Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác giải quyết tranh chấp đất đai * Khái niệm về tranh chấp đất đai: Theo khoản 26, điều 4, Luật Đất đai 2003: “Tranh chấp đất
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2010 – 2013
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính môi trường
Khoa : Quản lý tài nguyên
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2010 – 2013
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính môi trường
Khoa : Quản lý tài nguyên
Khóa học : 2010 - 2014 Giáo viên hướng dẫn : PGS TS Đặng Văn Minh
Thái Nguyên - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đươc sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa
Quản lý tài nguyên, em đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại UBND thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên từ ngày 10/02/2014 đến ngày 30/04/2014
Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành khoá luận tốt nghiệp em
đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cán bộ nơi thực tập cùng gia đình, bạn bè
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đặng Văn Minh, thầy đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng toàn thể thầy cô giáo, các thầy cô đã dạy dỗ, quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, các cán hộ trong UBND thị trấn Chùa Hang, các cơ quan, ban ngành có liên quan đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập và viết khoá luận
Đồng thời em xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã quan tâm, động viên, giúp đỡ em hoàn thành khoá học này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 05 năm 2014
Sinh Viên
Đào Ngọc Giang
Trang 4Chùa Hang giai đoạn 2010 - 2013 39 Bảng 4.5 Tình hình tranh chấp đất đai giữa những người có cùng quan
hệ huyết thống trên địa bàn thị trấn Chùa Hang trong giai
đoạn 2010 - 2013 41 Bảng 4.6 Kết quả phân loại đơn thư tranh chấp đất đai trên địa bàn thị
trấn Chùa Hang giai đoạn 2010 - 2013 43 Bảng 4.7 Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai tại thị trấn Chùa Hang
giai đoạn 2010- 2013 44 Bảng 4.8 Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai theo đơn vị hành chính
trên địa bàn thị trấn Chùa Hang giai đoạn 2010- 2013 45 Bảng 4.9: So sánh kết quả tổng hợp đơn thư tranh chấp đất đai của thị
trấn Chùa Hang với một số xã lân cận 46 Bảng 4.10: Tổng hợp ý kiến của nhân dân về nguyên nhân dẫn đến tranh
chấp đất đai 48
Trang 5trên địa bàn thị trấn Chùa Hang giai đoạn 2010 -2013 40 Hình 4.4 Tình hình tranh chấp đất đai theo mối quan hệ huyết thống trên
địa bàn thị trấn Chùa Hang giai đoạn 2010 -2013 41 Hình 4.5: Biểu đồ so sánh kết quả tổng hợp đơn thư tranh chấp đất đai
của thị trấn Chùa Hang với một số xã lân cận 47 Hình 4.6 Tổng hợp ý kiến của nhân dân về nguyên nhân dẫn đến tranh
chấp đất đai 48 Hình 4.7 Tổng hợp ý kiến của ngưòi dân về việc giải quyết tranh chấp
đất đai của UBND thị trấn Chùa Hang 50
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai 3
2.1.2 Căn cứ pháp lý của công tác giải quyết tranh chấp đất đai 5
2.1.3 Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác giải quyết tranh chấp đất đai 5
2.2 Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai của tỉnh Thái Nguyên 10
2.3 Đánh giá sơ lược công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 11
2.4 Nguyên nhân tranh chấp đất đai phổ biến hiện nay 11
Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 17
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 17
3.2 Địa điểm và thời gian tiên hành 17
3.3 Nội dung nghiên cứu 17
3.3.1 Điều tra sơ lược tình hình cơ bản của thị trấn Chùa Hang 17
3.3.2 Sơ lược về hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý đất đai của thị trấn Chùa Hang 17
3.3.3 Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị trấn Chùa Hang giai đoạn 2010 - 2013 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
Trang 83.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 18
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 18
Phần 4: KẾT QUẢ YÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Điểu tra sơ lược tình hình cơ bản của thị trấn Chùa Hang 19
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 19
4.1.1.1 Vị trí địa lý 19
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo 20
4.1.1.3 Khí hậu 20
4.1.1.4 Thuỷ văn 20
4 1 1 5 Các nguồn tài nguyên 20
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 22
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 22
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 22
4.1.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 23
4.1.2.4 Thực trạng phát triển xã hội 24
4.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất của thị trấn Chùa Hang 26
4.2.1 Tình hình quản lý đất đai của thị trấn 26
4.2.2 Hiện trạng sử dụng và biến động đất đai 30
4.2.3 Nhận xét về tình hình quản lý và sử dụng đất của thị trấn Chùa Hang 33
4.2.4 Thực trạng cán bộ địa chính của thị trấn Chùa Hang 33
4.3 Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị trấn chùa hang giai đoạn 2010 -2013 34
4.3.1 Tình hình tranh chấp đất đai trên địa bàn thị trấn Chùa Hang 34
4.3.2 Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị trấn Chùa Hang giai đoan 2010 - 2013 43
4.3.3 Tìm hiểu và phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp đất đai trên địa bàn thị trấn Chùa Hang 47
Trang 94.3.4 Một số hạn chế, khó khăn vướng mắc trong công tác giải quyết
tranh chấp đất đai tại thị trấn Chùa Hang 51
4.3.5 Nguyên nhân của những khó khăn tồn tại, vướng mắc trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai 52
4.3.6 Phương hướng, giải pháp trong thời gian tới 53
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Để nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây đất đai đã trở thành một vấn đề nổi cộm, đặc biệt đối với đất ở và đất xây dựng do người dân đã ý thức được tầm quan trọng của đất đai với đời sống xã hội Nước ta có diện tích đất tự nhiên là 331.212 km² (Cục thống kê, 2013) [2], xếp thứ 59 trên tổng số 200 nước trên thế giới và dân số nước ta ước tính 92,48 triệu người (Cục thống kê, 2013) [3] Bình quân đất đai/người của thế giới là 3ha/người thì ở Việt Nam là 0,43ha chỉ bằng 1/7 so với thế giới Do vậy nước ta thuộc vào diện tích đất chật người đông Cùng với sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng và đối tượng sử dụng đất ngày càng phức tạp
Nước ta đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đó chính là những cuộc đấu tranh bảo vệ đất, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia Vì vậy hơn ai hết nhân dân ta đã hiểu sâu sắc giá trị của đất đai Khi nước ta chuyển
từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng trong các lĩnh vực kinh
tế xã hội và trong cuộc sống của nhân dân Từ đó việc tranh chấp đất đai ngày càng nhiều và càng trở lên gay gắt gây mất đoàn kết nội bộ nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự Giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Việc giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay đang trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội, được nhiều ngành, nhiều cấp quan tâm
Thị trấn Chùa Hang huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên là một đơn vị hành chính cấp xã, trong những năm gần đây công tác quản lý Nhà nước về đất đai đạt được một số kết quả góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội
Trang 11của địa phương Song bên cạnh đó cũng tồn tại nhiều khó khăn trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai, đặc biệt việc giải quyết tranh chấp đất đai luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu
Trước thực tế đó, được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Đặng Văn Minh, em tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị trấn Chùa Hang - huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 – 2013”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu công tác giải quyết tranh chấp đất đai của thị trấn Chùa Hang giai đoạn 2010 - 2013
Tìm hiểu và phân tích những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai
và đề xuất những giải pháp khắc phục cho công tác giải quyết tranh chấp của thị trấn trong thời gian tới
1.3 Ý nghĩa của để tài
Khoá luận tốt nghiệp là một cơ hội tốt cho em củng cố kiến thức đã học trong nhà trường và áp dụng vào thực tế công việc
Khoá luận giúp em nắm được thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai đặc biệt là công tác giải quyết tranh chấp đất đai
Khoá luận góp phần đề xuất các giải pháp thực hiện công tác giải quyết tranh chấp đất đai để công tác quản lý ngày càng hiệu quả hơn
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của để tài
2.1.1 Các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
Luật Đất đai đầu tiên của nước ta ra đời vào những năm đầu của tiến trình
đổi mới đất nước Chỉ vài năm sau khi triển khai, sự nghiệp đổi mới lại đòi hỏi
phải xây dựng Luật Đất đai mới nhằm tạo hành lang pháp lý cho quan hệ đất đai phục vụ phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá và xây dựng hạ tầng cho kinh tế nông nghiệp và dịch vụ Năm 1993, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai lần thứ 2- Luật Đất đai năm 1993 với 7 nội dung QLNNVĐĐ được quy định tại
điều 113 như sau:
chính
dụng các văn bản đó
sử dụng đất
phạm trong quản lý và sử dụng đất đai (Quốc hội, 1993) [6]
Cùng với sự phát triển của đất nước hệ thống chính sách, pháp luật về đất
đai đòi hỏi thường xuyên liên tục sửa đổi và bổ sung Năm 1998 Quốc hội thông
qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Đất đai, trong đó trọng tâm là đổi mới chính sách đất đai phục vụ đầu tư phát triển Năm 2001 Quốc hội thông qua một lẩn nữa luật sổ sung một số điều của luật Đất đai với nội dung chủ yếu là
đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền định đoạt về luật Đất đai cho địa phương Tuy
Trang 13nhiên, với hai lần sửa đổi, bổ sung nội dung QLNNVĐĐ vẫn không thay đổi nhiều với 7 nội dung về cơ bản giống như Luật Đất đai 1993 Qua 10 năm thực hiện Luật Đất đai năm 1993, pháp luật về đất đai đã trở thành một trong những
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị - xã hội Tuy
nhiên trước tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội, pháp luật đất đai
đã bộc lộ những hạn chế nhất định Để khắc phục những thiếu sót trên tại kỳ họp
thứ 4, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai mới - Luật Đất đai năm 2003 thay thế Luật Đất đai năm 1993 Luật đất đai năm 2003 với 13 nội dung QLNNVĐĐ được quy định tại khoản 2, điều 16 như sau:
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất
Thống kê, kiểm kê đất đai
Quản lý tài chính về đất đai
Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Trang 14Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai
Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.(Quốc hội, 2003) [7]
2.1.2 Căn cứ pháp lý của công tác giải quyết tranh chấp đất đai
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành Luật
Quyết định số 2608/2013/QĐ- UBND ngày 27/06/2013 của tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đất đai
2.1.3 Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác giải quyết tranh chấp đất đai
* Khái niệm về tranh chấp đất đai:
Theo khoản 26, điều 4, Luật Đất đai 2003: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” (Quốc hội, 2003) [7]
* Hoà giải tranh chấp đất đai
Trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai thì hoà giải là công việc bắt buộc và là bước khởi đầu của việc giải quyết tranh chấp đất đai Hoà giải
Trang 15tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 135 Luật Đất đai 2003 và được quy định chi tiết thêm tại Điều 159 Nghị định 181 ngày 29 tháng 10 năm 2004 Nếu hoà giải không thành thì mới giải quyết theo quy định của pháp luật
Điều 135 luật đất đai 2003 quy định:
1 Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở
2 Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp
UBND xã phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai
Thời hạn hoà giải là 30 ngày làm việc kể từ ngày UBND xã, phường, thị trấn nhận được đơn
Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ
ký của các bên tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì UBND
xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai (Quốc hội, 2003) [7]
* Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại UBND xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1,2,5 Điều
50 của luật Đất đai 2003 thì thuộc thẩm quyền của toà án giải quyết
Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai 2003 thì đương sự gửi đơn đến cơ quan hành chính để giải quyết Cơ quan hành chính các cấp giải quyết tranh chấp đất đai như sau:
Trang 16+ Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết đối với tranh chấp quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, hộ gia đình với cá nhân, giữa các hộ gia đình với nhau hoặc giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức (tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện)
Nếu một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện thì có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định giải quyết cuối cùng
+ Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư
Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Bộ Tài nguyên và Môi trường, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng
* Các giấy tờ về đất đai được quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai bao gồm:
Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền nam Việt Nam và Nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính
Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất
Trang 17Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng, mua bán nhà ở gắn liền với đất trước ngày 15/10/1993, nay được UBND cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993
Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật
Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất
Giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp
Bản án hoặc quyết định của toà án nhân dân, quyết định thi hành án của
cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành
* Giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính:
1 Tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính do UBND của các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết Trường hợp không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết được quy định như sau:
- Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (TW) thì do quốc hội quyết định
- Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn thì do Chính Phủ quyết định
2 Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc TW, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp với các cơ quan Nhà nước
Trang 18có thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính (Quốc hội, 2003) [7]
* Căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1 Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đưa ra
2 Ý kiến của hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai của xã phường, thị trấn thành lập gồm có:
- Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn là chủ tịch hội đồng
- Đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn
-Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị Trưởng thôn, ấp, bản, buôn, phun, sóc đối với khu vực nông thôn
- Đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã phường thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó
- Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn
3 Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương
4 Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp vói quy hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt
5 Chính sách ưu đãi người có công của nhà nước
6 Quy định của pháp luật về giao đất cho thuê đất (Chính phủ, 2004) [1]
* Đối với đơn, hồ sơ tranh chấp trước 01 / 07 / 2004:
Đối với đơn, hồ sơ thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ tịch UBND quận, huyện: Nếu nơi đây chưa ban hành quyết định giải quyết tranh chấp thì tiếp tục thụ lý, giải quyết theo quy định nêu trên Trường hợp đã giải quyết
Trang 19tranh chấp nhưng chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại thì điều chỉnh lại thời hiệu và hướng dẫn đương sự gửi đơn theo trình tự nêu trên
Đối với đơn, hồ sơ do sở Tài nguyên & Môi trường đang thụ lý mà UBND thành phố đã ban hành quyết định giải quyết tranh chấp thì sở báo cáo,
đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp
2.2 Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai của tỉnh Thái Nguyên
Trong năm 2013 Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiếp 29 lượt người đến khiếu nại, tố cáo, hỏi về lĩnh vực đất đai, môi trường và bồi thường thiệt hại khi thu hồi nhà đất, trong đó có 5 vụ đông người
Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức đối thoại trực tiếp với các tổ chức cộng đồng dân cư đến khiếu kiện, góp phần ổn định chính trị
xã hội Sở đã nhận được 142 đơn thư khiếu nại bằng 141 vụ (giảm 05 vụ so với năm 2012), trong đó về lĩnh vực đất đai bồi thường giải phóng mặt bằng 108/136 vụ 79,41%, thuộc thẩm quyền giải quyết 23 vụ trong đó 6 vụ về lĩnh vực đất đai, 05 vụ về môi trường Không thuộc thẩm quyền 99 vụ đã hướng dẫn đương sự đến đúng cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo đúng thời gian quy định Số vụ không đủ điều kiện là 4 vụ
Ngoài ra phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện đã tham mưu cho UBND cùng cấp tích cực giải quyết các đơn thư thuộc thẩm quyền, kết quả số đơn đã giải quyết: huyện Đại Từ 18/18 đơn, thành phố Thái Nguyên 41/48 đơn, huyện Phú bình 90/138 đơn, huyện Đồng Hỷ 15/31 đơn, huyện Phú Lương 12/12 đơn, huyện Định Hoá 06/06 đơn, huyện Võ Nhai 15/15 đơn Ngoài ra phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Sông Công đã tiếp nhận đơn, phối hợp với các ngành liên quan và UBND cấp xã để giải quyết Qua quá trình giải quyết các vụ việc cho thấy số vụ so với năm 2012 có giảm nhưng tính chất của
vụ lại tăng, và cực kỳ phức tạp chủ yếu liên quan đến lĩnh vực bồi thường giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai và ô nhiễm môi trường
Trang 202.3 Đánh giá sơ lược công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
Tổng số đơn trong năm 2013 Phòng Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận là 32 đơn thư tranh chấp đat đai, đã giải quyết 27 đơn, còn 5 đơn chưa giải quyết Các hồ sơ tranh chấp đất đai chủ yếu liên quan giữa cá nhân với cá nhân, có một số trường hợp liên quan đến đất của nông lâm trường Cũng năm
2013, Phòng Tài nguyên và Môi trường đã tham gia cùng Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ xác minh định giá tài sản chung của 10 vụ kiện dân sự tranh chấp đất đai.(Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Đồng Hỷ2013) [5]
2.4 Nguyên nhân tranh chấp đất đai phổ biến hiện nay
Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay rất đa dạng, phong phú, nhiều khi đan xen lẫn nhau Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn, đó là các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã
sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phạt sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trong dạng tranh chấp này luôn luôn có sự tranh chấp giữa các bên về quyền quản lý, quyền sử dụng một diện tích nào
đó hoặc một phần trong diện tích đó Việc xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Có thể có dạng như sau:
Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, hai huyện, hai xã với nhau, tập trung ở những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá ở những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng
có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở những nơi có nguồn lâm, thổ sản quý Cùng với việc chia tách các đơn vị
Trang 21hành chính tỉnh, huyện, xã thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tương đối nhiều
Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: Thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà
do nhiều nguyên nhân khác nhau mà họ không còn quản lý, sử dụng nữa Bây giờ những người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp Trong dạng tranh chấp này còn có các loại sau:
+ Đòi lại đất, tài sản của họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau trước đây qua các cuộc điều chỉnh đã chia, cấp cho người khác: Sau cải cách ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp theo quy
mô sản xuất tập thể, quản lý tập trung Ruộng đất và các tư liệu sản xuất của nông dân được tập trung vào hợp tác xã Đến khi thực hiện nghị quyết Trung ương 10/TW năm 1988, đất đai được phân chia đến hộ gia đình, cá nhân để sản xuất Do việc phân chia đất đai này không hợp lý, một số cán bộ xã, huyện đã làm sai như chia đất sản xuất cho những người không phải là nông dân để rồi những người này đem bán, cho thuê, trong khi đó nông dân không
có đất sản xuất, một số hộ trước khi vào tập đoàn, hợp tác xã có đất, đến khi giải thể họ không có đất để sản xuất Một số hộ thực hiện chính sách “nhường cơm sẻ áo” của nhà nước trong những năm 1981-1986 đã nhường đất cho những người khác sử dụng nay đòi lại Ở Miền nam, nhà nước thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hoá đất đai, nhà cửa, tư liệu sản xuất của địa chủ, tư bản và tay sai chế độ cũ hoặc giao nhà cửa, đất đai cho người khác sử dụng, đến nay do nhiều sự hiểu lầm về chính sách của họ cũng như đòi lại những người đang quản lý, sử dụng
Trang 22+ Tranh chấp giữa những người làm nghề thủ công, nay thất nghiệp trở
về đòi lại ruộng của những người làm nông nghiệp: Những người làm nghề thủ công trước đây đã được phân ruộng để sản xuất, để ở, sau đó họ không sản xuất nông nghiệp nữa hoặc chuyển đi nơi khác để làm nghề, đến nay họ trở về để đòi lại đất sản xuất, để ở
+ Tranh chấp đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ họ Dạng tranh chấp này thường xảy ra như sau: Trước đây do hoàn cảnh lịch sử, chính quyền địa phương đã mượn đất của các cơ sở nói trên để sử dụng hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở cơ quan, trường học đến nay các cơ sở đó đòi lại nhưng nhà nước không trả lại được nên dẫn đến khiếu kiện của các cơ sở đó Ngoài ra, trong những trường hợp nói trên, một số người được các nhà thờ, dòng tu, chùa chiền, các nhà thờ họ cho đất
để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố, hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên đòi lại đất, nhà
+ Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ: Dạng tranh chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho
ở nhờ Có vụ cho mượn, thuê gần đây, có vụ cho mượn, thuê cách đây vài chục năm (nhất là ở miền nam) Trong nhiều trường hợp không làm hợp đồng chỉ giao kết bằng miệng dẫn đến khi bên cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ hoặc
là hết hạn hợp đồng, hoặc đòi lại, bên mượn, thuê, ở nhờ đã xây dựng nhà kiên cố, một bên có tên trong sổ địa chính hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì việc tranh chấp này càng trở nên phức tạp, dẫn đến việc công dân khiếu kiện lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn với quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn: Đây là trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn Tranh chấp đất có thể là đất nông
Trang 23nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở, có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc có thể xảy ra khi bố mẹ cho con đất, đến khi con ly hôn thì cha mẹ đòi lại
Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn với quyền sử dụng đất: Đây là dạng tranh chấp do người có quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất mà khi chết không để lại di chúc, hoặc để lại di chúc không phù hợp với quy định của pháp luật và những người hưởng thừa kế không thoả thuận được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến tranh chấp
Tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau về ranh giới giữa các vùng đất được phép sử dụng và quản lý: Đây là tranh chấp về ranh giới Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người khác Những trường hợp tranh chấp này xảy thường
do ranh giới đất giữa những người sử dụng đất liền kề không rõ ràng đất này thường chuyển nhượng nhiều lần, bàn giao không rõ ràng Ngoài ra, việc tranh chấp ranh giới xảy ra nhiều khi do lỗi của cơ quan Nhà nước, đó là khi cấp đất, cơ quan cấp đất có ghi diện tích, nhưng không đo đạc cụ thể khi giao đất chỉ căn cứ vào giấy cấp đất và đơn kê khai diện tích của đương sự Sau này khi đương sự đo lại thấy diện tích đất ít hơn so với quyết định cấp đất cũng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phần diện tích chồng lên nhau Do đó cũng gây lên tranh chấp giữa các hộ liền kề nhau Khi giải quyết tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định phần đất tranh chấp đó thuộc quyền sử dụng của ai
Tranh chấp giữa đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới với đồng bào dân tộc sở tại: Đây là dạng tranh chấp thường xảy ra ở vùng Tây Nguyên Việc đi lại, đặc biệt là di dân tự do đến nơi ở mới không phải lúc nào chính
Trang 24quyền sở tại cũng cấp đất cho người dân di cư, dẫn đến việc người mới đến phá rừng, lấn chiếm đất đai, dẫn đến tranh chấp với đồng bào dân tộc sở tại
Tranh chấp giữa các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng đất khác với nhân dân địa phương: Do cơ chế trước đây nên dẫn đến tình trạng các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội bao chiếm một lượng lớn đất đai, không sử dụng hết để đất bỏ hoang hoặc cho người dân sử dụng theo hình thức phát canh, thu tô Mặt khác, nhiều nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội quản lý đất đai lỏng lẻo dẫn đến tình trạng người dân lấn chiếm để sử dụng do đó cũng dẫn đến tranh chấp đất đai Các dạng tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trong các dạng tranh chấp này thì người đang sử dụng đất đã sử dụng hợp pháp đất, không có ai tranh chấp Tuy nhiên khi sử dụng quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của mình như: thực hiện các giao dịch về dân sự, hoặc do chủ trương, chính sách của nhà nước như giải toả, trưng dụng, trưng mua hoặc do người khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của mình mà dẫn đến tranh chấp Có các dạng sau:
+ Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất
+ Tranh chấp do người khác gây thiệt hại hoặc hạn chế quyền và nghĩa
vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất
+ Tranh chấp về mục đích sử dụng đất, đặc biệt là tranh chấp về đất nông nghiệp với đất lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng cao su với đất trồng cà phê, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quá trình phân bố và quy hoạch sử dụng Trong thực tế trường hợp tranh chấp này xảy ra như sau: do mục đích sử dụng đất nên nhà nước thu hồi đất của
Trang 25người đang sử dụng để giao cho người khác sử dụng với mục đích khác, dẫn đến người đang sử dụng khiếu kiện việc chuyển mục đích sử dụng hay khiếu kiện việc thu hồi hoặc khiếu kiện người được giao đất sử dụng với mục đích khác Mặt khác, người được nhà nước giao đất chuyển mục đích sử dụng khiếu kiện người đang sử dụng đất phải giao đất cho mình theo quyết định giao đất
+ Tranh chấp về giải tỏa mặt bằng phục vụ các công trình công cộng, lợi ích quốc gia và mức đền bù khi thực hiện giải toả Trong loại tranh chấp này chủ yếu là khiếu kiện về giá đất đền bù, diện tích đất được điền bù, giá cả đất tái định cư và đền bù không đúng người, giải toả quá mức quy định để chừa đất cấp cho các đối tượng khác Trong tình hình hiện nay, việc quy hoạch mở mang đường xá, đô thị lớn dẫn đến việc tranh chấp loại này rất gay gắt, phức tạp và có nhiều người, tập thể đồng loạt khiếu kiện
Hiện nay, ngoài những tranh chấp như đã trình bày trên, còn có một loại tranh chấp nữa, đó là tranh chấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai tức
là tranh chấp hành chính về đất đai Các tranh chấp thuộc nhóm này thường xảy ra khi các đương sự quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai hoặc cán bộ quản lý nhà nước về đất đai áp dụng đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Ví dụ: các quyết định về giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các quyết định về giải quyết tranh chấp đất đai (Nguyên nhân tranh chấp đất đai) [4]
Trang 26Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu công tác giải quyết tranh chấp đất đai
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trên địa bàn thị trấn Chùa Hang trong giai đoạn 2010 - 2013
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
Địa điểm: Tại thị trấn Chùa Hang
Thời gian: Từ 10/02/2014 đến 30/04/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều tra sơ lược tình hình cơ bản của thị trấn Chùa Hang
Điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện kinh tế xã hội
3.3.2 Sơ lược về hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý đất đai của thị trấn Chùa Hang
- Hiện trạng sử dụng đất
- Thực trạng cán bộ địa chính
- Tình hình quản lý nhà nước về đất đai
3.3.3 Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị trấn Chùa Hang giai đoạn 2010 - 2013
* Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại thị trấn Chùa Hang
- Tổng hợp đơn thư tranh chấp đất đai trên địa bàn thị trấn Chùa Hang giai đoạn 2010 - 2013
- Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn thị trấn Chùa Hang giai đoạn 2010 - 2013
Trang 27* Một số hạn chế, khó khăn vướng mắc trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại thị trấn Chùa Hang
* Nguyên nhân của những khó khăn tồn tại, vướng mắc trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai
* Phương hướng giải quyết trong thời gian tới
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập tài liệu từ báo chí, các phương tiên thông tin đại chúng,
- Thu thập tài liệu và số liệu đất tại phòng địa chính-xây dựng UBND thị trấn
- Phương pháp điều tra, phỏng đoán
- Tham gia hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai trong thời gian thực tập tốt nghiệp
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Tổng hợp các số liệu đã thu thập được
- Phân tích số liệu đã thu thập được
- Thu thập và xử lý số liệu trên Word, Excel
Trang 28Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điểu tra sơ lược tình hình cơ bản của thị trấn Chùa Hang
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Chùa Hang là thị trấn nằm trên quốc lộ 1B và cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 3km về phía bắc Thị trấn có tổng diện tích 3,037 km² (303,7ha) gồm 28 tổ dân phố Có ranh giới hành chính tiếp giáp với các xã sau:
Hình 4.1 Lát cắt bản đồ địa giới hành chính thị trấn Chùa Hang
- Phía Bắc giáp với xã Hoá Thượng - huyện Đồng Hỷ
- Phía Tây - Nam giáp với thành phố Thái Nguyên
- Phía Đông và Đông - Nam giáp với xã Đồng Bẩm huyện Đồng Hỷ
- Phía Tây giáp vối xã Cao Ngạn - huyện Đồng Hỷ
Trang 294.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình thị trấn Chùa Hang rất đơn thuần, đồng bằng là chủ yếu Mặt khác thị trấn nằm ngay cạnh sông Cầu nên hiện tượng úng ngập vào mùa lũ thường hay xảy ra gây khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân
4.1.1.3 Khí hậu
Chùa Hang mang đặc điểm chung của khí hậu vùng miền núi phía Bắc
đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
- Nhiệt độ trung bình năm 22- 230C
+ Nhiệt độ cao tuyệt đối: 32,80C
+ Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 30C
+ Nhiệt độ tháng cao nhất: 29,30C
+ Nhiệt độ thấp nhất: 12,90C
- Độ ẩm trung bình các tháng trong năm là 82%
- Lượng mưa trung bình trong năm là 2007mm
- Hướng gió thịnh hành: Đông Nam, Đông Bắc
4.1.1.4 Thuỷ văn
Mạng lưới thuỷ văn của thị trấn Chùa Hang có 4,2 ha sông suối cùng với hệ thống ao, hồ, đập lớn nhỏ là những nguồn nước quý phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Ở phía Tây - Nam có con sông Cầu chảy qua với lưu lượng nước rất lớn đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trấn
4 1 1 5 Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất: Đất đai của thị trấn được hình thành từ đá mẹ như phiến
thạch sét, đá macma axít, một số ít là đá macma trung tính và đá biến chất
- Tài nguyên nước:
+ Nguồn nước mặt: Toàn thị trấn hiện có 3,85 ha đất thuỷ lợi và mặt nước chuyên dùng; 3,4 ha đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản và 3,8 ha đất
Trang 30sông suối, đây là những nguồn nước mặt phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp và cân bằng môi trường sinh thái
+ Nguồn nước ngầm: Mực nước ngầm của thị trấn ở độ sâu trung bình
từ 10 - 25 m là nguồn nước sạch cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong toàn thị trấn, chủ yếu là khai thác từ giếng khơi và giếng khoan
- Tài nguyên rừng:
Chùa Hang là thị trấn trung tâm của huyện Đồng Hỷ với phần lớn là đất
ở đô thị và đất chuyên dùng nên diện tích đất lâm nghiệp của thị trấn chỉ có 0,58 ha
Nhận xét chung vê điều kiện tự nhiên:
- Thuận lợi:
Thị trấn Chùa Hang có địa hình tương đối bằng phẳng, có vị trí cách trung tâm thành phố có 3 km, lại là trung tâm kinh tế, chính trị của huyện Đồng Hỷ Thị trấn Chùa Hang lại nằm trên quốc lộ 1B nên mạng lưới giao thông của thị trấn rất thuận lợi cho việc mở mang, phát triển các ngành nghề thương mại, dịch vụ tạo điều kiện cho sự tăng trưởng kinh tế của thị trấn
- Khó khăn:
Bên cạnh những mặt thuận lợi thị trấn Chùa Hang vẫn còn tồn tại một
số khó khăn như: hiện tượng lũ lụt vẫn xảy ra thường xuyên hàng năm vào mùa lũ do có con sông Cầu chảy qua, gây ảnh hưởng và thiệt hại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp Nhiều diện tích lúa và hoa màu vẫn phụ thuộc vào lượng nước mưa tự nhiên Nhìn chung trên địa bàn thị trấn không có khoáng sản để khai thác Diện tích đất lâm nghiệp thu hẹp nên không có đất trồng cây
để ngăn lũ
Trang 314.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tăng trưởng kỉnh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh tế của thị trấn trong những năm qua có những bước phát triển đáng kể Tốc độ tăng trưởng từ 3 -5% mỗi năm Năm 2013 ước thu ngân sách đạt 127% dự toán huyện giao, thu trong cân đối đạt 130,6% dự toán huyện giao, thu quản lý qua ngân sách đạt 102,4% dự toán huyện giao Tổng ngân sách không chỉ đạt mà còn vượt mức chỉ tiêu huyện giao Đó là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành, mặt trận và các đoàn thể nhân dân, đã khai thác triệt để các nguồn thu
Cơ cấu kinh tế cũng có chuyển biến tích cực: Tỉ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ tăng, tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm Đây là xu hướng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của thị trấn Chùa Hang theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Ngành nông nghiệp:
Với tổng diện tích đất nông nghiệp là 125,12 ha chiếm 40,45% tổng diện tích tự nhiên của thị trấn, trong đó đất chủ yếu là trồng cây hàng năm như: Rau, ngô, sắn chiếm 111,08 ha, chỉ có 9ha trồng lúa Đây là nguồn cung cấp thực phẩm rau tươi cho cả thị trấn và các vùng lân cận Ước tính mỗi năm năng suất rau đạt khoảng 105 tạ/ha và sản lượng đạt 15,6 tấn
Ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển và duy trì các mô hình chăn nuôi lợn,
gà, vịt siêu trứng theo phương thức công nghiệp, nuôi ong mật, trồng nấm
Ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ:
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp: Ngành tiểu thủ công nghiệp của thị trấn phát triển khá mạnh như: sản xuất gỗ, các mặt hàng dân dụng, tuy nhiên trong thời gian tới thị trấn cần có những chính sách cụ thể để giúp các doanh nghiệp phát triển
Trang 32Ngành dịch vụ - thương mại:
Với vị trí là trung tâm buôn bán và dịch vụ của huyện Đồng Hỷ nên ngành dịch vụ - thương mại phát triển rất mạnh, tập trung ở hai chợ đó là: chợ Chùa Hang và chợ Núi Voi Năm 2013 số hộ kinh doanh dịch vụ thương mại tăng 1,5% Kinh doanh tại hộ gia đình trên địa bàn thị trấn có 1244 hộ tăng so với năm 2012 là 42 hộ Duy trì và giữ vững phát triển ở một số ngành nghề,
hộ kinh doanh dịch vụ thương mại, đưa vào khai thác với chủng loại hàng hoá rất phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho người bán cũng như người mua
4.1.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
- Xây dựng cơ bản:
Đất xây dựng cơ bản của thị trấn là 31,20 ha bao gồm các công trình, trụ sở, cơ quan cấp huyện và cấp thị trấn như: UBND, bệnh viện, trường học, trạm y tế, bưu điện, điểm bưu điện văn hoá,
- Giao thông:
Nhìn chung hệ thống giao thông của thị trấn phát triển tốt với hai trục đường chính đó là quốc lộ 1B và đường 379 đi Núi Voi, các đường còn lại trong thị trấn đã được bê tông hoá Trong thời gian tới các cấp ban ngành cần xem xét và mở các tuyến đường vào khu dân cư mới quy hoạch
- Thuỷ lợi:
Hệ thống thuỷ lợi của thị trấn chủ yếu là hệ thống mương thoát nước nằm trong các khu dân cư, tuy nhiên những hệ thống này vẫn còn những bất cập chưa giải quyết dứt điểm gây úng ngập vào mùa mưa
- Hệ thông lưới điện:
Hiện tại hệ thống lưới điện quốc gia đã phủ trùm kín toàn bộ thị trấn Điện năng đã cung cấp đủ cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân
Trang 33- Giáo dục, đào tạo:
Trong những năm qua công tác giáo dục của thị trấn có những chuyển biến tích cực về số lượng cũng như chất lượng đào tạo, đã đạt tiêu chuẩn quốc
gia về phổ cập tiểu học và trung học cơ sở
- Y tế:
Trên địa bàn thị trấn có trung tâm y tế huyện Đồng Hỷ đây là điều kiện rất thuận lợi cho công tác chăm sóc sức khoẻ và cộng đồng, bên cạnh đó còn
có một trạm y tế được xây dựng nhà 2 tầng với y dụng cụ, tủ thuốc khá đầy
đủ, lại có đội ngũ cán bộ y tế nhiệt tình và có trách nhiệm
- Văn hoá thông tin:
Được sự quan tâm của ngành bưu điện, ngoài bưu điện trung tâm huyện còn có một điểm bưu điện văn hoá tại khu vực mỏ đá Núi Voi đã đáp ứng kịp thời các thông tin cho bạn đọc
Lao động và việc làm:
Tính đến hết tháng 6/2013 toàn thị trấn có 5906 người trong độ tuổi lao động Trong đó số lao động nông nghiệp là 4665 người chiếm 0.79% tổng số lao động toàn thị trấn
Thu nhập bình quân trên đầu người năm 2013 đạt 8,2triệu đồng/lngười trong 1 năm Đến nay thị trấn đã tạo việc làm cho hàng ngàn lao động (UBND thị trấn Chùa Hang, 2013)[9]