Đây là một giai đoạn quan trọng trong quá trình học tập nghiên cứu của sinh viên để sinh viên được học hỏi thêm những kiến thức thực tế về kinh nghiệm nghề nghiệp, rèn luyện kỹ năng thực
Trang 1CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : CHÍNH QUY Chuyên ngành : SƯ PHẠM KTNN
Khóa học : 2012 - 2014
THÁI NGUYÊN, 2014
Trang 2CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : CHÍNH QUY Chuyên ngành : SƯ PHẠM KTNN
Khóa học : 2012 - 2014
Giáo viên hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN SỬU Khoa CNTY - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thầy giáo hướng dẫn, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Văn Quan, UBND xã Đại An, tôi được thực tập tốt nghiệp tại địa bàn xã Đại An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn Trong thời gian thực tập để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn, các thầy cô trong khoa Chăn nuôi thú y, gia đình và nhân dân địa phương
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Văn Sửu - Trưởng bộ môn VSV -
GPBL, khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y
- Ủy ban nhân dân xã Đại An - huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn
- Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn
- Tổ thú y xã Đại An
- Các hộ gia đình tại các điểm nghiên cứu
Đã quan tâm hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã cổ vũ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi thú y và UBND xã Đại An đã quan tâm và tạo mọi điều kiện
để tôi thực hiện tốt chuyên đề nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 08 tháng 09 năm 2014
Sinh viên
Triệu Thị Bích Hoàn
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước, mỗi sinh viên trước khi ra trường cần phải trang bị cho mình vốn kiến thức khoa học, chuyên môn vững vàng và sự hiểu biết xã hội một cách sâu sắc Chính vì vậy mà thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng đối với tất cả các sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng
Quá trình thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là một giai đoạn quan trọng trong quá trình học tập nghiên cứu của sinh viên để sinh viên được học hỏi thêm những kiến thức thực tế về kinh nghiệm nghề nghiệp, rèn luyện kỹ năng thực hành, củng cố lòng yêu ngành, yêu nghề để sau khi ra trường trở thành một người cán bộ có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực trong công tác, do vậy thực tập tốt nghiệp là không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Xuất phát từ mục đích trên, được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y em thực hiện đề tài:
“Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị bệnh phân trắng ở lợn con tại huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn”
Sau thời gian thực tập tốt nghiệp, được sự giúp đỡ tận tình của TS Nguyễn Văn Sửu cùng với sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành bản khóa luận này Do kiến thức bản thân còn hạn chế và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên trong khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót
Em mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Sự cần thiết tiến hành làm chuyên đề 2
1.3 Điều kiện thực hiện chuyên đề 2
1.3.1 Điều kiện của bản thân 2
1.3.2 Điều kiện của cơ sở nơi triển khai thực hiện chuyên đề 2
1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên 2
1.3.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội: 6
1.3.2.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 8
1.3.2.4 Đánh giá chung 12
1.4 Mục tiêu sau khi kết thúc chuyên đề 13
1.5 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong nước và
ngoài nước 13
1.5.1 Cơ sở khoa học 13
1.5.1.1 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 13
1.5.1.2 Đặc điểm của bệnh phân trắng lợn con 18
1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
1.5.3 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 25
Phần 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian thực hiện 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1 Nội dung 27
2.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi 27
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Phương pháp điều tra bệnh phân trắng lợn con 27
2.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 28
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
Phần 3 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 29
3.1 Kết quả phục vụ sản xuất 29
3.1.1 Công tác điều tra dịch bệnh 29
3.1.2 Công tác tiêm phòng 29
3.1.3 Công tác chuẩn đoán và điều trị bệnh 30
3.2 Kết quả thực hiện chuyên đề 33
3.2.1 Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng tại xã Đạị An - huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn 33
3.2.2 Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng theo tuổi của các hộ trong thôn thuộc xã Đại An - huyện Văn Quan - tỉnh lạng Sơn 34
3.2.3 Tỷ lệ lợn con chết do bệnh phân trắng theo lứa tuổi tại các điểm nghiên cứu 36
3.3 Một số biện pháp kỹ thuật trong phòng bệnh phân trắng ở lợn con và kết quả sử dụng một số loại thuốc trong điều trị bệnh phân trắng tại xã Đại An 38
3.3.1 Một số biện pháp phòng bệnh phân trắng lợn con tại xã Đại An huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn 38
3.3.2 Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con 39
Phần 4 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 42
4.1 Kết luận 42
4.2 Tồn tại 42
4.3 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 8phân trắng 40
Trang 9
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp của Việt Nam Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho người tiêu dùng và phân bón cho sản xuất nông nghiệp Ngày nay chăn nuôi lợn có tầm quan trọng đặc biệt, làm tăng kim ngạch xuất khẩu đây cũng là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của trang trại và nông hộ thì việc phát triển đàn lợn là việc làm cần thiết
Khi nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân
Tuy nhiên để chăn nuôi lợn có hiệu quả, các chủ hộ, chủ trang trại cần
áp dụng theo một quy trình kỹ thuật để có thể đạt hiệu quả cao trong phòng và trị bệnh cho lợn, đặc biệt là bệnh phân trắng ở lợn con Bệnh xảy ra là nguyên nhân chủ yếu làm giảm sức sản xuất của đàn lợn, ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm
Bệnh phân trắng ở lợn con thường gây chết lợn con do nhiễm độc tố vi
khuẩn và do mất nước, tác nhân gây bệnh chủ yếu là do vi khuẩn E.coli, Salmonella (S cholerasuis, S typhisuis) và đóng vai trò phụ là vi khuẩn: Proteus, Streptococcus Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh và
trong suốt thời kỳ bú mẹ
Tỉnh Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc, đa số người dân sống bằng nghề nông nghiệp, phát triển kinh tế theo hướng tăng gia sản xuất bằng hình thức chăn nuôi trong các hộ gia đình, với quy mô vừa và nhỏ dưới nhiều hình thức khác nhau Trong chăn nuôi lợn, bệnh phân trắng ở lợn con rất đáng
lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn Đây là một bệnh thường xuyên xảy ra trong nhiều trại lợn và các hộ gia đình nuôi lợn ở nước ta nói chung và huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn nói riêng
Trang 10Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn trên, em tiến hành thực hiện đề tài:
“Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị bệnh phân trắng ở lợn con tại huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn”
1.2 Sự cần thiết tiến hành làm chuyên đề
Qua nắm bắt từ thực tế, em thấy rằng chăn nuôi lợn còn mang tính chất
cá thể Tuy nhiên sự hiểu biết và ứng dụng khoa học kỹ thuật của người dân còn nhiều hạn chế và đặc biệt không theo một quy trình kỹ thuật cụ thể nào nên tình hình dịch bệnh vẫn xảy ra quanh năm, gây thiệt hại không nhỏ cho kinh tế hộ gia đình, trong đó có bệnh phân trắng lợn con
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn trên, em tiến hành thực hiện đề tài:
“Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị bệnh phân trắng ở lợn con tại huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn”
1.3 Điều kiện thực hiện chuyên đề
1.3.1 Điều kiện của bản thân
Sau thời gian học tập và rèn luyện tại trường, với sự nỗ lực, cố gắng của bản thân và sự dạy bảo nhiệt tình của các thầy cô, em đã có một nền tảng kiến thức lý thuyết các môn từ cơ sở đến chuyên ngành
Bản thân luôn cố gắng hết mình thực hiện công việc và thường xuyên nhận được sự quan tâm động viên của gia đình, thầy cô và bạn bè
Trong thời gian thực hiện chuyên đề em luôn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo TS Nguyễn Văn Sửu
1.3.2 Điều kiện của cơ sở nơi triển khai thực hiện chuyên đề
Huyện Văn Quan là một huyện miền núi của tỉnh Lạng Sơn có tổng cộng 24 xã, thị trấn, trong đó có 1 thị trấn và 23 xã Xã Đại an là một xã thuộc huyện Văn Quan, cách thị trấn khoảng 10km
1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Văn Quan là huyện miền núi, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn, cách thành phố Lạng Sơn 45 km (theo trục đường QL 1B) Có vị trí toạ độ địa lý:
Từ 21044’ đến 22000’ vĩ độ Bắc Từ 106024’ đến 106043’ kinh độ Đông
Trang 11Về địa giới: Phía Bắc giáp huyện Văn Lãng Phía Nam giáp huyện Chi Lăng và Hữu Lũng Phía Đông giáp huyện Cao Lộc và thành phố Lạng Sơn Phía Tây giáp huyện Bình Gia và Bắc Sơn
Xã Đại An nằm ở phía Đông Bắc của huyện Văn Quan, cách thị trấn Văn Quan khoảng 10km Về địa giới của xã: Phía Bắc giáp xã Vĩnh Lại Phía Nam giáp xã Tràng Sơn và xã Chu Túc Phía Đông giáp xã Văn An Phía Tây giáp thị trấn Văn Quan và xã Xuân Mai
+ Về đất đai:
Theo đánh giá hiện trạng sử dụng đất của huyện Văn Quan tính đến năm 2010 thì tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là: 55.028,23 ha Huyện Văn Quan có những vùng núi đất và núi đá vôi xem kẽ, diện tích núi đá có 11.619
ha, diện tích núi đất có 49.843 ha Đất của Văn Quan thuộc loại địa hình bằng
và sườn thoải (51,0% diện tích có độ dốc nhỏ hơn 150)
Cụ thể diện tích các loại đất như sau:
Đất Nông nghiệp: 45.981,62 ha
Đất phi Nông nghiệp: 1.954,61 ha
Trang 12Đặc điểm thổ nhưỡng của huyện chủ yếu là: Đất feralit nâu đỏ và màu vàng phát triển trên đá vôi hoặc bồn địa phù sa Đây là tiềm năng và cũng là thế mạnh để phát triển lâm nghiệp, phát triển các loại nông sản đặc sản xứ lạnh có giá trị kinh tế cao như: hoa quả, thảo dược,
Nhìn chung xã Đại An có chung kiểu địa hình và đất đai của huyện Văn Quan Đất của xã thích hợp cho việc trồng cây hồi do vậy diện tích cây hồi của xã cũng khá lớn
* Giao thông, thủy lợi
+ Về giao thông:
Trong những năm qua, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đã được quan tâm đầu tư khá đồng bộ, qua các nguồn và hình thức đầu tư, hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, liên xã trên địa bàn được cải thiện đáng kể, số xã có đường giao thông đến trung tâm xã đi lại được 4 mùa là 18/24 xã, thị trấn Chương trình bê tông hoá đường giao thông nông thôn, đường ngõ xóm được triển khai thuận lợi, với cơ chế nhà nước cấp xi măng, ống cống, nhân dân đóng góp vật liệu, ngày công đã thực hiện trên địa bàn nhiều xã
Tuyến Quốc lộ: Huyện Văn Quan có 2 quốc lộ chạy qua là Quốc lộ 1B
và Quốc lộ 279 Tổng chiều dài quốc lộ đi qua địa bàn huyện là 50km
Tuyến Tỉnh lộ: Toàn huyện có 6 tuyến tỉnh lộ Cụ thể như sau:
- Tuyến tỉnh lộ 240 (Ba Xã - Chợ Bãi) có chiều dài 9,6km
- Tuyến tỉnh lộ ĐT 240A (Bản Giềng - Đèo Cướm) có chiều dài 12km
- Tuyến tỉnh lộ 232 (Na Sầm - Vĩnh Lại ) có chiều dài 29km, trong đó phần đi qua địa bàn huyện dài 18km
- Tuyến tỉnh lộ ĐT 239 (Pác Ve - Điềm He ) có chiều dài 23,4km, trong
đó phần đi qua địa bàn huyện dài 20km
- Tuyến tỉnh lộ 235B (Khánh Khê- Bản Loỏng) có chiều dài 15km, trong đó phần đi qua địa bàn huyện dài 11,5km
- Đường Tu Đồn - Hoà Bình - Bình La - Gia Miễn Điểm đầu tại km 30 + 500 QL 1B, điểm cuối giáp với xã Bình La, chiều dài 12km Đoạn Tu Đồn - Hoà Bình dài 5,3km
Trang 13Tuyến Huyện lộ và đường nội thị: Tại huyện Văn Quan có 8 tuyến đường huyện, gồm:
- Đường Bản Làn - Tràng Các có chiều dài tuyến là 16km
- Đường Việt Yên - Phú Mỹ có chiều dài tuyến 3km
- Tuyến đường Điềm He - Song Giang có chiều dài tuyến 5km
- Tuyến đường Thị Trấn - Pác Kéo có chiều dài tuyến 10km
- Đường Vĩnh Lại - Pác Kéo có chiều dài tuyến 8km
- Đường Nà Thang - Pá Hà có chiều dài tuyến 12km
- Đường Tân Đoàn - Tràng Sơn có chiều dài tuyến 8km
- Đường Tri Lễ- Hữu Lễ có chiều dài tuyến là 6km
Mạng lưới giao thông hiện có cơ bản đáp ứng được điều kiện đi lại của nhân dân trên địa bàn, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế- xã hội của huyện Tuy nhiên, vẫn còn một số tuyến đường đã xuống cấp, đi lại khó khăn, nhất là các tuyến đường vào các thôn, bản trong các xã Do vậy, trong thời gian tới cần được quan tâm đầu tư, nâng cấp và mở rộng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện
+ Hệ thống thủy lợi:
Đến nay, toàn huyện có 540 công trình thủy lợi lớn nhỏ, trong đó có 16
ao hồ, 279 đập dâng, 210 mương tự chảy, 35 trạm bơm Tổng diện tích tưới theo thiết kế của các công trình thuỷ lợi là 2.320 ha, diện tích tưới thực tế đạt 1.531,5 ha (đạt 66,01% thiết kế) Tổng chiều dài tuyến mương là 160.616 m, trong đó: Mương đất chưa được kiên cố 97.507 m, mương đã được kiên cố hoá 63.110 m (2010)
Phần đa các công trình đập đầu mối được đầu tư khá kiên cố, góp phần thuận lợi cho việc tưới tiêu Bên cạnh đó, hệ thống kênh mương nội đồng đã dần được kiên cố hóa qua phong trào “Ra quân đầu xuân làm thủy lợi”, với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm Tuy nhiên, đến nay hệ thống công trình thủy lợi hiện có chỉ đáp ứng tưới ổn định cho khoảng 40% diện tích đất sản xuất nông nghiệp
Hệ thống giao thông, thủy lợi của xã cơ bản đáp ứng được yêu cầu của nhân dân và việc sản xuất nông nghiệp Đường giao thông được xây dựng theo chương trình bê tông hóa đường giao thông Người dân đóng góp cát, sỏi
Trang 14và ngày công lao động, đường được đổ theo từng đoạn một, ưu tiên đổ những chỗ khó đi trước Hệ thống kênh mương được nạo vét, tu sửa để có thể dẫn nước ra ruộng phục vụ công tác sản xuất
* Thời tiết, khí hậu
Khí hậu thời tiết là một trong những yếu tố rất quan trọng, nó liên quan mật thiết đến sự phát triển nông nghiệp nói chung và đặc biệt là quá trình phát triển chăn nuôi bởi thời tiết thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đàn gia súc, gia cầm
Văn Quan chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền Bắc, là khí hậu
nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm: 21,20C
Nhiệt độ cao nhất khoảng: 38 - 40oC (tháng 6 - 7)
Nhiệt độ thấp nhất khoảng: 5 - 7oC (tháng 12 - 1)
Độ ẩm không khí bình quân: 82,5%
Lượng mưa bình quân năm: 1.500 mm
Hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắc và Tây Nam
Nhìn chung khí hậu và thời tiết của huyện Văn Quan tương đối thuận lợi cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi
Xã Đại An mang đặc điểm chung của kiểu thời tiết khí hậu của huyện Văn Quan nên có những thuận lợi riêng cho việc nuôi trồng của bà con
1.3.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội:
* Tình hình dân cư - dân tộc
Văn Quan là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lạng Sơn, thành phần dân tộc gồm: Tày, Nùng, Kinh, Hoa
Theo kết quả thống kê của Chi Cục Thống kê, dân số của huyện Văn Quan năm 2012 là 54.794 người, trong đó:
- Nữ là 27.619 người (chiếm 50,4%)
- Nam là 27.175 người
- Dân số thành thị 4.388 người (chiếm gần 8%)
- Dân số nông thôn là 50.406 người
- Mật độ dân số 99,6 người/km2
Trang 15Năm 2012, Văn Quan có 12.785 hộ, trong đó nhân khẩu nông nghiệp
có 49.498 người (chiếm 90,3%), còn lại là nhân khẩu phi nông nghiệp
Dân cư phân bố chủ yếu dọc các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, các trung tâm thị trấn, thị tứ, trung tâm xã, các điểm chợ
Nguồn nhân lực của Văn Quan khá dồi dào Năm 2012, tổng số lao động trong độ tuổi trong toàn huyện là 33.862 lao động, chiếm 61,7% tổng số nhân khẩu Lao động có việc làm trên 30.000 người, trong đó có trên 85% số lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp - lâm nghiệp
Về dân tộc sống trên địa bàn xã Đại An chủ yếu là dân tộc Tày và Nùng Tổng số hộ trên địa bàn xã là 6.480 hộ, người dân sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp
* Tình hình văn hóa, giáo dục, y tế
+ Cơ sở hạ tầng ngành văn hóa:
Công tác xây dựng các thiết chế văn hoá, thông tin, thể thao từ huyện đến cơ sở đã được quan tâm đầu tư xây dựng và phát triển Thực hiện phương châm xã hội hoá với sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, sự đóng góp của nhân dân và kêu gọi đầu tư từ các cá nhân, tổ chức đã góp phần mang lại những kết quả nhất định Cụ thể:
Thiết chế ở cấp huyện gồm:
- Trung tâm Văn hoá - Thể thao huyện
- Thư viện huyện
- Sân vận động trung tâm huyện
- Đài TT - TH huyện, 06 trạm phát lại truyền hình và 10 trạm truyền thanh xã
Thiết chế ở cơ sở gồm:
- 04 nhà văn hóa xã
- 178 nhà văn hóa thôn, phố
- 02 thư viện xã
- 17 sân, nhà tập thể thao do cấp xã quản lý
Cơ sở văn hóa xã Đại An gồm 2 nhà văn hóa thôn tại thôn Bình đãng
A và thôn Còn Mìn phục vụ cho nhu cầu của người dân như hội họp và giao lưu văn hóa…
Trang 16+ Cơ sở hạ tầng ngành giáo dục
Sự nghiệp giáo dục tiếp tục được phát triển cả về quy mô và chất lượng Mạng lưới trường học được phát triển rộng khắp trên địa bàn huyện Năm học 2013-2014: có 69 trường, 649 lớp với 12.243 học sinh Cơ sở vật chất cho dạy và học được tăng cường đầu tư, đến năm 2013 tỷ lệ phòng học được xây dựng kiên cố chiếm trên 80%, không còn phòng học 3 ca Thiết bị dạy học được trang bị mỗi khối lớp 01 bộ, sử dụng có hiệu quả đáp ứng cho việc dạy
và học Nhà ở giáo viên được tăng cường xây dựng, cơ bản đáp ứng nhu cầu
về chỗ ở cho giáo viên
Trên địa bàn xã Đại An hệ thống giáo dục được xây dựng từ cấp Mầm non đến cấp Trung học cơ sở Toàn xã gồm một trường Trung học cơ sở và ba phân trường từ cấp Mầm non đến cấp Tiểu học Trang thiết bị phục vụ công tác dạy học tại các điểm trường còn nhiều thiếu thốn
+ Cơ sở hạ tầng ngành y tế
Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và tăng cường cả về trang thiết
bị và đội ngũ cán bộ y tế Cả huyện có 28 cơ sở y tế: Bệnh viên đa khoa huyện đã được đầu tư xây dựng với quy mô trên 100 giường bệnh và đưa vào
sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị như: máy chụp X quang, máy siêu âm, gây mê Ngoài ra còn có 3 phòng khám đa khoa ở khu vực (Điềm He, Tân Đoàn, Yên Phúc) Trạm Y tế các xã, thị trấn cũng được đầu tư từ nguồn vốn Chính phủ, đến năm 2003 tất cả 24/24 xã, thị trấn đều có trạm và bố trí đủ các phòng chức năng theo phân tuyến và hoạt động có hiệu quả, trang thiết bị được cung cấp khá đầy đủ
Về ngành y tế của xã Đại An, xã có một trung tâm y tế xã với 2 bác sĩ
và 1 y tá Y tế tại cấp xã thực hiện việc cấp phát thuốc theo danh mục thuốc trong Bảo hiểm y tế và sơ cấp cứu những trường hợp theo khả năng của tuyến
Trang 17khá lớn Để nâng cao hiệu quả sản xuất, huyện đã thực hiện thâm canh tăng
vụ, đưa các giống lúa, ngô mới có năng suất cao vào sản xuất, song song với việc tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất đến địa phương, tuyên truyền phổ biến các mô hình kinh tế tiêu biểu, điển hình và nhân rộng các mô hình tiên tiến, từ đó năng suất cây trồng được tăng lên
Cây công nghiệp lâu năm như: Hồi, bạch đàn, keo… trong đó cây hồi là cây thế mạnh được chú trọng phát triển tạo nên nét nổi bật quê hương với “hoa hồi
sứ lạng” và huyện Văn Quan là huyện có diện tích trồng hồi lớn nhất của tỉnh Cây công nghiệp hàng năm như: Đỗ tương, lạc, vừng và cây thực phẩm ổn định
về diện tích và sản lượng
Cây ăn quả như: Vải, nhãn, mận, đào, quýt Các gia đình chủ yếu trồng ở vườn, bãi, tận dụng khoảng diện tích nhỏ, chủ yếu sản xuất theo hướng tự cung, tự cấp nên năng suất chưa cao, chưa mang tính hàng hóa
Ngoài ra, người dân đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tích cực học hỏi để đưa năng suất cây trồng tăng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế
* Tình hình phát triển ngành chăn nuôi
Chăn nuôi là ngành kinh tế mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp, có vai trò cung cấp thực phẩm, sức kéo, phân bón và thu nhập cho nhân dân Đối tượng vật nuôi rất đa dạng gồm: trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, chim bồ câu, các loại cá…
Ngoài những giống nội được nuôi lâu đời ở địa phương như: gà ri, ngỗng
cỏ, vịt bầu, bò vàng, lợn mán Hiện nay các giống mới nhập ngoại cao sản như: lợn siêu nạc, bò lai sin, gà chuyên thịt, gà chuyên trứng, ngan pháp… được người dân đưa vào chăn nuôi Từ đó cũng hình thành thêm những giống lai tạp giữa giống địa phương và giống cao sản vừa thích nghi với điều kiện chăn nuôi vừa cho năng suất cao Đồng thời, người dân chú trọng nhiều hơn đến kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, công tác thú y để nâng cao hiệu quả kinh tế ngành chăn nuôi Vì vậy số lượng vật nuôi không ngừng tăng lên
Chăn nuôi trân, bò: Huyện Văn Quan có điều kiện khá thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi trâu, bò Người dân trong huyện chủ yếu nuôi giống trâu, bò nội: trâu Việt Nam và bò vàng Việt Nam Chăn nuôi nhỏ lẻ theo phương thức chăn thả tự do.Thức ăn chính của trâu, bò các loại cỏ và một số phụ phẩm của ngành nông nghiệp
Trang 18Trâu bò được chăm sóc khá tốt song mùa đông lượng thức ăn ít, thức
ăn dự trữ còn hạn chế, trâu bò bị đói rét Chuồng trại và công tác vệ sinh chưa tốt, chưa khoa học, hướng chuồng chưa phù hợp về mùa hè chưa được thoáng, mùa đông chưa được ấm áp
Công tác vệ sinh thú y chưa được chú trọng nhiều Công tác tiêm phòng được thực hiện theo định kỳ nhưng chưa triệt để, do đó trâu bò vẫn thường xuyên bị mắc bệnh ký sinh trùng và một số bệnh khác ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi
Chăn nuôi lợn: Ngành chăn nuôi lợn của huyện trong những năm gần đây vẫn được duy trì và phát triển Số lượng đàn lợn không ngừng tăng qua các năm Năm 2010 tổng đàn lợn của huyện 80.226 con đến tháng 5 năm
2013 là 98.637 con Các hộ gia đình đã đầu tư vốn, con giống, thức ăn, áp dụng khoa học, kỹ thuật vào chăn nuôi Công tác giống lợn đang được quan tâm, ngoài các giống lợn nội như lợn mán, lợn móng cái nhiều gia đình đã nuôi lợn nái ngoại, lợn lai để sinh sản cung cấp giống cho nhân dân trong vùng Lợn được nuôi theo phương thức nhốt hoàn toàn Sử dụng thức ăn hỗn hợp và một số phụ phẩm của ngành trồng trọt
Công tác thú y đã được người dân chú trọng và quan tâm, đồng thời hàng năm đều có các đợt tiêm phòng một số bệnh quan trọng cho đàn lợn như: tai xanh, dịch tả, lở mồm long móng… do đó đã hạn chế được dịch bệnh xảy ra
Chăn nuôi gia cầm, thủy cầm: Chăn nuôi gia cầm của huyện có 1 vị trí quan trọng trong đó gà, vịt là đối tượng chính Một số giống gia cầm nuôi ở xã: gà Mía, gà Ri, gà Sasso, gà Tam hoàng, vịt bầu, vịt siêu trứng Hiện nay, một số gia đình mua con giống có năng suất cao về nuôi như: Gà lai Mía, gà Lương phượng, gà Mĩ, vịt Khaki Campell, đem lại hiệu quả kinh tế cao
Đa số các gia đình chăn nuôi theo hướng quảng canh, do đó năng suất thấp, mặt khác lại không quản lý được dịch bệnh tỷ lệ chết lớn nên hiệu quả còn thấp Tuy nhiên vẫn còn một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn xây dựng các trang trại có quy mô vừa và nhỏ, chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thực hiện tốt quy trình phòng trừ dịch bệnh nên năng suất chăn nuôi gia cầm tăng nên rõ rệt tạo ra nhiều sản phẩm thịt, trứng và con giống
Trang 19Công tác vệ sinh phòng bệnh cho gia cầm được tuyên truyền rộng rãi Người dân đã ý thức được tầm quan trọng của việc tiêm phòng và chữa bệnh, nhất là sử dụng các loại vacxin tiêm chủng cho gà như: vacxin cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, đậu Các gia đình chăn nuôi nhiều đều thực hiện vệ sinh nghiêm ngặt để tránh các dịch bệnh xảy ra tràn lan Nếu có dịch bệnh xảy ra đều báo ngay cho cán bộ thú y của xã để kịp thời xử lý Vì vậy mà thu nhập từ chăn nuôi gà của bà con nông dân ngày càng cao, bà con yên tâm chăn nuôi
Công tác về giống: Để đạt năng suất cao trong chăn nuôi thì công tác giống là khâu quan trọng hàng đầu sau đó mới đến dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý Nhận thức được tầm quan trọng người dân đã tích cực tham gia chương trình: Sind hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn…
Tập quán chăn nuôi:
Chăn thả kết hợp: Đây là phương thức chăn nuôi được áp dụng rộng rãi hiện nay, phương thức này có ưu điểm là tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên,
dễ quản lý, nuôi dưỡng và kiểm soát được dịch bệnh, phù hợp với hộ gia đình Nuôi nhốt: Áp dụng hoàn toàn đối với lợn, gà công nghiệp và với trâu
bò vỗ béo Thức ăn dành cho động vật nuôi nhốt là thức ăn có sẵn từ ngành trồng trọt kết hợp với thức ăn công nghiệp Nuôi nhốt mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn nhờ tăng hệ số sử dụng thức ăn đồng thời giảm thời gian nuôi dưỡng
* Công tác thú y
Công tác thú y đóng vai trò rất quan trọng, vì vậy công tác thú y được ban lãnh đạo huyện cùng người chăn nuôi hết sức quan tâm, chú trọng như: Tuyên truyền lợi ích của công tác vệ sinh phòng bệnh cho người và vật nuôi.Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn Thường xuyên đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ thú y cơ sở Theo dõi sát tình hình diễn biến của dịch bệnh để kịp thời có phương án chỉ đạo
Chính vì vậy mà công tác thú y luôn được ban lãnh đạo các cấp, ngành, địa phương cùng người chăn nuôi hết sức chú trọng Những năm gần đây được sự quan tâm của chính quyền địa phương cùng với sự nỗ lực của trạm thú y, xã đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật từ những hộ sản xuất với quy mô nhỏ Người dân đã đầu tư vốn kỹ thuật, con giống mới có năng xuất cao vào chăn nuôi từng bước nâng cao và đáp ứng nhu cầu thị trường
Trang 20Tình hình ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi của xã Đại An cơ bản mang những đặc điểm chung của huyện Lúa vẫn là cây trồng chính của người dân, bên cạnh đó mảng lâm nghiệp thì cây Hồi được người dân chú trọng phát triển Trong chăn nuôi thì người dân vẫn nuôi chủ yếu là trâu, bò và gia cầm
- Là huyện cách trung tâm thành phố Lạng Sơn khoảng 45km, cách cửa khẩu Tân Thanh (Trung Quốc) khoảng 60km đây là điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông thương, mua bán hàng hoá, vận chuyển các sản phẩm
động vật dễ dàng và phát triển các loại hình dịch vụ
- Có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật năng động, sáng tạo, tích cực trong công việc triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đa dạng hoá và tăng năng suất cây trồng, vật nuôi
- Hệ thống thuỷ lợi đảm bảo nhu cầu cung cấp nước tưới tiêu cho ngành trồng trọt Chương trình kiên cố hoá kênh mương nội đồng cũng đang được triển khai mạnh mẽ trong toàn huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành trồng trọt và chăn nuôi phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân
- Có nguồn lao động cần cù, chịu khó Đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp
huyện, xã năng động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
- Đảng và nhà nước có chính sách ưu tiên, ưu đãi phù hợp để phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp như trợ giá, trợ cước các loại giống cây trồng, vật nuôi, phân bón… Hỗ trợ kinh phí, cho vay vốn với lãi suất thấp để nông dân phát triển sản xuất
* Khó khăn
- Ở một số khu vực trong huyện trình độ dân trí và mật độ dân cư phân
bố không đồng đều giữa các thôn, các xã do đó việc đưa khoa học kỹ thuật
vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn
Trang 21- Lượng mưa phân bố trong năm không đều, cùng với khí hậu khá khắc nghiệt vào một số tháng trong năm nên gây ảnh hưởng xấu tới ngành trồng trọt
- Đội ngũ lao động qua đạo tạo nghề còn thấp, lao động phổ thông đơn thuần còn cao Lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật và trình độ quản
1.4 Mục tiêu sau khi kết thúc chuyên đề
- Xây dựng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị bệnh phân trắng cho đàn lợn ở địa phương có hiệu quả
- Hướng dẫn các hộ chăn nuôi thực hiện đúng quy trình phòng và trị bệnh ở lợn con nói riêng và trên cả đàn lợn nói chung
1.5 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.5.1 Cơ sở khoa học
1.5.1.1 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
* Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa
Sau sơ sinh lợn con có tốc độ sinh trưởng mạnh và phát dục nhanh Nhìn chung khả năng phát triển của lợn nhanh hơn so với một số loài gia súc khác Khối lượng khi cai sữa của lợn 2 tháng tuổi gấp 10 - 15 lần so với khối lượng sơ sinh
Theo Trần Văn Phùng và CS (2004) [13] lợn con trong giai đoạn bú sữa
có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh So với khối lượng sơ sinh thì sau
10 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 đến 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 đến 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 đến 14 lần Tuy nhiên tốc độ sinh trưởng không đều qua các giai đoạn Tốc độ sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu và sau đó thì giảm Sự giảm này có nguyên nhân chủ yếu là do sữa lợn mẹ sau 3 tuần giảm xuống rõ rệt
Trang 22Do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh nên khả năng tích lũy chất dinh dưỡng mạnh Lợn con 20 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 đến 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ có thể tích lũy được 0,3 đến 0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể Điều này cho thấy nhu cầu của lợn con cao hơn lợn trưởng thành đặc biệt là nhu cầu về protein
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Ngoài sự tăng lên của khối lượng cơ thể, các cơ quan trong cơ thể trong
đó có cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện qua tăng nhanh về dung tích dạ dày, ruột non, ruột già
Theo Trần Văn Phùng và CS (2004) [13] cơ quan tiêu hóa của lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện về chức năng tiêu hóa, biểu hiện như sau: Dung tích của dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp
3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp
60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Sự tăng lên về thể tích ruột có quan hệ đến khả năng tiêu hóa xelluloza tương đối cao trong thức ăn bổ sung Vì vậy cho lợn con tập ăn sớm là một biện pháp tốt trong chăn nuôi Muốn cai sữa cho lợn con thành công thì phải tập cho lợn con ăn sớm Tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng luyện cho cơ năng tiêu hóa cho lợn con, kích thích phản xạ tiết dịch vị, có lợi cho việc tiêu hóa hấp thu thức ăn sau này
Thông thường lợn con 1 tháng tuổi mới biết ăn, nhưng nếu tập cho lợn con ăn sớm lúc 10 ngày tuổi thì 15 ngày tuổi đã biết ăn và đến khi 20 ngày tuổi đã ăn bình thường Thức ăn tập cho lợn con ăn sớm phải là thức ăn hỗn hợp nhiều loại, thành phần và giá trị dinh dưỡng cao, mùi vị thơm ngon và dễ tiêu hóa
Theo Từ Quang Hiển và CS (1995) [4] Lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCL vì lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kiết với niêm dịch Hiện tượng này được gọi là Hypoclohyđric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa dạ dày ở lợn con Vì thiếu HCL tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở gây ra các bệnh tiêu hóa ở lợn con
Trang 23Theo Trần Văn Phùng và CS, (2004) [13] tuy lợn con sinh trưởng nhanh nhưng các cơ quan chưa thành thục về chức năng đặc biệt là hệ thần kinh, vì vậy mà lợn con phản ứng rất chận chạp với các yếu tố tác động lên
nó Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện do một số men tiêu hóa chưa có hoạt tính mạnh, nhất là 3 tuần đầu sau khi sinh như: men Pepsin, Amilaza, Maltaza, Saccaraza Nói chung lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hóa các loại thức
- Men Amilaza và Mantaza: có trong nước bọt và dịch tụy của lợn con
từ lúc mới đẻ nhưng hoạt động kém trước 3 tuần tuổi, chỉ tiêu hóa được 50% lượng tinh bột Sau 3 tuần tuổi hoạt động của 2 men này mạnh lên, khả năng tiêu hóa của lợn con tốt hơn
- Men Saccalaza: lợn con dưới 2 tuần tuổi hoạt lực của men này kém, nếu cho lợn con ăn saccarose rất dễ bị tiêu chảy
- Men Trypsin: là men tiêu hóa protein của thức ăn, khi mới đẻ ra men Trypsin của dịch tụy rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hóa kém protein của men pepsin trong dạ dày
- Men Catepsin: là men tiêu hóa protein trong sữa, lợn con ở 3 tuần tuổi đầu men này có hoạt tính mạnh sau đó giảm dần
- Men Lactaza: có tác dụng tiêu hóa đường lactose trong sữa Men này
có hoạt tính mạnh từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần thứ hai sau
đó giảm dần
- Men Lipaza và Chymosin: có tác dụng tiêu hóa lipit và protein trong thức ăn, hai men này có hoạt lực mạnh trong 3 tuần đầu sau đó giảm dần
Trang 24Nói chung lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa tốt các chất dinh dưỡng có trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hóa thức ăn khác kém.Trong khâu nuôi dưỡng chúng ta cần chú ý đến việc chế biến thức ăn để nâng cao khả năng tiêu hóa của lợn con
* Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh sau khi bú sữa đầu từ lợn
mẹ, cho nên khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lượng sữa đầu của lợn mẹ
Phản ứng miễn dịch là khả năng của cơ thể đáp ứng lại vật lạ khi xâm nhập vào cơ thể.Trong giai đoạn lợn con các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể rất dễ dàng
Lợn con không được bú sữa đầu thì 20 đến 25 ngày tuổi mới tự tổng hợp được kháng thể Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là hết sức cần thiết
và không thể bỏ qua
* Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt của lợn con chưa ổn định
Trung khu điều tiết thân nhiệt của lợn con nằm ở vỏ não, mà não là cơ quan phát triển muộn nhất cả ở trong thai và ngoài thai
Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên khi lạnh lợn con mất nhiệt nhanh
Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong cơ thể còn thấp nên khả năng giữ nhiệt và cung cấp nhiệt kém
Từ những lý do trên ta thấy khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi là rất kém, nhất là tuần đầu mới đẻ Vì vậy phải tạo điều kiện thuận lợi nhất về nguồn nhiệt để lợn con sơ sinh sinh trưởng và phát triển tốt, tránh sự xâm nhập của các mầm bệnh vào cơ thể
* Đặc điểm sinh lý lợn con sau cai sữa
Trong 20 ngày đầu sau khi lợn con cai sữa, từ chỗ lợn con đang phụ thuộc vào lợn mẹ và thức ăn bổ sung, khi cai sữa lợn con phải sống độc lập và
tự lấy dinh dưỡng để nuôi cơ thể
Trang 25Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh, đặc biệt là các tổ chức như xương, cơ bắp và bộ máy tiêu hóa, cũng như cơ năng hoạt động của nó
Sức đề kháng của lợn con còn kém, nhạy cảm với các yếu tố môi trường xung quanh nên lợn con rất dễ bị bệnh tật, đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa
Lợn con sống độc lập nên thường xảy ra hiện tượng nhớ mẹ, nhớ đàn và cắn xé lẫn nhau để tranh dành thứ bậc trong đàn
Đây là giai đoạn nuôi có hiệu quả nhất vì lợn con có khả năng tăng trọng nhanh, khả năng tích lũy nạc cao và có các đặc điểm tốt như: tỷ lệ nuôi sống cao, tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh, tiêu thức ăn tốt, khả năng lợn mắc bệnh thấp
* Các thời kì sinh trưởng quan trọng của lợn con
Các nhà khoa học khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học của lợn con đều đưa ra kết luận rằng: Lợn con từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành trải qua 3 thời kì quan trọng đó là các thời kì khủng hoảng do điều kiện sống mang lại
- Thời kì từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: Đây là thời kì khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn của môi trường sống, do lợn con chuyển
từ môi trường sống ổn định ở trong cơ thể mẹ chuyển sang điều kiện sống tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu chăm sóc không tốt thì lợn con sẽ mắc bệnh, tỷ lệ nuôi sống thấp Mặt khác ở thời kì này lợn con mới
đẻ còn yếu, chưa nhanh nhẹn, lợn mẹ mới đẻ cơ thể mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề nên dễ đè chết lợn con Cho nên cần chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo lợn con ở chu kì này
- Thời kì 3 tuần tuổi: Đây là thời kì thứ 2 của lợn con do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở 3 tuần sau khi đẻ, sau đó lượng sữa giảm dần, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này cần cung cấp, bổ sung sớm và kịp thời dinh dưỡng cho lợn con, cần tập cho lợn con ăn sớm từ lúc 7 đến 10 ngày tuổi
- Thời kì sau cai sữa: Là thời kì khủng hoảng thứ ba do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do nhân tố cai sữa gây nên Mặt khác, thức ăn thay đổi do:
Trang 26chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên ở giai đoạn này nếu chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt thì lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc các bệnh về đường tiêu hóa, hô hấp
- Ngoài ra, còn có một số nhân tố khách quan khác làm cho lợn con
dễ bị nhiễm các bệnh như: cơ thể thiếu nguyên tố vi lượng đặc biệt là sắt, nhiệt độ thay đổi đột ngột, chuồng trại không đảm bảo vệ sinh, lợn mẹ viêm vú,viêm tử cung
1.5.1.2 Đặc điểm của bệnh phân trắng lợn con
Bệnh phân trắng lợn con là một bệnh xảy ra phổ biến ở lợn con, không gây chết hàng loạt nhưng lại gây ra thiệt hại lớn về kinh tế Bệnh có một số đặc điểm nổi bật là viêm ruột và dạ dày, có hiện tượng tiêu chảy nặng rất dễ gây chết
* Nguyên nhân gây bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và CS (1999) [7] bệnh phân trắng lợn con do nhiều nguyên nhân gây ra, chủ yếu là ở lợn con với tác nhân chủ yếu là vi
khuẩn E.coli, Salmonella, Proteus, Streptococcus và nhiều yếu tố khác về
chăm sóc, điều kiện khí hậu
Tác giả Hagan và Brunner (1990) [21] cho rằng nguyên nhân gây bệnh
phân trắng lợn con là do vi khuẩn E.coli Sau khi xâm nhập vào cơ thể lợn, vi khuẩn E.coli phát triển ở tế bào niêm mạc ruột non, sự xâm nhập này chủ yếu
là do yếu tố kháng nguyên K quyết định như K88 (một loại protein lông)
Theo tác giả Smith và Gyles (1970) [23] vi khuẩn E.coli tiết ra một số loại độc tố đường ruột như LT và Sta làm lợn con bị nhiễm độc gây nên bệnh
phân trắng ở lợn con
Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ mắc bệnh như:
-Chuồng trại ẩm ướt, lợn con đẻ ra bị nhiễm lạnh hoặc do thời tiết thay đổi đột ngột
-Lợn chậm được bú sữa đầu, thiếu sắt, thiếu máu, thiếu vitamin A
-Thay đổi thức ăn của lợn mẹ, lợn mẹ bị stress
-Lợn mẹ bị viêm vú đặc biệt do vi khuẩn E.coli gây ra, khi bú sữa của
những lợn mẹ này thì lợn con sẽ bị tiêu chảy