệp
-Đất có rừng phòng hộ: 14059,57 ha, chiếm 23,75% quỹ đất nông nghiệp
-Đất nuôi trồng thủy sản: 472,62 ha, chiếm 0,79% quỹ đất nông nghiệp
Trang 18Việc sử dụng đất đai bước đầu được thực hiện theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của huyện Cơ bản, diện tích đất đã giao cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình được quản lý và sử dụng hiệu quả
Tuy nhiên, do điều kiện địa hình khó khăn, nhiều lô đất giao vẫn chưa được sử dụng hoặc chưa sử dụng đúng tiến độ trong quy hoạch và kế hoạch
sử dụng đất của các xã
2.2 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững
2.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
2.2.1.1 Bản chất của hiệu quả được hiểu như sau
- Việc đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống xã hội
- Việc bảo tồn tài nguyên, nguồn lực để phát triển lâu bền
Do vậy, hiệu quả là một phạm trù trọng tâm rất cơ bản của khoa học kinh tế và quản lý Việc xác định hiệu quả là việc hết sức khó khăn và phức tạp mà nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn chưa giải đáp hết Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội
là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn vậy, sản xuất phải không ngừng phát triển cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu Việc nâng cao hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp, mỗi người sản xuất mà là của mọi ngành, mọi vùng Đây còn là vấn đề mang tính toàn cầu, vì xu hướng chung của thế giới ngày nay là phát triển kinh tế theo chiều sâu, sao cho với nguồn nhân lực hạn chế
mà sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá có giá trị sử dụng cao nhất với mức hao phí ít nhất
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một "Thế giới phẳng" nên con người ngày càng nhận thức được các quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế mở như hiện nay thì mọi hoạt động sản xuất của con người không chỉ quan tâm đến vấn đề kinh tế - xã hội
mà vấn đề môi trường ngày càng trở nên quan trọng, toàn cầu cấp bách, đòi hỏi phải được quan tâm đúng mức của mỗi quốc gia
Quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải tiết kiệm thời
Trang 19gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ được môi trường
2.2.1.2 Phân loại hiệu quả
Mọi hoạt động sản xuất của con người đều có mục tiêu chủ yếu là kinh
tế Tuy nhiên, kết quả hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh
tế mà đồng thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đó là:
- Cải thiện điều kiện sống và làm việc của con người, nâng cao thu nhập
- Cải tạo môi sinh, nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động
- Cải tạo môi trường sinh thái, tạo ra một sự phát triển bền vững trong
sử dụng đất đai
Để phân loại hiệu quả thì có nhiều cách phân loại khác nhau, nếu căn
cứ vào nội dung và cách biểu hiện thì hiệu quả được phân thành 3 loại: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
* Hiệu quả kinh tế
Theo C Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau, các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman - 1995) cho rằng: hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu
so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [8]
Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, là khâu trung tâm của các loại hiệu quả Hiệu quả kinh tế có vai trò quyết định các hiệu quả còn lại Bởi vì, trong mọi hoạt động sản xuất con người đều có mục tiêu chủ yếu là khi có được hiệu quả kinh tế thì mới có các điều kiện vật chất
để đảm bảo cho các hiệu quả về xã hội và môi trường
Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hoá, tính toán chính xác trong mối quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét
Trang 20cả về phần so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối cũng như xem xét mối quan
hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế, nó thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Hiệu quả xã hội là mối tương quan
so sánh giữa kết quả xã hội và lượng chi phí bỏ ra [8] Ở đây, hiệu quả xã hội phản ánh những khía cạnh về mối quan hệ xã hội giữa con người với con người như vấn đề công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này
có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái
Bên cạnh cách phân loại hiệu quả nói trên, người ta còn có thể căn cứ
Trang 21vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế, căn cứ vào các yếu tố cơ bản về sản xuất, phương hướng tác động vào sản xuất cả về mặt không gian và thời gian Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở bất cứ góc độ nào thì việc đánh giá hiệu quả cũng phải xem xét về mặt không gian và thời gian, trong mối liên hệ chung của toàn bộ nền kinh tế Ở đó, hiệu quả bao gồm cả hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường với một mối quan hệ mật thiết thống nhất và không thể tách rời nhau Có như vậy mới đảm bảo cho việc đánh giá hiệu quả được đầy đủ,
chính xác và toàn diện
2.2.2 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững
2.2.2.1 Một số khái niệm liên quan đến bền vững
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980
trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh
tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo
Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và
Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ:
Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện
tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ” Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát
triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ
Định nghĩa này mặc dù còn chung chung nhưng đã nhấn mạnh được hai
yếu tố quan trọng nhất của phát triển bền vững Đó là vấn nạn môi trường và
mối tương quan của nó với sự phát triển kinh tế; và nhu cầu của sự phát triển
đó đối với mục tiêu xóa đói giảm nghèo
Khái niệm Phát triển bền vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi
trường bền vững, kinh tế bền vững và xã hội bền vững
Như vậy, về cơ bản, nói đến phát triển bền vững không đơn thuần chỉ là nói về riêng việc bảo vệ môi trường mà còn bao hàm cả phương diện xã hội
và kinh tế
Trang 22Ba mô hình trên đã minh họa rõ nét điều này Đó là 3 mặt của một vấn
đề, là 3 trụ của một ngôi nhà, là ba hình oval lồng ghép chặt chẽ với nhau và
là 3 vấn đề có sự đan xen lẫn nhau
- Nông nghiệp bền vững:
Theo quan điểm của Bill Mollison và Remy Mia Slay thì Nông nghiệp bền vững được định nghĩa là: việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con người: đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả Mục đích của nông nghiệp bền vững là: Tạo ra một hệ sinh thái bền vững, có tiềm lực kinh tế, thỏa mãn nhu cầu của con người mà không làm hủy hoại môi trường sống Hay chính là việc thỏa mãn nhu cầu hiện tại mã không lảm ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ mai sau
Theo F Bacon và J Labeyric: nông nghiệp bền vững là nông nghiệp sinh thái học, được các quy luật sinh thái học chi phối, và phải tuân thủ một cách tự giác các quy luật ấy; theo quan điểm sinh thái học cơ bản: “Muốn chinh phục thiên nhiên, tốt nhất là phải theo nó, và biết tuân thủ quy luật” NNBV phải phát triển ổn định và hài hoà trên các mặt: tự nhiên, kinh tế và xã hội NNBV bảo đảm sự phát triển ổn định của đất, cây trồng vật nuôi Đồng thời đảm bảo cho sự phát triển đời sống con người ở mọi tầng lớp trong xã hội với đời sống tinh thần và vật chất ngày càng được nâng cao
2.2.2.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smith A J và Julian Dumanski (1993) [15] đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là:
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước
- Khả thi về mặt kinh tế
- Được xã hội chấp nhận
Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về
Trang 23mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, theo trích dẫn từ tổng kết chung về xác định hiệu quả bền vững ở Việt Nam (1995), việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận
- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
Tóm lại: Hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức
đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian
và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con
người và sinh vật
2.2.2.3 Tiêu chí đánh giá tính bền vững
Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản
lý đất bền vững” đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh
tế xã hội với các quan tâm môi trường”
Để đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất cần dựa vào 3 tiêu chí sau đây:
* Bền vững về kinh tế: Ở đây cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được
thị trường chấp nhận
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình
Trang 24quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một
hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường
Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
* Bền vững về xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và phát
triển xã hội
Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân
Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể
Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ
* Bền vững về môi trường: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ
màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ
đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép
Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững
Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm )
Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái
Trang 25Tóm lại: khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được
thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích
mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống
của con người, của các sinh vật
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
2.2.3.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Đình Hợi, 1993), (Vũ Thị Phương Thuỵ 2000) [8], (Nguyễn Duy Tính, 1995), (Vũ Thị Ngọc Trân, 1996) Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
Theo C Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N Borlang - Người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất [8]
2.2.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện sự dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các yếu tố đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề
ra Theo Frank Ellis và Douglass C North [8], ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra các yêu cầu mới đối với việc sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng
Trang 26công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các yếu tố kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.3.3 Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
Nhóm các yếu tố liên quan đến tổ chức:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu của thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế pháp luật về bảo vệ tài nguyên, môi trường [8] Đó là
cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy
đủ, hợp lý Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
- Hình thức tổ chức sản xuất
Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì thế, phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất là rất cần thiết Muốn vậy cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó
2.2.3.4 Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm các yếu tố liên quan đến xã hội:
- Hệ thống thị trường và sự hình thành của thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Theo Nguyễn Duy Tính (1995), 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ
số quay vòng đất, thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
- Hệ thống chính sách (chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu đầu tư, chính sách hỗ trợ )
Trang 27- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp của Nhà nước
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư
Theo Douglas C.North, sự thay đổi công nghệ và sự thay đổi hợp lý các thể chế là những yếu tố then chốt cho sự tiến triển của kinh tế xã hội
Trang 28PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, đất đai, các loại hình sử dụng đất của huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
- Tiềm năng đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Các yếu tố kinh tế - xã hội, môi trường tác động đến sử dụng đất nông nghiệp của Huyện Bảo Yên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên địa bàn huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, bao gồm đất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp phổ biến
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai
- Thời gian tiến hành: Từ 20/1/2014 đến 30/4/2014
3.3 Nội dung Nghiên cứu
- Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
- Xác định các loại hình sử dụng đất chính trên toàn huyện
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
-Lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp theo nguyên tắc sử dụng đất bền vững
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Điều tra thu thập số liệu thứ cấp
Các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội được thu thập thông qua các cơ quan nghiên cứu, các phòng ban chuyên ngành trong (thuộc
Trang 29xã, huyện) Kế thừa có chọn lọc các tài liệu điều tra cơ bản, tài liệu điều tra về điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp trong 5 năm gần đây
3.3.2 Điều tra thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn nông hộ theo phương pháp điều tra nhanh nông thôn bằng phỏng vấn theo phiếu điều tra với những chỉ tiêu phù hợp với các mục đích nghiên cứu đã đặt ra
- Lựa chọn các xã để điều tra: Các xã điều tra phải đại diện cho các tiểu vùng sinh thái và đại diện cho các vùng kinh tế nông nghiệp của huyện Đề tài
đã tiến hành lựa chọn ra 3 xã đặc trưng cho các loại hình sử dụng đất chính ở huyện Bảo Yên
- Để xác định các hệ thống sử dụng đất, các loại sử dụng và các kiểu sử dụng đất nông nghiệp: xã Nghĩa Đô thuộc vùng thung lũng; Xã Xuân Hòa, xã Xuân Thượng thuộc vùng ven sông Đây là 03 xã có đặc điểm về đất đai, địa hình, tập quán canh tác, hệ thống cây trồng có lợi thế về sản xuất nông nghiệp khác nhau
Tổng số phiếu điều tra: 60 phiếu, xã Xuân Thượng 15 nông hộ, xã Xuân hòa 20 nông hộ, xã Nghĩa Đô 25 nông hộ
3.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả loại hình sử dụng đất
- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế: dựa vào các chỉ tiêu sau:
+ Tổng giá trị sản xuất: tính bằng tổng giá trị tiền (đồng) của sản phẩm mà LUT thu được/ha/năm
+ Tổng chi phí biến đổi: tính bằng tổng giá trị tiền (đồng), chi phí gồm: chi phí sản xuất + thuế + tiền lao động thuê ngoài cho LUT/ha/năm (không tính lao động gia đình)
+ Thu nhập hỗn hợp: thu nhập hỗn hợp của LUT được tính theo hiệu số giữa tổng thu và tổng chi phí biến đổi (đồng/ha/năm) của mỗi LUT
+ Thu nhập thuần: thu nhập thuần = tổng giá trị sản xuất - tổng chi phí sản xuất + Hiệu quả 1 đồng chi phí = Thu nhập hỗn hợp/tổng chi phí biến đổi
+ Giá trị ngày công lao động = Thu nhập hỗn hợp/công lao động
- Phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội: dựa vào các chỉ tiêu:
Trang 30+ Hiệu quả ngày công lao động;
+ Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện qua mức độ đầu tư, khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi;
+ Mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm thể hiện ở số công lao động cần thiết của loại hình sử dụng đất trong một chu kỳ kinh tế
+ Khả năng tiêu thụ sản phẩm
- Phương pháp đánh giá hiệu quả môi trường: dựa vào các chỉ tiêu:
+ Khả năng duy trì và cải thiện độ phì đất về mức độ khả năng che phủ đất và trả lại cho đất tàn dư cây trồng có chất lượng
+ Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật
3.3.4 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Dựa vào tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến công tác quản lý đất đai, mô hình sử dụng đất nông, lâm nghiệp
- Kế thừa có chọn lọc những tài liệu điều tra cơ bản đã có như tài liệu
về thổ nhưỡng, phân hạng đất
3.3.5 Phương pháp tổng hợp thống kê và xử lý số liệu
- Số liệu được kiểm tra, xử lý tính toán trên máy tính bằng phần mềm microsoft office excel
Trang 31PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Bảo Yên là vùng thấp của tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên là 82791,25 ha, chiếm 12,9% diện tích của cả tỉnh, đứng thứ 3/9 huyện, thành phố của Tỉnh về diện tích Và có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc huyện Bảo Yên giáp với Huyện Bắc Hà ( Lào Cai)
- Phía Nam giáp với huyện Văn Yên (Yên Bái)
- Phía Đông giáp với huyện Bắc Quang (Hà Giang) và huyện Lục Yên (Yên Bái)
- Phía Tây giáp với huyện Bảo Thắng ( Lào Cai)
Bảo yên nằm trong vùng thung lũng của sông Hồng và sông Chảy, có quốc lộ 70 chạy qua trung tâm huyện theo hướng Bắc Nam; Tuyến đường sắt
Hà Nội - Lào Cai chạy dọc theo lãnh thổ; quốc lộ 279 chạy theo hướng Đông
- Tây kết nối với tỉnh Hà Giang Vị trí địa lý này tạo lợi thế cho huyện trong giao thương kinh tế, văn hóa, xã hội với các huyện trong tỉnh và các tỉnh vùng trung du miền núi bắc bộ cho phát triển
Với vị trí địa lý cách thành phố Lào Cai (từ thị trấn Phố Ràng) khoảng 75km về phía Tây Bắc (TP Lào Cai là trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh; là thành phố cửa khẩu quốc tế); nằm trong trục phát triển kinh tế động lực dọc sông Hồng, kéo từ Trình Tường, Sinh Quyền - Bát Xát - TP Lào Cai - Bảo Thắng xuống Bảo Yên đã tạo thuận lợi cho Bảo Yên kết nối hiệu quả với TP Lào Cai, các huyện trong tỉnh và với các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và nhận được sự quan tâm đầu tu của tỉnh trong phát triển trục kinh tế động lực
Thị trấn Phố Ràng nằm trong quốc lộ 70 và quốc lộ 279 là tiền đề quan trọng để phát triển thị trấn phát triển thành đô thị loại 4 - một trong những thị
xã của tỉnh Lào Cai trong tương lai
Có sông Hồng và sông Chảy đi qua các địa phương trên địa bàn tạo thuận lợi cho huyện trong giao thương, vận tải bằng đường thủy
Trang 324.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình Bảo Yên nằm trong thung lũng sông Hồng và Sông chảy, thuộc dạng các dãy núi cao xen kẽ với các thung lũng (thung lũng sông Hồng, sông Chảy, lòng chảo Nghĩa Đô, Vĩnh Yên) Các mạch núi chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Vùng có địa hình nằm dọc theo hai thung lũng sông Hồng và sông Chảy là các dãy núi thấp, hình thành 2 dạng địa hình cơ bản:
- Vùng thung lũng - bồn địa: Bao gồm các vùng phù sa dọc theo 2 con sông chính và phần tiếp cận có độ dốc dưới 100 Tiểu vùng này được chia làm
3 dạng địa hình với các đặc trưng khác nhau:
+ Tiểu vùng thung lũng sông Hồng: Bao gồm các dải đất bằng và tương đối bằng nằm dọc sông Hồng phần đất thấp của các xã: Bảo Hà, Kim Sơn, Cam Cọn Vùng này có đất đai màu mỡ , thuận lợi cho phát triển các cây trồng nông nghiệp, đặc biệt là cây rau mầu, cây công nghiệp ngắn ngày và các cây ăn quả nhiệt đới
+ Tiểu vùng thung lũng sông Chảy: Bao gồm phần diện tích có độ dốc dưới 100 thuộc địa phận các xã: Việt Tiến, Long Khánh, Long Phúc, Lương Sơn, Thượng Hà, Xuân Thượng, Tân Dương, Xuân Hòa, Điện Quan Tiều vùng này được địa hình do bồi tụ của sông chảy nên đất đai kém mầu mỡ hơn
so với tiểu vùng sông Hồng, phù hợp cho phát triển đa dạng các cây trồng nông nghiệp
+ Tiểu vùng Nghĩa Đô: Được hình thành trong quá trình bào mòn rửa trôi, bồi tụ của các mạch núi Khao Tanh và Pao Nam La Tiểu vùng này bao gồm các vùng đất tương đối bằng phẳng của xã Nghĩa Đô và xã Vĩnh Yên, có tiềm năng phát triển cây trồng hàng năm, đặc biệt là lúa nước
- Vùng núi cao: Phần lãnh thổ còn lại của các dãy núi chính, độ cao trung bình từ 400m trở lên, có độ dốc trên 100m và được chia làm 2 tiểu vùng:
+ Tiều vùng núi cao thuộc dãy con voi
+ Tiểu vùng núi cao khu Bắc và Đông Bắc của huyện
Nhìn chung, phần lớn địa hình Bảo Yên là vùng thấp, ít phức tạp hơn
so với các huyện khác của tỉnh
Đặc điểm địa hình trên tạo tiềm năng, lợi thế cho huyện Bảo Yên trong: (1) Quy hoạch phát triển vùng sản xuất nông nghiệp quy mô vừa và lớn, chăn
Trang 33nuôi công nghiệp và bán công nghiệp; (2) Phát triển các loại hình như du lịnh sinh thái Tuy nhiên, một phần địa hình có độ dốc khá lón, chia cắt làm tăng suất đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông, thủy lợi, lưới điện…
4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
Huyện Bảo Yên nằm trong vùng thung lũng sông Hồng và sông Chảy,
độ cao trung bình so với mực nước biển không lớn (=400 m) do đó mang khí hậu có tính chất nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều
a) Chế độ nhiệt: Một năm có bốn mùa, tuy nhiên chỉ có hai mùa rõ
Số giờ nắng trung bình theo tháng có sự chênh lệch lớn giữa các mùa (nóng, lạnh) trong năm, tháng 6,7 thường từ 160-235 giờ tháng 1 thương giao động từ 30-100 giờ
b) Chế độ mưa: Lượng mưa trên địa bàn khá phong phú, mùa mưa,
mùa khô trùng với mùa nóng và lạnh Lượng mưa phấn bố không đồng đều giữa các tháng trong năm 6,7 tổng lượng mưa trung bình là 335 mm, có những năm là 550 mm tháng 1,2 thương dưới 40 mm Tổng lượng mưa trong năm dao động từ 1450 mm đến 1994 mm
c) Chế độ gió: Gió mùa ảnh hưởng yếu, thường đến chậm hơn vùng
Đồng Bằng Bắc Bộ, hướng gió chủ yếu trong mùa đông, mùa hè là Đông và Tây Tốc độ gió thường yếu sức gió mạnh nhất trong cơn bão chỉ đạt cấp 6, ít gây tác hại nghiêm trọng Tuy nhiên, hiện tượng lốc cục bộ đôi khi vẫn sảy ra gây ảnh hưởng xấu tới đời sống con người và sản xuất
Hệ thống sông, suối trên địa bàn huyện dày đặc và phân bố khá đều trên lãnh thổ sông Hồng, sông Chảy là hai con sông lớn chảy qua địa phận huyện
- Sông Hồng bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc) chảy qua thành phố Lào Cai, huyện Bảo Thắng và địa phận Bảo Yên theo hướng
Trang 34Tây Bắc- Đông Nam Sông Hồng lòng rộng, sâu, độ dốc lớn, dòng chảy tương đối thẳng nên nước chảy xiết, mạnh, đặc biệt về mùa mưa lũ Lưu lượng nước sông Hồng không điều hòa, mùa mưa lũ lưu lượng nước lớn (khoảng 4830
m3/s) mực nước cao (độ cao tuyệt đối 86,85m) thường gây lũ lụt gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống con người Mùa kiệt lưu lượng nước nhỏ (70m3/s) mực nước thấp (74,25 m) ảnh hưởng tới mực nước ngầm toàn vung
Sông Hồng là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của địa bàn dọc hai bên sông Nước sông Hồng có hàm lượng phù sa lớn (mùa lũ lượng phù sa từ 6000-8000g/m3), (nước mùa cạn 50g/m3) Do đó các vùng đất ven sông được phù sa bồi đắp có độ phì nhiêu màu mỡ, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
- Sông Chảy: Sông Chảy bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua địa phận của huyện: Si Ma Cai, Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Yên Sông Chảy chảy qua địa phận Bảo Yên với tổng chiều dài 37km theo hướng Tây Bắc, Đông Nam Đoạn sông Chảy qua huyện lòng sông sâu, hẹp, nhiều thác ghềnh do đó ít có tác dụng trong sản xuất và đời sống dân sinh Sông Chảy có lưu lượng nước thất thường (mùa lũ 1670m3/s, mùa kiệt 17,6m3/s) Lượng phù
sa trong nước không đáng kể do đó khả năng bồi đắp phù sa thấp, chỉ tạo thành một số thung lũng kiểu hẻm vực Tuy nhiên trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội sông Chảy có khả năng trong khai thác vật liệu xây dựng cũng như xây dựng các tuyến du lịch sinh thái bằng đường thủy Ngoài 2 sông chính trên địa bàn còn có 11 con ngòi và hệ thống khe suối nhỏ điều khắp trên lãnh thổ Mạng lưới sông, ngòi, khe, lạch là những yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống của đồng bảo dân tộc vùng cao Đặc biệt ngòi Nghĩa Đô có tác động rất lớn trong quá trình hình thành và phát triển vùng lương thực Vĩnh Yên- Nghĩa Đô
4.1.1.4 Nguồn tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng Yên Bái năm 1972
và báo cáo khoa học (Đất Lào Cai) do trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia thuộc Viện địa lý xây dựng năm 1994 cho thấy huyện Bảo Yên
có 5 nhóm đất chính với 13 loại đất sau:
Trang 35- Nhóm đất đỏ vàng : Gồm 74338,5 ha chiếm 89,79 % diện tích đất tự nhiên, phân bố khắp lãnh thổ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình Feralit Tùy theo loại đá mẹ quá trình Feralit hình thành nên các loại đất có màu sắc khác nhau Trên địa bàn huyện Bảo Yên nhóm đất đỏ vàng bao gồm:
+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất và đá trầm tích (Fs): Loại đất này khá phổ biến ( 71032 ha) chủ yếu hình thành trên đá Gonai, đá Phirit, Apatit
+ Đất nâu đỏ trên đá vôi (Fv): Loại đất này phân bố không đáng kể, phân bố lẻ tẻ ở khu vực xã Điện Quan
+ Đất vàng nâu trên đá trầm tích: Là loại đất phát sinh, phát triển trên nền phù sa cổ được hình thành nhờ quá trình tích lũy, trầm tích Nêôgen Đất này được phân bố ở dọc sông Hồng, sông Chảy địa hình phân bố dạng đồi thấp, liền dải, lượn sóng
+ Đất vàng trên cát (Fq): Đất này được hình thành trên các giàu đá thạch anh, hoặc có tỷ lệ Silic cao, chủ yếu phân bố dọc theo các triền núi có
độ dốc trên 400m khu vực sông Chảy
+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (F1): Loại đất này được hình thành tại chỗ do quá trình canh tác lâu đời, do chế độ canh tác lúa nước làm biến đổi tính chất đất về mặt lý, hóa, sinh họ Phân bố chủ yếu ở các xã: Điện Quan, Tân Tiến, Lương Sơn, Nghĩa Đô, Vĩnh yên, Xuân Hòa
- Nhóm đất đen ( Rse): Có 720 ha chiếm 0,87 % tổng số diện tích đất tự nhiên toàn huyện, phân bố chủ yếu ở xã Điện Quan, nằm trên các đỉnh đồi, đỉnh bằng hoặc chân sườn thấp Đất đen được hình thành trên sản phẩm phong hóa của đá Secpentinit, do đó hàm lượng Ca, Mg trong đất khá cao Đất có màu đen hoặc xám, ít chua, tỉ lệ sét trong đất cao do đó đất cứng, độ
ẩm cây héo cao về mùa khô
- Đất phù sa: Có diện tích 1341 ha chiếm 1,62 ha % diện tích đất tự nhiên của toàn huyện; nhóm đất này bao gồm: Phù sa sông Hồng, phù sa sông chảy và phù sa các sông suối khác
- Đất thung lũng dốc tụ (D1): trên địa bàn có khoảng 400 ha Đây là loại đất thứ sinh được hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và bồi
tụ của các loại đất ở chân sườn hoặc khe dốc Đất D1 có độ phì phụ thuộc vào
Trang 36các loại đất ở vùng lân cận, tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt trung bình đất chua, phân bố rải rác trên lãnh thổ huyện
- Đất mùn đỏ vàng trên núi cao: có 6002,4ha chiếm 7,25% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện.Trên địa bàn huyện có hai loại:
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất có 5889 ha
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá macma axit có 69 ha
Loại đất này được hình thành trên đai cao từ 900m trở lên, chủ yếu tập trung trên đỉnh cao của dãy Con Voi và dãy Khao Tanh, với quá trình phong hóa và tích lũy mùn diễn ra khá mạnh trong điều kiện nóng ẩm mưa nhiều
4.1.1.5 Nguồn tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Bảo Yên có mạng lưới sông, suối, khe rạch tương dồi dày đặc, phân bố các địa bàn, trong đó sông Chảy, sông Hồng là 2 con sông lớn chảy qua huyện theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông Hồng cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt dọc 2 bên bờ sông Ngoài 2 sông chính, trên địa bàn còn có
11 con ngòi và hệ thống khe suối nhỏ đều khắp trên địa bàn huyện
- Nguồn nước ngầm: Tuy nguồn nước mặt phong phú về mùa mưa song
do ảnh hưởng của địa hình (độ chia cắt mạnh, độ dốc lớn, nghiêng về sông Hồng) nên nguồn nước ngầm có xu hướng cạn kiệt vào mùa khô Ngoài ra hiện tượng castơ và vết gãy sông Hồng là những tác nhân gây ra hiện tượng rút nước ngầm làm cho một số nơi trên địa bàn huyện có hiện tượng khan hiếm nước sinh hoạt về mùa khô
Nhìn chung, nguồn nước trên địa bàn huyện có chất lượng tương đối tốt, trữ lượng đủ cho các sản xuất và đời sống con người Tuy nhiên, để duy trì về trữ lượng và chất lượng nước đòi hỏi huyện cần đẩy mạnh trồng rừng,
và bảo vệ rừng đầu nguồn, ngăn chạn ô nhiễm do phát triển của công nghiệp
4.1.1.6 Nguồn tài nguyên rừng
Bảo yên là huyện có nguồn tài nguyên rừng tương đối phong phú và đa dạng Huyện có diện tích dừng là 43044,7 ha, chiếm 12,7% tổng diện tích rừng của toàn tỉnh; trong đó có 27621,94 ha rừng tự nhiên (chiếm 67,8% diện tích đất lâm nghiệp có rừng) và 15422,76 ha rừng trồng (chiếm 32,2% diện tích đất lâm nghiệp có rừng)
Trang 37Rừng tự nhiên trên địa bàn huyện Bảo Yên chủ yếu tập trung ở các xã: Vĩnh Yên, Thượng Hà, Long Khánh, Lương Sơn, Xuân Hòa, Việt Tiến Rừng
tự nhiên của Bảo Yên được phân thành 2 loại: Rừng trung bình và rừng nghèo Loại rừng trung bình phân bố chủ yếu trên các đai cao của dãy Con Voi và dãy Khao Tanh
Rừng trồng trên địa bàn huyện tập trung chủ yếu ở các xã ven sông Chảy (Việt Tiến, Long Khánh, Long Phúc, Xuân Hòa, Tân Dương, và thị trấn Phố Ràng)
Diện tích rừng lớn, thảm thực vật khá phong phú và sự đa dạng là lợi thế đối với Bảo Yên trong phát triển kinh tế rừng, tạo đầu vào cho phát triển công nghiệp chế biến lâm sản (bột giấy, đồ gỗ)
4.1.1.7 Nguồn tài nguyên khoáng sản
Nằm trên vùng thung lũng sông Hồng, sông Chảy, khoáng sản trên địa bàn Huyện chủ yếu là apatit, vàng, cao lanh Các nguồn khoáng sản phân bố khá phân tán nên khó khai thác (chi phí khai thác cao) Tuy nhiên, trên địa bàn huyện cũng có một số mỏ khoáng sản có trữ lượng tương đối lớn như:
- Điểm mỏ Cao Lanh ở Làng Bon: Khai thác làm nguyên liệu cho sản xuất gốm, sư, một số vật liệu xây dựng khác
- Khoáng sản Fenspat ở các điểm mỏ Lương Sơn, Long Phúc…
- Khoáng sản Secpentin ở các điểm mỏ xã Thượng Hà (cạnh quốc lộ 70) Kết quả thăm dò cho thấy, thân khoáng secppentin kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, Thân khoáng dài 1.750 m, rộng từ 40-440m Thành phần khoáng vật liệu gồm secpentin từ 70-90%, pyroxen 9%; hàm lượng Si02
khoảng 36%, MgO khoảng 29%, Al2O3 khoảng 11% Đã xác định trữ lượng toàn khu mỏ trên 21 triệu tấn Đây là khu mỏ có quy mô lớn, chất lượng nguyên liệu khoáng thuộc loại trung bình, nằm ở vị trí thuận lợi về giao thông Đây là nguồn nguyên liệu sản xuất phân lân nung chảy, phụ gia sản xuất phân bón
- Grafit ở Bảo Hà, chất lượng quặng tốt, trữ lượng lớn
- Các điểm mỏ apatit phân bố vùng Ngòi Bo - Bảo Hà
Trang 38Như vậy, so với một số huyện của tỉnh Lào Cai thì Nguồn tài nguyên khoáng sản của Huyện kém phong phú hơn Tuy nhiên, trên địa bàn Huyện có các điểm mỏ secpentin trữ lượng lớn có thể khai thác dùng sản xuất phân lân nung chảy
4.1.1.8 Nguồn tài nguyên nhân văn
Bảo Yên là Huyện khá phong phú về bản sắc văn hóa, truyền thống lịch
sử, di tích văn hóa Huyện có 13 dân tộc anh em cùng sinh sông, trong đó dân tộc Kinh chiếm 25,8%; dân tộc Tày 33,7%; dân tộc Dao 24,2%; dân tộc H’Mông 8,6%; dân tộc dáy 1,09%; còn lại các dân tộc khác Mỗi dân tộc lại
có phong tục, tập quán sinh hoạt riêng như người H’Mông có truyền thống làm ruộng bậc thang, người dáy trồng bông dệt vải, người Dao làm giấy Mỗi dân tộc cũng đều có bản sắc dân tộc riêng trong lễ hội truyền thống trong đời sống văn hóa như: Kiến trúc làng bản dân tộc Tày (nhà sàn nguyên thủy của đồng bào), các điệu múa then, đàn tính tẩu và hội lén còn của người Tày (xã Nghĩa Đô)
Bảo Yên có nhiều di sản văn hóa, lịch sử, khảo cổ học khu vực ngòi Nhù gần xã Cam Cọn và các dải đồi thấp ở xã Bảo Hà, các nhà khảo cổ tìm thấy khá nhiều công cụ đá cuội thuộc nền văn hóa Sơn Vi Các di chỉ cho thấy
đã có mặt các dân tộc Việt cổ ở Bảo Yên từ thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá mới, đến thời kỳ đồ đồng của văn hóa Bảo Yên Quá trình phát triển xây dựng và bảo
vệ đất nước của người dân Bảo Yên cũng đã để lại những giá trị anh hùng dân tộc, giàu tính nhân văn, mang đậm bản sắc dân tộc, đó là những di tích lịch
sử, văn hóa đã được công nhận cấp quốc gia như: Đền Bảo Hà, di tích Thành
cổ Nghị Lang, đền Phúc Khánh, di tích Chiến Thắng Phố Ràng, khu căn cứ cách mạng Đình làng Già Hạ (Viết Tiến), chiến thắng Nghĩa Đô
Ngoài ra, Bảo Yên còn có những thắng cảnh đẹp như động Vài Siêu (Thượng Hà), thác Sa (xã Tân Tiến)…; những món ăn dân tộc đặc sắc, hấp dẫn như: thịt gà canh kiệu, nộm rau bợ…; và các lễ hội đặc sắc của dân tộc Tày: Hội Đình của người Tày làng Già, hội Cốm và rằm tháng Tám, lễ dâng Trăng…
Có thể đánh giá, Bảo Yên hội tụ khá đủ các tài nguyên về du lịch và nhân văn để phát triển một số loại hình du lịch như du lịch văn hóa, du lịch thăm quan nghiên cứu, du lịch lễ hội
Trang 394.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ về tăng trưởng GDP bình quân của huyện giai đoạn 2005 -2009 đạt 13,2%/năm, cao hơn so mức bình quân Tỉnh (Tỉnh đạt 13%/năm) Trong
đó, tăng trưởng giá trị gia tăng ngành công nghiệp và xây dựng đạt 21,8%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của tỉnh; tăng trưởng ngành nông, lâm và thủy sản đạt 8,5%/năm, gấp 1,3 lần so với bình quân của tỉnh; tăng trưởng ngành dịch vụ đạt 18%/năm, gấp 1,5 lần so với mức bình quân của tỉnh
Do xuất phát ccuar quy mô kinh tế huyện khá thấp, trong khi tốc độ tăng trưởng chưa cao nên GDP bình quân đầu người năm 2009 (giá hiện hành) chỉ đạt khoảng 9 triệu đồng, chỉ bằng 78% so với mức bình quân của tỉnh Trong năm tới khi các cụm trung tâm công nghiệp được hoàn thành sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp – xây dựng tăng trưởng nhanh, đảm bảo cho Bảo Yên rút ngắn khoảng cách GDP/người với mức bình quân của tỉnh
Bảng 4.1: Hiện trạng phát triển kinh tế huyện Bảo Yên
Hạng mục DVT Giai đoạn 2005 - 2008
1.Tốc độ tăng trưởng GDP (%/năm) 13,2 13,0 1,01
2.Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế (%/năm)
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bảo Yên và sử lý của cục thống kê tỉnh Lào Cai)
Về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Cơ cấu kinh tế huyện đang chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông , lâm thủy sản và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ Tỷ trọng ngành nông, lâm và thủy sản giảm từ 59,6% (tỉnh là 35,5%)
Trang 40năm 2005 xuống còn 50,5% năm 2010, tỷ trọng ngành công nghiệp- xây dựng tăng từ 16,1 năm 2005 lên 22 % năm 2010, và ngành dịch vụ tăng từ 24,3% năm 2005 lên 27,5 % năm 2010
Nhìn tổng thể, cơ cấu kinh tế của huyện Bảo Yên đang có trình độ phát triển thấp hơn của tỉnh ( vốn đã thấp so với cả nước và các nước trong khu vực) Là huyện có nhiều lợi thế phát triển như công nghiệp chế nông, lâm và thủy sản; du lịch cộng với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh se đảm bảo cho Bảo Yên nhanh chóng có được cơ cấu kinh tế hiện đại
Về chất lượng cơ cấu kinh tế
Để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế cần dựa trên nhiều tiêu chí Tuy nhiên, tiêu chí về năng suất lao động là một trong những tiêu chí quan trọng Tốc độ tăng trưởng kinh tế năng suất lao động của Bảo Yên khá cao, đạt 7,9% năm giai đoạn 2005-2009, tăng từ 4,7 triệu đồng năm 2005 lên 8.2 triệu đồng năm 2010 tuy nhiên chỉ bằng 72% so với mức tăng trưởng bình quân của tỉnh
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Khu vực kinh tế nông nghiệp
+ Về quy mô và tốc độ tăng trưởng
Giai đoạn 2005- 2009 tăng trưởng nông, lâm thủy sản đạt 7.29%/năm, đạt 320.032,6 triệu đồng năm 2009, gấp 1,2 lần so với năm 2005 Trong đó, tăng trưởng ngành nông, lâm nghiệp đạt 7,09%/năm đạt 321.941,4 triệu đồng năm 2009, gấp 2,3 lần so với 2005; ngành thủy sản : 23,28%/năm đạt 7.091,2 triệu đồng năm 2009 gấp 3,1 lần so với năm 2005
+ Về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu nội ngành