Tìm hiểu thực tế giảng dạy chương “Điện tích- Điện trường” ở trường phổ thông, chúng tôi nhận thấy rằng trong chương này có nhiều kiến thức cần phải nghiên cứu bằng thực nghiệm, nhưng vớ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học sư phạm hà nội 2
************
Đỗ VĂN DũNG
Bồi dưỡng học sinh khá, giỏi về môn toán lớp 4, 5 thông qua việc dạy học
các bài toán mang nội dung hình học
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số : 60 14 01
Tóm tắt luận văn thạc sĩ
Xuân Hòa, 2009
Trang 21 Lí do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao, năng động, sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt Để đáp ứng nhu cầu đó ngành giáo dục cần đổi mới toàn diện Do vậy với văn kiện đại hội đảng lần thứ X của ban chấp hành trung ương đảng khóa IX đã khẳng định “…ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy
và học… Phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của HS…”
Điều 28 luật giáo dục qui định “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng môn học, lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS
Thực hiện yêu cầu trên, ngành giáo dục nước ta có chủ trương đổi mới nội dung, chương trình SGK Với nội dung chương trình SGK mới thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS là thật sự cần thiết
Trong dạy học vật lí với những phương pháp đặc thù như phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình cũng như gắn liền bài giảng với thực tiễn cuộc sống hằng ngày là nhiệm vụ quan trọng Tuy nhiên, trong nhiều phần vật
lí phổ thông thiết bị thí nghiệm còn thiếu và cũ nên không tạo điều kiện tốt cho phương pháp thực nghiệm và mô hình, nhiều hiện tượng không thể hoặc khó quan sát bằng mắt thường Với các thiết bị thông thường của phòng thí nghiệm sẽ gặp khó khăn trong phân tích số liệu và mất nhiều thời gian… do
đó nhiều kiến thức thường được đưa ra dưới dạng thông báo HS không có phương tiện để hỗ trợ nghiên cứu, cho nên chưa phát huy được tính tích cực,
tự chủ của người học Khắc phục những khó khăn trên người ta luôn tìm cách
Trang 3sử dụng và phối hợp các phương tiện trong dạy học sao cho là hiệu quả nhất, đặc biệt là không ngừng nghiên cứu và phát triển những phương tiện mới, nhằm hỗ trợ, nghiên cứu các quá trình, hiện tượng vật lí
Những năm gần đây sự phát triển của khoa học công nghệ đặc biệt là CNTT, những thành tựu của nó đã được đưa vào ứng dụng trong các lĩnh vực
xã hội, kinh tế, khoa học kĩ thuật và trong cả giáo dục Chỉ thị BGD và DT của bộ trưởng bộ Giáo Dục và Đào Tạo về nhiệm vụ của toàn ngành trong năm học 2005-2006 đã nêu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học; tăng cường ứng dụng CNTT trong các hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy và học tập…” Dạy học với sự trợ giúp của máy tính và các phần mềm bước đầu đã khắc phục những khó khăn
22/2005/CT-mà phương tiện truyền thống trước đây chưa giải quyết được
Tìm hiểu thực tế giảng dạy chương “Điện tích- Điện trường” ở trường phổ thông, chúng tôi nhận thấy rằng trong chương này có nhiều kiến thức cần phải nghiên cứu bằng thực nghiệm, nhưng với thực nghiệm chúng ta cũng chỉ
có thể thấy được hiện tượng xảy ra mà không thấy được bản chất của các hiện tượng đó vì vậy HS sẽ thụ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức do đó ảnh hưởng đến chất lượng nắm vững kiến thức của HS Những điều trên có thể khắc phục nhờ việc sử dụng một số PMDH kết hợp với thí nghiệm thực
Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài: “Sử dụng một số phần
mềm dạy học kết hợp với thí nghiệm thực khi dạy phần “Điện tích- Điện trường” (SGK Vật lí 11 nâng cao) nhằm phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh.”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng một số phần mềm mô phỏng kết hợp với thí nghiệm thực khi dạy học phần “Điện tích- Điện trường” (SGK Vật lí 11 nâng cao) để phát huy tính tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức của HS
Trang 4- Hoạt động dạy và học vật lí ở trường phổ thông
- Nghiên cứu sử dụng một số phần mềm mô phỏng kết hợp với thí nghiệm thực khi dạy một số kiến thức chương “Điện tích- Điện trường” (SGK Vật lí 11 nâng cao)
4 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng một cách hợp lí một số phần mềm mô phỏng kết hợp với thí nghiệm thực khi dạy một số kiến thức trong chương “Điện tích- Điện trường” thì sẽ nâng cao được tính tích cực, tự lực nắm vững kiến thức của HS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận dạy học theo quan điểm dạy học hiện đại
- Nghiên cứu lí luận về vấn đề phát huy tính tích cực của HS
- Nghiên cứu lí luận về việc sử dụng MVT và PMDH
- Điều tra thực trạng dạy học chương “Điện tích- Điện trường”
- Soạn một số giáo án theo phương án đề ra
- Thực nghiệm sư phạm
6 Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu sử dụng phần mềm mô phỏng kết hợp với thí nghiệm thật khi dạy một số kiến thức trong chương “Điện tích- Điện trường” (SGK Vật lí
11 nâng cao) để phát huy tính tích cực chiếm lĩnh tri thức của HS
7 Phương pháp nghiên cứu
Phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về lí luận dạy học vật lí làm cơ
sở định hướng cho quá trình nghiên cứu: Vấn đề phát huy tính tích cực, tự chủ chiếm lĩnh tri thức của HS Lí luận về MVT và PMDH
- Điều tra khảo sát thực tế: Dự giờ, dùng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với GV để nắm được tình hình soạn giáo án, tổ chức dạy học, dùng bài kiểm tra để làm cơ sở đánh giá mức độ nhận thức của HS đối với kiến thức trong chương “Điện tích- Điện trường”
Trang 5- Thực nghiệm sư phạm: Để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của tiến trình dạy học đã soạn thảo Từ đó sửa đổi, bổ xung để hoàn thiện
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích, sử lý số liệu
8 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ hơn cơ sở lí luận về tính tích cực nhận thức của HS
- Thiết kế một số bài học có sử dụng một số PMDH kết hợp với thí nghiệm thực khi dạy phần “Điện tích- Điện trường” (SGK Vật lí 11 nâng cao)
9 Cấu trúc của luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2 Sử dụng PMDH kết hợp thí nghiệm thực trong dạy học một
số kiến thức phần “Điện tích- Điện trường”
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
Mục lục
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới, vấn đề “ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí” đã được nhiều nhà lí luận dạy học quan tâm Các tác giả Vincentas Lamanauskas, Rytis Vilkonis đã tiến hành nghiên cứu soạn bài giảng online Đồng thời các tác giả cũng nêu nên lợi ích khi sử dụng phần mềm ứng dụng trong dạy học vật lí (như diễn tả được bản chất của các quá trình…)
Trong nước, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong các tạp chí nghiên cứu giáo dục, các báo cáo trong các hội thảo khoa học của các tác giả như Lê Công Triêm, Phạm Xuân Quế, Nguyễn Quang Lạc, Nguyễn Mạnh Cường, Quách Tuấn Ngọc, Mai Văn Trinh… về việc sử dụng CNTT và thí nghiệm trong dạy học vật lí Như: Lê Công Triêm (2002), “Sự hỗ trợ của MVT đối với hệ thống Mutimedia trong dạy học”, Tạp chí giáo dục, tháng 3; Phạm Xuân Quế (2002), “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Vật lí phổ thông với sự hỗ trợ của MVT và phần mềm dạy học”, Tạp chí giáo dục,
số 27, tr 31; Mai Văn Trinh- Nguyễn Ngọc Lê Nam, “Mô phỏng và thí
nghiệm ảo trong dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông” , Số 189, Kì 1,
tháng 5/2008; Trần Chí Minh, “Thí nghiệm vật lí với sự trợ giúp của máy tính điện tử”, NXB Đại học Bách Khoa Hà Nội… Trong công trình của mình, các tác giả đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của CNTT trong dạy học hiện nay
và việc ứng dụng một cách có hiệu quả vào quá trình dạy học Trong bài báo
“Sử dụng thiết bị TN tự làm” của Lê Cao Phan [24] Tác giả cho rằng: Khả năng sử dụng thiết bị TN vật lý tự làm rất phong phú, đa dạng Nếu GV biết khai thác thì có thể đáp ứng những yêu cầu khác nhau trong dạy học vật lý, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS
Trang 7Các luận án tiến sĩ cũng đề cập khá nhiều đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học như luận án của Nguyễn Xuân Thành “Xây dựng phần mềm phân tích video và tổ chức hoạt động nhận thức của HS trong dạy học các quá trình cơ học biến đổi nhanh theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại”; Mai Văn Trinh với “Nâng cao hiệu quả dạy học Vật lí trong nhà trường phổ thông trung học thông qua việc sử dụng MVT và các phương tiện dạy học hiện đại”
đã sử dụng một số ngôn ngữ lập trình xây dựng một số PMDH vật lí Những phần mềm này nhằm mục đích mô phỏng, minh hoạ các hiện tượng, các quá trình để hỗ trợ giáo viên giảng dạy phần Quang hình và Động học Trần Huy Hoàng với “Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm với sự hỗ trợ của MVT trong dạy học một số kiến thức cơ học và nhiệt học phổ thông” thì đề cập đến việc sử dụng MVT để tạo ra các thí nghiệm ảo hoặc thí nghiệm mô phỏng, từ đó thiết
kế tiến trình dạy học cho một số bài phần cơ học và nhiệt học lớp 10
Ngoài ra còn một số luận văn thạc sĩ đề cập đến việc sử dụng CNTT và thí nghiệm trong dạy học Vật lí như Nguyễn Thị Ánh Hà, Nguyễn Thị Kim Thu sử dụng Microsoft Powerpoit để thiết kế bài giảng và giảng dạy Vật lí ở trường phổ thông Tác giả Ngô Thị Duyên sử dụng thí nghiệm khi dạy phần tính chất sóng, tính chất hạt của ánh sáng, vật lí 12, nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của HS Trong luận văn của mình, tác giả Hà Thị Thu đi xây dựng tiến trình dạy học một số bài chương “Các dụng cụ quang học” có sử dụng PMDH “Sử dụng TN trong giờ học vật lý nhằm phát huy tính tích cực, tự lực
và bồi dưỡng tư duy khoa học cho HS khi dạy phần Từ trường - Cảm ứng điện từ” của Hứa Thị Thắng Đề tài đã nêu ra và giải quyết được một số vấn
đề về lý luận và thực tế phong phú đồng thời vận dụng xây dựng tiến trình dạy học phần “Từ trường - Cảm ứng điện từ”…
Tuy vậy cho tới nay việc kết hợp PMDH với thí nghiệm thực khi dạy học vật lí phổ thông chưa được các tác giả quan tâm nhiều
Trang 81.2 NHIỆM VỤ CỦA VIỆC GIẢNG DẠY VẬT LÝ Ở PHỔ THÔNG.
1.2.1 Đặc điểm của môn vật lí
Môn vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, hầu hết các kiến thức vật
lí được khái quát, kiểm chứng qua thực nghiệm Qua thực nghiệm các kiến thức thu được về các sự vật hiện tượng vật lí, mới có tính xác thực và đảm bảo nguyên tắc khách quan
Vật lí là một ngành học nghiên cứu các quy luật, các tính chất chung nhất của cấu trúc, sự vận động của vật chất Vật lí không chỉ liệt kê, mô tả hiện tượng mà đi sâu nghiên cứu bản chất, khảo sát mặt định lượng và tìm ra các qui luật chung của chúng
Khi nghiên cứu các sự vật hiện tượng vật lí một cách định lượng, trong vật lí dùng công cụ chủ yếu là toán học để biểu diễn mối quan hệ và các qui luật biến đổi của các đại lượng vật lí với nhau Do đó vật lí là môn khoa học mang tính chính xác
Sự phát triển của vật lí có liên quan mật thiết với các kiến thức về hoá học, sinh học, công nghệ, triết học… đặc biệt quá trình phát triển của vật lí gắn liền với sự phát triển sản xuất và khoa học công nghệ hiện đại
1.2.2 Các nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông
- Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản , hiện đại, có hệ thống bao gồm:
+ Các khái niệm vật lí
+ Các định luật vật lí cơ bản
+ Nội dung chính của các thuyết vật lí
+ Các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí trong đời sống và trong sản xuất
+ Các phương pháp nhận thức phổ biến dùng trong vật lí
Trang 9- Phát triển tư duy khoa học cho HS: Rèn luyện những thao tác, hành động, phương pháp nhận thức cơ bản nhằm chiếm lĩnh kiến thức vật lí, vận dụng sáng tạo để giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn sau này
- Trên cơ sở kiến thức vật lí vững trắc, có hệ thống, bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độ đối với lao động, đối với cộng đồng và những đức tính khác của người lao động
- Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS, làm cho HS lắm được những nguyên lý cơ bản về cấu tạo và hoạt động của may móc được dùng phổ biến trong nền kinh tế quốc dân Có kĩ năng sử dụng những dụng cụ vật lí, đặc biệt là những dụng cụ đo lường, kĩ năng lắp ráp thiết bị để thực hiện các thí nghiệm vật lí, vẽ biểu đồ, xử lý các số liệu đo đặc
để rút ra Những kiến thức, kĩ năng đó giúp cho HS sau này có thể thích ứng được với hoạt động lao động sản xuất trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
1.3 Hoạt động nhận thức và vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của HS
1.3.1 Hoạt động nhận thức
Nhận thức là một quá trình Ở con người quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng ) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm…)
1.3.2 Tính tích cực hoạt động nhận thức và các biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức
Trang 101.3.2.1 Khái niệm tính tích cực
Tính tích cực là một tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ động tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập
Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của HS đặc trưng ở khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình lắm vững kiến thức Tính tích cực nhận thức vừa là mục đích hoạt động vừa là vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt của hoạt động Tính tích cực nhận thức chính là phẩm chất, sự cố gắng của mỗi cá nhân Đối với HS đòi hỏi phải có những nhân tố tích cực lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức, đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng, cải tạo đối tượng trong hoạt động giải quyết các vấn đề sau này
1.3.2.2 Biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức của HS
Trang 11- Biết vận dụng kiến thức vào giải bài tập hoặc áp dụng vào trong thực tiễn
- Có quyết tâm, ý chí vươn lên trong học tập, có khả năng sáng tạo trong giải quyết các vấn đề học tập
Mức độ tích cực của HS phụ thuộc vào những yếu tố:
- Vốn kiến thức của HS
- Cách tổ chức hoạt động nhận thức của GV
Những dấu hiệu thể hiện mức độ tích cực của HS
- Thái độ tự giác của HS tham gia vào hoạt động nhận thức như thế nào?
- Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục?
- Tích cực ngày càng tăng hay giảm dần?
- Có kiên trì vượt khó hay không?
Những cấp độ khác nhau của tính tích cực hoạt động nhận thức
- Tính tích cực tái hiện: Chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện, học sinh tích cực bắt chước giáo viên và bạn bè
- Tính tích cực tìm tòi: HS tự tìm cách giải quyết các vấn đề đã nêu ra,
mò mẫn các cách giải quyết khác nhau để tìm ra câu trả lời tối ưu nhất
- Tích cực sáng tạo: Là cấp độ cao nhất của tính tích cực của HS, có khả năng mang kiến thức đã biết vào một tình huống mới Phát hiện những vấn đề mới trong tình huống đã biết HS khẳng định con đường của mình không giống như những con đường mà mọi người đã thừa nhận để đạt được mục đích
Trang 12Tính tích cực nhận thức của HS nảy sinh trong quá trình học tập nhưng
nó lại là kết quả của nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân hình thành từ quá khứ, thậm trí từ lịch sử lâu dài của nhân cách
Tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào những yếu tố: Hứng thú, nhu cầu, động cơ, năng lực, ý trí, sức khoẻ, môi trường… Trong đó hứng thú là nhân tố được các thày, cô quan tâm nhất vì:
+ Nó có thể hình thành ở HS một cách nhanh chóng và bất kì lúc nào trong quá trình dạy học
+ Có thể gây hứng thú cho HS ở mọi lứa tuổi
+ Điều quan trọng hơn cả là nó nằm trong tầm tay của người thày Người thày có thể điều khiển hứng thú của học sinh qua các yếu tố của quá trình dạy học: Nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức qua các bước lên lớp như mở bài, bài giảng mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra kiến thức và trong cả mối quan hệ của thày và trò
tổ chức học tập cho phép HS tự học
Như vậy tính tự lực nhận thức có những thành phần cấu trúc như sau: Động cơ nhận thức, năng lực học tập, tổ chức học tập, hành động duy trí
Trang 131.3.4 Tính tích cực, tự lực nhận thức với vấn đề chất lượng học tập
1.3.4.1 Mối quan hệ giữa tính tích cực và tính tự lực nhận thức
Cơ sở hình thành tính tích cực là tính tự giác, tính tích cực phát triển đến một mức nào đó thì hình thành tính tự lực Như vậy tính tự lực chứa đựng trong nó cả tính tự giác và tính tích cực
Tính tích cực nhận thức quan hệ mật thiết với tính tự lực nhận thức, tính tích cực nhận thức là điều kiện cần thiết của tính tự lực nhận thức Không thể có cái nọ mà không có cái kia, tính tích cực nhận thức là kết quả và biểu hiện của sự nảy sinh, phát triển của tính tự lực nhận thức Trong tính tự lực nhận thức đã thể hiện tính tích cực nhận thức, đồng thời sự thể hiện đó có tác dụng định hướng cá nhân đến tính tự lực nhận thức ở mức độ cao hơn
1.3.4.2 Vai trò của tính tích cực, tự lực nhận thức
Theo quan điểm của giáo dục học hiện đại thì: Dạy học là dạy cho HS biết hành động Mỗi hoạt động dạy là một sự tác động tương hỗ có định hướng của người dạy, người học và đối tượng nghiên cứu Hoạt động dạy học chỉ được xảy ra khi có hoạt động tích cực của HS
Do vậy GV phát huy tính tích cực của người học trong giảng dạy sẽ có ảnh hưởng tốt đến chất lượng dạy học Vì thế trong quá trình này GV phải biết kết hợp chặt chẽ bài giảng với hoạt động của HS, có như vậy HS mới chăm chú nghe giảng, tham gia tích cực vào giải quyết các vấn đề học tập Do vậy HS lắm được tri thức, kỹ năng, kỹ sảo, hình thành được những năng lực phẩm chất mà mục tiêu dạy học đã đề ra
Như vậy vai trò của tính tích cực tự lực của HS rất quan trọng, nó tạo điều kiện để HS tiếp thu tốt các kiến thức mới, đồng thời phát triển được tư duy và biến các kiến thức vừa tiếp thu được thành vốn kiến thức riêng của
Trang 141.3.5 Các biện pháp phát huy tính tích cực của HS
Phát huy tính tích cực nhận thức không phải là vấn đề mới Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aristot… đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực chủ động của HS và đã nói lên nhiều biện pháp, phát huy tính tích cực nhận thức
Trong thế kỷ XX, các nhà giáo dục Đông, Tây đều tìm kiếm con đường tích cực hoá hoạt động dạy học Đó là tư tưởng của các nhà giáo dục nổi tiếng như: B.P Êxipôp, I Xamova, M.A.Danikop (Liên Xô), Okon (Ba Lan), Skinner (Mỹ)… Ở Viện Nam các nhà lý luận dạy học như GS Hà Thế Ngữ,
GS Đặng Vũ Hoạt…cũng đã viết nhiều về tính tích cực hoạt động nhận thức
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy tính tích cực tự lực nhận thức của HS?
Các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức của HS có thể tóm tắt như sau:
- Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
- Nội dung dạy học phải mới, những cái mới ở đây không phải quá xa
lạ với học sinh, các mới phải liên hệ và phát triển cái cũ Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày, thoả mãn nhu cầu nhận thức của các em
- Phải dùng các phương pháp đa dạng: Nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, làm việc độc lập và phối hợp chúng với nhau Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau, Những vấn
đề quan trọng, các hiện tượng then chốt có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ
Trang 15- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt ở các lớp nhỏ, dụng cụ trực quan có tác dụng tốt trong việc kích thích hứng thú của học sinh
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập thể, thăm quan, làm việc trong vườn trường trong phòng thí nghiệm…
- Thầy giáo, bạn bè động viên, khen thưởng khi có thành tích học tập tốt
- Luyện tập dưới các hình thức khác, vận dụng kiến thức vào thực tiễn vào các tình huống mới
- Kính thích tính tính cực qua thái độ, cách ứng xử giữa thầy giáo và học sinh
- Phát triển kinh nghiệm sống của học sinh trong học tập
1.4 VAI TRÒ CỦA MVT VÀ PMDH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
1.4.1 Các chức năng cơ bản của MVT
MVT là một phương tiện kĩ thuật có nhiều điểm mạnh để hỗ trợ cho những hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau của con người Những điểm mạnh này cũng đang được khai thác để hỗ trợ quá trình dạy học
Trước hết MVT là thiết bị có thể tạo nên, lưu trữ trong máy và hiển thị lại lên màn hình một khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng như văn bản, hình ảnh và âm thanh mà các giác quan của con người có thể tiếp nhận được Hơn nữa việc truy cập cũng như trao đổi giữa người và máy rất thuận tiện với các nội dung bất kì trong khối lượng thông tin khổng lồ hết sức dễ dàng, nhanh chóng, chính xác, hơn mọi phương pháp thường sử dụng
Kĩ thuật đồ hoạ đẹp, phong phú, chân thực, sống động, phản ánh trung thành màu sắc tự nhiên, từ đó tạo điều kiện mô phỏng nhiều quá trình, hiện
Trang 16tượng trong tự nhiên, xã hội và con người đặc biệt là những quá trình không thể hoặc khó có thể sảy vì sự hạn chế của không gian, thời gian và nguy hiểm
MVT có khả năng tính toán, sử lý cực kì nhanh một khối lượng thông tin vô cùng lớn, cho ra các kết quả được hiển thị dưới dạng chuẩn như: bảng biểu, đồ thị, biểu đồ , tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu mà các phương tiện tính toán khác không bao giờ thực hiện được Chức năng ưu việt này của máy vi tính đã giúp con người thực hiện được những khối lượng công việc tính toán vô cùng lớn trong khoảng thời gian vô cùng nhỏ và kết quả lại hoàn toàn chính xác
MVT còn có thể ghép nối với các thiết bị nghiên cứu khác để thành một thiết bị mới có chất lược cao hơn hẳn thiết bị cũ Các thiết bị mới này hiện nay thay thế hầu hết các thiết bị cũ trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, sản xuất ở các nước phát triển trên thế giới
Nhờ phần mềm thông qua MVT tính có thể điều khiển hoàn toàn tự động các quá trình theo chương trình cài đặt sẵn
Thời gian vừa qua với sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật sử ký máy tính đã làm cho PMDH sinh động và hiệu quả hơn
1.4.2 Khái quát về phần mềm dạy học
Trong tin học thuật ngữ phần mềm được dùng nói về các chương trình dùng để điều khiển hoạt động của máy tính, sử lý dữ liệu phục vụ cho một ứng dụng cụ thể trong hoạt động kinh tế, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ an ninh hoặc quốc phòng… ví dụ như chương trình tính lương cho một xí nghiệp, chương trình phục vụ điều tra dân số… và trong giáo dục chúng ta có các PMDH
1.4.2.1 Khái niệm phần mềm dạy học
Trang 17PMDH là các phần mềm được tạo ra nhằm trợ giúp quá trình dạy học, bao gồm các đơn vị tri thức, các bài tập từ đơn giản đến phức tạp tạo điều kiện cho việc kĩnh hội tri thức
Dựa trên mục đích của lý luận dạy học ta có thể phân loại phần mềm theo chức năng dạy học như:
+ Phần mềm gợi động cơ
+ Phần mềm làm việc với động cơ mới
+ Phần mềm ôn tập, luyện tập
+ Phần mềm kiểm tra đánh giá
1.4.2.2 Yêu cầu sư phạm của PMDH
PMDH cần được tích hợp kiến thức đầy đủ của lĩnh vực dạy và những phương pháp sư phạm thuyết phục, tạo ra một môi trường giao tiếp tích cực,
có khả năng dạy học trong thế giới thực
PMDH tốt phải tính tới các phương pháp dạy học tiên tiến (quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm) Phải xác định rõ PMDH được sử dụng ở khâu nào của tiến trình dạy học, nhằm hình thành kiến thức, kĩ năng và phát triển năng lực của HS Hứng thú của HS phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả của phần mềm
Nội dung dạy học chứa đựng trong chương trình phải đảm bảo tính chính xác và khoa học Các văn bản, hình vẽ, biểu đồ, đồ thị phải chính xác, trình bày phải rõ dàng, trong sáng, cô đọng, dễ hiểu Tránh làm dụng các thuật ngữ chuyên ngành tin học bằng tiếng nước ngoài chưa phổ biến trong trường phổ thông
Các PMDH phải giúp tăng cường tính trực quan Nội dung trình bày
Trang 18không đưa ra quá nhiều văn bản dài dòng hay hình vẽ, sơ đồ quá phức tạp dễ gây nhiễu đối với HS Có thể hiển thị trên màn hình cùng lúc nhiều cửa sổ làm việc để HS có thể quan sát, đối chứng, thấy được mối liên hệ giữa các nội dung được trình bày Cần sử dụng kheo léo các màu sắc, kích thước hình vẽ, kích cỡ văn bản để định hướng được sự quan sát của HS
Các PMDH phải phù hợp với chức năng dạy học mà nó đảm nhận Tốt nhất là mỗi PMDH nên có phần gợi ý cách thức sử dụng vào dạy học để GV
và HS dễ sử dụng
Các PMDH phải phù hợp với trình độ tin học của GV và HS
Các PMDH phải tăng cường được khả năng tự học của HS
Các PMDH phải phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi HS, phải đảm bảo vệ sinh học đường Muốn vậy phải chú ý đến cường độ ánh sáng trên màn hình, đến màu sắc thể hiện cũng như âm thanh mà phần mềm mang lại cho người
sử dụng
1.4.2.3 Yêu cầu kĩ thuật của PMDH
PMDH được xây dựng trên cơ sở lao động kết hợp chặt chẽ giữa hai nhóm chuyên gia: Chuyên gia giáo dục và chuyên gia tin học (hay là trên hai mảng kiến thức giáo dục và kiến thức tin học) Các chuyên gia phải căn cứ vào các thực tiễn chương trình nội dung cụ thể của môn học trong từng giai đoạn dạy học các tri thức cụ thể, có hiểu biết về tin học để đề ra được bài toán
sự phạm, xây dựng được kịch bản cho PMDH Các chuyên gia tin học phải hiểu biết về thực tiễn dạy học để có sự hiểu biết ý đồ sư phạm của chuyên gia giáo dục để thực thi một cách khoa học và uyển chuyển
Các PMDH phải có độ linh động cao Yêu cầu này thể hiện ở chỗ PMDH cho phép người sử dụng có thể thay đổi các thông số của chương trình một cách dễ dàng để giải quyết một nội dung học tập hay một bài tập mới
Trang 19Các PMDH phải đảm bảo yêu cầu về tổ chức quản lý, tìm kiếm và truy cập các thông tin
Các PMDH phải đảm bảo yêu cầu về mặt ổn định của các phần mềm Khi sử dụng người dùng có thể bấm các phím ngoại lai ngoài ý muốn của người lập trình
Các phần mềm phải dễ sử dụng Phần mềm nên đưa vào các phím nóng, các phim tổ hợp, cho phép sử dụng thiết bị chuột để người dùng có thể
dễ dàng thực hiện các lệnh và truy cập thông tin
1.4.3 Những hỗ trợ cơ bản của MVT và PMDH trong tích cực hoá hoạt động nhận thức
1.4.3.1 Những hỗ trợ cơ bản của MVT và phần mềm trong dạy học nói
có nhiều hình vẽ, tranh ảnh, âm thanh
- Hỗ trợ trong việc ghi, thu thập, sử lý và trình bày kết quả trong khi nghiên cứu (với các phần mềm ứng dụng chuyên biệt)
- Điều khiển, điều chỉnh quá trình dạy học
- Tự ôn tập, tự học theo chương trình cài đặt trên máy hay trên mạng Internet (Web based Learning, Web based Training)
- Kiểm tra, đánh giá (với phần mềm xây dựng ngân hàng đề thi,
Trang 201.4.3.2 Những hỗ trợ cơ bản của MVT và phần mềm trong dạy học Vật lí
Trong chương trình phổ thông ngoài các ứng dụng thường thấy như: Trình bày bài giảng điện tử, ôn tập, kiểm tra, đánh giá bằng MVT… thì trong dạy học Vật lí MVT còn được sử dụng ở một số lĩnh vực sau:
- Mô phỏng các đối tượng, các thí nghiệm vật lí
- Hỗ trợ các thí nghiệm vật lí
- Hỗ trợ phân tích các quá trình vật lí thực (được nghi lại nhờ băng video)
- Hỗ trợ việc xây dựng các mô hình
a Phần mềm mô phỏng các quá trình, hiện tượng vật lí
Mô phỏng nhờ MVT theo quan điểm của lý luận dạy học hiện đại là một phương pháp nhận thức Nó xuất phát từ các tiên đề hay từ các mô hình (các phương trình hay các nguyên lý) được viết dưới dạng toán học hoặc xuất phát từ các mối quan hệ định tính giữa các đại lượng vật lí, thông qua việc vận dụng các phần mềm cài đặt ở MVT để giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Mô phỏng, minh hoạ các hiện tượng, quá trình vật lí một cách trực quan và chính xác để dễ quan sát nghiên cứu
Không phải quá trình nào xảy ra trong tự nhiên cũng dễ quan sát Đối với chuyển động của chiếc thuyền, đoàn tàu thì việc quan sát để xác định vị trí của chúng ứng với từng thời điểm hay quãng đường đi ứng với từng khoảng thời gian trôi qua là không khó khăn Nhưng cũng có những quá trình trong tự nhiên không thể quan sát bằng mắt thường để xác định các đại lượng cần thiết được vì diễn biến của quá trình xảy ra quá nhanh hay quá chậm Điều đó gây khó khăn trong việc điều tra tìm ra quy luật của chúng Các quá trình như vậy được nghiên cứu trong chương trình vật lí phổ thông có thể kể ra ở đây như:
Trang 21Chuyển động rơi, chuyển động ném ngang của một vật, chuyển động của khối tâm và các chuyển động của các điểm của vật rắn, quá trình phân rã hạt nhân, quá trình phóng xạ… Một trong những giải pháp có thể hỗ trợ cho việc nghiên cứu các quá trình đó hiệu quả hơn là sử dụng phần mềm mô phỏng các quá trình đó Khi mô phỏng bằng máy vi tính giáo viên và học sinh có thể làm cho một quá trình chậm lại hoặc nhanh lên hoặc có thể dừng quá trình tại thời điểm bất kì để nghiên cứu, xác định các đại lượng tức thời (ví dụ: Toạ độ, vận tốc, gia tốc, quãng đường… của chuyển động được mô phỏng)
Mô phỏng, minh hoạ các quá trình, hiện tượng Vật lí không thể quan sát bản chất bên trong của các hiện tượng: Dòng điện trong kim loại, các hiện tượng nhiễm điện…
- Mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lí để qua đó đưa ra các dự đoán, giả thuyết về hiện tượng, quá trình vật lí mới, tìm ra các kiến thức mới (trạng thái, mối quan hệ, quy luật mới…) bằng con đường nhận thức lí thuyết
Ngoài khả năng mô phỏng một cách trực quan và chính xác các hiện tượng, quá trình vật lí, các phần mềm mô phỏng còn có thể tạo điều kiện cho người nghiên cứu đi sâu vào và tìm ra các mối quan hệ có tính bản chất của các hiện tượng, quá trình vật lí Ta có thể hình dung khả năng này như sau:
Để giải quyết một vấn đề nào đó đặt ra trong bài học vật lí, GV và HS sử dụng một số tiên đề hay mô hình vật lí (có thể được mô tả bằng phương trình vật lí), tiến hành các suy luận, tính toán trên đó Nhưng do công cụ toán học còn thiếu nên không thể đạt được tới đích Do vậy ở đây cần sự hỗ trợ của MVT và phần mềm để có thể giải ra kết quả Kết quả mà máy tính đưa ra biểu thị dưới dạng số, biểu bảng, đồ thị hay các hình ảnh động (mô hình động) Từ các dạng đó cho phép ta dự đoán sự tồn tại các mối quan hệ mới có tính qui luật trong hiện tượng, quá trình vật lí đang nghiên cứu
Trang 22Như vậy việc tìm ra các mối quan hệ mới có tính chất giả thuyết này là trên cơ sở mô hình hoá các đối tượng (hệ) nghiên cứu, sau đó mô phỏng và tính toán các hệ đó về phương diện tính toán lí thuyết Kết quả này có được chấp nhận hay không là phải được kiểm tra bằng thực nghiệm Điều đó cũng giống như bất kì việc kiểm tra bằng thực nghiệm đối với những kết luận đã suy ra theo con đường lý thuyết Các kết luận đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm lại sẽ được dùng để giải thích và tiên đoán các hiện tượng liên quan
b Sử dụng MVT hỗ trợ thí nghiệm vật lí
Việc nghiên cứu, cải tiến các thí nghiệm vật lí là một nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục, của mỗi nhà trường và mỗi GV MVT có thể xử lý các tín hiệu điện sau khi đã được số hoá Theo nguyên tắc này có thể thiết kế các thí nghiệm Vật lí có sự hỗ trợ của MVT Các thí nghiệm có sự hỗ trợ của MVT có nhiều ưu điểm lớn nhờ tính năng của MVT Với các thiết bị ghép với MVT số liệu của đối tượng đo trong các thí nghiệm sẽ được thu thập và số hoá sau đó được đưa vào MVT Trong MVT đã cài đặt sẵn phần mềm xử lý
số liệu theo ý muốn (lập bảng số liệu, vẽ đồ thị, tính toán…) Sau khi xử lý, kết quả thí nghiệm sẽ được hiển thị trên màn hình tuỳ theo mục đích của người sử dụng và tình năng của phần mềm
So với thí nghiệm không có sự hỗ trợ của MVT, các thí nghiệm vật lí được hỗ trợ bởi MVT có các ưu điểm sau:
+ Tiết kiệm thời gian: Thí nghiệm vật lí trong đó có sự hỗ trợ của MVT
có kết cấu theo từng bộ phận nên việc lắp đặt rất nhanh chóng Việc thu thập các số liệu, việc xử lý số liệu nhờ vào MVT và phần mềm hoàn toàn tự động nên thời gian để thu thập và xử lý số liệu rất ngắn, tạo điều kiện cho thời gian tập trung vào bài học nhiều hơn
Trang 23+ Độ chính xác cao: Với những phần mềm thích hợp, việc tính toán và đưa ra kết quả thí nghiệm rất chính xác, mặt khác kết quả thí nghiệm lại có thể hiển thị dưới nhiều hình thức, nhiều hệ đơn vị khác nhau tuỳ theo mục đích của người sử dụng Đây cũng là một trong những yếu tố giúp cho thí nghiệm thành công
Vì các tính năng ưu việt trên nên việc sử dụng MVT hỗ trợ thí nghiệm trong quá trình dạy học vật lí ở trường phổ thông ngày càng được quan tâm và được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên sử dụng MVT hỗ trợ thí nghiệm trong dạy học vật lí ở trường phổ thông ở nước ta trong điều kiện hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là về trang thiết bị như MVT, thiết bị ghép nối… Mặt khác với các thí nghiệm có sự hỗ trợ của MVT thì GV cũng phải có kiến thức tối thiểu về sử dụng MVT, HS phải tiếp xúc quen với các phương tiện dạy học hiện đại…
c Sử dụng MVT xây dựng các mô hình
Trong quá trình nghiên cứu vật lí ở trường phổ thông, việc xây dựng
mô hình (giả thuyết) để đưa ra các kiến thức mới đóng một vai trò hết sức quan trọng, tuy nhiên quá trình này gặp rất nhiều khó khăn, hoặc quá sức HS (như mô hình phương trình vi phân mô tả giao động điều hoà, chuyển động có sức cản của không khí, chuyển động có ma sát…)
Hoặc khi đưa ra các giả thuyết (mô hình) về mối quan hệ có tính quy luật của một số đại lượng vật lí trong hiện tượng nghiên cứu , về kiểm tra tính đúng đắn của từng giả thuyết (mô hình) là rất khó khăn đối với HS (như mối quan hệ giữa biến thiên từ thông với việc xuất hiện dòng điện cảm ứng, chiều dòng điện cảm ứng…) với những khó khăn này HS không phát huy được tính tích cực trong học tập
Trang 24Trong những trường hợp kể trên sự hỗ trợ của MVT là rất quan trọng, với các phần mềm thích hợp HS có thể kiểm tra các giả thuyết (mô hình) một cách dễ dàng bằng cách đối chiếu mô hình đưa ra với mô hình chuẩn có sẵn trong phần mềm để từ đó tìm ra quy luật của hiện tượng
Như vậy có thể thấy rõ là trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông, việc
sử dụng MVT và phần mềm thích hợp để xây dựng các mô hình mô tả các đối tượng, nội dung phức tạp sẽ góp phần phát huy tính tích cực, phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, chất lược lắm vững kiến thức của HS
d Phần mềm phân tích băng hình (phần mềm hỗ trợ thí nghiệm về các chuyển động cơ học thông qua việc phân tích băng hình ghi các chuyển động
cơ học đó)
Trong vật lí có những quá trình do xảy ra quá nhanh hoặc xảy ra trong không gian rộng khó quan sát, khó đo đặc bằng các phương tiện, thiết bị đo thông thường trong phòng thí nghiệm (ví dụ như chuyển động rơi tự do, chuyển động ném xiên hay chuyển động của tên lửa phóng khỏi bệ…) thì việc nghiên cứu nó ở trường phổ thông là hết sức khó khăn
Để giải quyết khó khăn đó, trên thực tế ngoài việc sử dụng MVT để mô phỏng chúng như đã nói người ta còn sử dụng một số phương pháp khác ở trường phổ thông như: Phương pháp đánh tia lửa điện của bộ thí nghiệm Việt Nam hay bộ thí nghiệm J- 2155 của Trung Quốc, phương pháp dùng thì kế hiện số và các của chắn quang điện, phương pháp chụp ảnh hoạt nghiệm Về nguyên tắc thì các phương pháp này ta cần ghi và đo trên băng giấy hay trên phim ảnh các quãng đường đi được trong những khoảng thời gian cố định bằng nhau (trong phương pháp đánh tia lửa điện hay phương pháp hoạt nghiệm) hoặc đo được các quãng đường đi được trong những khoảng thời
Trang 25gian tuỳ ý (trong phương pháp dùng thì kế hiện số và các của chắn quang điện) của chuyển động
Tuy nhiên với các thiết bị sử dụng theo các phương pháp này thì lĩnh vực nghiên cứu chỉ giới hạn trong các loại chuyển động thẳng (trừ phương pháp chụm ảnh hoạt nghiệm) và giới hạn trong không gian của phòng thí nghiệm Hơn nữa khi sử dụng các phương pháp này, việc thu thập số liệu đo
là khó chính xác, mất thời gian Thêm vào đó từ các số liệu đo được, để phân tích, sử lí cũng đòi hỏi khá nhiều thời gian Chính vì vậy trong dạy học thực tế
ở trường phổ thông hiện nay khi sử dụng các phương pháp này thì các thí nghiệm được tiến hành dưới dạng thí nghiệm minh hoạ
Để khắc phục những hạn chế kể trên, một trong những phương pháp mới được đưa ra là: Phương pháp phân tích các băng ghi hình nhờ MVT và các phần mềm tương ứng Phương pháp này đang được sử dụng nhiều trong các trường học phát triển như Mĩ, cộng hoà liên bang Đức, Pháp…
Các giai đoạn của phương pháp phân tích băng ghi hình nhờ MVT trong dạy học Vật lí
- Quan sát quá trình Vật lí cần nghiên cứu: Với chức năng của phần mềm và các tín hiệu về quá trình Vật lí đã được số hoá, GV và HS có thể cho hình chuyển động như trong thực tế, sau đó có thể cho nó chuyển động chậm lại, chuyển động từng giai đoạn hay đứng yên tuỳ theo mục đích nghiên cứu
- Xác định vị trí toạ độ và thời điểm tương ứng của vật chuyển động: Nhờ phần mềm, có thể đặt trục toạ độ thích hợp vào màn hình trong đó đang
có hình ảnh về quá trình chuyển động đang nghiên cứu Sau đó người nghiên cứu dùng chuột để xác định và đánh dấu vị trí toạ độ của vật chuyển động và thời điểm tương ứng bắng cách ních chuột vào trọng tâm của vật Thường thì thời gian làm việc này cần khoảng một phút
Trang 26- Phân tích, xử lí số liệu và trình bày kết quả của việc phân tích, xử lí này: Dựa trên bảng số liệu về toạ độ và thời gian này, người nghiên cứu sẽ suy nghĩ xem liệu quá trình vật lí đang nghiên cứu chứa đựng các quy luật như thế nào Để làm được điều đó, thông thường chúng ta phải tiến hành nhiều phép tính toán tiếp theo, lập các bảng hay vẽ các đồ thị về các mối quan
hệ như v-t, a-t, x-t… Tất cả công việc đó đều có thể nhờ phần mềm thực hiện ngay trong một giây Các kết quả này được trình bày chính xác, đẹp đẽ trên màn hình dưới dạng bảng hay đồ thị tuỳ theo mong muốn của chúng ta Các bảng hay các đồ thị này sẽ giúp chúng ta tìm ra các quy luật tiềm ẩn trong đó
- Đưa ra giả thuyết về quy luật chuyển động và kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết, điều chỉnh giả thuyết để tìm ra quy luật: Dựa vào bảng số liệu
và dựa vào đồ thị mô tả mối quan hệ của các đại lượng vật lí trong quá trình
đó chúng ta so sánh với bảng hay dạng đồ thị của các chuyển động xem nó có tuân theo quy luật đã biết nào không, và lập được phương trình biểu diễn nó
Trên đây là những hỗ trợ cơ bản của phần mềm trong dạy học vật lí 1.5 VAI TRÒ CỦA THÍ NGHIỆM THỰC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
1.5.1 Khái quát về thí nghiệm thực
1.5.1.1 Các đặc điểm của thí nghiệm vật lí
Thí nghiệm vật lí là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người vào các đối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tích các điều kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác động để có thể thu nhận được kiến thức mới Thí nghiệm vật lí có các đặc điểm sau:
- Các điều kiện của thí nghiệm phải được lựa chọn và được thiết lập có chủ định sao cho thông qua thí nghiệm, có thể trả lời được câu hỏi đặt ra, có thể kiểm tra được giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết Mỗi thí nghiệm
có ba yếu tố cấu thành cần được xác định rõ: Đối tượng cần nghiên cứu, hiện
Trang 27tượng gây tác động lên đối tượng cần nghiên cứu và phương tiện quan sát, đo đặc để thu nhận các kết quả của sự tác động
- Các điều kiện của thí nghiệm có thể làm biến đổi được để ta có thể nghiên cứu sự phụ thuộc giữa hai đại lượng trong khi các đại lượng khác được giữ không đổi
- Các điều kiện của thí nghiệm phải được khống chế kiểm soát đúng như dự định nhờ sử dụng các thiết bị thí nghiệm có độ chính xác ở mức độ cần thiết, nhờ sự phân tích thường xuyên các yếu tố của đối tượng cần nghiên cứu, làm giảm tối đa ảnh hưởng của các nhiễu
- Đặc điểm quan trọng nhất của thí nghiệm là tính có thể quan sát được các biến đổi của các đại lượng nào đó do sự biến đổi của các đại lượng khác Điều này đạt được nhờ các giác quan của con người và sự hỗ trợ của các phương tiện quan sát đo đặc
- Có thể lặp lại được thí nghiệm Điều này có nghĩa với các thiết bị thí nghiệm, các điều kiện thiết bị thí nghiệm như nhau thì khi bố trí lại thí nghiệm, tiến hành lại thí nghiệm, hiện tượng, quá trình vật lí phải diễn ra trong thí nghiệm phải giống như ở các lần thí nghiệm trước đó
1.5.1.2 Các loại thí nghiệm được sử dụng trong dạy học Vật lí
Dạy học vật lí ở trường phổ thông sử dụng hai loại thí nghiệm: Thí nghiệm biểu diễn (thí nghiệm do giáo viên tiến hành là chính, tuy có thể có sự
hỗ trợ của HS) và thí nghiệm thực tập (thí nghiệm do HS tự tiến hành dưới sự hướng dẫn của GV)
- Thí nghiệm biểu diễn:
Thí nghiệm biểu diễn được GV tiến hành trên lớp, trong các giờ học nghiên cứu kiến thức mới và có thể ở các giờ học củng cố kiến thức của học
Trang 28sinh căn cứ vào mục đích lí luận dạy học của thí nghiệm biểu diễn trong quá trình nhận thức của HS, thí nghiệm biểu diễn gồm những loại sau:
+ Thí nghiệm mở đầu: Là thí nghiệm nhằm giới thiệu cho HS biết qua
về hiện tượng sắp nghiên cứu, để tạo tình huống có vấn đề, tạo nhu cầu hứng thú học tập cho HS, lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhận thức
+ Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng: là thí nghiệm nhằm xây dựng nên hoặc kiểm chứng lại kiến thức mới, được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu kiến thức mới Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng bao gồm:
Thí nghiệm nghiên cứu khảo sát: Là thí nghiệm nhằm cung cấp các cứ liệu thực nghiệm để từ đó khái quát hoá qui nạp, kiểm tra được tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả logic rút ra từ giả thuyết đã đề xuất, giải quyết được vấn đề xuất hiện ở đầu giờ học, từ đó xây dựng nên kiến thức mới ví dụ như: Sự rơi tự do, Momen lực và quy tắc momen lực, Định luật Bôi lơ- Mariôt…
Thí nghiệm nghiên cứu minh hoạ: Là thí nghiệm kiểm chứng lại các kiến thức đã được xây dựng bằng con đường lý thuyết dựa trên những phép suy luận logic ví dụ như: Dao động điều hoà của con lắc lò xo…
+ Thí nghiệm củng cố: Là thí nghiệm nêu nên những biểu hiện kiến thức đã học trong tự nhiên, đề cập các ứng dụng của kiến thức này trong sản xuất và đời sống, đòi hỏi HS phải vận dụng các kiến thức đã học để dự đoán hoặc giải thích hiện tượng hay cơ chế hoạt động của các thiết bị, dụng cụ kĩ thuật Thông qua đó, giáo viên cũng có thể kiểm tra được mức độ lắm vững kiến thức của HS
Thí nghiệm củng cố có thể được sử dụng không chỉ trong các tiết học nghiên cứu kiến thức mới mà cả trong giờ luyện tập và hệ thống hoá kiến thức
đã học
Trang 29Thí nghiệm trực diện có thể được tổ chức dưới hình thức thí nghiệm đồng loạt nhưng cũng có thể dưới hình thức thí nghiệm cá thể So với thí nghiệm biểu diễn, ngoài các tác dụng về mặt rèn luyện kĩ năng thí nghiệm, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu, giáo dục thái độ, tác phong và phương pháp làm việc tập thể, thí nghiệm trực diện còn có ưu điểm ở chỗ các kết luận được rút ra trên cơ sở một số lượng nhiều hơn các cứ liệu thực nghiệm, các cứ liệu thực nghiệm này đã được các nhóm HS so sánh, bổ sung, qua đó HS thấy được tính chất khách quan của các qui luật đang nghiên cứu
+ Thí nghiệm thực hành: Là loại thí nghiệm do HS thực hiện trên lớp (trong phòng thí nghiệm) mà sự tự lực làm việc cao hơn so với thí nghiệm trực diện HS dựa vào tài liệu đã in sẵn mà tiến hành thí nghiệm, rồi viết báo cáo thí nghiệm
Thí nghiệm thực hành vật lí có thể có nội dung định tính hay định lượng, xong chủ yếu là kiểm nghiệm lại các định luật, các qui tắc đã được học
và xác định các đại lượng vật lí mà các nội dung này không có điều kiện để thực hiện ở dạng thí nghiệm trực diện
+ Thí nghiệm và quan sát vật lí ở nhà: Là một loại bài làm mà GV giao
Trang 30Khác với các loại thí nghiệm khác, HS tiến hành và quan sát thí nghiệm trong điều kiện không có sự giúp đỡ, kiểm tra trực tiếp của GV Vì vậy loại thí nghiệm này đòi hỏi tính tự giác, tự lực cao của HS Điểm khác nữa là thí nghiệm này chỉ đòi hỏi HS sử dụng các dụng cụ thông thường trong đời sống, những vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền hoặc các dụng cụ đơn giản được HS chế tạo từ những vật liệu này Chính đặc điểm này tạo cơ hội để phát triển năng lực sáng tạo của HS trong việc thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao
Loại thí nghiệm này khác với các loại bài làm khác của HS ở nhà ở chỗ
nó đòi hỏi sự kết hợp giữa lý thuyết và thục nghiệm, giữa hoạt động trí óc và hoạt động tay chân của HS
Với những đặc điểm như vậy, thí nghiệm và quan sát vật lí ở nhà có tác dụng lên nhiều mặt đối với sự phát triển nhân cách của HS: Quá trình tự lực thiết kế phương án thí nghiệm, lập kế hoạch thí nghiệm, chế tạo hoặc chọn lựa dụng cụ, bố trí, tiến hành và xử lí kết quả…góp phần vào việc phát triển năng lực hoạt động trí tuệ thực tiễn của HS Việc thực hiện và hoàn thành các công việc sẽ tăng hứng thú học tập, tạo niềm vui của sự thành công trong công việc học tập của mình Với thiết kế phương án thí nghiệm, tiên đoán hoặc giải thích các kết quả thí nghiệm đòi hỏi HS phải huy động kiến thức đã học ở nhiều phần khác nhau, nhờ vậy chất lượng kiến thức của HS được nâng cao
Khi sử dụng loại thí nghiệm này trong dạy học vật lí, GV cần bố trí thời gian để HS báo cáo trước lớp các kết quả đã đạt được, giới thiệu những sản phẩm của mình, nhận được sự đánh giá của GV và tập thể cũng như sự động viên khen thưởng kịp thời
Nội dung của bài làm ở nhà này rất phong phú, có thể ra dưới nhiều dạng khác nhau: Mô tả một phương án thí nghiệm, yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm, tiên đoán hoặc giải thích kết quả thí nghiệm, cho trước các dụng cụ,
Trang 31yêu cầu HS thiết kế phương án thí nghiệm để đạt được một mục đích nhất định, yêu cầu HS chế tạo một dụng cụ thí nghiệm đơn giản (có thể cho trước các vật liệu cần thiết) rồi tiền hành thí nghiệm với dụng cụ này nhằm đạt được mục đích cho trước… Nội dung của các thí nghiệm vật lí ở nhà có thể mang tính chất định tính hoặc định lượng
1.5.2 Vai trò của thí nghiệm thực trong tính tích cực hoá, tự lực nhận thức của học sinh
1.5.2.1 Vai trò của TN thực theo quan điểm của lý luận nhận thức
a) TN là phương tiện để thu nhận tri thức
TN vật lý đã được sử dụng để thu nhận những kiến thức đầu tiên về thế giới tự nhiên, nó được dùng như là "câu hỏi đối với tự nhiên", chỉ thông qua
TN mới trả lời được câu hỏi này
Qua TN vật lý HS thu được những dữ liệu cảm tính (các biểu tượng, các số liệu đo đạc) về hiện tượng và các quá trình vật lý từ đó tạo điều kiện cho HS đưa ra những giả thuyết về tính chất hay mối liên hệ phổ biến có tính qui luật của các đại lượng vật lý
b) TN vật lý là phương tiện kiểm tra tính đúng đắn của tri thức đã biết
TN vật lý cho biết những kiến thức HS thu được trước đó là hoàn toàn đúng Tuy nhiên trong một số trường hợp kết quả của TN vật lý lại phủ định tính đúng đắn của tri thức đã biết, đòi hỏi phải đưa ra giả thuyết khoa học mới
và kiểm tra nó bằng các TN vật lý khác Nhờ đó ta sẽ thu được tri thức mới khái quát hơn bao hàm các tri thức đã biết trước đó như một trường hợp riêng
Sử dụng TN vật lý để kiểm tra tính đúng đắn của một số kiến thức được rút ra tự suy luận lôgic
c) TN là phương tiện để vận dụng tri thức thu được vào thực tiễn
Trang 32Chúng ta thấy rằng việc vận dụng các tri thức lý thuyết vào việc thiết
kế, chế tạo các thiết bị kỹ thuật, thường gặp nhiều khó khăn do tính trìu tượng của tri thức cần sử dụng, tính phức tạp chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố Khi
đó, TN được sử dụng như là phương tiện tạo ra cơ sở cho việc vận dụng các tri thức đã thu được vào thực tiễn
Trong chương trình vật lý phổ thông đề cập tới một loạt các ứng dụng của vật lý trong đời sống và sản xuất Việc tiến hành TN tạo cơ sở để HS hiểu được các ứng dụng của những kiến thức đã học trong thực tiễn, ngoài ra TN còn là bằng chứng sự đúng đắn của các kiến thức này
d) TN vật lý là một bộ phận của các phương pháp nhận thức vật lý
TN vật lý có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng cho HS phương pháp nhận thức vật lý: phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình
- Vai trò của TN trong phương pháp thực nghiệm Phương pháp thực
nghiệm gồm bốn giai đoạn:
+ TN vật lý làm nảy sinh vấn đề cần giải đáp, câu hỏi cần phải trả lời
Ví dụ: Đặt mặt phẳng khung dây song song với đường cảm ứng từ Đóng mạch điện cho dòng vào trong khung, khung quay Tại sao? Khung quay đến vị trí nào thì dừng?
+ Đề xuất giả thuyết
+ TN vật lý cần được sử dụng để kiểm tra sự đúng đắn của giả thuyết nêu
ra trong phương pháp thực nghiệm (hoặc kiểm tra hệ quả rút ra từ giả thuyết)
+ Xây dựng và thực hiện phương án TN để kiểm tra hệ quả đã rút ra Nếu kết quả TN phù hợp với hệ quả đã rút ra thì giả thuyết là chân thực, nếu không phù hợp thì phải đề xuất giả thuyết mới
Như vậy TN đóng vai trò quan trọng ở giai đoạn đầu và ở giai đoạn cuối của phương pháp thực nghiệm
Trang 33- Vai trò của TN trong phương pháp mô hình Phương pháp mô hình
gồm 4 giai đoạn:
+ Thu thập thông tin về đối tượng gốc
+ Xây dựng mô hình
+ Thao tác trên mô hình để suy ra các hệ quả lý thuyết
+ Kiểm tra hệ quả trên đối tượng gốc
Các thông tin về đối tượng gốc thường được thu thập nhờ TN vật lý Cũng bằng các TN vật lý mà người ta xây dựng mô hình của đối tượng gốc Thao tác trên mô hình cũng phải sử dụng các TN vật lý thực Từ đó so sánh kết quả trên mô hình và kết quả thu được trên vật gốc mà suy ra kết luận về tính đúng đắn của mô hình và giới hạn áp dụng của mô hình
1.5.2.2 Vai trò của TN vật lý theo quan điểm của lý luận dạy học
a) TN vật lý được dùng ở các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học
- Giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu:
Có nhiều cách định hướng mục đích nghiên cứu nhưng sử dụng TN vật
lý để đề xuất vấn đề nghiên cứu, tạo tình huống có vấn đề là biện pháp có hiệu quả hơn cả Kết quả của TN vật lý sẽ đặt ra trước HS một mâu thuẫn giữa kinh nghiệm sẵn có và mong muốn hiểu biết vấn đề mới hoặc kết quả
TN vật lý trái với sự chờ đợi của HS, từ đó tạo ra nhu cầu, hứng thú tìm tòi kiến thức ở HS
- Giai đoạn hình thành kiến thức mới:
Có thể hình thành kiến thức mới bằng suy luận lôgic, suy luận toán học hoặc bằng thực nghiệm song với bất cứ cách nào thì cũng không thể thiếu TN vật lý
TN vật lý cung cấp một cách có hệ thống các cứ liệu thực nghiệm, từ
đó có thể khái quát hóa qui nạp, kiểm tra được tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả rút ra từ giả thuyết để hình thành kiến thức mới
Trang 34Với những kiến thức được rút ra từ suy luận lôgic hoặc suy luận toán học cũng cần dùng TN kiểm tra để làm tăng mức độ tin tưởng của HS sự đúng đắn, chân thực của kiến thức
- Giai đoạn củng cố, ôn tập đào sâu kiến thức:
Có nhiều cách ôn tập, củng cố đào sâu kiến thức song sử dụng TN vật
lý vẫn là phương án hiệu quả hơn cả
TN vật lý dùng để củng cố không phải là nguyên si các TN đã làm mà phải có những yếu tố mới nhằm đào sâu, mở rộng các kiến thức đã biết ở học sinh, giúp họ thấy được những ứng dụng của kiến thức trong đời sống, sản xuất
Thiết bị tiến hành TN này thường là những thiết bị có sãn ở phòng TN hoặc các đồ chơi, dụng cụ trong gia đình TN củng cố có thể làm ngắn ngay sau giờ học
Trong TN củng cố ôn tập thì quan trọng đó là TN thực hành và quan sát vật lý ở nhà
Trong chương trình sách giáo khoa có một số TN thực hành bắt buộc hoặc một số TN vật lý bổ sung mà GV có thể bố trí để HS làm
- Giai đoạn kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng:
Qua hoạt động thực tiễn của HS trong quá trình TN vật lý (thiết kế phương án TN, dự đoán, giải thích hiện tượng, quá trình vật lý, lựa chọn dụng
cụ, lắp ráp TN, tiến hành TN, thu nhận và sử lí kết quả ) HS sẽ chứng tỏ được không những kiến thức về sự kiện mà cả về phương pháp của họ
Để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng, GV có thể sử dụng TN vật lý
ở các mức độ khác nhau: từ việc dùng TN quen thuộc đến việc dùng TN vật
lý mới, từ những TN vật lý có bố trí đơn giản đến những TN vật lý có bố trí phức tạp, từ những TN định tính đến những TN vật lý định lượng
Mức độ tự lực của HS cũng sẽ khác nhau: từ việc tiến hành TN theo bảng hướng dẫn chi tiết đến tự lực trong mọi giai đoạn TN
Trang 35b) TN vật lý là phương tiện góp phần phát triển nhân cách toàn diện của
Nhờ TN vật lý, HS sẽ được làm quen và vận dụng một cách có ý thức các phương pháp nhận thức khoa học bởi vì TN vật lý là một bộ phận của các phương pháp vật lý, mặt khác, các kiến thức về phương pháp nhận thức mà
HS lĩnh hội được có ý nghĩa quan trọng vượt ra khỏi giới hạn của môn vật lý
Qua TN vật lý, HS được rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo TN như: sử dụng hợp lí, đúng cách các nguồn điện, dụng cụ đo (thước các loại, đồng hồ
đo các đại lượng khác nhau, các loại điện kế ), lập bảng đo đạc, lắp ráp dụng
cụ thiết bị Đồng thời được giáo dục các thói quen làm việc như: Tuân thủ tuyệt đối các giai đoạn của quá trình thí nghiệm (đặt kế hoạch, lựa chọn dụng cụ, bố trí thí nghiệm, tiến hành xử lí kết quả ), tuân thủ nghiêm ngặt các qui tắc an toàn, đảm bảo các điều kiện TN, đánh giá, phân tích sai số khi xử lí kết quả
- TN vật lý là phương tiện kích thích hứng thú học tập, tổ chức quá trình học tập tích cực, tự lực, sáng tạo của HS
Để tiến hành TN vật lý, HS phải tiến hành hàng loạt các hoạt động trí tuệ - thực tiễn như: Thiết kế phương án, lập kế hoạch, vẽ sơ đồ, lập bảng giá trị đo, lựa chọn dụng cụ, bố trí và tiến hành TN, thu kết quả, tìm sai số và
Trang 36nguyên nhân của nó, tìm cách giảm sai số Chính vì thế, TN vật lý là phương tiện hữu hiệu để hình thành, bồi dưỡng năng lực sáng tạo của HS
Quá trình TN tạo điều kiện tốt để hình thành, bồi dưỡng các yếu tố của năng lực trí tuệ kết hợp với năng lực thực nghiệm như: Năng lực đề xuất giả thuyết, phân tích mô tả các hiện tượng, quá trình vật lý, tổng hợp các mặt, các khía cạnh trong mối liên hệ với nhau, khái quát hóa thành những kết luận tổng quát nhờ phép suy luận qui nạp, đối chiếu các kết luận với giả thuyết, giải thích, so sánh các hiện tượng, các quá trình, các ứng dụng
Có nhiều hình thức TN vật lý khác nhau để phát triển năng lực sáng tạo của HS: TN vật lý đơn giản, phức tạp Tuy nhiên, cần chú trọng rèn luyện kỹ năng chân tay phối hợp với các thao tác trí tuệ, giúp HS hiểu được nguyên tắc, cấu tạo, hoạt động của mọi dụng cụ thiết bị TN
Quá trình TN tự lực sẽ hình thành ở HS sự hứng thú, lòng ham muốn nghiên cứu, tạo niềm vui của sự thành công khi giải quyết nhiệm vụ đặt ra, góp phần phát triển động lực của quá trình học tập của HS
- TN vật lý là phương tiện tổ chức các hình thức làm việc tập thể khác nhau góp phần bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức của HS
Để thực hiện nhiệm vụ TN, HS cần phải phân công nhiệm vụ cho nhau, phối hợp thực hiện, bổ xung ý kiến cho nhau, thảo luận góp phần hình thành
ở họ tinh thần hợp tác trong công việc sau này
Qua nhiều TN vật lý được trực tiếp tự lực tiến hành, HS thu nhận được những quan điểm quan trọng của thế giới duy vật, thấy được vai trò quan trọng của thực tiễn trong việc nhận thức thế giới, tin tưởng vào vốn hiểu biết của mình về thế giới, tính nhận thức được của thế giới và sự tồn tại khách quan của các mối quan hệ có tính qui luật trong tự nhiên
c) TN là phương tiện đơn giản hóa và trực quan trong dạy học
- TN vật lý giúp ta có thể nghiên cứu các hiện tượng, các quá trình trong những điều kiện có thể khống chế được, thay đổi được, quan sát được
Trang 37đơn giản dễ dàng hơn để tìm ra nguyên nhân của các hiện tượng và mối quan
hệ có tính qui luật giữa chúng Đây chính là ưu điểm nổi bật của thí nghiệm vật lý, nó có ý nghĩa về cả lí luận nhận thức cũng như về cả lí luận dạy học
- TN vật lý là phương tiện trực quan giúp HS nhanh chóng thu được những thông tin chân thực về các hiện tượng và quá trình vật lý Đặc biệt trong những trường hợp đối tượng không thể quan sát trực tiếp bằng các giác quan của con người thì việc sử dụng các mô hình, TN trên mô hình thay thế cho đối tượng gốc là việc làm không thể thiếu, giúp HS có được các biểu tượng, các khái niệm về các hiện tượng, quá trình này
- Khi nghiên cứu các ứng dụng vật lý trong thực tế cuộc sống, sản xuất,
TN trên mô hình là phương tiện không thể thiếu đối với quá trình nghiên cứu,
nó là phương tiện trực quan, rõ ràng giúp HS hình dung được cấu tạo, hoạt động của ứng dụng đó thậm chí còn dễ dàng giúp HS liên tưởng sáng tạo tới những cải tiến hữu hiệu trong khoa học kỹ thuật
Ví dụ: Từ TN vật lý cho thấy: nếu quay khung dây trong từ trường thì trong khung có dòng điện Vấn đề đặt ra là lấy dòng điện ra bằng cách nào?
HS sẽ suy nghĩ để tìm ra cách để lấy được điện ra mà dây không bị xoắn: dùng vòng khuyên, thanh quét
1.6 THỰC TRẠNG DẠY HỌC CHƯƠNG ĐIỆN TÍCH- ĐIỆN TRƯỜNG
1.6.1 Điều tra thực trạng
Để chuẩn bị cho việc soạn thảo tiến trình dạy học nhằm mục đích tăng cường tính tích cực tham gia vào giải quyết vấn đề của HS, chúng tôi tiến hành điều tra tìm hiểu ở các trường để biết các thông tin sau:
- Điều tra thực trạng cơ sở vật chất của nhà trường, các trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy môn vật lí
- Về việc sử dụng CNTT trong dạy học vật lí
Trang 38- Việc sử dụng các phương pháp dạy học, cách thức kiểm tra, đánh giá của GV, cách soạn giáo án, mức độ và cách sử dụng thí nghiệm trong giờ học vật lí
- Cách học của học sinh, việc sử dụng các phương pháp học tập của học sinh, mức độ hứng thú của học sinh khi sử dụng thí nghiệm thực hay ứng dụng CNTT trong giờ học vật lí
Tình hình dạy và học của GV và HS khi học chương “Điện tích - Điện trường”
1.6.2 Phương pháp điều tra
- Trao đổi trực tiếp với lãnh đạo nhà trường, với tổ trưởng bộ môn, với giáo viên giảng dạy vật lí Sử dụng phiếu phỏng vấn GV vật lí, xem giáo án,
dự giờ…
- Trao đổi trực tiếp với HS, dùng phiếu phỏng vấn HS
- Tham quan phòng thí nghiệm vật lí, phòng MVT
- Điều tra ba trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang: Yên Dũng I, Yên Dũng II, Phương Sơn (Lục Nam)
1.6.3 Kết quả điều tra
- Về cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm và PMDH vật lí
Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang bộ thí nghiệm đồng bộ THPT đã được cấp phát cho các trường: Hầu hết các trường lớn được cấp phát đầy đủ, các trường còn lại hầu như được cấp phát một phần Các bộ thí nghiệm chủ yếu do Trung Quốc sản xuất nên hay hỏng và không có tính đồng bộ, thời gian sử dụng đã lâu nên hiện nay thiết bị thí nghiệm hư hỏng nhiều, lại không được sửa chữa,
bổ xung thường xuyên nên không đáp ứng nhu cầu hiện nay
Trang 39Các trường được trang bị các thiết bị dạy học hiện đại như: máy tính, các thiết bị như máy in, máy quét, máy chiếu…mạng internet, các phần mềm thí nghiệm, PMDH, phim, ảnh… là rất ít
Tóm lại thiết bị thí nghiệm còn chưa đầy đủ, không được sửa chữa và
bổ xung thêm PMDH còn rất hạn chế, hầu hết phần mềm đều đi xin hoặc tự giáo viên trang bị những phần mềm không bản quyền, dễ làm rối loạn hoạt động của máy và nảy sinh tư tưởng không lành mạnh của người sử dụng (phần mềm được cho không, miễn phí)
- Về tình hình giảng dạy của GV vật lí
Phần lớn GV chủ yếu dạy theo SGK, hầu hết là sử dụng phương pháp truyền thống: Đó là phương pháp thuyết trình kết hợp với đàm thoại, chưa nảy sinh được tình huống có vấn đề cho HS Cách đặt câu hỏi chưa có chất lượng: Đưa ra chưa đúng lúc, thường quá đơn giản hoặc quá khó, nhiều câu hỏi chưa định hướng được sư phát triển tư duy cho HS… Do đó chưa phát huy được tính tích cực, tự lực nhận thức để giải quyết vấn đề cơ bản của bài học
Kết quả điều tra ban đầu về việc sử dụng thí nghiệm thực và sử dụng CNTT trong dạy học vật lí đối với GV cho những số liệu cụ thể được chúng tôi tổng hợp lại trong những bảng thống kê dưới đây:
Bảng 1: Việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Vật lí
Bảng 2: Việc sử dụng CNTT trong dạy học Vật lí
Trang 40SL % SL % SL % Soạn giáo án bằng powerpoint 4 16 12 48 15 60
%
Kết quả điều tra cho thấy GV còn ngại làm thí nghiệm, sợ mất thời gian, số giờ dạy có sử dụng thí nghiệm rất ít, thường chỉ sử sụng thí nghiệm khi có dự giờ và các thí nghiệm đó cũng chỉ là những thí nghiệm do GV tiến hành nhằm mục đích minh hoạ, trong khi đó thao tác kĩ năng làm thí nghiệm còn lúng túng… GV rất ít hướng dẫn HS tự làm thí nghiệm hoặc tự thiết kế phương án thí nghiệm
Hầu hết GV chưa áp dụng được CNTT vào giảng dạy nói chung và sử dụng các PMDH nói riêng, điều này có liên quan trực tiếp vào cơ sở vật chất nhưng một phần không nhỏ đó chính là trình độ về CNTT của GV