ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN ANH DŨNG Tên đề tài: NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG LƯU VỰC SÔNG ĐÁY
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ANH DŨNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
TRONG LƯU VỰC SÔNG ĐÁY - NHUỆ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính môi trường Khoa : Quản lý tài nguyên Khóa học : 2010-1014
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đàm Xuân Vận
Trường ĐHNL Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2014
Trang 22
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn” của các trường chuyên nghiệp nước ta nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn quan trọng trong quá trình đào tọa của nhà trường giúp sinh viên sau khi ra trường tránh khỏi sự bỡ ngỡ trước công việc, tập làm quen với công việc, bổ sung thêm kiến thức chuyên nghành, nâng cao khả năng giao tiếp cũng như kỹ năng thực hành
Để thực hiện những mục tiêu trên, được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên tôi đã tiến
hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mối tương quan giữa chất lượng môi trường nước và sức khỏe cộng đồng dân cư trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy”
Trong thới gian thực giện đề tài, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Quản Lý Tài Nguyên và đặc biệt là sự giúp đỡ
của thầy giáo PGS.TS Đàm Xuân Vận, cùng sự giúp đỡ tận tình của
các cán bộ Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường Hà Nội các cán bộ Trung tâm Liên kết Đào tạo Việt Nam - Hàn Quốc cùng toàn thể nhân dân sống quanh lưu vực sông Đáy - Nhuệ đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Do thời gian và trình độ còn có hạn chế nên đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự đóng góp của các thầy, cô
để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 05 năm 2014
Nguyễn Anh Dũng
Trang 33
MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1 Sức khoẻ môi trường 4
2.1.2 Ô nhiễm nguồn nước và tác động tới sức khoẻ 5
2.1.2.1 Ô nhiễm nguồn nước 6
2.1.2.2 Các bệnh liên quan tới nguồn nước 6
2.1.2.3 Ảnh hưởng tới con người 7
2.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 8
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 8
2.2.1.1 Vị trí địa lí 8
2.2.1.2 Khí hậu thuỷ văn 11
2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 15
2.2.2.1 Dân số và lao động 15
2.2.2.2 Điều kiện kinh tế khu vực 17
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Nội dung nghiên cứu 26
3.3 Phương pháp nghiên cứu 27
3.3.1 Thu thập tài liệu 27
3.3.2 Phỏng vấn và điều tra thực địa 27
3.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh chất lượng nguồn nước 27
3.3.4 Áp dụng công thức spearman và phân tích số liệu 28
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Hiện trạng chất lượng môi trường nước tại lưu vực sông Đáy- Nhuệ 30
Trang 44
4.1.1 Các vấn đề môi trường tại khu vực 30
4.1.1.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm cho khu vực 31
4.1.1.2 Diễn biến chất lượng nước sông Nhuệ- Đáy 33
4.1.1.3 Nhận xét 40
4.2 Tình hình dịch bệnh 41
4.4 Đánh giá mối tương quan giữa tình hình môi trường nước tại lưu vực sông tới sức khỏe cộng đồng dân cư trong lưu vực 48
4.4.1 Tính toán xem xét mối tương quan giữa chất lượng nước và tác động xấu tới sức khoẻ con người 48
4.4.2 Xem xét mối tương quan giữa tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy với một số thông số ô nhiễm môi trường nước 50
4.4.2.1 Mối tương quan giữa tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và BOD5 50
4.4.2.2 Mối tương quan giữa tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy với Coliform 52
4.4.2.3 Mối tương quan giữa tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy với chỉ số Coliform trong tháng 2/2014 ở các huyện ven sông Đáy- Nhuệ 53
4.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sức khoẻ người dân khu vực nghiên cứu và bảo vệ môi trường lưu vực sông 54
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 5
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
KCN : Khu công nghiệp LVHTS : Lưu vực hệ thống sông LVS : Lưu vực sông
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TNMT : Tài nguyên môi trường WHO : Tổ chức y tế thế giới XNK : Xuất nhập khẩu HĐND : Hội đồng nhân dân
Trang 6Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sự phát triển kinh tế xã hội đem lại thu nhập cao, cải thiện đời sống cho người dân nhưng đi liền với nó là tình trạng môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng
Sông Đáy - Nhuệ cũng được xác định là một trong những con sông ô nhiễm nhất ở miền Bắc và vấn đề môi trường ở đây cũng đã được đề cập đến nhiều trong các dự án phát triển Các khu công nghiệp, kinh doanh dịch
vụ ngày càng phát triển làm cho tình trạng ô nhiễm ngày càng diễn biến phức tạp hơn Nguy cơ môi trường ô nhiễm ngày càng cao sẽ làm cho sức khỏe cộng đồng ít nhiều bị ảnh hưởng theo
Hà Nam nằm trong đồng bằng sông Hồng, nơi được coi là vùng phát triển nhất của cả nước, là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, nơi giao lưu giữa thủ
đô với các tỉnh phía Nam Chính vì vậy kinh tế khu vực này khá phát triển Trong khi đó sông Nhuệ nằm trong tỉnh Hà Nam, được báo động là ô nhiễm nghiêm trọng do nó chứa đựng nước thải của Hà Nội, Hà Tây và cả
Hà Nam nữa Mặt khác những nguồn thải này lại không được xử lý mà đổ trực tiếp ra sông gây ô nhiễm rất lớn Trước tình hình đó chúng ta phải có biện pháp để nhằm cải thiện tình hình môi trường nước của khu vực này và xem xét tình trạng sức khỏe của cộng đồng dân cư trong khu vực để có thể giải quyết các vấn đề sức khoẻ và ô nhiễm môi trường Đây chính là mối quan tâm lớn hiện nay của rất nhiều người
Ninh Bình cũng như Hà Nam, đều có nền kinh tế xã hội tương đồng, nằm trong một vùng điều kiện địa lý Đây cũng là tỉnh nằm trong LVS Đáy- Nhuệ và được đánh giá là cũng chịu ảnh hưởng từ môi trường khu
Trang 7vực này khá lớn vì ô nhiễm sông Đáy cũng bắt nguồn từ ô nhiễm những con sông nhánh đổ vào như sông Nhuệ tại cầu Hồng Phú, sông Hoàng Long tại Gia Tân Trước hiện trạng đó chúng ta phải tích cực hơn trong công tác bảo vệ môi trường, đảm bảo sức khoẻ người dân
Hiện tại cũng có nhiều dự án, đề tài nghiên cứu về lưu vực sông Đáy - Nhuệ, nhưng tại đây còn nhiều vấn đề phải quan tâm Xuất phát từ thực tế cần thiết của hai khu vực này nên tôi đã thực hiện đề tài tốt nghiệp:
“Nghiên cứu mối tương quan giữa chất lượng môi trường nước và sức khoẻ cộng đồng dân cư trong lưu vực sông Đáy - Nhuệ ” Qua đó nhằm
đưa ra những giải pháp hạn chế tình trạng ô nhiễm và nâng cao sức khoẻ cộng đồng dân cư xung quanh lưu vực
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá được hiện trạng môi trường chất lượng nước sông trong LVS Đáy - Nhuệ, nhằm có được bức tranh đầy đủ về hiện trạng môi trường tại lưu vực thông qua các thông số DO, BOD5, Coliform… Từ đó đánh giá được mối tương quan giữa chất lượng nước sông có ảnh hưởng tới sức khỏe của dân cư quanh lưu vực Góp phần phục vụ cho công tác bảo vệ, quy hoạch, và sử dụng nguồn nước này
1.3 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
- Xác định được chất lượng môi trường mước trong khu vực nghiên cứu làm cơ sở đè xuất các giải pháp bảo vệ môi trường tại lưu vực sông
- Đánh giá được mối tương quan giữa việc ô nhiễm nguồn nước tại lưu vực sông có nhr hưởng tới sức khỏe đời sống của dân cư quanh lưu vực, mức đọ ảnh hưởng của môi trường nước tới đời sống của cộng đồng dân cư
- Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp thêm thông tin về chất lượng nước tại LVS Đáy - Nhuệ góp phần giúp các cấp nghành địa phương
Trang 8có định hướng về quy hoạch đô thị về cấp thoát nước sinh hoạt và vấn đề nước thải tại các khu công nghiệp
- Kết qủa nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng để xây dựng chương trình dự án quản lý cũng như để quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
và môi trường tại các huyện lỵ trong lưu vực sông
- Trong lĩnh vực khoa học công nghệ có liên quan: trên cơ sở hiện trạng chất lượng nghuồn nước trên LVS có thể đề xuất các biện pháp tổng hợp bảo vệ sử dụng khai thác hợp lý nguồn nước
Trang 9Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Sức khoẻ môi trường
Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần
và xã hội Mỗi điều kiện và hiện tượng của môi trường bên trong hay bên ngoài đều có tác động nhất định đến sức khoẻ Có sức khoẻ tức là có sự thích ứng của cơ thể với môi trường, ngược lại bệnh tật là biểu thị sự không thích ứng Như vậy, sức khoẻ là một tiêu chuẩn cho sự thích ứng của cơ thể con người và cũng là một tiêu chuẩn của môi trường
Môi trường sống của con người là phần không gian mà con người tác động, sử dụng và bị nó làm ảnh hưởng bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên,
xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người Nói một cách khác môi trường là tập hợp các thành phần vật chất (tự nhiên và nhân tạo) và xã hội xung quanh con người Các thành phần tự nhiên của môi trường sống là tất cả các yếu tố hữu sinh lẫn vô sinh Các thành phần nhân tạo
là tất cả các vật thể hữu hình do con người tạo nên Còn các thành phần xã hội
là sự tổng hoà các quan hệ con người với nhau, có ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và toàn thể cộng đồng xã hội Chất lượng môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con người
Sức khoẻ môi trường bao gồm tất cả những vấn đề liên quan tới sức khoẻ, tình trạng ốm, bị bệnh và bị thương tật của con người do phải chịu tác động từ các yếu tố môi trường vật lý, hoá học, sinh học, xã hội và tâm
lý Thuật ngữ này cũng để dùng gọi chung các lý thuyết, thực tiễn về đánh giá, điều chỉnh, kiểm soát và phòng ngừa những yếu tố, thành phần môi trường có khả năng gây nên những tác động có hại cho sức khoẻ con người,
cả thế hệ hiện tại và tương lai
Trang 10Căn cứ vào trình độ nhận thức và kiến thức hiện nay của xã hội, các
tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia đã chỉ ra các nhóm yếu tố môi trường nước dễ gây ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng như sau:
•Ô nhiễm nguồn nước do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề và sinh hoạt, không được tiếp cận với nguồn nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt…
• Nhà ở và điều kiện vệ sinh quá thấp kém, lạc hậu và không hợp vệ sinh
•An toàn thực phẩm do ô nhiễm các nguồn nguyên liệu dùng cho chế biến và sản xuất lương thực, thực phẩm, thói quen chế biến tiêu dùng thực phẩm, công nghệ chế biến thực phẩm không hợp vệ sinh và an toàn…
•Rủi ro vi sinh vật do sự phát sinh, lây lan các loại vi trùng, vi khuẩn, vi rút gây bệnh trong môi trường
•Thiên tai, biến đổi khí hậu do môi trường
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố vào đầu năm 2011, khoảng 24% bệnh tật và số ca tử vong trên thế giới có căn nguyên từ môi trường Tỷ lệ này tính riêng ở trẻ em cao hơn với kết luận thống kê cho rằng 1/3 bệnh tật ở trẻ em có căn nguyên từ môi trường Trong số 102 loại bệnh thường gặp được thống kê ở báo cáo “ Sức khoẻ toàn cầu của WHO ” có tới 85 bệnh có căn nguyên từ môi trường Xét theo từng vùng địa lý thì tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh môi trường ở các nước đang phát triển (25%) cao hơn so với ở các nước phát triển (17%)
2.1.2 Ô nhiễm nguồn nước và tác động tới sức khoẻ
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã làm gia tăng chất thải ra môi trường nước, làm tăng việc ô nhiễm nguồn nước Việc nghiên cứu mối liên hệ giữa ô nhiễm nguồn nước với sức khoẻ con người bắt đầu từ đầu những năm 1800 Một trong những nhà nghiên cứu chú ý sớm nhất về vấn đề này đó là John Snow Snow đã xác định dòng thải từ hệ
Trang 11thống nước thải của Lon Don đi qua vùng cung cấp nước uống làm cho người dân vùng đó bị nhiễm dịch tả Từ khi phát minh khoa học của Snow
về dịch bệnh và sức khoẻ môi trường được phát triển thì có thể đánh giá các thành phần có thể nhìn thấy trong ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng Hiểu biết về mối liên hệ giữa sức khoẻ cộng đồng và ô nhiễm là vô cùng quan trọng trong việc phát triển các hoạt động quản lý ô nhiễm, đảm bảo sức khoẻ nhân dân
VD Thế Giới
Sự quan tâm của phương tiện thông tin trên thế giới cũng đã chỉ ra sự suy thoái của các con sông và ảnh hưởng tới sức khoẻ con người Tại Việt Nam, năm năm trở lại đây, cộng đồng cũng khá là quan tâm tới ô nhiễm các con sông và tác động của chúng tới sức khoẻ con người Hiểu biết về mối liên quan giữa ô nhiễm nguồn nước với sức khoẻ cộng đồng cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các bộ ban ngành liên quan những thông tin quan trọng để trả lời sự chú ý của cộng đồng và đưa ra những quyết định điều chỉnh có hiệu quả nhất
2.1.2.1 Ô nhiễm nguồn nước
Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận được Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên
2.1.2.2 Các bệnh liên quan tới nguồn nước
Mặc dù tỷ lệ tử vong ở trẻ em và tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm đã giảm hẳn, song các bệnh liên quan tới nước và vệ sinh môi trường, sức khỏe cộng đồng vẫn là vấn đề lớn ở Việt Nam Theo đánh giá của WHO, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có tỷ lệ tử vong cao do các nguyên nhân liên quan tới tình trạng ô nhiễm nguồn nước và vệ sinh môi trường,
Trang 12không được tiếp cận với nước sạch, thiếu nước, điều kiện nhà ở và dịch vụ
vệ sinh môi trường thấp kém, khoảng 10- 50 ca/triệu dân/năm (mức thấp nhất là 0-10 ca/ triệu dân/năm; mức cao nhất là 500- 1.050 ca/ triệu dân/ năm) Tổ chức
Y tế thế giới đã chỉ ra danh sách một số bệnh truyền nhiễm liên quan tới nguồn nước như tả, lỵ trực trùng, tiêu chảy, thương hàn, lỵ amíp
Bảng 2.1: Một số bệnh truyền nhiễm liên quan tới nguồn nước
Loại bệnh Tỷ lệ mắc/100.000 dân theo các năm
Lỵ trực trùng 64,81 57,33 54,04 53,47 52,26 Tiêu chảy 1390,17 1332,4 1201,75 1124,96 1095,61
2.1.2.3 Ảnh hưởng tới con người
Con người luôn là đối tượng được quan tâm hàng đầu trong thời đại hiện nay Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển càng làm tăng thêm thu nhập, đời sống nhân dân được cải thiện nhưng môi trường cũng bị ảnh hưởng khá lớn và nó quay trở lại tác động tới con người
Tình trạng ô nhiễm môi trường đã khiến Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) phải lên tiếng cảnh báo: Khoảng 80% dân số Việt Nam bị nhiễm giun sán, phổ biến là giun tóc, giun móc… Việt Nam cũng là nơi có tỷ lệ bệnh truyền nhiễm cao, 1/2 trong tổng số các bệnh truyền nhiễm mắc cao nhất là bệnh liên quan tới nước sạch và vệ sinh môi trường Hậu quả của tình trạng
ô nhiễm trên rất rõ ràng Theo kết quả điều tra của ĐH Y Hà Nội về tình trạng bệnh tật do nguồn nước sông Nhuệ ở 2 xã Hoàng Tây và Nhật Tây (Kim Bảng, Hà Nam): 21% trẻ em dưới 5 tuổi tại khu vực này mắc bệnh tiêu chảy, 86% trẻ em mắc bệnh giun đũa, 76% mắc bệnh giun tóc và 9%
Trang 13mắc giun móc 60% dân số Kim Bảng nhiễm bệnh về mắt, 20% nhiễm bệnh ngoài da, 53% nhiễm bệnh phụ khoa Nước sông bị ô nhiễm đã gây tác động mạnh và trực tiếp tới đời sống của người dân tại lưu vực sông, đặc biệt là người dân nông thôn và người nghèo Họ không được tiếp cận với
hệ thống nước sạch hoặc thiếu nước cho sinh hoạt Tại khu vực nông thôn,
tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch trung bình toàn quốc năm 2012 là 66%, trong khi đó tỷ lệ này ở LVS Cầu là 61%, LVS Nhuệ - Đáy là 70% và LVHTS Đồng Nai là 67% Việc đầu tư hệ thống xử lý nước sinh hoạt cho một hộ gia đình thường vượt quá mức thu nhập bình quân và mức sống của người dân nông thôn Do đó, phần lớn người dân nông thôn khai thác và sử dụng trực tiếp nước sông phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt
Trẻ em sống trong LVS Đáy - Nhuệ cũng có mắc các bệnh liên quan tới ô nhiễm nguồn nước do thói quen và hoạt động của chúng như khi chúng nghịch bẩn tay chân rồi lại đưa tay lên miệng Các con sông bị ô nhiễm do đó chúng ta ít thấy hình ảnh trẻ con bơi đùa trên sông và chơi trò chơi nữa Các chất gây ô nhiễm nguồn nước có thể làm tăng nguy cơ ảnh hưởng tới quá trình tăng trưởng phát triển tâm sinh lý, cách ứng xử khác nhau Trong khi đó thói quen sinh hoạt của chính người dân trong lưu vực cũng là nhân tố kích thích, làm gia tăng khả năng nhiễm bệnh Trong lưu vực chúng ta vẫn nhìn thấy hình ảnh những người dân dùng nước sinh hoạt lấy luôn từ nước sông hay rửa rau bằng nước sông Phải chăng do thu nhập quá thấp cùng nhận thức, thói quen sinh hoạt của họ mà chính người dân đã làm ảnh hưởng tới sức khỏe của chính mình
2.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lí
Lưu vực sông Đáy - Nhuệ là một trong những lưu vực sông lớn của nước ta, có vị trí đặc biệt quan trọng, đa dạng, phong phú về các hệ sinh
Trang 14thái và tài nguyên, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế cả nước và nền kinh tế của đồng bằng sông Hồng nói riêng Lưu vực này nằm trong hữu ngạn sông Hồng với diện tích 7.897,12 km2, dân số đến cuối năm
2013 là 7,9 triệu người Lưu vực bao gồm một phần thủ đô Hà Nội, ba thành phố, 45 thị xã, thị trấn, 47 quận huyện và hơn 900 xã, phường Lưu vực có toạ độ địa lý từ 20-21020’ vĩ độ Bắc và 1050-106030’ kinh độ Đông, bao gồm địa phận hành chính các tỉnh Hà Nội, Hoà Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hà Tây
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy thuộc phần phía Tây Nam của vùng đồng bằng Bắc Bộ, ở phái hữu ngạn sông Hồng Lưu vực được tính từ vùng núi cao Ba Vì - Hà Tây, vùng núi cao Hòa Bình kéo dài xuống đồng bằng hướng về phía Đông Nam tới đường bờ biển của tỉnh Nam Định, Ninh Bình Lưu vực có dạng dài hình nan quạt bao gồm gần như toàn bộ tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, một phần Hà Nội và Hòa Bình Lưu vực có một nhánh sông chính lấy nước từ sông Hồng qua các công trình điều tiết nước là sông Đáy, sông Nhuệ , sông Châu Giang, sông Đào Ngoài
ra lưu vực còn thu nhận nguồn nước tự nhiên, làm nhiệm vụ thoát nước của các nhánh sông khác như sông Tích, sông Hoàng Long, sông Thanh Hà sau khi chảy qua các thành phố, thị trấn, thị xã, khu dân cư, khu công nghiệp, khu dịch vụ làng nghề… Lưu vực sông Nhuệ - Đáy có nhiều phụ lưu lớn chảy qua thành phố thị xã, thị trấn, tụ điểm dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, dịch vụ, làng nghề…đây là nguồn xung cấp nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp công nghiệp và dân sinh
Hà Nam có kinh độ từ 1050 45' - 1060 10' kinh độ Đông và vĩ độ từ 200
21' - 200 43' vĩ độ Bắc là một tỉnh nằm trong LVS Nhuệ - Đáy Về phía Bắc, Tây Bắc, lưu vực sông Nhuệ - Đáy thuộc tỉnh Hà Nam giáp với tỉnh Hà Tây về phía thượng nguồn, phía Đông giáp sông Hồng, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Nam Định Mặt khác, vị trí LVS
Trang 15Đáy - Nhuệ thuộc tỉnh Hà Nam là nơi tích hợp và chuyển vật chất cho toàn
bộ hạ lưu sông Đáy trước khi đổ ra biển qua cửa Đáy tại Kim Sơn - Ninh Bình Hà Nam có địa ình đa dạng vừa có đồng bằng, có vùng bán sơn địa, vừa có vùng trũng, vùng đồi núi phía tây có nhiều tài nguyên khoáng sản đặc biệt là đá vôi, để phát triển sản xuất vật liệu xây dựng nhất là xi măng, đây cũng là vùng có tiềm năng phát triển du lịch Vùng đồng bằng có diện thích đất đại màu mỡ bãi bồi ven sông Hồng, sông Châu Giang, là tiền đề
để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm và du lịch sinh thái
Ninh Bình nằm ở cực Nam Đồng bằng Bắc Bộ có tọa độ địa lý từ
19o50' đến 20o27' vĩ độ Bắc, 105o32' đến 106o27' kinh độ Đông cũng là một tỉnh nằm trong lưu vực sông Đáy - Nhuệ Ở vị trí điểm nút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, nên địa hình Ninh Bình bao gồm cả ba loại địa hình Vùng đồi núi hay còn gọi là vùng "bán sơn địa" ở phía Tây và Tây Nam bao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, phía Nam giáp Thanh Hoá là Tam Điệp còn gọi là vùng đồi núi Đồng Giao); vùng đồng bằng và vùng ven biển ở phía Đông và phía Nam Ninh Bình có bờ biển dài 18km Bờ biển Ninh Bình hàng năm được phù sa bồi đắp lấn ra trên 100m Đây là vùng mà nước LVS Nhuệ - Đáy được đổ ra biển Đông thông qua cửa Đáy Địa hình Ninh Bình phân chia thành ba vùng tương đối rõ rệt, vùng đồi núi ở phái Tây và phía Bắc, vùng đồng bằng và vùng ven biển ở phái Đông và phía Nam Hệ thống sông ngòi ở Nam Định bao gồm hệ thống sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bôi sông Ân sông Vạc, sông Lạc, sông Vân Sàng tổng chiều dài 496km , phân bố rộng khắp trong toàn tỉnh, các sông thường chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam để đổ ra biển Đông, Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng
ẩm mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông khô lạnh từ thang 11 năm trước đến tháng 4 năm sau
Trang 162.2.1.2 Khí hậu thuỷ văn
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy có nền khí hậu mang đầy đủ những thuộc tính cơ bản của khí hậu miền Bắc Việt Nam, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùa đông khá lạnh và ít mưa, mùa hè nắng nóng, mưa nhiều
Hà Nam có nhiệt độ trung bình khoảng 23,30C, mưa tương đối nhiều (lượng mưa trung bình khoảng 1600-1900 mm), độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 84% Tuy nhiên khí hậu có sự phân hoá theo mùa phù hợp với chế độ thuỷ văn, dòng chảy trong năm Các thông số thuỷ văn chính của sông Đáy tại Phủ Lý bao gồm:
- Mực nước kiệt nhất -0,14m
- Mực nước lũ lịch sử (1985) 4,72 m
- Mực nước báo động I: +2.5, II: +3.3,III: +4.1
- Mực nước thiết kế khi phân lũ 5000 m3/s: 5,8 m
Mạng lưới thủy văn LVS Nhuệ - Đáy thuộc tỉnh Hà Nam khá dày bao gồm phần hạ nguồn sông Nhuệ, hạ nguồn sông Đáy, sông Châu Giang
và còn có các nhánh lớn như sông Đăm, Đồng Bồng, Cầu Ngòi, Tô Lịch cùng nhiều kênh mương chi lưu các sông đan xen các ao, hồ, đầm Tài nguyên nước rất phong phú song tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông Nhuệ
đã làm suy giảm giá trị tài nguyên nước ở tỉnh Hà Nam Tại vùng này rất nhạy cảm với ngập lụt nên sẽ không lường trước hết được hậu quả khi ngập lụt kết hợp với ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy Vì vậy cần sớm có biện pháp nghiêm ngặt trong phòng chống lũ và ngăn chặn ô nhiễm nguồn nước
Ninh Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau
• Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.700-1.800 mm
• Nhiệt độ trung bình: 23,5°C
• Số giờ nắng trong năm: 1.600-1.700 giờ
Trang 17• Độ ẩm tương đối trung bình: 80-85%
Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi rừng Tây Bắc của Tổ quốc Trên địa bàn tỉnh có hệ thống sông ngòi dày đặc như: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Vạc, sông Vân tạo thành mạng lưới giao thông thuỷ và tài nguyên nước vô cùng phong phú rất thuận tiện cho giao lưu phát triển kinh
tế trong và ngoài tỉnh Ninh Bình có chế độ nhiệt phân ra 2 mùa rõ rệt, mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hạ tue tháng 5 đến tháng 10 Tuy nhiên thời gian kéo dài của mùa, mức độ lạnh của mùa đông, mức độ nóng của mùa hạ giữa các năm có thể rất khác nhau Thời gian bắt đầu và kết thúc của mùa khí hậu có thể sớm hơn vài ba tuần so với trung bình nhiều năm Về mùa đông, ảnh hưởng của không khí áp cao Xibia tràn xuống làm cho nền nhiệt độ hạ thấp thường có thời tiết lạnh khô Mùa đông thường có gió mùa Đông Bắc lạnh làm cho có tới 2 - 3 tháng nhiệt độ trung bình xuống dưới mười tám 18°C, khu vực đá vôi Cúc Phương (vùng núi huyện Nho Quan) lạnh hơn cả ở đây có tháng nhiệt đọ trung bình thấp xuống dưới 15°C, nhiệt độ thấp trong mùa đông có thời điểm là 3°C và nhiều khi xuất hiện sương muối Giói mùa Đông Bắc rét lạnh gây ra một số khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống Tuy nhiên nhiệt độ tháp không kéo dài liên tục bởi xem kẽ những đợt không khí lạnh là những đợt không khí nhiệt đới biển ấm hơn xâm nhập vào thay thế thời tiết làm ấm dần lên, mùa hạ có gió mùa tây nam hội tụ với gió Tín Phong gây mưa nhiều Trong mùa hạ Ninh Bình còn thường xuyên chịu ảnh hưởng cảu kiểu thời tiết nắng nóng khô do gió Lào gây nên
Ninh Bình có mạng lưới sông ngòi khá phong phú phân bố tương đối đều gồm hàng chục các con sông lớn nhỏ với tổng chiều dài 1000km Sông ngòi Ninh Bình vừa có tác dụng dẫn nước sông phù sa màu mỡ còn cung cấp cho đồng ruộng, lại còn tác dụng tiêu nước trong đồng ruộng ra sông khi bị mưa úng lụt
Trang 18Hình 2.1: Bản đồ hành chính lưu vực sông Đáy – Nhuệ
Trang 19Hình 2.2: Bản đồ thủy lệ lưu vực sông Đáy – Nhuệ
Trang 202.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Số dân trong độ tuổi lao động (từ 15- 60 tuổi) chiếm tới 50% dân số khu vực Trong khi đó ở Hà Nam thì tỷ lệ nam giới chiếm tới 51% còn ở Ninh Bình lại có xu hướng ngược lại nam chỉ chiếm khoảng 47-48% Điều này cũng có thể ảnh hưởng tới việc phân bố lao động trong cơ cấu kinh tế của mỗi tỉnh Nhìn vào bảng dưới ta thấy tại một số huyện có kinh tế khá phát triển thì dân số tập trung khá cao như ở Phủ Lý (Hà Nam) mật độ dân
số là 2.403 người/km2, Yên Khánh (Ninh Bình) cũng tập trung tới 1.035 người/km2 cao gấp 3-4 lần so với mật độ dân số chung của cả nước
Trang 21Bảng 2.2: Dân số các huyện thuộc tỉnh Hà Nam và Ninh Bình năm 2013
Tỉnh
Dân số (*1000 người)
Diện tích (km 2 )
Mật độ dân số (người/km 2 )
Nam (*1000 người)
Nữ (*1000 người)
Trang 222.2.2.2 Điều kiện kinh tế khu vực
Thu nhập chính của các tỉnh trong LVS Đáy - Nhuệ chủ yếu là từ nông nghiệp Có khoảng 80% người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp Ngành nông, lâm, thuỷ hải sản đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế của các tỉnh trong lưu vực Tuy nhiên hiện nay người lao động đang dần có sự chuyển dịch sang ngành công nghiệp và dịch vụ Đó là kết quả của sự di cư dân từ nông thôn ra thành thị
Hà Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hằng năm là 13% GDP bình quân đầu người là 5,09 triệu đồng/người/năm Tỉnh đang phấn đấu đến năm 2015 tốc độ tăng trưởng kinh tế là 15,4% và GDP bình quân đầu người đạt 10,52 triệu đồng/năm Trong lĩnh vực ngoại thương, hoạt động XNK thời gian qua đã đi vào ổn định và có sự phát triển đáng kể Kim ngạch XNK năm 2013 ước đạt 1.178 triệu USD, bằng 130,9% kế hoạch, tăng 51,9% so với năm 2012 Có được thành công đó là do nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO, SA 8000 Đến nay hàng hóa xuất khẩu của Hà Nam đã có mặt ở hầu hết khắp các châu lục, đồng thời từng bước thâm nhập và tiếp cận thị trường mới… Song song với, hoạt động xúc tiến thương mại của tỉnh rất được chú trọng và mở rộng hơn, đặc biệt việc đưa hàng việt về nông thôn đã được triển khai sâu rộng, thu hút đông đảo sự tham gia của các doanh nghiệp với chất lượng ngày càng được nâng lên rõ rệt Bước sang nãm 2014, Hà Nam đã chuẩn bị những giải pháp hữu hiệu
để tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, phấn đấu tổng giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) trên địa bàn đạt 17.274,5 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2013; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 14.000 tỷ đồng, tăng 14,8% so với năm 2013; giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 700 triệu USD tăng 21,6% so với năm 2013
Trang 23Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế năm 2013 và dự báo năm 2015
tỉnh Hà Nam (% GDP)
Năm
Ninh Bình là một tỉnh phía Nam châu thổ sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội 90 km về phía Nam, diện tích 1.384,2 km2, dân số 908.224 người Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số năm 2012 xếp thứ 24/64, đứng thứ 5 ở miền Bắc và là một trong những tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam (13/64) Năm 2012 thu ngân sách đạt 1.140 tỷ đồng, là tỉnh thứ 26/64 đạt mức thu 1000 tỷ Ninh Bình là một tỉnh có xuất phát điểm thấp hơn so với các tỉnh cùng khu vực đồng bằng sông Hồng vì là tỉnh giao thoa giữa miền núi và đồng bằng Thế mạnh kinh tế của tỉnh là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch
Thực hiện đường lối đổi mới của đảng và nhà nước những năm gần đây nền kinh tế Ninh Bình đã có nhiều thay đổi khởi sắc và những dấu ấn đáng ghi nhận Năm 2013 lĩnh vực sản xuất công nghiệp giá trị sản xuất đạt trên 15,5 nghìn tỷ đồng tăng 12,1% so với năm 2012 và đạt 95,7% kế hoạch cả năm, nhưng bên cạnh đó thì sản xuất nông, lâm, thủy sản còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của các cơn bão số 5 số 6 và dịch bệnh trong mùa vụ xong sản xuất toàn nghành năm 2013 thu ngân sách đạt 2855 tỷ đồng đạt 100,2 kế hoạch mà HĐND tỉnh đã giao tăng 11,7% so với năm
2012 Bên cạnh những yếu tố thuận lợi về giao thông, vị trí địa lý thì tỉnh
Trang 24Ninh Bình có nhiều tài nguyên thích hợp để phát triển các vùng nguyên liệu cho các nghành chế biến thủy sản, hoa quả xuất khẩu hay các loại hàng hóa thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là tài nguyên đá vôi và các loại khoáng sản phù hợp để phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng Mục tiêu của tỉnh vẫn là tiếp tục tăng tỷ trọng trong ngành công nghiệp, xây dựng, giảm tỷ trọng trong ngành nông nghiệp
Bảng 2.4: Cơ cấu kinh tế năm 2013 và dự báo năm 2015 tỉnh Ninh Bình
(% GDP)
Năm
Nông nghiệp
Mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Hà Nam
có xu hướng giảm dần trong những năm vừa qua từ 52,6% năm 1995 xuống 39,3% năm 2000 và năm 2008 còn 28,4% cho đến năm 2013 là 27% nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng
Trong đó trồng trọt tại Hà Nam là lĩnh vực quan trọng nhất và có đóng góp quan trọng nhất trong giá trị sản xuất nông nghiệp Hà Nam Theo niên giám thống kê của tỉnh Hà Nam thì nó chiếm tới 72,8% giá trị sản xuất nông nghiệp (2009) cùng nhóm cây trồng chủ yếu là cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn…), rau đậu các loại, cây công nghiệp và cây ăn quả Cùng với trồng trọt thì chăn nuôi cũng phát triển một cách ổn định và liên tục Giá trị sản xuất trong lĩnh vực chăn nuôi đã tăng từ 248,100 triệu đồng/năm
2009 lên 344,960 triệu đồng năm 2013 Chăn nuôi phát triển đã góp phần
Trang 25nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân và là một bước tiến quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Hà Nam
Cùng với sự phát triển nông nghiệp chung của cả lưu vực, Ninh Bình
có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều thành phần vì bao gồm ba loại địa hình: biển, đồi núi, đồng bằng Tỉnh đã tập trung chỉ đạo chuyển được gần 9.000 ha đất nông nghiệp trồng cây có giá trị thấp sang nuôi trồng các loại cây, con có giá trị kinh tế cao như: nuôi tôm sú, trồng cói làm chiếu và các mặt hàng mỹ nghệ khác ở Kim Sơn, nuôi tôm càng xanh, trồng dứa ở Tam Điệp, Nho Quan, nuôi thả cá chim trắng ở Gia Viễn, Hoa Lư, cấy các giống lúa đặc sản: tám, nếp, dự ở Kim Sơn, Yên Khánh Năm 2013 năng suất lúa toàn tỉnh đạt 110 tạ/ha; tổng sản lượng thóc đạt 47,1 vạn tấn; bình quân lương thực đầu người đạt 518 kg Cả tỉnh có 294 trang trại mỗi năm doanh thu bình quân từ 20 triệu đồng trở lên
Hình 2.3: Biểu đồ số lượng gia súc gia cầm của các tỉnh Hà Nam,
Ninh Bình theo các năm (nghìn con)
Trang 26Công nghiệp
Các ngành công nghiệp chủ yếu của Hà Nam là sản xuất xi măng, khai thác và chế biến đá xây dựng, sản xuất gạch ngói, chế biến nông sản thực phẩm, dệt may Trong những năm gần đây ngành công nghiệp của tỉnh
đã có sự phát triển nhanh, đóng góp lớn vào phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, ngành công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao và khá ổn định, giai đoạn 2008-2013 tăng bình quân 19,8% năm Năm 2011 giá trị sản xuất công nghiệp tăng 21,25% so với năm 2010 và tăng gấp 2,09 lần so với năm 2008 Hà Nam cũng cho rằng việc đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung trong giai đoạn 2010-2015 là có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo môi trường đầu tư, cơ sở hạ tầng để thuận lợi cho thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Đã hình thành 4 khu công nghiệp với 46 cơ sở công nghiệp: Khu công nghiệp Đồng Văn I:127 ha, Khu Công nghiệp Đồng Văn II:270 ha, khu công nghiệp Hoàng Đông: 100 ha, khu công nghiệp Châu Sơn: 170 ha, 11 khu cụm công nghiệp huyện, thị xã với 83 cơ sở và khoảng 392 cơ sở không nằm trong khu cụm công nghiệp
So với các tỉnh trong LVS Nhuệ - Đáy thì Ninh Bình có sản xuất công nghiệp vẫn vào lại nhỏ, bao gồm các nhóm công nghiệp chế biến, nhóm công nghiệp điện nước, nhóm công nghiệp khai thác Hiện nay Ninh Bình tập trung phát triển công nghiệp, xây dựng cơ bản tạo sự chuyển biến mạnh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Công nghiệp đang tập trung vào những sản phẩm có ưu thế cạnh tranh, xác định sản xuất vật liệu xây dựng
là mũi nhọn và xi măng là sản phẩm chủ yếu Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2013 đạt 3.645 tỷ đồng, trong đó công nghiệp trung ương đạt 46% Mục tiêu của tỉnh từ nay đến năm 2020 phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm; năm 2015 bình quân GDP đầu người tăng 1,4 lần; đến năm 2020 tăng 2 lần so với năm 2015 Ninh Bình đã ban
Trang 27hành các cơ chế, chính sách như: chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào các KCN, khu du lịch; chính sách khuyến khích tài năng thu hút nhân tài; quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, tập trung mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế- xã hội với tốc độ cao hơn các thời kỳ trước, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân; nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, năng lực chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ
Trang 28
Hình 2.5: Biểu đồ tỷ lệ các doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp thuộc các tỉnh, thành
phố trong lưu vực Nhuệ - Đáy
Hình 2.6: Biểu đồ tỷ lệ cơ sở sản xuất thuộc các ngành công nghiệp có nguồn thải chính trong lưu vực
sông Nhuệ - Đáy
Văn hoá, y tế, giáo dục:
Về giáo dục toàn tỉnh Hà Nam có 118 trường mẫu giáo, trong đó 110 trường dân lập, chiếm 93,2% Trong tổng số 281 trường có 139 trường tiểu học, 122 trường trung học và 22 trường phổ thông trung học, số trường trung học phổ thông ngoài hệ công lập là 4 trường Năm 2003, Hà Nam có
146 cơ sở khám chữa bệnh, trong đó có 9 bệnh viện, 15 phòng khám đa khoa khu vực, 1 trại điều dưỡng, 1 trại phong và 120 trạm y tế xã phường Tổng số giường bệnh là 2339 với 1779 cán bộ y tế, trong đó ngành y có
1536 người, ngành dược có 234 người Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện thì đời sống tinh thần phải được nâng cao lên Hiện tại trên toàn tỉnh có rất nhiều loa truyền thanh và sóng truyền hình đã phủ kín các xã, phục vụ tốt nhu cầu thông tin cho người dân đặc biệt các vấn đề về chính trị, kinh tế- xã hội và môi trường
Về văn hoá xã hội: tỉnh Ninh Bình đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở từ tháng 12- 2002; 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh có trường học cao tầng, kiên cố Đến nay, toàn tỉnh có 167
cơ sở y tế, trong đó có 10 bệnh viện, 12 phòng khám đa khoa khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng, 144 trạm y tế xã phường với tổng số 2.040 giường
Trang 29bệnh và 2.085 cán bộ y tế; có 49,7% trạm y tế có bác sỹ Hầu hết thôn, bản, phố xây dựng được hương ước, quy ước Toàn bộ tỉnh đã được phủ sóng truyền thanh và truyền hình cùng với rất nhiều di tích lịch sử đã được xếp hạng Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp Việc thực hiện các chính sách xã hội đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm được 1,8%
Cơ sở hạ tầng, vệ sinh môi trường:
Ninh Bình, Hà Nam có mạng lưới giao thông khá phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giao lưu kinh tế, văn hoá, vận chuyển hàng hoá với các tỉnh trong cả nước, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế của đất nước Đồng thời, trên địa bàn hai tỉnh có tuyến đường sắt Bắc Nam và đường quốc lộ 1 A chạy qua nên được coi như là cửa ngõ thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền trong Cùng với mạng lưới giao thông các huyện thị xã, thành phố được đầu tư khá nhiều rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế Bên cạnh điều kiện vị trí địa lý thuận lợi là nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, nơi có kinh tế phát triển trong cả nước, lại bên cạnh là thủ
đô Hà Nội- trung tâm phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị của cả nước cùng với những giá trị nhân văn và tự nhiên, nơi đây đã thu hút được rất nhiều vốn đầu tư cho việc phát triển kinh tế và du lịch Rừng, đất, hang động trên núi đá vôi, các khu bảo tồn thiên nhiên các loài động thực vật quí hiếm, các khu di tích lịch sử đã được xếp hạng như vườn quốc gia Cúc Phương, Tam Cốc- Bích Động, Hoa Lư, Chùa Hương… đã tạo cơ sở vô cùng thuận lợi cho việc quảng bá và thu hút khách du lịch Trong khi đó thì
cơ sở hạ tầng, nhà hàng khách sạn cũng khá phát triển phục vụ cho nhu cầu của khu vực
Cùng với giao thông đường bộ thì giao thông đường thuỷ cũng khá phát triển do trong khu vực mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với các con
Trang 30sông như sông Hồng, sông Nhuệ, Đáy, Châu Giang, Hoàng Long, sông Vân… đã giúp cho hoạt động kinh tế và giao lưu được dễ dàng hơn Tại Ninh Bình, các hoạt động dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, tín dụng, du lịch đều đạt mức tăng trưởng bình quân trên 25%/năm Thu ngân sách cho tỉnh tăng bình quân trên 20%, năm 2013 thu được tới trên
200 tỷ đồng
Trang 31Phần 3
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hà Nam và Ninh Bình là hai tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, có Sông Đáy, Nhuệ chảy qua khu vực hai tỉnh này đang có nhiều vấn đề bức xúc và cần có sự quan tâm của tất cả mọi người Chính vì vậy trong đề tài này tôi đã nghiên cứu các vấn đề sau:
•Các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước của hai tỉnh Ninh Bình, Hà Nam trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy
•Vấn đề về sức khoẻ người dân trong khu vực trên Các bệnh liên quan tới môi trường nước như tả, lỵ trực trùng, hội chứng lỵ,…nhưng nổi bật nhất vẫn là bệnh tiêu chảy vì những bệnh kia có tỷ lệ mắc bệnh khá thấp, và bệnh tiêu chảy khá là điển hình trong lưu vực này
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu nghiên cứu các nộ dung chính sau:
- Phân tích đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước lưu vực sông Đáy - Nhuệ
- Tình hình bệnh dịch đã và đang sảy ra trên lưu vực sông trong thời gian gần đây
- Đánh giá mối tương quan giữa tình hình môi trường nước tại lưu vực sông tới sức khỏe cộng đồng dân cư trong lưu vực
- Một số đề suất giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước và bảo vệ sức khỏe người dân
Trang 323.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thu thập tài liệu
Được dùng để thu thập số liệu về bệnh tật và số liệu quan trắc chất lượng môi trường nước của khu vực nghiên cứu Đó là các báo cáo môi trường hàng năm của tỉnh, báo cáo về diễn biến chất lượng sông tại một số
vị trí có đặt điểm quan trắc, báo cáo về hiện trạng môi trường của khu vực nghiên cứu, các dự án đã, đang hoạt động tại khu vực nghiên cứu Từ việc tập hợp những báo cáo này ta sẽ thu được các số liệu thống kê chính thức Bên cạnh các báo cáo còn có các bài báo, các ấn phẩm tổng kết về tình hình
ô nhiễm chung của khu vực Ngoài ra, thu thập tài liệu thứ cấp từ internet, các ấn phẩm về lưu vực sông Nhuệ- Đáy
3.3.2 Phỏng vấn và điều tra thực địa
Điều tra thực địa được tiến hành vào khoảng tháng 2-3 năm 2014 Qua việc đi thực địa có thể đánh giá khách quan về điều kiện kinh tế, cơ sở
hạ tầng của khu vực nghiên cứu, đặc điểm các nguồn thải ra lưu vực và việc kiểm chứng lại sau khi nghiên cứu của các dự án, chương trình chính sách phát triển trong khu vực cũng đã đạt được những kết quả nhất định
Phương pháp phỏng vấn định tính đã xác định được tình hình chung của khu vực, đánh giá được những biến động về kinh tế xã hội và môi trường của khu vực
Thực hiện điều tra phỏng vấn trực tiếp từng hộ dân gồm 60 phiếu trên 3 huyện chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ LVS Nhuệ - Đáy đó là các huyện Duy Tiên, TP Phủ Lý thuộc tỉnh Hà Nam và huyện Kim Sơn thuộc tỉnh Ninh Bình
3.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh chất lượng nguồn nước
Thông qua màu sắc, độ trong đục, và VSV sống trong nước có thể đánh giá nhanh chất lượng sơ bộ hiện tại của nguồn nước
Trang 333.3.4 Áp dụng công thức spearman và phân tích số liệu
Phân tích số liệu
Sử dụng chỉ số so sánh tương quan Spearman để tìm hiểu mối liên hệ giữa ô nhiễm môi trường nước và sức khoẻ cộng đồng dân cư trong lưu vực Chỉ số so sánh tương quan sẽ giúp chỉ ra mối liên hệ giữa hai yếu tố Vào năm 1904, Spearman đã tìm ra công thức để đánh giá mức độ phụ thuộc của hai yếu tố với nhau Chỉ số so sánh tương quan Spearman có thể đưa ra sự ước lượng, đánh giá và là giải pháp tính toán cho kết quả rõ ràng hơn đối với những vấn đề nhạy cảm và không có dấu hiệu rõ ràng Spearman đã đưa ra cho chúng ta cách tính toán xem xét mối liên hệ đó như thế nào
Công thức tính toán chỉ số so sánh tương quan Spearman:
2 2
6 1 ( 1)
s
d R
n n
= −
−
∑
Trong đó: n là số mẫu quan sát
d là chênh lệch giữa các chỉ tiêu
∑d2
là tổng số bình phương của sự chênh lệch của các cặp chỉ tiêu so sánh
Rs là chỉ số so sánh tương quan Spearman
Giá trị của Rs nằm trong khoảng từ -1 tới 1 Nếu giá trị này đạt -1 thì
có mối tương quan âm ví dụ như giá trị của nhân tố này giảm nhưng giá trị của nhân tố kia có thể tăng
Nếu Rs nằm trong khoảng -1 tới -0,5 thì mối tương quan âm khá mạnh Nếu Rs nằm trong khoảng -0,5 tới 0 thì mối tương quan âm
Nếu Rs bằng 0 thì không có mối tương quan giữa 2 nhân tố so sánh
Trang 34Nếu Rs nằm trong khoảng 0 tới 0,5 thì có mối tương quan dương yếu Nếu Rs nằm trong khoảng 0,5 tới 1 thì có mối tương quan dương mạnh Nếu Rs bằng 1 thì có mối tương quan dương rõ ràng giữa 2 nhân tố so sánh Nếu giá trị Rs bằng 0 thì giả thuyết loại bỏ được chấp nhận hay nói cách khác là giả thuyết ban đầu bị loại bỏ, không có mối tương quan giữa 2 nhân tố so sánh
Chỉ số này được dùng để tìm hiểu mối tương quan giữa chất lượng nước, BOD5, chỉ số Coliform với tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của người dân các huyện gần sông trong tỉnh Ninh Bình, Hà Nam