Để giải quyết các vấn đề tồn tại về quy hoạch phát triển nông thôn nói trên ngày 4/6/2010 Chính phủ đã đã phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20
Trang 1- -
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
Tên đề tài:
“QUY HOẠCH CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN MỚI THEO
BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ MINH LẬP, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN,
GIAI ĐOẠN 2014 - 2020”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính môi trường Khoa : Quản lý tài nguyên
Khoá học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2- -
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
Tên đề tài:
“QUY HOẠCH CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN MỚI THEO
BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ MINH LẬP, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN,
GIAI ĐOẠN 2014 – 2020”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính môi trường Khoa : Quản lý tài nguyên
Khoá học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Đình Thi
Khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương trình cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đây là Chương trình mục tiêu Quốc gia mang tính toàn diện, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển lâu dài, bền vững ở khu vực nông thôn, hướng đến
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”
Để có thế xây dựng một nông thôn phát triển, làm nòng cốt cho việc phát triển đất nước thì vấn đề quy hoạch phát triển nông thôn phải được đặt lên hàng đầu Tuy nhiên, việc quy hoạch phát triển nông thôn trên cả nước vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết như: các chương trình quy hoạch cho nông thôn còn kém hiệu quả, công tác lập quy hoạch chưa bám sát vào tình hình thực tế của địa phương, quy hoạch chồng chéo và không đồng bộ Để giải quyết các vấn đề tồn tại về quy hoạch phát triển nông thôn nói trên ngày 4/6/2010 Chính phủ đã đã phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -2020” kèm theo đó là bộ 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới với mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ;
an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao - theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Để hiện thực hóa chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới tôi xin được áp dụng bộ 19 tiêu chí để thực hiện xây dựng nông thôn mới cho xã
Minh Lập huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Minh Lập là một xã kinh tế thuần nông, thuộc trung du miền núi nằm về phía Tây cách trung tâm huyện Đồng Hỷ khoảng 10km Toàn xã có 1555 hộ,
6600 nhân khẩu , địa bàn phân bố dân cư rộng, rải rác, chủ yếu tập chung theo
cụm
Trang 4Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của xã còn nhiều khó khăn, đó là: Do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, địa hình chia cắt, diện tích đất đai hầu hết là núi cao; kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng chính; điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp cùng với trình độ dân trí không đồng đều, thiếu kinh nghiệm, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo còn thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất chưa đáp ứng được, quá trình chuyển dịch
cơ cấu sản xuất diễn ra còn chậm, chưa vững chắc và chưa đáp ứng được yêu
cầu đề ra
Nhận thấy tầm quan trọng và cấp thiết của việc xây dựng nông thôn mới, cùng với việc xã tiến hành thực hiện dự án xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2014 – 2020, định hướng phát triển đến năm 2030, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài : ‘‘Quy hoạch cơ sở hạ tầng nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới tại xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, giai
đoạn 2014 – 2020 ’’
1.2 Mục đích của đề tài
Xây dựng hình mẫu quy hoạch quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ đáp ứng các tiêu chí có liên quan đến lĩnh vực xây dựng cơ bản theo bộ tiêu chí về nông thôn mới của quốc gia và đề án xây
dựng nông thôn mới của tỉnh
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra chính xác tình hình cơ bản của xã minh Lập
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất của xã Minh Lập
- Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo tính khả thi, tính khoa học, phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất của huyện đã được phê duyệt, đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của xã, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển đồng
bộ giữa các ngành, các lĩnh vực rong xã
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Tìm hiểu nắm vững được những kiến thức thực tế trong quản lý nhà nước về đất đai nói chung và chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Trang 5- Ý nghĩa trong thực tiễn: Qua việc nghiên cứu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong xây dựng nông thôn mới nhằm tìm ra những phương án khả thi cũng như những thuận lợi, khó khăn, giải pháp thực hiện các công trình
Trang 6PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học về quy hoạch nông thôn mới
2.1.1 Cơ sở pháp lý của lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới
2.1.1.1 Các văn bản trung ương
- Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003;
- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng;
- Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Hội nghị TW lần thứ 7 khoá X của Đảng);
- Thông tư số 07/2008/TT-BXD ngày 07/4/2008 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng;
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí nông thôn mới;
- Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng về việc Ban hành tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/9/2009 về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;
- Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng Quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng QCXDVN 01: 2008/BXD);
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về QHXDNT (QCVN 14: 2009/BXD);
Trang 7- Thông tư số 07/2010/TT- BNNPTNT ngày 08/2/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp
xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới do Bộ Nông nghiệp và PTNT và sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới do Bộ Xây dựng ban hành năm 2010;
- Căn cứ thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ Kế hoạch và đầu tư, bộ Tài Chính về việc hướng dẫn một số nội dung thực hiện quyết định
số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
- Các văn bản pháp lý khác có liên quan;
2.1.1.2 Các văn bản địa phương
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII
và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện làn thứ XXIII;
- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của Xã Minh Lập- huyện Đồng
- Các văn bản, số liệu điều tra do UBND Xã Minh Lập cung cấp
2.1.2 Khái niệm về nông thôn
Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề
xã hội và các thiết chế xã hội Nông thôn được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ
chặt chẽ với nhau
Trang 82.1.3 Đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH HĐH, giai đoạn 2010
- An ninh tốt, quản lý dân chủ
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
- Trương trình xây dựng quy hoạch nông thôn mới được thực hiện dựa trên bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới
- Bộ tiêu chí sẽ được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và từng thời kỳ
2.1.4 Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
2.1.4.1 Ý nghĩa của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới:
- Là cụ thể hóa đặc tính của xã NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH
- Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới
- Là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới; đánh giá trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền xã trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
2.1.4.2 Nội dung Bộ tiêu chí quốc gia Nông thôn mới:
Bộ tiêu chí quốc gia NTM được ban hành theo Quyết định số TTg, ngày 16/4/2009 gồm 5 nhóm tiêu chí, cụ thể như sau:
Trang 9491/QĐ Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới: Được thể hiện tại thông tư số 54/2009/TT – BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong đó đã thống nhất nội dung, cách hiểu, cách tính toán và các quy chuẩn áp dụng đối với các tiêu chí nông thôn mới
2.1.5 Khái niệm, mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, của quy hoạch phát triển nông thôn
2.1.5.1 Khái niệm về quy hoạch triển nông thôn
Về khái niệm quy hoạch phát triển nông thôn có thể tiếp cận theo hai góc độ Đứng trên góc độ phân bố lực lượng sản xuất, quy hoạch phát triển nông thôn là sự phân bố các nguồn lực tài nguyên, đất đai, lao động, vốn, cơ
sở vật chất kỹ thuật, sự bố trí cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ trên lanh thổ nông thôn một cách hợp lý để đạt hiệu quả cao
Đứng trên góc độ kế hoạch hóa, quy hoạch phát triển nông thôn là một khâu trong quy trình kế hoạch hóa nông thôn mới Bắt đầu từ chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn đến quy hoạch phát triển nông thôn rồi cụ thể hóa bằng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trên địa bàn nông thôn
Phát triển nông thôn là vấn đề phức tạp và rộng lớn, nó liên quan đến nhiều ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn Mục đích của phát triển nông thôn là phát triển đời sống con người với đầy đủ các phạm trù của nó Phát triển nông thôn toàn diện phải đề cập đến tất
cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng Sự phát triển của mỗi vùng, mỗi địa phương nằm trong tổng thể phát triển chung của các vùng và của cả nước Vì vậy “Quy hoạch phát triển nông thôn là quy hoạch tổng thể, nó bao gồm tổng hợp nhiều nội dụng hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường liên quan đến vấn đề phát triển con người trong các cộng đồng nông thôn theo các tiêu chuẩn của phát triển bền vững”
2.1.5.2 Mục đích của quy hoạch phát triển nông thôn
Mục đích của quy hoạch phát triển nông thôn là xây dựng và phát triển nông thôn mới xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng chủ yếu sau:
Trang 10- Một nông thôn giàu mạnh có năng suất vật nuôi, năng suất đất đai, năng suất lao động ngày càng cao, có sản phẩm và sản phẩm hàng hóa xuất khẩu ngày càng nhiều, tích lũy tái sản xuất mở rộng không ngừng
- Một nông thôn mà mọi người lao động đều có việc làm, có thu nhập và đời sống ngày càng cao Mọi người dân đều được ăn no mặc ấm tiến tới ăn ngon mặc đẹp, nhà cửa khang trang kiên cố, có đủ tiện nghi cần thiết, không
có người đói, giảm được người nghèo
- Một nông thôn có văn hóa, không có ai bị mù chữ, trình độ dân trí được nâng dần phổ cập cấp III tiến lên trung học, cao đẳng , có các hoạt động văn thể thường xuyên lành mạnh, phát huy được truyền thống tốt đẹp, tình làng nghĩa xóm, lá lành đùm lá rách, tình gia đình và họ tộc được phát huy
- Một nông thôn mà mọi người dân sống và làm việc theo pháp luật, có trật tự, kỷ cương, mọi người được sống an toàn, không có tệ nạn xã hội như trộm cắp, nghiện hút, mại dâm…
- Một nông thôn được đô thị hóa không phải theo kiểu nhà nối nhà như ở thành phố mà theo mô hình nhà vườn, có điện nước, có đường xá thuận tiện,
có thông tin liên lạc đến tận thôn xóm và từng gia đình
- Một nông thôn sạch đẹp, trong đó mọi tài nguyên đất đai, nguồn nước, không khí không bị ô nhiễm, rừng và động thực vật được bảo vệ
Quy hoạch phát triển nông thôn nhằm mục đích xác định các biện pháp
tổ chức lãnh thổ và kinh tế, kỹ thuật nhằm huy động và phát triển sức sản xuất, sử dụng hợp lý và hiệu quả đất đai, tài nguyên thiên nhiên, lao động, tăng cường cơ sở hạ tầng, khai thác các nguồn lực trong địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội đáp ứng được yêu cầu đời sống của mọi người trong xã hội, góp phần xây dựng nông thôn mới và xã hội mới cải thiện các điều kiện sống ở nông thôn nhằm: biến khu vực nông thôn thành nơi làm việc hấp dẫn con người sinh sống và làm việc đáp ứng nhu cầu nông sản phẩm hàng hóa cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hay nói cách khác đó
là phát triển nông thôn với mục đích giảm bớt sự chênh lệch giữa giàu và nghèo đến mức có thể chấp nhận được ngăn ngừa dòng người di cư từ nông thôn ra thành thị
Trang 11Quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn được đặt ra nhằm giải quyết các vấn đề: Tạo ra sự cân bằng trong các mối quan hệ thuộc đời sống con người trên 3 mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo trên địa bàn sống
Điều phối các loại hình quy hoạch chuyên sâu, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong xã hội như sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trong các hoạt động kinh tế, sự tranh chấp đất đai và các tài nguyên khác trong địa bàn Khai thác sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học
Tạo ra những điều kiện thuận lợi và hiệu quả trong sự hợp tác giữa các vùng, các địa phương và trong quan hệ hợp tác quốc tế
2.1.5.3 Yêu cầu của quy hoạch phát triển nông thôn
- Quy hoạch phát triển nông thôn phải thể hiện được những quan điểm về phát triển nông thôn Đó là quy hoạch phát triển nông thôn nhất thiết phải đảm bảo được 3 mặt hiệu quả: kinh tế, xã hội và môi trường
- Quy hoạch phát triển nông thôn phải tuân thủ theo đường lối đổi mới phát triển nông thôn theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Quy hoạch phát triển nông thôn phải toàn diện tổng hợp và phối hợp hài hòa giữa các lĩnh vực hoạt động, đảm bảo tăng cường kinh tế nhanh, tiến
bộ xã hội và bảo vệ môi trường
- Quy hoạch phát triển nông thôn phải quán triệt đường lối công nghiệp hóa - hiện đại hóa ngay trên địa bàn nông thôn và vùng nghiên cứu
- Quy hoạch phát triển nông thôn phải phù hợp với các quy luật phát triển của tự nhiên
- Quy hoạch phát triển nông thôn phải thể hiện đầy đủ các quy luật phát triển kinh tế - xã hội
- Quy hoạch phát triển nông thôn phải phản ánh được những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại
- Phương án quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn phải là công cụ điều tiết mọi sự đầu tư vào từng ngành, từng cặp, từng địa phương sao cho
Trang 12phù hợp và hữu hiệu, ngăn chặn sự tự phát, tránh sự chồng chéo hoặc mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực
- Phương án quy hoạch tổng thể phải đi trước một bước, làm cơ sở nền tảng cho các quy hoạch chuyên ngành
- Phương án quy hoạch phát triển nông thôn phải đặc biệt chú ý đến mối quan hệ sản xuất chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp các ngành kinh tế
- Đề án quy hoạch phát triển nông thôn phải giải quyết đúng đắn việc xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, tăng cường trang
bị kỹ thuật, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao hiệu suất lao động, đời sống văn hóa tinh thần và nghỉ ngơi của nhân dân
- Đề án quy hoạch phát triển nông thôn phải tạo nên sự phân bố dân cư hợp lý
- Quy hoạch phát triển tổng hợp vùng nông thôn là quy hoạch dài hạn có tính khống chế vĩ mô Vì vậy tính tổng hợp thể hiện rất mạnh trong đó đề cập tới nhiều ngành và phạm vi lãnh thổ khá rộng, ngoài ra tính chính sách rất cao Phương án quy hoạch được xây dựng đòi hỏi số lượng lớn các tư liệu và thông tin, quá trình thu thập, xử lý rất phức tạp
- Để quy hoạch vừa phù hợp với tình hình thực tế, vừa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế sau này, vừa có tính khả thi, khi lập quy hoạch cần đảm bảo tính tổng hợp, so sánh và thống nhất với định hướng chủ đạo của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, có sự tham gia đóng góp ý kiến của các ngành, các cán bộ chuyên môn kỹ thuật và người dân, sử dụng kết hợp giữa phương pháp truyền thống với kỹ thuật hiện đại (như ảnh hàng không, ảnh viễn thám…) kết hợp phương pháp định tính với định lượng, áp dụng cơ chế phản hồi trong quy hoạch nhằm tăng tính khoa học, tính thực tiễn và tính quần chúng của quy hoạch
2.1.5.4 Ý nghĩa của quy hoạch phát triển nông thôn
Quy hoạch phát triển nông thôn có ý nghĩa hết sức quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như từng vùng, địa phương và các đơn vị kinh tế cơ sở Có thể xét về ý nghĩa của quy hoạch phát triển nông thôn
về hai mặt:
Trang 13• Quy hoạch phát triển nông thôn là căn cứ không thể thiếu được để quy hoạch các vùng, các ngành, các đơn vị kinh tế cơ sở, để tổ chức phân bố và sử dụng mọi nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội ở nông thôn
• Quy hoạch phát triển nông thôn là căn cứ quan trọng của các khoa học phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, là chỗ dựa để thực hiện việc quản lý nhà nước trên địa bàn nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, hạn chế tình trạng tự phát không theo quy hoạch, tránh gây nên những hậu quả, lãng phí sức người, sức của
• Đi đôi với quy hoạch đô thị, quy hoạch phát triển nông thôn có ý nghĩa quan trọng đặc biệt bởi:
- Nông thôn là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm cho nhu cầu cơ bản của nhân dân, nông sản nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu trong nhiều năm, nông thôn nông nghiệp sản xuất ra khoảng 40% thu nhập quốc dân và trên 40% giá trị xuất khẩu, tạo nên nguồn tích lũy cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Nông thôn là nơi cung ứng nguồn lao động dồi dào cho xã hội, chiếm trên 70% lao động xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quy hoạch phát triển nông thôn đúng đắn cho phép thực hiện sự biến đổi lao động theo hướng lao động nông thôn giảm dần, đặc biệt là lao động trong nông nghiệp, chuyển dần sang các ngành công nghiệp và dịch vụ
- Nông thôn chiếm 80% dân số của cả nước, là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm, có vai trò, vị trí quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước quy hoạch phát triển nông thôn có những chính sách hợp lý cho phép nâng cao thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn, tạo điều kiện mở rộng thị trường để phát triển sản xuất của cả nước
- Ở nông thôn có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm nhiều thành phần, nhiều tầng lớp, là nền tảng quan trọng để địa bàn ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước Việc thực hiện những chính sách thích hợp trong quy hoạch phát triển nông thôn là cơ sở quan trọng để tăng cường đoàn kết của cộng đồng các dân tộc nông thôn Nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn của đất nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau Việc quy hoạch phát triển nông thôn hợp lý sẽ cho phép khai thác sử dụng và bảo vệ tốt
Trang 14các tài nguyên thiên nhiên của đất nước Đó là cơ sở để phát triển đất nước một cách bền vững
2.1.6 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên thế giới và trong nước
2.1.6.1 Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới
∗ Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn Phát triển nông nghiệp nông thôn
đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”
∗ Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung Ương lần thứ bảy (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới Nghị quyết khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn nước ta còn là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có hiệu quả Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Xây dựng nông thôn mới là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh; Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân
Trang 15cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
∗ Nghị quyết 26/NQTW ngày 28/05/2008 đã nêu một cách tổng quát
về mục tiêu, nhiệm vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm lịch sử về phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp xây dựng nông thôn mới
∗ Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới
∗ Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ
∗ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chương trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng Mục tiêu chung của chương trình được Đảng ta xác định là: xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao
∗ Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta khẳng định xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh
Trang 16tế xã hội của đất nước Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: Tiếp tục triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam
∗ Thực hiện đường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được thành tựu khá toàn diện Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu buôn bán và phát triển sản xuât; Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần cho người dân; Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; Dân chủ cơ sở được phát huy; An ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội được giữ vững; Vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ
sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
- Tuy nhiên, quá trình xây dựng nông thôn mới còn bộc lộ nhiều khó khăn hạn chế, nhất là về công tác quy hoạch Quy hoạch nông thôn mới là một vấn đề mới, liên quan đến nhiều lĩnh vực và phải mang tính chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế về năng lực, nên trong quá trình triển khai còn nhiều lúng túng Bên cạnh đó chúng ta còn gặp khó khăn về huy động nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới Đời sống của người dân nông thôn còn nhiều khó khăn Mặt khác, trong nhận thức nhiều người còn cho rằng xây dựng nông thôn mới là dự án do nhà nước đầu tư xây dựng nên còn có tâm lí trông chờ, ỷ lại Chính vì vậy trong thời gian tới bên cạnh việc đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, để mọi người dân đều nhận thức rằng: "Xây dựng nông thôn mới là công việc thường xuyên của mỗi người, mỗi nhà, mỗi thôn xóm và từng địa phương; tất
Trang 17cả cùng chung sức dưới sự lãnh đạo của Đảng " nhằm thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới
- Xây dựng nông thôn mới được xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, chính vì vậy nó phải có hệ thống lí luận soi đường Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới là sự vận dụng sáng tạo lí luận của Chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, hướng đến thực hiện mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa, từng bước xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động chân tay và lao động trí óc, để đi đến kết quả cuối cùng là giai cấp công nhân, nông dân và trí thức sẽ trở thành những người lao động của xã hội cộng sản chủ nghĩa
- Thực tiễn cũng cho thấy, những xã hội tiến bộ bao giờ cũng chú ý tới việc thu hẹp khoảng cách sự phát triển giữa thành thị và nông thôn, phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội, cải thiện điều kiện sinh hoạt ở nông thôn, làm cho thành thị và nông thôn xích lại gần nhau Chính vì vậy, bên cạnh phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lí luận, tổng kết thực tiễn quá trình xây dựng nông thôn mới, chúng ta cần học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới và trong khu vực về phát triển nông thôn tiên tiến hiện đại, để xây dựng hoàn thiện hệ thống các quan điểm lí luận về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn làm cơ sở khoa học cho thực tiễn Xây dựng nông thôn nước ta trở nên văn minh, tiên tiến hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa và nét đẹp truyền thống của nông thôn Việt Nam
2.1.6.2 Tinh hình xây dựng nông thôn mới trên thế giới
a Nông thôn ở Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải
Trang 18quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương
Trang 19thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu
tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp
Trang 20dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn
- Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
b Mô hình nông thôn ở Nhật Bản
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản)
đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm”
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình
c Mô hình nông thôn ở Hàn Quốc
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Trang 21Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên
cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp,
áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế
2.1.6.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới trong nước
Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 ban hành tại Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ; Trong năm 2013, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, của UBND
Trang 22tỉnh và BCĐ Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới các cấp, tỉnh đã
tập trung chỉ đạo quyết liệt và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận:
Đã kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy chỉ đạo và điều hành cấp tỉnh, huyện, xã; Văn phòng điều phối tỉnh được kiện toàn và đã
đi vào hoạt động có hiệu quả trong việc tham mưu cho BCĐ tỉnh thực hiện các nội dung của Chương trình Công tác tuyên truyền, vận động đã thực sự đi vào chiều sâu, đa dạng và phong phú hơn, thu hút được sự quan tâm, đồng tình hưởng ứng, tự giác tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong tỉnh bằng những việc thiết thực như đóng góp công sức thực hiện dồn điền đổi thửa, đẩy mạnh sản xuất, chỉnh trang nông thôn, hiến kế, hiến đất, góp công
để làm đường giao thông, xây dựng trường học, trạm y tế Ngoài việc tuyên truyền trên Đài Phát thanh - Truyền hinh tỉnh, trang Báo Quảng Trị, Báo Nông nghiệp Việt Nam, xây dựng “Đặc san xây dựng NTM”, trang Website nông thôn mới Quảng Trị, in ấn các tờ rơi, sổ tay đã chuyển tải kịp thời các chủ trương, chính sách, văn bản hướng dẫn, các mô hình hay, kinh nghiệm tốt
về xây dựng nông thôn mới tới các địa phương, đơn vị và cộng đồng dân cư Các địa phương, đơn vị còn tổ chức lồng ghép tuyên truyền thông qua các hội nghị, hội thảo, xây dựng các Panô, áp phích Trong năm qua đã phát hành 17
số báo và 01 đặc san NTM, 38 chuyên mục, phóng sự trên Đài truyền hình tỉnh, phát hành 220 số Báo Nông Nghiệp Việt Nam cung cấp cho 117 xã, có hơn 300 lượt người/ngày truy cập vào Website nông thôn mới Ngoài ra, các
cơ quan, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh đã tổ chức 206 đợt tuyên truyền cho 6.792 cán bộ các sở, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, tổ chức 366 đợt tuyên truyền cho 20.175 cán bộ các phòng, ban, đoàn thể cấp huyện và lồng ghép các nội dung tuyên truyền chương trình MTQG xây dựng NTM với 8.555 lượt người tham gia Công tác đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về xây dựng NTM đã được chú trọng cả về đối tượng tham gia lẫn nội dung truyền đạt, đã có sự phối hợp
có hiệu quả với các khối Mặt trận và các đoàn thể để cùng tham gia đào tạo, tập huấn Công tác xây dựng quy hoạch và đề án nông thôn mới đã có sự chỉ đạo quyết liệt nên đến nay cơ bản các xã hoàn thành lập và phê duyệt quy hoạch chung đảm bảo chất lượng, thể hiện rõ định hướng không gian NTM của xã gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của từng địa
Trang 23phương, hiện nay các địa phương đang đẩy nhanh tiến độ phê duyệt Đề án nông thôn mới cho 31/117 xã còn lại đảm bảo tiến độ đề ra
Việc huy động, lồng ghép các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới: Trong năm qua, mặc dù nguồn lực đầu tư trực tiếp của Chương trình có hạn, nguồn ngân sách địa phương (tỉnh, huyện) tự cân đối còn khó khăn, nhưng với sự quyết tâm cao và sự chỉ đạo có hiệu quả của UBND tỉnh, BCĐ các cấp
và sự vào cuộc đồng bộ của các cấp chính quyền, đoàn thể nên đã có sự đóng góp đáng kể cho phong trào “Quảng Trị chung sức xây dựng nông thôn mới” Theo số liệu thống kê của các địa phương, tổng nguồn lực huy động đầu tư cho xây dựng nông thôn mới trong năm 2013 là 5.590.128 triệu đồng Trong đó: Ngân sách TW hỗ trợ trực tiếp cho xây dựng NTM 19.800 triệu đồng (vốn ĐTPT 11.040 triệu đồng, vốn SN 8.760 triệu đồng); Ngân sách của địa phương là 44.737 triệu đồng (trong đó ngân sách huyện, thị là 36.584 triệu đồng, ngân sách xã là 8.153 triệu đồng); Vốn lồng ghép vốn từ các chương trình dự án hỗ trợ có mục tiêu và các chương trình, dự án khác gắn với nội dung xây dựng nông thôn mới là 947.028 triệu đồng; Nguồn vốn tín dụng cho nông nghiệp nông thôn trên địa bàn đạt 4.411.000 triệu đồng, tăng 288 tỷ đồng so với cuối năm 2012; Vốn huy động doanh nghiệp là 103.347 triệu đồng và vốn huy động từ nhân dân: 64.095 triệu đồng
Với những nguồn lực trên, trong 2013 đã đầu tư xây dựng mới, sửa chữa và nâng cấp được: 134,4 km đường giao thông nông thôn, 32,4 km đường giao thông nội đồng, 19 cầu cống, 5 trạm bơm nước, 119 công trình nước sạch tập trung, 13 khu xử lý gom rác thải, 10 chợ nông thôn, nâng cấp
119 phòng học, 4 nhà văn hóa xã, 35 nhà văn hóa thôn, 1 khu thể thao xã, nâng cấp 14 trạm y tế; Ngành điện đã đầu tư xây dựng mới 17 km đường dây trung áp, 93,4 km đường dây hạ áp, sửa chữa 4,9 km đường dây trung áp, 136,7 km đường dây hạ áp, xây dựng mới và sửa chữa 33 trạm biến áp Việc đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất và đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng được chú trọng và đẩy mạnh thường xuyên Trong năm 2013 đã đầu thêm 55 mô hình phát triển sản xuất (trồng trọt 15 mô hình, chăn nuôi 26 mô hình, thủy sản 1 mô hình và các lĩnh vực khác 13 mô hình) Các mặt hoạt động khác như giáo dục, y tế, văn hoá, môi trường, xây dựng chính quyền,
Trang 24nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp được chú trọng tăng cường và triển khai có hiệu quả Với những kết quả trên đã làm thay đổi thực sự bộ mặt nông thôn, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện cả
về vật chất lẫn tinh thần Việc thực hiện 19 tiêu chí XD NTM của các xã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là 30 xã chọn làm thí điểm, tính đến 31/12/2013:
Số xã đạt từ 15-18 tiêu chí có 4 xã, chiếm 3,4 % (năm 2012 không có xã nào đạt từ 15 tiêu chí trở lên); số xã đạt từ 10-14 tiêu chí có 31/117 xã (chiếm 26,5%), tăng thêm 18 xã so với năm 2012; số xã đạt từ 5- 9 tiêu chí có 67/117
xã (chiếm 57,2%), tăng 6 xã so với năm 2012 và số xã đạt dưới 5 tiêu chí còn 15/117 xã (chiếm 12,8%), giảm 16 xã so với năm 2012
Tuy nhiên, trong năm qua việc thực hiện Chương trình XD NTM còn bộc lộ những tồn tại và hạn chế Đó là: Công tác tuyên truyền ở cơ sở, các hoạt động hưởng ứng phong trào “Quảng Trị chung sức xây dựng NTM” chưa đồng đều, thường xuyên, liên tục mới chỉ tập trung ở các xã điểm; phát triển sản xuất tuy đã xuất hiện được khá nhiều mô hình, điển hình tốt nhưng còn mang tính chất nhỏ lẽ, năng lực sản xuất và chất lượng hàng hoá còn thấp, tính cạnh tranh chưa cao, số mô hình phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung có liên liên kết "4 nhà" trong phát triển sản xuất còn hạn chế; ngân sách của tỉnh hạn hẹp nên việc phân bổ nguồn vốn cho chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới rất khó khăn, trong khi đó việc huy động nguồn lực đóng góp của doanh nghiệp, của nhân dân và cộng đồng vào xây dựng NTM chưa nhiều; công tác lồng ghép các chương trình, dự án cho xây dựng nông thôn mới còn lúng túng và chưa phát huy hiệu quả tối đa; ở một số địa phương việc xử lý rác thải, nước thải còn chưa được quan tâm; an ninh trật tự ở nông thôn ở nhiều nơi còn chưa tốt, còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn; một số Sở, ban, ngành và địa phương triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTM chưa quyết liệt, chưa xác định rõ trách nhiệm thực hiện các tiêu chí xây dựng thuộc ngành mình phụ trách, thiếu sâu sát nắm bắt kết quả thực hiện các tiêu chí ở cơ sở; công tác đỡ đầu, hỗ trợ xã xây dựng NTM đạt được chưa cao; cán bộ chuyên trách theo dõi nông thôn mới ở cấp huyện và ở các xã còn thiếu, chủ yếu được bố trí kiêm nhiệm; việc chấp hành chế độ thông tin báo cáo của các một số sở, ngành và địa phương chưa đáp ứng yêu
Trang 25cầu của BCĐ, chất lượng báo cáo thấp làm ảnh hưởng đến việc tổng hợp nắm
bắt tình hình thực hiện Chương trình chung của tỉnh
2.1.6.4 tình hình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thái Nguyên
Xây dựng nông thôn mới là một chương trình lớn của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn, từng bước đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng trong những năm trở lại đây, Thái Nguyên là một trong số các địa phương đi đầu trong việc thực hiện xây dựng mô hình này
Tỉnh đã tổ chức triển khai phân bổ nguồn vốn thực hiện Quy hoạch xây dựng nông thôn mới cho 143/143 xã Trong đó, chú ý phân bổ tập trung cho
35 xã phấn đấu đến năm 2015 hoàn thành quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Kinh tế phát triển là động lực chính để toàn tỉnh tiến hành xây dựng mô hình nông thôn mới Tổng sản phẩm trong tỉnh - GDP theo giá so sánh đạt 6.958 tỷ đồng (theo giá thực tế là 25.418 tỷ đồng); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 21,28%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 41,77%; khu vực dịch vụ chiếm 36,95%.Trong số 18 chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội chủ yếu, có 14 chỉ tiêu hoàn thành và vượt kế hoạch Chính điều này đã giúp nâng cao đời sống nhân dân, yếu tố quan trọng trong việc xây dựng mô hình nông thôn mới 9/9 huyện, thành phố, thị xã đã thành lập Ban chỉ đạo và Bộ phận thường trực tham mưu, giúp việc Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp huyện, 143/143 xã đã thành lập Ban chỉ đạo, Ban quản lý xây dựng nông thôn mới cấp xã, Ban phát triển thôn, xóm, bản
Ngoài ra, tỉnh còn tiến hành tổ chức 01 lớp tuyên truyền, triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, định hướng đến
2020 cho các ban xây dựng đảng, hội phụ nữ, hội nông dân, Uỷ ban mặt trận
tổ quốc, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các huyện, thành phố, thị xã với hơn 200 đại biểu dự Đặc biệt, tỉnh đã phối hợp với Trung tâm thông tin mở trang thông tin về xây dựng nông thôn mới trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh Theo ông, Dương Ngọc Long, Chủ tịch UBND tỉnh, xây dựng nông thôn mới
là một chương trình lớn và mang tính chất lâu dài Tỉnh sẽ tiếp tục xây dựng
Trang 26cơ chế chính sách, tăng nguồn lực, lồng ghép các chương trình, dự án cho xây dựng nông thôn mới với tính hiện thực cao
Trong thời gian tới, Thái Nguyên sẽ phấn đấu hoàn thành công tác Quy hoạch, lập đề án xây dựng nông thôn mới của toàn bộ 143/143 xã trên địa bàn tỉnh Tiếp tục tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ các cấp làm công tác xây dựng nông thôn mới; tăng cường công tác tuyên truyền những nội dung về xây dựng nông thôn mới giúp người dân hiểu, đồng thuận và cùng chung sức thực hiện xây dựng nông thôn mới; nghiên cứu ứng dụng các mô hình sản xuất có hiệu quả cao vào sản xuất nông nghiệp từng bước tăng thu nhập cho người nông dân
Trang 27
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tựng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tựng nghiên cứu
Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong xây dựng nông
thôn mới xã minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong xây dựng nông thôn mới xã minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian tiến hành: Từ ngày 31/12/1012 đến 13/4/2013
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
- Điều tra đặc điểm tự nhiên, tài nguyên, nhân lực, đánh giá tiềm năng của xã Minh Lập huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Trang 283.3.5 Thuận lợi, khó khăn, giải pháp chủ yếu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
• Thu thập tài liệu, số liệu: Tiến hành thu thập tài liệu, số liệu cần thiết cho quá trình nghiên cứu đề tài tại các phòng ban chức năng của UBND xã Minh Lập, huyện Đồng hỷ, tỉnh Thái Nuyên
• Thống kê và sử lý số liệu: Tổng hợp các tài liệu, số liệu đã thu thập, chọn lọc các số liệu cần thiết và loại bỏ những số liệu không hợp lý
• Phân tích thống kê – phương pháp chỉ số: các chỉ số dược thực hiện trong nghiên cứu gồm:
- Chỉ số chỉ tiêu chất lượng: Nói lên biến động của các chỉ tiêu phản ánh chất lượng của quá trình thực hiện
- Chỉ số chỉ tiêu khối lượng: Nói lên biến động của các chỉ tiêu phản ảnh
số lượng trong quá trình thực hiện
- Khảo sát thực tế với trường hợp cần thiết: Để kiểm tra tình hình sử dụng đất, việc thực hiện các hạng mục công trình trong phương án xây dựng nông thôn mới đã xét duyệt được thực hiện ra sao
- Tổng hợp và viết báo cáo
Trang 29
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
- Xã Minh Lập nằm ở phía Tây huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm huyện 10km; phía Đông giáp xã Hoá Trung; phía Tây giáp xã Vô Tranh, Tức Tranh huyện Phú Lương; phía Nam giáp xã Hoá Thượng; phía Bắc giáp xã Tân
từ xóm Sông Cầu về đến xóm Bà Đanh có độ dốc dưới 400 Độ cao trung bình
từ 49,8 - 236,8m so với mặt nước biển
4.1.1.4 Khí hậu, thời tiết
Huyện Đồng Hỷ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Theo tài liệu quan trắc của trạm khí tượng thuỷ văn Thái Nguyên qua 05 năm gần đây năm cho thấy:
Nhiệt độ:
- Nhiệt độ bình quân năm là 220C, nhiệt độ bình quân các tháng trong năm đều trên 140C, chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng là tương đối cao khoảng 130C
Lượng mưa:
- Chế độ mưa ở Minh Lập mang đặc trưng của vùng đông bắc bắc bộ Lượng mưa lớn, trung bình đạt 2.097 mm/ năm, phân bố không đều Trong đó 85% lượng mưa cả năm tập trung từ tháng 5 đến giữa tháng 10, dặc biệt trong
Trang 30tháng 7 và tháng 8 thường tập trung lượng mưa rất lớn kèm theo mưa bão nên thương xảy ra ngập úng, lũ lụt Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa ít chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm
Lượng bốc hơi và độ ẩm:
- Đây là vùng có lượng bốc hơi lớn Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm
là 985,5 mm Lượng bốc hơi trung bình tháng là 84 mm Lượng bốc hơi tháng
5 là cao nhất đạt 99,9 mm, thấp nhất ở tháng 3 là 62,7mm
- Độ ẩm không khí trên địa bàn xã Minh Lập trung bình là 82% Nhìn chung các tháng trong năm đều có lượng mưa gấp 2 lần lượng bốc hơi, chỉ riêng tháng 12 và tháng 1 thì thường có hạn hán khi lượng mưa thấp hơn lượng bốc hơi
Gió: Gió mùa Đông Bắc vào tháng 10 đến tháng 1 năm sau Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa mưa là gió Đông Nam, vào mùa khô là gió Đông Bắc.Gió mùa đông bắc có đặc điểm mang nhiều hơi ẩm, giá lạnh tạo ra sương
mù, sương muối, băng giá, mưa phùn;
Từ những đặc điểm khí hậu nêu trên xã Minh Lập huyện Đồng Hỷ là vùng
có khí hậu tương đối khắc nghiệt, có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp
4.1.1.4 Thủy văn
Tây và phía Bắc của xã với chiều dài 7 km, đồng thời có các phai đập,
ao hồ nhỏ Nhìn chung hệ thống sông ngòi, hồ, ao của xã Minh Lập là nơi cung cấp nguồn nước dồi dào để phát triển sản xuất và phục vụ sinh hoạt của người dân Các ao nhỏ ngoài tác dụng giữ nước để sản xuất còn được sử dụng
nuôi cá nước ngọt
4.1.1.5 Các nguần tài nguyên
• Tài nguyên đất: Theo bản đồ đất do tổ chức FAO Unesco xây dựng,
trên địa bàn xã có các loại nhóm đất sau Đất phù sa không được bồi (P), phân
bố ở địa hình nằm ven sông Cầu, có diện tích trên 80 ha chiếm 43,71% tổng diện tích tự nhiên Đất xám mùn điển hình(Xu-h): Diện tích 707,2 ha chiếm 38,64% tổng diện tích tự nhiên phân bố ở độ dốc >250 Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét (Fs) có diện tích 1.042.99 ha chiếm 56,98% tổng diện tích tự nhiên, phân bố khắp địa bàn xã
Trang 31• Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt: Xã Minh Lập có nguồn nước mặt
tương đối phong phú, từ phía Bắc đến phía Nam có dòng sông Cầu với lưu lượng dòng chảy từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm tới 75% tổng dòng chảy cả năm, trong khi đó dòng chảy mùa khô chỉ chiếm 5,6 - 7,8 % Ngoài ra cùng với lượng mưa hàng năm đã đổ vào các ao hồ nhỏ tạo thành nguồn nước mặt chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Nguồn nước ngầm: Trữ lượng nước ngầm tương đối và có chất lượng
tốt, có độ sâu từ 15-35m đảm bảo nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
Đánh giá chung về tài nguyên nước của xã Minh Lập cũng tương đối dồi dào Về chất lượng môi trường nước nhìn chung là tốt Tuy nhiên, cùng với
sự phát triển kinh tế xã hội nguồn nước sông Cầu khi chả qua khu vực đông dân cư đã tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt, canh tác nông nghiệp và khai khoáng nên cũng phải quan tâm đến vấn đề xử lý nước thải nhằm đảm bảo môi trường nước mặt không bị ô nhiễm
- Tài nguyên rừng: Xã Minh Lập với diện tích đất rừng = 489,28 ha đất
rừng sản xuất chiếm 26,7% tổng diện tích tự nhiên toàn xã (1.830,19 ha) Rừng chủ yếu là rừng trồng với loài cây chủ đạo là keo tai tượng, ngoài ra còn một số diện tích nhỏ là rừng tái sinh nghèo không hiệu quả; không phát huy được hiệu quả phòng hộ, trữ nước phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh Trên địa bàn xã không có rừng phòng hộ và rừng đặc dụng
- Tài nguyên khoáng sản:Hiện tại vùng đất phía Đông giáp xã Hóa Trung
có mỏ đá và mỏ quặng sắt đang được khai thác Về phí tây nam của xã giáp
xã Hóa Thượng và vùng ven sông Cầu có mỏ đất sét được khai thác sử dụng vào mục đích sản xuất vật liệu xây dựng Khu vực đất có tài nguyên khoáng sản của xã Minh Lập hiện nay mới được đưa vào khai thác chưa có nhiều vấn
đề về Hiện trạng nông thôn xã Minh Lập và đánh giá hiện trạng so với 19 tiêu chí nông thôn mớimôi trường nổi cộm, tuy nhiên nhưng cần sự quan tâm, chỉ đạo của cấp quản lý xã để không làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân trong tương lai
- Tài nguyên nhân văn: Xã Minh Lập là địa bàn cư trú lâu đời của nhiều dân tộc anh em sinh sống, là một xã có bản sắc dân tộc đa dạng, trong đó
Trang 32người kinh chiếm khoảng 60% dân số còn lại là người sán rìu, người tày và người nùng Mỗi dân tộc trong cộng đồng đều có những nét đặc trưng về tập quán sản xuất, có bản sắc văn hóa riêng biệt tạo nên những phương thức canh tác, nền văn hóa phong phú, đa dạng, có nhiều nét độc đáo và giàu bản sắc dân tộc
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Phần lớn người dân trong xã hội sống bằng nghề nông, thu thập chính
là từ trồng trọt chăn nuôi Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, thu nhập và mức sống cưa nhân dân cũng được cải thiện đáng kể Năm 2013 thu thập bình quân đầu người đạt 12,3 triệu đồng/người/năm Tổng thu ngân sách là 14.5 tỷ đồng Tỷ lệ hộ ngèo 308 hộ ngèo, chiếm 19.6%
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các nghành kinh tế
• Trồng trọt
- Tổng diện tích gieo trồng năm 2013 đạt 537,8 ha, giảm 62,9 ha
Trong đó:
- Diện tích gieo trồng lúa 433.8 ha
- Diện tích gieo trồng hoa màu các loại cây trồng khác 103,2 ha, giảm 44,3
- Sản lượng lương thực năm 2013 đạt 2705,1 tấn
- Sản lượng chè búp tươi năm 2013 đạt 3298,1 tấn
Bảng 4.1: tình hình sản xuất nông nghiệp qua 2 năm 2012 và 2013
430.8 38.8 1671,5
433.8 40.2 1743.8
2 Cây chè
- Diện tích
- Năng suất
Ha Tạ/Ha
458 20.5
444
20
Trang 33113,2 39,1 403,5
• Chăn nuôi
- Tổng số đàn trâu, bò năm 2013 đạt 775 con Tổng đàn heo năm 2013 đạt 3,645 con
- Tổng đàn gia cầm năm 1013 đạt 126.000 con
- Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản năm 2013 đạt 21,4 ha
- Sản lượng nuôi thủy sản năm 2013 đạt: 8571 tấn
• Đặc điểm dân số và độ tuổi lao động
- Năm 2013 xã có 1620 hộ ngia đình
- Số lao động theo độ tuổi: 4412 lao động/ tổng số dân 6744
- Cơ cấu lao động 70% lao động là nông nghiệp, còn lại công ngiệp và dịch vụ Lao động theo kiến thức phổ thông: Tiểu học 50%, THCS: 30% THPT: 20%
- Tỷ lệ lao động có trình độ đào tạo: 6,2%
- Phân bố dân cư: Dân số tập trung vào một số thôn ở vùng trung tâm, và những vùng giao thông và phát triển sản xuất thuận lợi
Bảng 4.2: tình hình dân số lao động xã Minh Lập năm 2013
năm 2013
Cơ cấu (%)
I Tổng dân số toàn xã(người) 6633
II Dân số trong độ tuổi LĐ (người) 5701 86 2.1 LĐ làm việc trong các ngành kinh tế 4224 74
Trang 344.1.3.1 Điều kiện thuận lợi
- Xã Minh Lập có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, có đường huyện lộ, liên xã chạy qua, tạo điều kiện giao lưu hàng hóa, phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Điều kiện tự nhiên thổ nhưỡng thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đa dạng về vật nuôi, cây trồng cho năng suất cao
Xã có quỹ đất phù hợp cho phát triển trồng cây trồng như chè, lúa và hoa mầu
4.1.3.2 Khó khăn và các vấn đề cần dược giải quyết
- Tiềm năng đất đai và lao động chưa được khai thác triệt để
- Trình độ cán bộ cơ sở chưa đồng đều vè năng lực quản lý kinh tế, cần
có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên
- Các ngành kinh tế chưa phát huy được hết khả năng và thế mạnh của địa phương như tiểu thủ công nghiệp, thương mại – du lịch Hạ tầng kỹ thuật
cơ sở chưa đồng bộ, tiềm năng đất đai và lao động chưa khai thác triệt để
- Nền kinh tế của xã đang chuyển dịch theo hướng phát triển công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp nhưng vẫn còn chậm
4.2 Hiện trạng nông thôn xã Minh Lập và đánh giá hiện trạng so với 19 tiêu chí nông thôn mới
4.2.1 Đánh giá thực trạng nông thôn so với 19 tiêu chí
- Căn cứ theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tiến hành khảo sát, đánh giá và xác định mức độ đạt được của từng Tiêu chí so với Bộ Tiêu chí quốc gia tại thời điểm lập quy hoạch như sau:
Trang 354.2.1.1 Quy hoạch và phát triển theo quy hoạch
(Tiêu chí số 1)
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ: Đang thực hiện
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới: Đang thực hiện
- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp: Đang thực hiện
- So với tiêu chí 1 của Bộ tiêu chí quốc gia Nông thôn mới đối với vùng trung du miền núi phía Bắc là đạt
Đề xuất: Tiến hành xây dựng 2 quy hoạch đó là: Quy hoạch phát triển
hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới và quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
4.2.1.2 Về hạ tầng kinh tế - xã hội
a Hiện trạng giao thông: (Tiêu chí số 2)
- Tổng chiều dài tuyến đường giao thông (đường liên xã, đường liên thôn, đường thôn xóm và đường ngõ xóm, đường nội đồng)
+ Đường liên xã: Có 02 tuyến đường với tổng chiều dài 10,44 km, hiện trạng là đường đã được cứng hóa với chiều rộng mặt đường 3,5m, nền đường 5m là trục đường chính của xã Minh Lập phục vụ nhu cầu đi lại và giao thương hàng hóa với các xã lân cận
+ Đường liên thôn: Có 06 tuyến với tổng chiều dài 9,6km đã được cứng hóa bằng bê tông toàn bộ chiếm 100% với mặt đường rộng 3m, nền đường 3m thuận tiện cho việc đi lại sinh hoạt của nhân dân
+ Đường thôn xóm: Hiện tại có 06 tuyến với tổng chiều dài 39,7km đã được rải cấp phối chiếm 100% với mặt đường rộng trung bình 2,5m, nền đường rộng trung bình 3,5m
+ Đường nội đồng: Gồm 14 tuyến với tổng chiều dài 5,27km hiện tại vẫn
là đường đất với chiều rộng mặt đường trung bình 2m - 2,5m
Trang 36Nhận xét: Xã Minh Lập có hệ thống giao thông đường bộ tương đối thuận lợi cho việc đi lại giao thương buôn bán của nhân dân So với bộ tiêu chí đối với vùng trung du miền núi phía bắc là đạt
∗ Đề xuất: Trong giai đoạn tới, cần ưu tiên đầu tư, kiện toàn hệ thống giao thông nội đồng đảm bảo thuận lợi cho việc đi lại sản xuất nông nghiệp của nhân dân Đồng thời thường xuyên có kế hoạch tu dưỡng bảo trì những tuyến đường đã được cứng hóa
b Thuỷ lợi (Tiêu chí 3)
- Hiện có hệ thống kênh mương với tổng chiều dài là 22km và đã được cứng hóa là 14,68km đạt 66,7%, số kênh còn lại chưa được cứng hóa là 33,3% trên toàn bộ địa bàn xã về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu nước tưới cho sản xuất phục vụ nông nghiệp
- Hệ thống hồ đập: trên địa bàn xã có 02 hồ đập thủy lợi là hồ Gốc Đa tại xóm Gốc Đa và đập Bà Cỏn tại xóm La Dịa cùng với 02 trạm bơm điện đảm bảo nước tưới cho hơn 60% diện tích lúa và hoa màu
- Hệ thống thủy lợi của xã Minh Lập về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp của nhân dân, so với bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới là đạt Tuy nhiên để chủ động tưới tiêu, giảm thiểu sự lệ thuộc vào thiên nhiên, tăng diện tích được tưới tiêu trên toàn xã, ổn định tưới tiêu, đa dạng hoá cây trồng, nâng cao năng suất sản lượng cây trồng, đảm bảo tiêu chí đề ra cần đầu tư nâng cấp đầu mối 02 công trình trạm bơm, xây dựng thêm 01 trạm bơm, làm mới đập đầu mối 01 công trình, kiên cố hóa 14,68 km mương đất còn lại
- Trạm biến áp 35/0,4kV: Các trạm lưới 35/0,4kV cấp điện cho khu vực nghiên cứu dùng trạm treo Có 07 trạm hạ áp, các trạm có công suất 180kVA
- 320kVA, tổng công suất đặt của các trạm là 1470kVA; 07 trạm đó gồm:
Trang 37+ Trạm biến áp Bình Minh tại xóm Cầu Mơn 1 công suất 180kVA + Trạm biến áp Minh Tiến tại xóm La Dịa công suất 180kVA
+ Trạm biến áp Trại Cài tại xóm Trại Cài 2 công suất 320kVA
+ Trạm biến áp Minh Lập tại xóm Cà Phê 1 công suất 180kVA
+ Trạm biến áp Minh Lý tại xóm Ao Sơn công suất 250kVA
+ Trạm biến áp Minh Lập 5 tại xóm Làng Chu công suất 180kVA + Trạm biến áp Minh Lập 6 tại xóm Bà Đanh 2 công suất 180kVA
- Lưới hạ áp 0,4kV: Mạng lưới hạ áp của khu vực nghiên cứu đi nổi dây nhôm trần, có tiết diện 25-35mm2 Đường dây 0,4kV trong khu vực nghiên cứu có kết cấu mạng hình tia
- Lưới chiếu sáng: Chưa có mạng lưới chiếu sáng đường giao thông
- Hiện trạng sử dụng điện: Tổng số hộ dân trên địa bàn xã được sử dụng điện đạt tỷ lệ 100%
∗ Đánh giá, đề xuất: So với Bộ tiêu chí về nguồn cấp điện của xã Minh Lập là đạt Cần nâng cấp và cải tạo trong thời gian tiếp theo đảm bảo phục vụ tốt hơn cho việc sử dụng của nhân dân
- Tổng số cán bộ giáo viên, công nhân viên của trường là: 29 người
- Cơ sở hạ tầng điểm trường chính:
cố, có công trình vệ sinh khép kín trong phòng
+ Nhà ở cho giáo viên: chưa có
+ Số phòng chức năng: 2 phòng , trong đó:
- Phòng hiệu trưởng: 28 m2
Trang 38- Phòng Y tế: 28 m2
+ Sân chơi: 224 m2, có trang bị đồ chơi
+ Công trình phù trợ: Có 1 bể chứa nước dung tích 6,0 m3, một công trình
vệ sinh, hàng rào xây, cổng sắt
- Các cụm điểm trường tại xóm Bà Đanh, Cà Phê, Cầu Mơn có cơ sở hạ tầng, sân chơi, trang thiết bị đầy đủ đảm bảo cho việc giảng dậy và học tập của trẻ
• Trường tiểu học
- Có 02 điểm trường
- Tống số học sinh: 489 cháu, gồm 18 lớp
- Tổng số cán bộ giáo viên, công nhân viên của trường là: 41 người
Cơ sở hạ tầng điểm trường tiểu học số 1
+ Nhà công vụ cho giáo viên: chưa có
+ Công trình phù trợ: Có 3 téc chứa nước inox, 1 sân chơi láng xi diện tích 600 m2, hàng rào xây, cổng sắt
+ Trang thiết bị: có 04 bộ máy vi tính và một số bàn ghế phục vụ cho làm việc và giảng dạy
+ Có 1 phòng hiệu trưởng, 1 phòng hiệu phó, 1 phòng hội đồng, 1 phòng
y tế, 1 phòng cho giáo viên, 1 phòng truyền thống, 1 thư viện, 1 phòng thiết bị giáo dục
+ Khu vệ sinh: 3 khu; nhà để xe: 1 nhà lợp mái proximang
Cơ sở hạ tầng điểm trường Tiểu học số 2 tại xóm La Dịa:
+ Diện tích khu đất: 867m2
Tổng số học sinh: 241 em
Tổng số giáo viên, cán bộ: 19 người
Trang 39+ Có 10 phòng học, gồm 1 nhà 2 tầng, 2 nhà 1 tầng kiên cố, tổng diện tích sử dụng: 600 m2 Các lớp học đã có điện chiếu sáng và quạt
+ Nhà công vụ cho giáo viên: chưa có
+ Công trình phù trợ: Có 2 téc chứa nước inox, 1 sân chơi láng xi diện tích 400 m2, hàng rào xây, cổng sắt
+ Trang thiết bị: có 04 bộ máy vi tính và một số bàn ghế phục vụ cho làm việc và giảng dạy
+ Có 1 phòng hiệu trưởng, 1 phòng hội đồng, 1 phòng y tế, 1 phòng truyền thống, 1 thư viện, 1 phòng thiết bị giáo dục
+ Khu vệ sinh: 2 khu vệ sinh đã khép kín; có nhà để xe giáo viên và học sinh riêng được lợp ngói
• Trường trung học cơ sở
- Địa điểm tại xóm La Dịa
+ Sân bê tong
+ Có 03 phòng ở cho giáo viên
+ Có nhà để xe riêng cho giáo viên và học sinh
∗ So sánh với Bộ tiêu chí là đạt, vì vậy trong thời gian tới cần tu sửa, mở rộng diện tích xây dựng thêm các công trình phụ trợ và phòng học, phòng
Trang 40chức năng để đật tiêu chuẩn với quy định đón chuẩn giáo dục giai đoạn 2 Xây dựng thêm nhà ở công vụ cho giáo viên và nhà ở bán trú cho học sinh, xây dựng các phòng chức năng, hệ thống cấp nước sạch - vệ sinh, hệ thống thoát nước cho tất cả các khu vực theo quy định về vệ sinh môi trường
e Cơ sở vật chất văn hoá (Tiêu chí 6)
- Hiện tại xã đã xây dựng được nhà đa năng tại trụ sở Uỷ ban xã phục
vụ cho nhu cầu sinh hoạt văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao
- Nhà văn hoá thôn bản: Hiện tại có 18/19 xóm có nhà văn hoá với diện tích khuôn viên trung bình là 500m2, trang thiết bị còn nghèo nàn, so với Bộ tiêu chí thì chưa đạt quy định của Bộ VH-TT-DL, cần đầu tư xây dựng để người dân có nơi sinh hoạt đạt chuẩn
f Chợ (Tiêu chí 7)
- Trên địa bàn xã có 01 chợ phụ vụ hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa
với các xã lân cận giáp ranh trên địa bàn xã
- So sánh mức độ đạt được so với Tiêu chí là 80%, cần phải tu sửa, sửa sang quy hoạch lại khu vực trong chợ đảm bảo hoạt động mua bán của nhân
dân
g Bưu điện (Tiêu chí 8)
- Hiện trên địa bàn xã có 1 trạm bưu điện diện tích khu đất: 100 m2
- Gồm 1 phòng có diện tích 27 m2, 4 trạm phát sóng Vietel, vinaphone
đặt tại xóm Cầu Mơn, Cà Phê, Làng Chu, Bà Đanh
- Đã có nối mạng internet đến điểm bưu điện và xóm các xóm trên địa
bàn
∗ So với bộ tiêu chí là đạt trong trong thời gian tới cần nâng cấp trạm bưu điện xã, đầu tư thêm trang thiết bị
h Nhà ở dân cư (Tiêu chí 9)
∗ Hiện trạng không gian ở thôn bản: Các hộ sống tập trung thành từng xóm, trên các sườn đồi, núi Xen kẽ giữa các hộ là đường giao thông ngõ xóm, xe máy có thể đi lại được Bình quân đất ở/hộ là 380 m2
∗ Hiện trạng khuôn viên mỗi hộ: Gồm nhà ở (nhà ở và bếp ở trong nhà), chuồng nuôi gia súc gia cầm, xung quanh nhà trồng cây ngắn ngày như: rau,