- Đánh giá được các ảnh hưởng của hoạt động khai thác quặng tới môi trường nước mặt.. Vai trò của tài nguyên nước mặt *Đối với sản xuất nông nghiệp Việc sử dụng quan trọng nhất của nư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NGUYỄN VĂN TÝ
Tên đề tài:
“Đánh giá ảnh huởng của hoạt động khoáng sản đến môi truờng nuớc
mặt tại Mỏ Sắt Ngườm Cháng, xã Dân Chủ, Huyện Hòa An, tỉnh Cao
Bằng”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 - 2014 Giáo viên hướng dẫn: Th.S Đặng Hồng Phương
Khoa Môi trường - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thưc tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với các kiến thức khoa học Qua đó sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện về kiến thức lý luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác, nhằm đáp ứng nhưu cầu thực tiễn của công việc sau này
Vì vậy em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đánh giá ảnh huởng của
hoạt động khoáng sản đến môi truờng nuớc mặt tại Mỏ Sắt Ngườm Cháng,
xã Dân Chủ, Huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng ” Trong quá trình nghiên cứu
và viết khóa luận em đã nhận được sự quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường
Em xin chân thành cám ơn các thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã dạy cho em những kiến thức,cách nghiên cứu,giúp em hiểu và hoàn thành đề tài khóa luận với khả năng của mình.Đặc biệt em xin chân
thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Đặng Hồng Phương, người đã nhiệt
tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình viết khóa luận Đồng thời
em xin chân thành cám ơn các bộ, các phòng ban UBND xã Dân Chủ,huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên mặc dù bản thân đã
cố gắng hết sức nhưng không tránh khỏi những thiếu sót vì vậy em rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Văn Tý
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTNMT : Bộ Tài nguyên & Môi trường
BVMT : Bảo vệ Môi trường
BVTV : Bảo vệ thực vật
BOD5 : Nhu cầu ôxi hóa 5 ngày
CEETIA : Trung tâm Kỹ thuật Môi trường đô thị và khu công nghiệp COD : Nhu cầu ôxi hóa học
DDT : Gồm Neocid, Pentachlor, Cholorophenothane…
ĐTM : Đánh giá tác động môi trường
ĐCTV : Địa chất thủy văn
IWMI : Viện Quản lý nguồn nước Quốc tế
KCN : Khu công nghiệp
TCMT : Tiêu chuẩn Môi trường
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TN & MT : Tài nguyên và Môi trường
TSS : Tổng chất rắn lơ lửng
UBND : Ủy ban nhân dân
UNICEF : Tổ chức Nhi đồng Liên Hợp Quốc
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lượng nước thải và tải lượng BOD5 trong nước thải sinh hoạt
từ các nguồn khác nhau của Mỹ Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.2: Mức nước thải từ mỗi người dân tới hệ thống cống thảiError! Bookmark not defined.
Bảng 3.1: Các thông số được phân tích theo các TCVN hiện hànhError! Bookmark not defined.
Bảng 4.1: Lượng nước thải của một số cơ sở sản xuất công nghiệp trên
địa bàn trung tâm phía Bắc thành phố thái NguyênError! Bookmark not defined.
Bảng 4.2: Quy mô bệnh viện tương ứng với lượng nước thải trên địa bàn
trung tâm phía Bắc thành phố Thái NguyênError! Bookmark not defined.
Bảng 4.3: Lượng nước thải sinh hoạt của một số khách sạn, ký túc xá sinh
viên tại khu trung tâm phía Bắc thành phố Thái NguyênError! Bookmark not defined.
Bảng 4.4: Kết quả phân tích nước thải của hộ kinh doanh Trần Vĩ Đại
( sản xuất bia) Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.5: Kết quả phân tích nước thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ
(Công ty đã áp dụng hệ thống xử lý nước thải)Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.6: Kết quả phân tích mẫu nước thải tại Bệnh viện Đa khoa trung
ương Thái Nguyên(nước thải đã qua xử lý)Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.7: Kết quả phân tích nước thải sinh hoạtcủa khách sạn Thái
Nguyên Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.8: Kết quả phân tích nước thải sinh hoạttại phường Hoàng Văn
Thụ Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.9: Nồng độ các chất ô nhiễm trong mẫu phân tích nước mặttrên
suối Xương Rồng Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.10: Nồng độ chất ô nhiễm trong nước sông Cầu- cách điểm tiếp
nhận nước suối Xương Rồng 150m về phía hạ lưuError! Bookmark not defined.
Bảng 4.11: Biến động chất lượng nước mặt trên sông Cầu- cách điểm xả
suối Xương Rồng 150m và nước mặt trên suối Xương RồngError! Bookmark not defined Bảng 4.12: Hiện trạng cống thải của một số hộ trong khu vực nghiên cứuError! Bookmark not defined Bảng 4.13: Công tác truyền thông vệ sinh môi trườngError! Bookmark not defined.
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Sơ đồ hành chính khu trung tâm phía Bắc thành phố
Thái Nguyên Error! Bookmark not defined
Hình 4.2: Biểu đồ cơ cấu kinh tế thành phố Thái Nguyên năm 2013Error! Bookmark not defined.
Hình 4.3: Biểu đồ lượng nước thải sinh hoạt của một số khách sạn, ký túc
xá sinh viên tại khu trung tâm phía Bắc thành phố Thái NguyênError! Bookmark not defined Hình 4.4: Biểu đồ công tác truyền thông vệ sinh môi trườngError! Bookmark not defined.
Hình 4.5 Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải sinh hoạtError! Bookmark not defined
Trang 6E RROR! BOOKMARK NOT DEFINED
E RROR! BOOKMARK NOT DEFINED
E RROR! BOOKMARK NOT DEFINED
E
rror! Bookmark not defined
Er ror! Bookmark not defined
Er ror! Bookmark not defined
2.2.1 Một số khái niệm cơ bản Error! Bookmark not defined 2.2.2 Một số đặc điểm về nước thải, nguồn thảiError! Bookmark not defined
2.2.3 Một số ảnh hưởng của nước thải đến môi trường và sức khỏe con
người Error! Bookmark not defined 2.2.4 Một số phương pháp xử lý nước thảiError! Bookmark not defined
2.3 THỰC TRẠNG NƯỚC THẢI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM Error!
Bookmark not defined
2.3.1 Thực trạng nước thải trên thế giới Error! Bookmark not defined 2.3.2 Thực trạng nước thải ở Việt Nam Error! Bookmark not defined
2.3.3 Một số vấn đề liên quan tới nước thải tỉnh Thái Nguyên và khu trung
tâm phía Bắc thành phố Thái NguyênError! Bookmark not defined.Phần 3
Trang 7ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined 3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành Error! Bookmark not defined
3.2 NÔI DUNG NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp Error! Bookmark not defined 3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấpError! Bookmark not defined
3.3.3 Phương pháp lấy mẫu nước, bảo quản và phân tích Error! Bookmark not defined
3.3.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá số liệuError! Bookmark not defined
3.3.5 Phương pháp chuyên gia Error! Bookmark not defined 3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu Error! Bookmark not defined.
Trang 83.3.7 Phương pháp đánh giá nhanh Error! Bookmark not defined
3.3.8 Phương pháp khảo sát thực địa Error! Bookmark not defined
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Error! Bookmark not defined
4.1.1 Điều kiện tự nhiên Error! Bookmark not defined
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội Error! Bookmark not defined
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn
thành phố Thái Nguyên Error! Bookmark not defined
4.2 THỰC TRẠNG NƯỚC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN KHU TRUNG TÂM PHÍA
BẮC THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN Error! Bookmark not defined
4.2.1 Nguồn phát sinh nước thải 44
4.2.2 Đánh giá chất lượng nước thải tại khu trung tâm phía Bắc thành phố
Thái Nguyên Error! Bookmark not defined.
4.2.3 Ảnh hưởng của nước thải tới chất lượng nước mặt tại khu trung tâm phía Bắc thành phố Thái Nguyên……… 51
4.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NƯỚC THẢI KHU TRUNG TÂM PHÍA BẮC
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN Error! Bookmark not defined
4.3.1 Thực trạng thoát nước Error! Bookmark not defined
4.3.2 Thực trạng xử lý nước thải Error! Bookmark not defined
4.3.3 Thực trạng quản lý nước thải Error! Bookmark not defined
4.3.4 Công tác truyền thông môi trường Error! Bookmark not defined
4.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC THẢI TỚI
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT KHU TRUNG TÂM PHÍA BẮC THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN Error! Bookmark not defined
4.4.1 Giải pháp đối với công tác thoát nướcError! Bookmark not
defined
4.4.2 Giải pháp kỹ thuật 59
4.4.3 Giải pháp quản lý nước thải Error! Bookmark not defined
4.4.4 Giải pháp nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng Error!
Bookmark not defined
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
5.1 KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
5.2 KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined
Trang 9Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong đời sống sinh hoạt con người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau Mặc dù đã có nhiều các nhà khoa học kỹ thuật đã tiến rất xa trên con đường tìm kiếm nguồn năng lượng mới, song chúng chưa thể thay thế cho nhiên liệu hoá thạch và có khả năng cạn kiệt bất cứ lúc nào như than đá, quặng sắt dầu mỏ Quá trình khai thác các nhiên liệu hoá thạch có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đặc biệt là khai thác sắt Chính vì vậy, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản là một trong những nhân tố để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia trên thế giới Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng khoáng sản, than đá vào loại lớn và đa dạng trên thế giới Đồng thời, việc khai thác khoáng sản đã và đang để lại những hệ lụy về môi trường
Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc nước ta, có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào và là tiền đề quan trọng để phát triển nền kinh tế của tỉnh trong nhiều năm tới Lãnh thổ Cao Bằng có lịch sử phát triển địa chất
từ rất sớm, từ Cambri cho đến ngày nay Các khoáng sản quan trọng của Cao Bằng: mangan, sắt, thiếc, vonfram, vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp (fluorit…), bauxit, chì - kẽm, uran, antimon Vấn đề hiện nay là thăm
dò, khai thác, chế biến và sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản mà vẫn bảo đảm phát triển bền vững Hoạt động khai thác khoáng sản này, đặc biệt là khai thác quặng , đã đem lại lợi ích về mặt kinh tế tạo công ăn việc làm cho nguời dân địa phuơng, góp phần thúc đẩy nền kinh
tế thị trường phát triển Tuy nhiên hoạt động khoáng sản tại Mỏ Sắt Nguờm Tráng, Cao Bằng đã và đang ảnh huởng đến môi truờng nước mặt xung quanh Đó là tác động môi truờng mà chúng ta khó kiểm soát
Chính vì thế đề tài “ Đánh giá ảnh huởng của khai thác khoáng sản đến môi truờng nuớc mặt tại Mỏ Sắt, xã Dân Chủ, Huyện Hòa An, tỉnh
Cao Bằng ” được thực hiện
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá được tình hình khai thác quặng sắt tại Ngườm Tráng, xã Dân Chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng trong những năm vừa qua
Trang 10- Đánh giá được các ảnh hưởng của hoạt động khai thác quặng tới môi trường nước mặt
- Đề xuất giải pháp phòng ngừa, khắc phục các tác động tiêu cực của hoạt động khai thác mỏ sắt đến môi trường nước mặt trên địa bàn xã Dân Chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
1.2.2 Yêu cầu
- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn thực trạng khai thác quặng tại mỏ sắt Nguờm Tráng và ảnh hưởng của nó tới môi trường nước khu vực phát tán ô nhiễm
- Các mẫu nước phải được lấy trong khu vực chịu tác động của hoạt động khai thác quặng tại địa bàn nghiên cứu
- Các biện pháp được đề xuất phải mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế
- Nâng cao kiến thức thực tế
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường
- Bổ sung tư liệu cho hoc tập
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về tài nguyên nước:
2.1.1 Tài nguyên nước và tầm quan trọng của tài nguyên nước
2.1.1.1 Khái niệm
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể
sử dụng vào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt 97% nước trên trái đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũi băng ở các cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy việc cung cấp nước ngọt
và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây Trong suốt thế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đất ngập nước trên thế giới đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm nhanh hơn các
hệ sinh thái biển và đất liền
2.1.1.2.Các nguồn nước ngọt bao gồm
2.1.1.2.1 Nước mặt
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất
đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất
Nước mặt tự nhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ các nguồn nước mặt khác bởi các kênh hoặc đường ống dẫn nước, cũng có thể bởi cấp nhân tạo từ các nguồn khác, tuy nhiên số lượng không đáng kể Con người có thể làm cho nguồn nước cạn kiệt (với nghĩa không thể sử dụng) bởi
ô nhiễm Brasil được đánh giá là quốc gia có nguồn cung cấp nước ngọt lớn nhất thế giới, sau đó là Nga và Canada
Trang 12Nước ngầm: Nước ngầm hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi
Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống như nước mặt như: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra và chứa Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm so với nước mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi so sánh về lượng nước đầu vào Sự khác biệt này làm cho con người sử dụng nó một cách vô tội vạ trong một thời gian dài mà không cần dự trữ Đó là quan niệm sai lầm, khi mà nguồn nước khai thác vượt quá lượng bổ cấp sẽ là cạn kiệt tầng chứa nước và không thể phục hồi Nguồn cung cấp nước cho nước ngầm là nước mặt thấm vào tầng chứa Các nguồn thoát tự nhiên như suối và thấm vào các đại dương
Nguồn nước ngầm có khả năng bị nhiễm mặn cách tự nhiên hoặc do tác động của con người khi khai thác quá mức các tầng chứa nước gần biên mặn/ngọt Ở các vùng ven biển, con người sử dụng nguồn nước ngầm có thể làm co nước thấm vào đại dương từ nước dự trữ gây ra hiện tượng muối hóa đất Con người cũng có thể làm cạn kiệt nguồn nước bởi các hoạt động làm ô nhiễm nó Con người có thể bổ cấp cho nguồn nước này bằng cách xây dựng các bể chứa hoặc bổ cấp nhân tạo
2.1.1.2.3 Tầm quan trọng của tài nguyên nước mặt
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp
Trang 13Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người Ðể sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn nước
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước
Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), còn lại trong khí quyển và thạch quyển 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ Lượng nước trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước trên trái đất Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km3/năm Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp)
2.1.1.2.4 Vai trò của tài nguyên nước mặt
*Đối với sản xuất nông nghiệp
Việc sử dụng quan trọng nhất của nước trong nông nghiệp là dành cho thủy lợi, và là một thành phần quan trọng để sản xuất đủ lương thực Thủy lợi chiếm đến 90% ở các nước đang phát triển và đáng kể tỷ lệ ở các nước kinh tế phát triển hơn (Hoa Kỳ, 30% sử dụng nước ngọt để tưới tiêu) Nó mất khoảng 3.000 lít nước, chuyển đổi từ chất lỏng hơi, để sản xuất đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu chế độ ăn uống hàng ngày của một người Đây là một số lượng đáng kể, khi so sánh cần thiết để uống, mà là giữa hai và năm lít Sản xuất lương thực cho 7 tỉ người sống trong hành tinh ngày hôm nay đòi hỏi các nước sẽ phải đào một kênh sâu mười mét, rộng 100 mét và dài 7,1 triệu km – đây sẽ là 1 con kênh dài gấp 180 lần vòng tròn trái đất
Năm mươi năm trước đây, nhận thức chung rằng nước là một nguồn tài nguyên vô hạn Mọi người không phải là giàu có như ngày hôm nay, tiêu thụ
ít calo hơn và ăn ít thịt, ít nước hơn là cần thiết để sản xuất thực phẩm của họ
Họ yêu cầu một phần ba khối lượng nước chúng ta hiện nay lấy từ các con sông Ngày nay, sự cạnh tranh cho số tiền cố định của tài nguyên nước là khốc liệt hơn, dẫn đến khái niệm nước cao nhất Điều này là do hiện nay có
Trang 14hơn bảy tỷ người trên hành tinh, nhu cầu tiêu thụ nước, thịt và rau quả tăng cao, và đang gia tăng cạnh tranh đối với nước từ các cây trồng công nghiệp,
đô thị hóa và nhiên liệu sinh học Trong tương lai, nước nhiều hơn sẽ được cần thiết để sản xuất thực phẩm bởi vì dân số của trái đất được dự báo để tăng lên 9 tỷ vào năm 2050
*Như một tiêu chuẩn khoa học
Ngày 7 tháng 4 năm 1795 gram đã được quy định tại Pháp bằng "trọng lượng tuyệt đối của một khối lượng nước tinh khiết bằng một khối lập phương của 100 mét, và nhiệt độ của băng tan Trên thực tế, một tiêu chuẩn tham khảo kim loại đã được yêu cầu, 1.000 lần lớn hơn, đó là kg Mặc dù thực tế rằng định nghĩa định của nước gram quy định tại 0°C - nhiệt độ cao tái sản xuất - các nhà khoa học đã chọn để xác định lại tiêu chuẩn và thực hiện các phép đo của họ ở nhiệt độ của mật độ nước cao nhất, được đo tại thời điểm là 4°C (39°F)
Nước thiên nhiên bao gồm chủ yếu là của các đồng vị hydro-1 và
oxy-16, nhưng đó cũng là số lượng nhỏ các chất đồng vị nặng hơn chẳng hạn như hydro-2 (deuterium ) Số lượng của các oxit deuterium hoặc nước nặng là rất nhỏ, nhưng nó vẫn ảnh hưởng đến tính chất của nước Nước từ các con sông
và hồ có xu hướng chứa ít deuterium hơn nước biển
* Giao thông vận tải
Việc sử dụng nước để vận chuyển vật liệu thông qua các con sông và kênh rạch cũng như các tuyến đường hàng hải quốc tế là một phần quan trọng của nền kinh tế thế giới
* Hóa chất sử dụng
Nước được sử dụng rộng rãi trong các phản ứng hóa học như một dung môi hoặc chất phản ứng và ít phổ biến như là một chất tan hoặc chất xúc tác Trong các phản ứng vô cơ, nước là một dung môi phổ biến, giải thể nhiều hợp chất ion Trong các phản ứng hữu cơ, nước thường được sử dụng như là một phản ứng dung môi
* Trao đổi nhiệt
Nước và hơi nước được sử dụng như chất lỏng truyền nhiệt trong hệ thống trao đổi nhiệt đa dạng, do sẵn có của nó và khả năng nhiệt độ cao, cả hai đều là chất làm mát và sưởi ấm Nước lạnh thậm chí có thể là tự nhiên có
sẵn từ một hồ nước hoặc biển Ngưng tụ hơi nước là một chất lỏng nóng đặc
Trang 15biệt hiệu quả bởi vì nhiệt lớn xông hơi Một bất lợi là nước và hơi nước là một chất ăn mòn Trong gần như tất cả điện nhà máy điện, nước là nước làm mát, làm bay hơi và lái hơi tua bin máy phát điện ổ đĩa Tại Mỹ, làm mát nhà máy điện là việc sử dụng lớn nhất nước
* Chữa cháy
Nước có nhiệt độ cao bay hơi và là tương đối trơ, mà làm cho nó một chữa cháy chất lỏng Sự bay hơi của nước mang nhiệt ra khỏi đám cháy Nó là nguy hiểm để sử dụng nước vào đám cháy liên quan đến dầu và các
khỏi hồ buộc phải thông qua các tua-bin quay máy phát điện
Nước áp lực được sử dụng trong phun nước và máy cắt tia nước Ngoài dung môi hữu cơ, bởi vì nhiều loại vật liệu hữu cơ nổi trên mặt nước và nước
có xu hướng lan truyền chất lỏng cháy
Sử dụng nước chữa cháy cũng phải tính đến các nguy hiểm của một vụ
nổ hơi nước, có thể xảy ra khi nước được sử dụng các đám cháy rất nóng trong không gian kín, và của một vụ nổ hydro, khi chất phản ứng với nước, chẳng hạn như một số kim loại hoặc carbon nóng như than đá, than củi, than chì than cốc, phân hủy nước
* Nước công nghiệp
Các ngành công nghiệp nước cung cấp nước uống và các dịch vụ nước thải (bao gồm cả xử lý nước thải ) cho các hộ gia đình và ngành công nghiệp cung cấp thiết bị nước bao gồm nước giếng bể chứa nước mưa thu hoạch, mạng lưới cung cấp nước, lọc nước cơ sở vật chất, bể chứa nước, tháp nước, ống dẫn nước…
* Công nghiệp ứng dụng
Thuỷ điện là một chi phí thấp, không gây ô nhiễm, nguồn năng lượng tái tạo Năng lượng được cung cấp bởi các chuyển động của nước Thông thường một con đập được xây dựng trên một dòng sông, tạo ra một hồ nhân tạo phía sau nó Nước chảy ra ra, súng nước áp suất cao được sử dụng để cắt chính xác Nó hoạt động rất tốt, tương đối an toàn, và không gây hại cho môi trường Nó cũng được sử dụng trong làm mát của máy móc thiết bị để tránh bị nóng quá, hoặc ngăn chặn lưỡi cưa từ quá nóng
* Thực phẩm chế biến
Nước đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực khoa học thực phẩm Điều quan trọng là một nhà khoa học thực phẩm để hiểu được vai trò là nước đóng trong chế biến thực phẩm để đảm bảo sự thành công của sản phẩm của họ
Trang 16Các chất hòa tan như muối và đường có trong nước ảnh hưởng đến tính chất vật lý của nước Điểm sôi và đóng băng của nước bị ảnh hưởng bởi chất hoà tan, cũng như áp suất không khí , đó là lần lượt bị ảnh hưởng bởi độ cao Nước sôi ở nhiệt độ thấp với áp suất không khí thấp hơn xảy ra ở độ cao cao hơn Một thìa đường tan cho mỗi kg nước làm tăng nhiệt độ sôi của nước là 0,51°C, và một thìa muối làm tăng nhiệt độ sôi là 1,02°C; tương tự, tăng số lượng các hạt hòa tan làm giảm điểm đóng băng của nước
2.1.2 Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý, hoá học, sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất
Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa:
"Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã"
Nguồn gốc nước bị ô nhiễm: Nước bị ô nhiễm là do sự phú dưỡng xảy
ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực
2.1.2.1 Ô nhiễm tự nhiên
Là do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng Cây cối, sinh vật chết đi, chúng
bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ, một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau
đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm
Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác, và cuốn theo các loại hoá chất trước đây đã được cất giữ
Trang 17Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt, ) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu
2.1.2.2 Ô nhiễm nhân tạo
a) Từ sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt (domestic wastewater): là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người
Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn và vi trùng Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày
là khác nhau Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao
Nước thải đô thị (municipal wastewater): là loại nước thải tạo thành do
sự gộp chung nước thải sinh hoạt, nước thải vệ sinh và nước thải của các cơ
sở thương mại, công nghiệp nhỏ trong khu đô thị Nước thải đô thị thường được thu gom vào hệ thống cống thải thành phố, đô thị để xử lý chung Thông thường ở các đô thị có hệ thống cống thải, khoảng 70% đến 90% tổng lượng nước sử dụng của đô thị sẽ trở thành nước thải đô thị và chảy vào đường cống Nhìn chung, thành phần cơ bản của nước thải đô thị cũng gần tương tự nước thải sinh hoạt
Ở nhiều vùng, chất thải của con người và nước thải sinh hoạt không được xử lý mà qua trở lại vòng tuần hoàn của nước Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô nhiễm môi trường Nước thải không được xử lý chảy vào sông rạch và ao hồ gây thiếu hụt oxy làm cho nhiều loại động vật và cây
cỏ không thể tồn tại Theo thống kê của Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường Cần Thơ, trung bình mỗi ngày 1 người dân đô thị Cần Thơ thải ra hơn 0,89 kg rác Lượng rác thu gom đổ vào bãi rác chỉ khoảng 60%, số còn lại người dân đổ ra sông, ao hồ, cống rãnh, kênh, rạch gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Trang 18Các bãi rác là nơi chứa đựng sự ô nhiễm rất cao, nếu không được thu dọn, xử lý triệt để thì nước từ các bãi rác theo nước mưa, chảy vào các ao hồ gần khu dân cư, hoặc thấm vào nguồn nước ngầm gây ô nhiễm
b) Từ hoạt động công nghiệp
Nước thải công nghiệp (industrial wastewater): là nước thải từ các cơ
sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải đô thị, nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp
cụ thể Ví dụ: nước thải của các xí nghiệp chế biến thực phẩm thường chứa lượng lớn các chất hữu cơ; nước thải của các xí nghiệp thuộc da ngoài các chất hữu cơ còn có các kim loại nặng, sulfua,
Từ y tế:
Nước thải bệnh viện bao gồm nước thải từ các phòng phẫu thuật, phòng xét nghiệm, phòng thí nghiệm, từ các nhà vệ sinh, khu giặt là, rửa thực phẩm, bát đĩa, từ việc làm vệ sinh phòng cũng có thể từ các hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người nuôi bệnh và cán bộ công nhân viên làm việc trong bệnh viện Nước thải y tế có khả năng lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh, nhất là đối với nước thải được xả ra từ những bệnh viện hay những khoa truyền nhiễm, lây nhiễm
c) Từ hoạt động sản xuất nông, ngư nghiệp
+ Trong sản xuất nông nghiệp: Các hoạt động chăn nuôi gia súc: phân, nước tiểu gia súc, thức ăn thừa không qua xử lý đưa vào môi trường và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác: thuốc trừ sâu, phân bón từ các ruộng lúa, dưa, vườn cây, rau chứa các chất hóa học độc hại có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt
+ Trong sản xuất ngư nghiệp: Nước ta là nước có bờ biển dài và có nhiều điều kiện thuận lợi cho ngành nuôi trồng thủy hải sản, tuy nhiên cũng vì
đó mà việc ô nhiễm nguồn nước do các hồ nuôi trồng thủy sản gây ra không phải là nhỏ Nguyên nhân là do thức ăn, nước trong hồ, ao nuôi lâu ngày bị phân hủy không được xử lý tốt mà xả ra sông suối, biển gây ô nhiễm nguồn nước Các chất thải nuôi trồng thủy sản là nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư sử dụng như hóa chất và thuốc kháng sinh, vôi và các loại khoáng chất Chất thải ao nuôi công nghiệp có thể chứa đến trên 45%
Trang 19Nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác, là nguồn có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trường nước
d) Từ hoạt động khai thác khoáng sản:
Nước ta tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú nhưng Các hoạt động khai thác chế biến khoáng sản ô nhiễm nguồn nước ngày càng cao do những hoạt động lắng bùn rủa quặng không như quy định gây chàn lan thành con suối đỏ làm nước bị đục ngầu ảnh hưởng đến cuộc sống sản xuất và sinh hoạt người dân Diện tích các con sông, suối giảm, kèm theo đó là lượng vi sinh vật trong nước giảm rõ rệt
2.1.3 Cơ sở pháp lý
- Luật Tài nguyên nước năm 1998, được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 5 năm 1998 tại kì họp thứ 3 Quốc hội khoá X, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999
- Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ Quy định việc thi hành Luật tài nguyên nước
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ Quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước
- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ Quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước
- Nghị định số 112/2008/NĐ/CP ngày 20 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ Quy định về việc quản lí, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên nước và môi trường các hồ chứa, thuỷ điện, thuỷ lợi
- Nghị định số 120/2008/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ Quy định về Quản lý lưu vực sông
- Nghị định số 102/2008/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ Quy định về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường
- Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tài Nguyên và Môi trường Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-
Trang 20CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ Quy định việc cấp phép thăm
dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước
- Thông tư số 05/2005/TT- BTNMT ngày 22 tháng 7 năm 2005 về hướng dẫn thi hành Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ Quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước
- Thông tư số 02/2009/TT- BTNMT ngày 19 tháng 3 năm 2009 của Bộ trưởng
Bộ Tài Nguyên và Môi trường Quy định đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải vào nguồn nước
- Quyết định số 17/2006/QĐ- BTNMT ngày 12 tháng 10 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Ban hành Quy định về việc cấp phép hành nghề khoan nước dưới đất
- Quyết định số 13/2007/QĐ- BTNMT ngày 04 tháng 9 năm 2007 của
Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Ban hành Quy định về việc điều tra, đánh giá nước dưới đất
- Quyết định số 14/2007/QĐ- BTNMT ngày 04 tháng 9 năm 2007 của
Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Ban hành Quy định về việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng
- Quyết định số 15/2008/QĐ- BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của
Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Ban hành Quy định về việc bảo vệ tài nguyên nước dưới đất
- Chỉ thị số 02/2004/CT- BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2004 của Bộ trường Bộ Tài Nguyên và Môi trường về việc tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất
- Thông tư số 118/2008/TTLT- BTC- BTNMT ngày 05 tháng 12 năm
2008 về hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động quản lý tài nguyên nước
- Thông tư số 15/2009/TT- BTNMT ngày 05 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Quy định về Định mức- Kinh tế kỹ thuật lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch tài nguyên nước
- Thông tư số 20/2009/TT- BTNMT ngày 05 tháng 11 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Quy định về Định mức- Kinh tế kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước
Trang 21- Thông tư số 21/2009/TT- BTNMT ngày 05 tháng 11 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Quy định về Định mức- Kinh tế kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước
- Luật khoáng sản được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày
20/3//1996 và chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành ngày 03/4/1996 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khoáng sản, ngày 14/6/2005
- Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khoáng sản
- Quyết định số 769/QĐ-BTNMT ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Bộ Tài
nguyên & Môi trường về việc tổng kiểm tra tình hình thực hiện công tác quản
lý nhà nước về khoáng sản và hoạt động khoáng sản
QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
2.1.4 Tình hình khai thác khoáng sản ở Việt Nam và Tỉnh Cao Bằng
2.1.4.1 Tình hình khai thác khoáng sản ở Việt Nam
Khoáng sản kim loại luôn được đánh giá là nguồn nguyên quý hiếm và
có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế
Có thể nói ngành khai thác và chế biến khoáng sản trong thập kỉ qua chưa phát triển đúng vai trò, tiềm năng, vị trí trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nuớc
Qua thăm dò khai thác những năm qua, Việt Nam đã phát hiện nhiều
mỏ quặng kim loại có giá trị và phân bố rải rác ở nhiều nơi Mỏ sắt đuợc phát hiện và khoanh định trên 200 vị trí, tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc
Việt Nam có nhiều loại như sắt, mangan, crôm, titan, đồng, chì, kẽm, cobalt, nickel, nhôm, thiếc, vonfram, bismut, molybden, lithi, đất hiếm, vàng, bạc, platin, tantal-niobi v.v Trong số khoáng sản kim loại kể trên có các loại
tài nguyên trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới như bauxit (quặng nhôm), đất hiếm,
titan, wolfram, crôm v.v
Bô xít có 2 loại chủ yếu là diaspor và gibsit
Diaspor có nguồn gốc trầm tích phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng
Sơn, Hải Dương và Nghệ An với tài nguyên trữ lượng không lớn chỉ đạt gần
200 triệu tấn
Gibsit có nguồn gốc phong hoá từ đá bazan, phân bố chủ yếu ở Tây
Nguyên với trữ lượng đạt gần 2,1 tỷ tấn (Sở Địa chất Mỹ năm 2010 đã công
Trang 22bố sách hàng hoá khoáng sản thế giới và xếp bauxit Việt nam đứng hàng thứ 3 thế giới sau Guinea 7,4 tỷ tấn và Australia 6,2 tỷ tấn) Hiện bauxit đang được khai thác thử nghiệm để sản xuất alumina ở Tân Rai, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đăk Nông
Đất hiếm ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên trữ lượng đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và Mỹ (13 triệu tấn) Quặng đất hiếm ở Việt Nam chưa được khai thác sử dụng
Quặng titan (Ilmenit) ở Việt nam có 3 loại: quặng gốc trong đá xâm nhập mafic, quặng trong vỏ phong hoá và quặng sa khoáng ven biển
Quặng titan gốc trong đá xâm nhập mafic ở Cây Châm, Phú Lương Thái Nguyên có trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đạt 15 triệu tấn đang được khai thác
Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá và sa khoáng ở các huyện Phú Lương và Đại Từ Thái Nguyên với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn
Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu Đặc biệt ở một số diện tích ven biển tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu có tiềm năng lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn
Ngoài khoáng vật ilmenit, còn có các khoáng vật có giá trị kinh tế kỹ thuật là zircon và monazit Một số mỏ ilmenit ở Hà Tĩnh, Bình Định, Bình Thuận v.v đã được khai thác và xuất khẩu
Quặng Wolfram tập trung chủ yếu ở tụ khoáng Đá Liền, Đại Từ, Thái
Nguyên Công ty Tiberon Minerals đã tiến hành thăm dò xác định tài nguyên
và trữ lượng đạt 110,2 triệu tấn quặng chứa 227.500 tấn WO3, 8,5 triệu tấn CàF2, 191.800 tấn Cu, 20,8 tấn Au và 107.000 tấn Bi Đây là vùng quặng rất đáng được quan tâm chú ý vì có tài nguyên dự báo đáng kể
Quặng crôm sa khoáng có giá trị kinh tế kỹ thuật được tìm thấy ở Cổ Định, Nông Cống Thanh Hoá với trữ lượng 22 triệu tấn đang được khai thác
Đi kèm crôm còn có trữ lượng đáng kể của Nickel và Cobal cần được nghiên cứu sử dụng
Trong 13 năm, cấp Trung ương đã cấp 353 giấy phép khai thác mỏ, cấp địa
phương cấp tới 3822 giấy phép khai thác mỏ Các tỉnh cấp giấy phép khai
thác mỏ nhiều nhất là Bình Thuận (200), Vĩnh Long (155), Yên Bái (152), Cao Bằng (142), Lâm Đồng (136), Nghệ An (126), Lai Châu (124), Lao cai
Trang 23(121), Thanh Hóa 101)…Chưa kể nạn quặng tặc hoành hành ngang nhiên ở các tỉnh miền núi như các báo đã đăng tải
Nhiều loại khoáng sản như đồng, chì kẽm, antimon, than v.v xuất thô tiểu ngạch sang Trung Quốc,làm thất thoát đáng kể và cạn kiệt tài nguyên khoáng sản của đất nước
2.1.4.2 Tình hình khoáng sản tại cao bằng
Trên lãnh thổ tỉnh Cao Bằng hiện đăng ký được 142 mỏ và điểm quặng, thuộc 22 loại khoáng sản (tài liệu đến năm 2008) Bảng 1 nêu trữ lượng một
số khoáng sản chính của tỉnh Cao Bằng
Trang 24Bảng 2.1 Tổng hợp trữ lượng một số khoáng sản chính của Cao
10.000 4.928,9
III Kim loại cơ bản
Tấn
103,7
143.302
81.168 13.547,9 40,73
IV Kim loại quý hiếm
Trang 25a Khoáng sản kim loại
* Sắt (Fe)
Hiện tại đã phát hiện được 15 mỏ và điểm quặng sắt: Ngườm Cháng, Bản Lũng, Nà Rụa, Bản Chang (+Bó Nỉnh), Nà Luộc, Nguyên Bình, Bó Lếch (+Hào Lịch), Lũng Nhùng, Tả Phình, Cao Lù, Lũng Luông, Khuổi Tòng, Làng Chang, Bản Hỏ và Khuổi Lếch Các mỏ và điểm quặng sắt nêu trên chủ yếu có nguồn gốc skarn hoặc hỗn hợp skarn-nhiệt dịch (thường tạo thành ở tiếp xúc của các đá xâm nhập thành phần phức tạp phức hệ Cao Bằng với các
đá carbonat và carbonat-lục nguyên)
Thân quặng ở các mỏ thường có dạng thấu kính, dài từ 100-500m, rộng 20-70m, dày 1-25m Mỗi mỏ có từ 1 đến 3 thân quặng gốc chính, ngoài ra còn nhiều thân quặng đeluvi, đi kèm hoặc độc lập Quặng có cấu tạo khối đặc sít, thành phần chủ yếu là magnetit, ít hơn là hematit, limonit, pyrit, pyrotin, và chancopyrit Các loại quặng sắt ở Cao Bằng có hàm lượng sắt đạt từ 55% đến 70% Trong quặng sắt, hàm lượng: Mn= 0,02-0,03%; TiO2=1%; S= 0,006-0,29%; P= 0,008-0,23% và SiO2= 1-6%, Zn= 0,01-0,025% Tổng trữ lượng quặng sắt magnetit - skarnơ tính được vào khoảng 56,476 triệu tấn, trong đó
có cấp A+B: 16,39 triệu; C1+C2:37,98 triệu và TNDB: 2,1 triệu tấn
* Mangan (Mn)
Mangan là khoáng sản trọng tâm của Tỉnh, đã phát hiện được 9 mỏ quy
mô nhỏ và 8 điểm quặng, phân bố rải rác ở các huyện Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Quảng Hoà và Hạ Lang: Nộc Cu, Hát Pan, Nà Num, Bản Mặc; Lũng Luông, Tốc Tát; Lũng Thàn (Roỏng Tháy), Bản Khuông, Khưa Khoang và các điểm quặng: Tòng Ngà, Nà Khiêu, Pò Na, Hạ Lang, Đồng Sẳng, Bản Nhổn, Lũng Sườn, Tài Soỏng Trong số này nhiều mỏ đã được tìm kiếm tỉ mỷ, đã và đang được khai thác Mỗi mỏ mangan thường có 1-2 thân quặng dạng vỉa, riêng mỏ Tốc Tát có 6 vỉa Các vỉa quặng có chiều dài từ 300-500m đến 3000-4000m, dày đạt 0,2-0,3m đến 1,4m (trung bình 0,4-0,6m)
Quặng trong toàn vùng có thành phần chủ yếu là pyrolusit, psilomelan,
ít rhodocrosit, braunit và manganit Hàm lượng mangan trong quặng thường chỉ đạt 13-17%, riêng Lũng Luông, Roỏng Tháy, Tốc Tát có hàm lượng cao hơn: 23-40% Hàm lượng sắt trong quặng thường từ 1-5%, ít 10-15% (Tốc
Trang 26Tát) Hầu hết các quặng lăn đeluvi đã được khai thác, nhiều chỗ bắt đầu khai thác cả quặng gốc Các mỏ mangan trong vùng có trữ lượng dao động trong khoảng dưới 1 triệu đến 2 triệu tấn Tổng trữ lượng quặng mangan hiện biết khoảng: 8.841.380 tấn, trong đó cấp A+B: 402.470 tấn, C1+C2=2.799.404 tấn
và TNDB: 5.639.506 tấn
* Đồng và đồng-niken (Cu, Cu-Ni)
Hiện nay đã phát hiện được 4 điểm quặng: Đông Quan, Bản Củn, Đồng Chang và Bó Thoòng Trừ điểm quặng đồng Đông Quan nằm trong các đá trầm tích (hệ tầng Thần Sa), còn 3 điểm đồng-niken phân bố liên quan chặt chẽ với xâm nhập siêu bazơ, bazơ phức hệ Cao Bằng Quặng đồng-niken xâm tán hay ở dạng mạch nhỏ (1-2mm), ổ trong đá gabro, peridotit, khoáng vật quặng gặp chủ yếu là chancopyrit, pentlandit, pyrotin, magnetit Hàm lượng quặng (điểm Bản Củn) (%): Ni: 0,2-1,63; Cu: 0,06-0,8; Co: vết - 0,11; S: 0,3-6,91 Ngoài ra còn có biểu hiện một vài kim loại nhóm platin Loại hình quặng có triển vọng song chưa được điều tra đánh giá chi tiết
* Chì -kẽm (Pb-Zn)
Chì-kẽm là loại hình khoáng sản khá phổ biến ở Cao Bằng, song chỉ tập trung ở khu vực Pia Oắc, Nguyên Bình và Nam Bảo Lạc với quy mô chỉ là những điểm quặng: Bản Lìn, Lũng Chao, Lũng Liềm, Bản Đổng,Tài Soỏng, Phia Đén, Tống Tinh, Bản Chiếu, Lũng Moỏng, Nà Mùng, Vũ Nông Quặng tạo thành dạng mạch, đới mạch, tập trung thành các thân quặng dày 0,3 đến 2-3m, kéo dài dưới 100m đến 450-500m Thành phần chủ yếu của quặng là galenit, sphalerit, pyrit, rất ít chancopyrit và casiterit Hàm lượng quặng ở các điểm quặng rất khác nhau, chỉ thay đổi từ 0,01 đến 12, 03% đối với chì và từ 0,02 đến 10,7% đối với kẽm Trong quặng còn có cả Au: 2,8g/T (Phia Đén)
và một số kim loại khác như Cu, Ag, Sn, As, Bi và W
* Antimon (Sb)
Tỉnh có 9 điểm quặng antimon: Nam Viên, Nà Đông, Dược Lang, Khao Hai Linh Quang; Lũng Cốc, Nà Ngần, Lũng Nhùng, Tấn Hẩu Đa số các điểm quặng antimon đã bị khai thác từ trước và cũng đã được điều tra lại Ở phía Tây Nguyên Bình, antimonit đi kèm với thạch anh tinh thể, tạo thành các mạch dày 0,2-2m Antimon tập trung dạng ổ Hàm lượng antimon ở Dược Lang đạt đến 29,74%, quặng chứa vàng từ vết đến 0,95g/T Tại khu Khao Hai
Trang 27(Thạch An), khoáng hóa antimon phân bố dọc theo đới dập vỡ cà nát trong trầm tích lục nguyên xen carbonat tuổi Devon Ở cả ba điểm quặng thuộc khu vực này mới chỉ gặp tảng lăn và tàn tích của việc khai thác cũ Kết quả tìm kiếm chi tiết ở Khao Hai của LĐ ĐCĐB (1998) chưa xác định được triển vọng rõ rệt Ở những điểm khác, chưa có kết quả thăm dò nên không rõ trữ lượng và triển vọng quặng Song theo tài liệu cũ để lại, riêng ở mỏ Nam Viên, người Pháp đã khai thác khoảng 30.000 tấn quặng
* Thiếc và vonfram (Sn và W)
Thiếc và vonfram biểu hiện khá phong phú và tập trung chủ yếu ở vùng Pia Oắc - Nguyên Bình, phổ biến loại casiterit-vonframit và casiterit Thuộc khu vực Pia Oắc đã biết 9 mỏ và điểm quặng thiếc-vonfram (gốc và sa khoáng) Trong đó có 3 mỏ trước đây được xếp vào quy mô lớn: Tài Soỏng, Saint Alexandre và sa khoáng Tĩnh Túc Theo đánh giá trữ lượng còn lại thì
mỏ Nậm Kép hiện nay chỉ thuộc loại trung bình: Nậm Kép và 5 mỏ có quy
mô nhỏ: Lũng Mười, Bình Đường, Thái Lạc, Phương Xuân, Nguyên Bình và một điểm quặng: Nà Ngạn
Quặng thiếc và vonfram gốc thuộc kiểu mạch, hệ mạch Các mạch có bề dày từ 0,1 - 0,8m, cá biệt đến 1,5m, dài 100 đến 400-500m Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu gồm: vonframit, casiterit, ít arsenopyrit, molipdenit, pyrit, galenit, rất hiếm bismutin, vàng Khoáng vật mạch chủ yếu là thạch anh Hàm lượng thiếc trong quặng dao động từ 0,01 đến 35%, hàm lượng vonfram
từ 0,02 đến 2,43%
Các mỏ sa khoáng thiếc, volfram và vàng dọc thung lũng sông Nguyên Bình mà điển hình là các mỏ Tĩnh Túc và Nậm Kép Ngoài ra, còn có hàng loạt các sa khoáng eluvi-đeluvi, có quy mô nhỏ được ghép vào các điểm quặng gốc Các thung lũng chứa sa khoáng phát triển dọc tiếp xúc kiến tạo giữa một bên là đá vôi tuổi Permi và một bên là các trầm tích lục nguyên tuổi Triat; gồm nhiều thung lũng nhỏ, kéo dài 1-2,5km, rộng 200-600m Hàm lượng casiterit và vonframit thay đổi từ trên dưới 100g/m3 đến 2000-3000g/m3 Ngoài casiterit, vonframit trong sa khoáng còn có ilmenit, vàng Ở
mỏ Tĩnh Túc trước đây, ở khu Tây cứ khai thác 100 tấn casiterit thì thu được 1kg vàng Mỏ Tĩnh Túc được khai thác từ thời Pháp, hiện vẫn đang tiếp tục khai thác, song tài nguyên đang cạn dần Tại mỏ Tĩnh Túc đã khai thác được
Trang 28gần 100 nghìn tấn thiếc từ khi được phát hiện Cho đến nay, đây vẫn là 1 trong 4 vùng thiếc quan trọng nhất của Việt Nam Các mỏ Nậm Kép, Nguyên Bình, Thái Lạc đã được tìm kiếm hoặc thăm dò Tổng trữ lượng của thiếc-vonfram sa khoáng còn khoảng 6.611 tấn
* Berili (Be)
Điểm quặng berili Pia Oắc phân bố ở phía Tây Bắc khối xâm nhập Pia Oắc Tại đây, quặng berili phân bố trong trầm tích bở rời (đeluvi, proluvi), dọc theo đới phá huỷ kiến tạo mạnh Trong tập hợp vụn gồm dăm đá, sét, kaolin, phenspat, mica, đã phát hiện được 5 thân quặng dạng thấu kính phức tạp, dài 100-500m, rộng vài chục mét đến 200m, dày 1-5m đến 25m Cùng với berili trong quặng có kim loại phóng xạ urani Trữ lượng TNDB: 1520-
2050 tấn Be kim loại
* Bauxit (Nhôm)
Ở Cao Bằng, bauxit là một trong những khoáng sản có triển vọng và tiềm năng lớn Đến nay đã thống kê được 29 mỏ bauxit có quy mô nhỏ và 9 điểm quặng Chúng tập trung phân bố ở Hà Quảng, Thông Nông, phía Bắc huyện Nguyên Bình và trong dải kéo dài từ Quảng Uyên đến Phục Hoà Các
mỏ và một số điểm quặng đã được tìm kiếm hoặc thăm dò Bauxit nguồn gốc trầm tích tồn tại ở phần thấp nhất của hệ tầng Đồng Đăng phủ lên mặt bào mòn của đá vôi (hệ tầng Bắc Sơn) Các thân quặng gốc dạng vỉa, thường bị cắt thành nhiều đoạn do bóc mòn xâm thực, kéo dài từ vài trăm mét đến 3000m, dày trung bình 4-6m, cá biệt đến 25-30m Có nơi phần mái do bị bóc mòn xâm thực nên ở mỗi mỏ và điểm quặng thường có các tích tụ quặng lăn eluvi -đeluvi
Các diện phân bố quặng lăn kéo dài từ vài trăm mét đến 4-5km, rộng dưới 100m đến hơn 1000m, dày vài trăm mét đến 20m Hàm suất quặng dao động trong khoảng 0,24÷1,78 tấn/m3, hàm suất thấp nhất: 0,18÷0,69 ở Táp Ná và cao nhất 1,2÷1,5 ở Bó Chiểng Quặng có thành phần chủ yếu là diaspor, bơmit, ít gipxit Hàm lượng Al2O3 trong quặng thay đổi trong giới hạn rộng: từ 34 đến 65,96%; SiO2: 2-35%; Fe2O3: 5,8-36,16%; TiO2: 0,5-4,8% Mã hiệu trung bình của quặng từ BV đến B6 Các mỏ bauxit đều có quy mô nhỏ, trữ lượng thường đạt từ một vài triệu tấn đến trên 10 triệu tấn.Trữ lượng quặng bauxit cấp (B+C1+C2): 81,2 triệu tấn; còn TNDB: 164,5 triệu tấn
Trang 29* Vàng (Au)
Đã phát hiện các mỏ vàng quy mô nhỏ là Nam Quang, Bản Nùng và 10 điểm quặng gồm cả quặng gốc lẫn sa khoáng: Nậm Nàng, Minh Khai, Nam Quang, Nậm Giang, Lũng Phải, Khao Man, Bảo Lạc, Khuôn Rày, Nà Rầy, Nà Ngần, Bản Giới, Khuổi Vàng, và Tà Sa Chúng tập trung ở khu vực huyện Thạch An, Nguyên Bình và Bảo Lạc Các mỏ và điểm quặng vàng gốc đều ở dạng mạch, đới mạch thạch anh có chiều dày thay đổi từ 10cm đến hàng chục mét Thành phần chủ yếu của các mạch là thạch anh Khoáng vật quặng gồm: pyrit, arsenopyrit, chalcopyrit, vàng và ít hơn là pyrotin, và các sulfur chì, kẽm Hàm lượng vàng trong các mạch thay đổi trong giới hạn rộng từ 0,5-17g/T Các điểm quặng vàng gốc đều có nguồn gốc nhiệt dịch Ngoài mỏ vàng gốc Nam Quang có kết quả tìm kiếm sơ bộ với trữ lượng cấp P2: 3.200kg Au và Nguyên Bình: khoảng 1.500 kg, rất nhiều điểm còn lại chưa được tiến hành tìm kiếm thăm dò
Vàng sa khoáng bao gồm các kiểu: Eluvi, đeluvi-proluvi, sa khoáng hỗn hợp proluvi-aluvi, sa khoáng karst và sa khoáng aluvi Kiểu sa khoáng aluvi có triển vọng nhất, song ngoại trừ sa khoáng Minh Khai-Quang Trọng (Thạch An) và Khuôn Rầy (Nguyên Bình) đã được tìm kiếm sơ bộ, số còn lại chưa được nghiên cứu đánh giá
b Khoáng chất công nghiệp
* Pyrit (S)
Hiện mới phát hiện được 1 điểm quặng pyrit ở Làng Quang, huyện Nguyên Bình Quặng ở dạng mạch, trong số đó, có một mạch giàu pyrit dài hơn 300m, dày 1,2m
* Barit (Ba)
Chỉ ghi nhận được 2 điểm barit: Pò Tấu, Nà Num (huyện Trùng Khánh)
Ở Pò Tấu, mạch barit dài 45m, đã quan sát được 20m, xuyên cát kết hệ tầng Nà Quản (D1-2nq) Hàm lượng barit trong mạch đạt đến 98% Điểm Nà Num, 300m
chỉ gặp các tảng lăn barit ở lưng chừng núi, cách Nà Num 300m về phía nam
Cả 2 điểm quặng đã được khảo sát, điều tra, đều có triển vọng, cần được tiếp tục tìm kiếm
Trang 30* Fluorit (F)
Hiện nay đã phát hiện được 2 mỏ fluorit có quy mô nhỏ: Cao Sơn và Phia Đén đều thuộc huyện Nguyên Bình Tại mỏ Cao Sơn đã biết một thân quặng gốc và hai thân quặng lăn Thân quặng gốc dạng thấu kính phân bố ở tiếp xúc của granit Pia Oắc với đá vôi, dài 100-130m, dày 20-50cm, Hai thân quặng lăn dài 55m rộng 10-20m, dày 5-10m (cá biệt 20m) Hàm lượng fluorit trong quặng thay đổi từ 2 đến 72%, trung bình 66,77% (tương ứng với 32,2%F) và beril 1-3% Ngoài fluorit còn có bertrandit, topaz, turmalin Mỏ fluorit Cao Sơn có trữ lượng cấp C1+C2: 5541 tấn fluorit, còn ở mỏ Phia Đén
có trữ lượng cấp C1=17.000T và TNDB (P1)=33.620T
* Phosphorit (P)
Khoáng sản phosphorit chỉ phát hiện được ở huyện Hoà An với 3 điểm quy mô nhỏ: Nam Tuấn, Lũng Chung, Si Liêng và 2 điểm quặng Lam Sơn, Lũng Nọi Phosphorit được tạo thành trong các hang đá vôi, đa dạng, đa kích thước, thuộc hệ tầng Đồng Đăng và Bắc Sơn Các lớp phosphorit tích đọng ở đáy hang dày từ 0,5 đến hơn 10m, có hàm lượng P2O5 khá ổn định, từ khoảng dưới 10 đến hơn 20%, riêng ở Lam Sơn trong lớp quặng có chỗ đạt tới hàm lượng rất cao P2O5:25,8-79,15% Phosphorit có thể nghiền làm phân bón trực tiếp Tổng trữ lượng phosphorit ở các mỏ và điểm quặng đạt 102.016,6 tấn
* Thạch anh tinh thể
Thạch anh tinh thể phân bố ở nhiều nơi, đến nay đã đăng ký được 7 điểm quặng: Nà Đông, Dược Lang, Lũng Luông, Khuổi Tòng, Thâu Rin, Phia Đén và Bắc Phia Đén Ngoài thạch anh tinh thể, trong các mạch quặng vùng Dược Lang, Nà Đông, Khuổi Tòng còn có antimonit, có thể có vàng Chưa có điểm quặng thạch anh tinh thể nào được tìm kiếm đánh giá Do vậy, về khả năng sử dụng chúng trong các lĩnh vực cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ cũng như việc đánh giá triển vọng công nghiệp của chúng
c Khoáng sản vật liệu xây dựng
* Đá vôi
Đá vôi sử dụng làm vật liệu xây dựng ở Cao Bằng có trữ lượng rất lớn, song dùng để phục vụ được cho sản xuất xi măng và nung vôi chỉ mới đánh giá sơ bộ được 8 điểm: Nguyên Bình, Lũng Niệm, Chôn Rù, Lũng Phải, Bó
Mụ, Quảng Uyên, Lũng Coóc và Bản Lũng (nằm trong các đá vôi thuộc hệ
Trang 31tầng Bắc Sơn là chủ yếu) Chất lượng đá vôi khá cao, thuộc vào loại tốt với hàm lượng CaO cao, dao động từ 52,72 đến 55,49%, các hàm lượng tạp chất thấp, như SiO2: 0,4-9%; MgO: 0,92-1,51%; Al2O3: 0,34-0,41; Fe2O3: 0,2-0,53% Nhiều điểm đá vôi chưa được tiến hành thăm dò, tìm kiếm, song trên thực tế, những nguồn đá vôi này có tiềm năng lớn Theo số liệu của Sở Xây dựng, trữ lượng đá vôi xi măng khoảng hơn 45 triệu tấn, còn đá vôi xây dựng đến hàng tỷ m3
* Sét gạch ngói và sét xi măng
Sét sử dụng sản xuất gạch ngói, chỉ mới phát hiện được mỏ Tam Trung
ở phía Bắc Thị xã Cao Bằng Đây là loại sét đồi, tạo lớp màu nâu, có diện phân bố rộng, dày 1-15m Sét thuộc loại mịn dẻo, ít sạn, đảm bảo chỉ tiêu sản xuất gạch ngói Điểm quặng chưa tiến hành tìm kiếm-thăm dò, song từ diện lộ
có thể xếp chúng thuộc cấp quy mô mỏ nhỏ, với trữ lượng khoảng 1 triệu m3
* Cuội sỏi
Cuội, sỏi, cát có ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các bậc thềm, bãi bồi của sông Bằng Giang, sông Hiến Tuy vậy, các tích tụ cát, cuội, sỏi dọc theo các sông này thường có quy mô nhỏ, có thể khai thác phục vụ cho các công trình xây dựng của địa phương Đáng lưu ý hơn cả là mỏ cuội, sỏi Cao Bằng (cạnh cầu Gia Cung) trầm tích aluvi hiện đại Cuội chủ yếu là thạch anh (60-70%), kích thước không đều, độ mài tròn tốt Trữ lượng dự tính (TNDB) đến hàng tỷ mét khối, thuộc quy mô lớn
d Các khoáng sản khác
Điểm đá silic (Jasma) Bản Piên thuộc huyện Trùng Khánh Đá màu nâu
đỏ, đôi khi có vân đen, vàng, xanh, rất rắn chắc Đá gồm chủ yếu là silic với
cỡ hạt 0,01-0,02mm, ít hematit dạng bụi phân tán có cường độ kháng ép khô: 1260.2813.103N/m Hệ số biến màu: 0,85.0,97, cường độ xung kích: 14-25 lần, dung trọng: 2,78-2,94 g/cm3, độ rỗng: 1,6-1,67% Độ nguyên khối của đá nhỏ (kích thước khối nguyên tối đa: 20cm) Đá silic Bản Piên có màu tương đối đẹp, có thể dùng làm đá trang trí
2.1.5.3 Nhận xét tình hình khai thác khoáng sản Cao Bằng
Qua trình bày, có thể thấy rằng: Tiềm năng tài nguyên khoáng sản của tỉnh Cao Bằng còn chưa được đánh giá một cách đầy đủ Theo thống kê, trong
Trang 32số 142 mỏ và điểm quặng, có 15 mỏ được thăm dò, 44 mỏ được tìm kiếm đánh giá và 83 điểm quặng mới được khảo sát sơ bộ Các mỏ được thăm dò chủ yếu thuộc về các khoáng sản: sắt, mangan, thiếc và bauxit Tài liệu tìm kiếm đánh giá được tiến hành khá lâu, từ những năm 60-70 của thế kỷ XX, chỉ rất ít mỏ được tìm kiếm hoặc thăm dò bổ sung vào cuối những năm 80 hoặc đầu thập niên 90
- Nhiều mỏ đã khai thác nham nhở, cạn kiệt tài nguyên, song việc thăm
dò bổ sung nâng cấp trữ lượng để đưa vào khai thác chưa được tiến hành Việc tiếp tục khai thác ở những mỏ này trở nên rất khó khăn, vì phần lớn quặng gốc còn lại có chiều dày tương đối mỏng, chất lượng quặng không đều
và đều nghèo, khai thác quy mô công nghiệp không có lãi
- Một số mỏ sắt, mỏ thiếc, đặc biệt là thiếc gốc thì còn tồi tệ hơn Về
cơ bản, nguồn tài nguyên thiếc sa khoáng đang cạn kiệt và sẽ không thể tiếp tục khai thác sau 7-10 năm nữa nếu không có công tác tìm kiếm đánh giá ngay từ bây giờ
- Có những khoáng sản tiềm năng (bauxit) chưa có điều kiện khai thác,
sử dụng thì được điều tra đánh giá khá chi tiết Trong khi đó một số khoáng sản đã bị khai thác cạn kiệt trong một thời gian dài chưa được điều tra đánh giá bổ sung nhằm tạo nguồn nguyên liệu mới (thiếc, vonfram, chì-kẽm, antimon)
- Các nghiên cứu chủ yếu mới được thực hiện trên mặt, độ tin cậy của tài liệu địa chất còn hạn chế Mặt khác, phương tiện và công nghệ tìm kiếm thăm dò còn lạc hậu, các nghiên cứu sâu về địa chất và công nghệ khai thác – chế biến còn rất hạn chế
- Các đầu tư điều tra cơ bản về khoáng sản chủ yếu mới đáp ứng mức
độ nghiên cứu tổng hợp, làm sáng tỏ một số tiền đề đánh giá triển vọng của một số loại hình khoáng sản Ở hầu hết các mỏ, việc nghiên cứu đánh giá khả năng công nghệ và kinh tế khoáng sản chưa được tiến hành, làm hạn chế chất lượng tư liệu đầu vào trong việc hoạch định các phương án khai thác, chế biến
và sử dụng khoáng sản một cách hiệu quả