1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ưu thế riêng của hình thức nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

118 421 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói rằng, phần lớn các ý kiến đều thống nhất ở chỗ khẳng định người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện đều là người đứng ra kể lại câu chuyện, người môi giới giữa tác phẩm với bạn đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1.So với hình thức người kể chuyện thì hình thức nhân vật kể chuyện xuất hiện muộn hơn, nhưng đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của người sáng tạo và bạn đọc Với những ưu thế riêng, hình thức nhân vật kể chuyện xuất hiện ngày càng nhiều trong các tập truyện ngắn đương đại và trên các báo văn nghệ Trước thực trạng này, việc nghiên cứu những khả năng nghệ thuật của hình thức kể chuyện mới là cần thiết, nếu có kết quả tin cậy, chắc hẳn nó có giá trị khoa học và thực tiễn lớn lao

Trước hết là ý kiến của nhà nghiên cứu Liên Xô Pospêlov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học (1960) đã đưa ra ý kiến khá sâu sắc về vấn đề này

Ông khẳng định vị trí quan trọng không thể thiếu của trần thuật trong tác phẩm tự sự : “Trần thuật tự sự bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người nào đó Trong sử thi, tiểu thuyết, cổ tích, truyện ngắn trực tiếp hay gián tiếp đều có người trần thuật’’ [55, tr.88] Theo Pospêlôv thì “Người trần thuật” là loại người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra’’ [55, tr.88] Ông cho rằng, có hai kiểu người trần thuật phổ biến đó là: “Trần thuật từ ngôi thứ

ba “không nhân vật hoá” mà đằng sau là tác giả Nhưng người trần thuật cũng hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức một cái “tôi” nào đó” [55, tr.89] Pospêlôv cũng chỉ ra mối quan hệ tương đối linh hoạt và phức tạp giữa người kể chuyện với nhân vật và với tác giả Trong nhiều trường hợp đặc biệt, trong các tác phẩm tự truyện, nhân vật người kể chuyện có các sự kiện đời sống và trạng thái tinh thần gần gũi với bản thân tác giả nhưng thường thì số phận, lập trường cuộc sống và cảm thụ của nhân vật người kể chuyện khác hẳn với tác giả

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Phùng Minh Hiến

HÀ NỘI, 2010

Trang 2

Theo Tz.Todorov trong công trình Thi pháp học cấu trúc (1971) cũng

đã đưa ra những ý kiến khá sâu sắc về người kể chuyện Theo quan niệm của ông: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó cuấn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt” [69, tr.75] “Xuất phát từ tương quan về dung lượng hiểu biết của người kể chuyện và nhân vật, Todorov đã chia thành ba hình thức người kể chuyện: “Thứ người kể chuyện lớn hơn nhân vật; người kể chuyện bằng nhân vật; người kể chuyện bé hơn nhân vật” [69, tr.126]

Theo P.Lubbock nhà nghiên cứu người Anh trong tác phẩm Nghệ thuật văn xuôi (1957) đã đưa ra bốn hình thức trần thuật cơ bản: Thứ nhất là “Toát yếu toàn cảnh” Đặc trưng của hình thức trần thuật này là sự hiện diện cảm

thấy được của người trần thuật biết tất cả, có toàn quyền, toàn năng trước các

nhân vật của mình Hình thức thứ hai là “Người trần thuật kịch hoá” Trong

hình thức này, người trần thuật đứng ở ngôi thứ nhất, kể lại câu chuyện từ góc

độ sự cảm thụ riêng tư Hình thức thứ ba là “Ý thức kịch hoá” Hình thức trần

thuật này cho phép miêu tả trực tiếp đời sống tâm lý, những trải nghiệm bên

trong của nhân vật Hình thức trần thuật thứ tư là “Kịch thực thụ” Hình thức

này gần gũi hơn cả với trình diễn sân khấu Bởi vì ở đây trần thuật được đưa

ra dưới dạng một cảnh diễn trên sân khấu, độc giả chỉ thấy được hình dáng bề ngoài và các cuộc đối thoại của nhân vật mà không biết gì về đời sống nội tâm của chúng” [28, tr.223]

Các nhà nghiên cứu trong nước cũng có sự quan tâm đáng kể về vấn đề người kể chuyện và nhân vật kể chuyện:

Trang 3

Trần Đình Sử trong giáo trình Lí luận văn học (1987) và Từ điển thuật ngữ văn học (1992) đã đưa ra ý kiến tương đối sâu sắc về vấn đề này:

Theo ông “Người trần thuật là hình thái của hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học nghệ thuật, là người mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm văn xuôi” [52, tr.191] Chức năng của người trần thuật là: “Phân tích, nghiên cứu, khêu gợi, bình luận, làm sáng tỏ mọi quan hệ phức tạp giữa nhân vật và hoàn cảnh” [58, tr.211] Người đọc có thể nhận ra hình tượng người trần thuật qua “Cái nhìn, cách cảm thụ, phương thức tư duy, năng lực trí tuệ

và chất tình cảm của anh ta” [58, tr.212] Ngoài ra, người đọc cũng có thể nhận ra người trần thuật qua giọng điệu, ngôn ngữ Và điểm cuối cùng ông chỉ ra đó là sự phân biệt giữa người trần thuật với bản thân tác giả: “Không phải bao giờ cũng có thể đồng nhất người trần thuật với bản thân tác giả Có nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong cuộc đời tác giả Nguyễn Du chín chắn, ít nói, trầm mặc còn con người trần thuật trong Truyện Kiều thì lại quát tháo, lắm tiếng, tinh nghịch, dí dỏm [58, tr.213]

Theo Nắng Mai( PGS TS Phùng Minh Hiến) trong Diễn đàn văn nghệ Việt Nam (Số3/2001): Từ khi hình thức “Nhân vật kể chuyện” xuất hiện,

người ta nhanh chóng nhận ra rằng việc theo dõi các thành tựu của hình thức

kể chuyện mới và sự phân biệt nó với hình thức kể chuyện truyền thống(Người kể chuyện) đã trở nên cần thiết và có thể mang giá trị lí luận cao Càng cần thiết hơn nữa nếu theo dõi và khái quát được những nét độc đáo nghệ thuật của hình thức mới này trong mỗi trào lưu nghệ thuật, nhất là trong phong cách nghệ thuật của cá nhân này hay cá nhân khác Theo ông “ Nhân vật kể chuyện được sáng tạo không ngừng với tư cách là con người xã hội cụ thể và cá biệt Cho nên, hình thức nhân vật kể chuyện khá đa dạng và không lặp lại Chúng có thể tạo ra những cái nhìn nghệ thuật khác nhau ở cùng một tác giả” [39, tr.43] “Nhân vật kể chuyện thường quan hệ với các

Trang 4

nhân vật khác trước hết với tư cách con người xã hội cụ thể và cá biệt Do vậy, sự kể của hình thức này có vẻ thực hơn, thấy được nhiều nỗi niềm hơn của các nhân vật khác, đồng thời có thể bộc lộ thái độ của mình một cách cụ thể, trực tiếp và phong phú đa dạng hơn” [39, tr.43- 44] Mặt cụ thể cá biệt của con người xã hội ở nhân vật kể chuyện còn đóng vai trò làm nền móng toàn diện cho người nghệ sĩ ở trong đó Sự độc đáo của người nghệ sĩ ở đây tìm thấy trong các biểu hiện đặc trưng thuộc phong cách kể chuyện của nhân vật và bắt nguồn sâu xa từ cái nhìn nghệ thuật của chính nó “Mỗi nhân vật kể chuyện cụ thể- cá biệt, trong trường hợp tốt nhất, có thể tạo nên một cái nhìn nghệ thuật độc đáo Đến lượt mình, cái nhìn nghệ thuật lại được cụ thể hoá và

cá biệt hoá thành một chuỗi nối tiếp những điểm nhìn nghệ thuật Trong chuỗi bao giờ cũng có điểm mở đầu, điểm tiếp diễn và điểm kết thúc” [39, tr.45] Chính vì thế, hình thức nhân vật kể chuyện tạo nên được cái nhìn nghệ thuật uyển chuyển khá nhiều mặt, nhiều chiều đối với đời sống Chúng đã đem lại

sự sâu sắc, sinh động, xúc động và rất tiêu biểu cho sự khai thác nghệ thuật loại này là của các nhà văn hiện đại Việt Nam và thế giới Như vậy, Nắng Mai

dã khu biệt rất rõ hai hình thức “Người kể chuyện” và “Nhân vật kể chuyện” đồng thời chỉ ra ưu thế riêng của hình thức “Nhân vật kể chuyện”

Có thể nói rằng, phần lớn các ý kiến đều thống nhất ở chỗ khẳng định người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện đều là người đứng ra kể lại câu chuyện, người môi giới giữa tác phẩm với bạn đọc, đồng thời là người thay mặt tác giả phát biểu những tư tưởng, quan điểm của mình về cuộc sống Người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện chính là một trong những yếu tố quan trọng để phân biệt tác phẩm tự sự với tác phẩm thơ, trữ tình và kịch

Tuy nhiên, vấn đề lí thuyết về người kể chuyện, nhân vật kể chuyện là khá phức tạp nên giữa các ý kiến này vẫn còn nhiều chỗ chưa thống nhất

Trang 5

Trong luận văn này chúng tôi nhất chí với quan điểm của Nắng Mai, ông khu

biệt rất rõ thành hai hình thức “Người kể chuyện” và “Nhân vật kể chuyện”

Như vậy, các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước chứng tỏ lý thuyết tự sự ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu văn học Người kể chuyện và nhân vật kể chuyện là những phương diện không thể thiếu của lý thuyết này Tìm hiểu người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện sẽ giúp chúng ta hiểu được phương diện chủ thể của tác phẩm tự sự, hiểu tác phẩm một cách sâu sắc, trọn vẹn hơn Trước đây, khi tìm hiểu tác phẩm tự sự ta thường chỉ quan tâm nghiên cứu thế giới được kể, thì bây giờ ta lại phải nghiên cứu cách kể của nhà văn Trước đây ta chỉ quan tâm đến nhân vật, đến điển hình nhân vật thì giờ đây ta còn phải xem xét nhà văn

đã hư cấu con đường tiếp cận nhân vật đó, đã kể nhân vật đó như thế nào

Người kể chuyện và nhân vật kể chuyện trong văn bản tự sự là một hiện tượng lý thuyết phức tạp Trước đây, nếu có đề cập đến vấn đề này, thì người ta thường đồng nhất nó với ngôi kể, thường chỉ quan tâm xem truyện

đó được kể theo “ngôi thứ nhất” hay “ngôi thứ ba” Sự thực thì ngôi kể chẳng

qua chỉ là một biểu hiện ngữ pháp mang tính ước lệ, sự khác biệt giữa hai loại ngôi kể này về thực chất chỉ là ở mức độ bộc lộ và hàm ẩn của người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện mà thôi Nếu chỉ dừng lại ở đó, thì ta chưa thể nào khám phá hết nét riêng biệt, độc đáo làm nên sức hấp dẫn của hình thức người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện Với việc lựa chọn đề tài nghiên cứu này, luận văn sẽ xem xét người kể chuyện và nhân vật kể chuyện từ góc độ điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu để từ đó khẳng định rằng người kể chuyện, nhân vật kể chuyện không chỉ đơn thuần là người kể, người dẫn dắt câu chuyện mà còn là người định giá tư tưởng thẩm mỹ Cũng qua đề tài này, luận văn sẽ khu biệt rõ hai hình thức người kể chuyện , nhân vật kể chuyện và chỉ

Trang 6

ra ưu thế riêng về những khả năng nghệ thuật của hình thức nhân vật kể chuyện

1.2.Với việc nghiên cứu hình thức người kể chuyện, nhân vật kể chuyện ta có được một công cụ để đi vào phân tích, khám phá tác phẩm của những nhà văn cụ thể, lý giải được một trong những yếu tố làm nên nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của họ Tác giả mà chúng tôi chọn để nghiên cứu ở đây là Nguyễn Minh Châu, bởi trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ xx ông nổi lên như một hiện tượng đáng chú ý

Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn, “người mở đường tinh anh”

cho công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 Ba mươi năm cầm bút, ông đã chiếm một vị trí không thể thay thế trong nền văn học Việt Nam hiện đại Vì vậy việc nghiên cứu những khả năng nghệ thuật của hình thức nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu chắc chắn có thêm

những căn cứ vừa khẳng định vừa bổ sung cho khái niệm “Nhân vật kể chuyện”

Theo dõi hành trình truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ta nhận thấy, truyện ngắn của ông lôi cuấn ta không phải bởi cốt truyện tình tiết li kỳ mà bởi cách kể chuyện hấp dẫn, có duyên Chính vì thế tìm hiểu người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sẽ giúp ta lý giải thêm được phần nào tài năng nghệ thuật, lý giải được một trong những yếu tố quan trọng hình thành nên phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Minh Châu, đánh giá được khả năng tự sự mà ông mở ra cho văn xuôi Việt Nam hiện đại

1.3.Việc nghiên cứu hình thức “Nhân vật kể chuyện”, nắm vững những

khả năng nghệ thuật của nó, sẽ rất có ích cho việc vận dụng phân tích các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu được chọn trong sách giáo khoa ngữ văn

Trang 7

trung học phổ thông(Mảnh trăng cuối rừng, Chiếc thuyền ngoài xa, Bức tranh )

Như vậy, đề tài “ Ưu thế riêng của hình thức “nhân vật kể chuyện” trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu” mà chúng tôi nghiên cứu là một

đề tài vừa có cơ sở lí luận vừa có cơ sở thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua cơ sở lí luận trong nhiều tài liệu nghiên cứu có liên quan, cần làm nổi bật ưu thế riêng của hình thức nhân vật kể chuyện so với hình thức người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

-Trước hết, luận văn tìm hiểu những công trình lí luận về các hình thức

kể chuyện, đặc biệt là hình thức “Nhân vật kể chuyện” xuất hiện sau hình thức

“Người kể chuyện” truyền thống

- Các công trình nghiên cứu phê bình có liên hệ ít nhiều đến các hình thức kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

-Những truyện ngắn nổi tiếng của Nguyễn minh Châu mang một trong hai hình thức kể chuyện trên

-Những truyện ngắn của ông được chọn học ở phổ thông và đại học -Trên cơ sở lí thuyết chung, đặc biệt là qua những truyện ngắn tiêu biểu

luận văn làm sáng tỏ ưu thế riêng của hình thức “Nhân vật kể chuyện” so với hình thức “Người kể chuyện”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi không có điều kiện khảo sát toàn bộ sáng tác của Nguyễn Minh Châu mà chỉ dừng lại ở thể loại truyện ngắn để làm sáng rõ ưu thế riêng của hình thức nhân vật kể chuyện

Trang 8

- Chúng tôi tiến hành khảo sát truyện ngắn nổi tiếng của ông ở các tập

truyện: Những vùng trời khác nhau(1970); Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành(1983); Bến quê(1985); Chiếc thuyền ngoài xa(1987); Cỏ lau(1989)

5 Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu

-Phương pháp loại hình

-Phương pháp khái quát, tổng hợp

-Phương pháp tiếp cận đối tượng theo quan điểm hệ thống và so sánh hệ thống

Các phương pháp nghiên cứu này không tách rời nhau mà kết hợp hài hoà với nhau, bổ sung cho nhau Trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm đến phương pháp phân tích, so sánh,đối chiếu để thấy được ưu thế riêng của hình thức nhân vật kể chuyện Vì vậy, đây chính là phương pháp quán xuyến toàn

bộ quá trình tiến hành luận văn

6 Dự kiến đóng góp mới

- Luận văn sẽ xác định nội hàm của khái niệm “Người kể chuyện” và

“Nhân vật kể chuyện” một cách tương đối hệ thống để có thể sử dụng khái

niện này như một yếu tố cơ bản trong việc xem xét cấu trúc của tác phẩm tự

sự

- Trong luận văn luận văn của chúng tôi, vấn đề nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu mới được khảo sát một cách hệ thống và thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu độc lập so với hình thức người kể chuyện

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THỨC NHÂN VẬT KỂ CHUYỆN TRONG SỰ ĐỐI SÁNH VỚI HÌNH THỨC NGƯỜI KỂ

CHUYỆN 1.1 Khái niệm

Cũng như nhiều khái niệm lí luận khác, khái niệm “Nhân vật kể chuyện” và “Người kể chuyện” cho đến nay vẫn chưa được các nhà lí luận văn

học thống nhất hoàn toàn Ngay trong tên gọi của nó cũng có những cách khác nhau: Có người gọi là “Nhân vật người kể chuyện” còn người khác gọi

là “Nhân vật kể chuyện” Trong luận văn này, chúng tôi khu biệt rõ thành hai

hình thức: “Nhân vật kể chuyện” và “Người kể chuyện”

Về mặt nội hàm khái niệm cũng có nhiều cách hiểu Nhà nghiên cứu Tz.Todorov cho rằng người kể chuyện không chỉ là người kể mà còn là người

Trang 10

định giá: “Người kể chuyện là một nhân tố chủ động trong việc kiến tạo thế giới hư cấu Chính người kể chuyện là hiện thân của những khuynh hướng mang tính xét đoán và đánh giá” [23, tr.490] Theo Pospêlov thì : “Người trần thuật là người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe(người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [55, tr.88] W.Kayser lại cho rằng người trần thuật là một khái niệm mang tính chất cực kỳ hình thức: “Người trần thuật- đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học Ở nghệ thuật kể chuyện, không bao giờ người trần thuật là vị tác giả đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai

mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [28, tr.245] Còn GS Phùng Văn Tửu lại cho rằng: “Nói đến người kể chuyện là nói tới điểm nhìn được xác định trong hệ

đa phương không gian, thời gian, tâm lý, tạo thành góc nhìn Người kể chuyện là ai, kể chuyện người khác hay kể chuyện chính bản thân mình, khoảng cách về không gian từ nơi sự việc xảy ra đến chỗ đứng của người kể chuyện cũng như độ lệch thời gian giữa lúc sự việc xảy ra và khi sự việc được

kể lại vẫn thường được các nhà tiểu thuyết quan tâm từ lâu” [72, tr.205]

So sánh các quan niệm trên về người trần thuật, người kể chuyện ta thấy họ vừa khác nhau, lại vừa thống nhất Nếu Tz.Todorov chỉ thấy “Người

kể chuyện” là một nhân tố chủ động trong việc kiến tạo thế giới hư cấu, W.Kayser lại cho “Người trần thuật” là một khái niệm mang tính chất cực kỳ hình thức thì Pospêlov đã khái quát thấy và thừa nhận ở phía sau “Người trần thuật” chính là tác giả Cùng thừa nhận tầm quan trọng của tác giả, trong khi Pospêlov nhấn mạnh vai trò “Người môi giới”, người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra thì Phùng Văn Tửu lại xoáy vào chỗ đứng và điểm nhìn của người kể chuyện

Từ việc kế thừa , tổng hợp những định nghĩa trên có thể đi tới xác lập

khái niệm “Người kể chuyện” và “Nhân vật kể chuyện” thông qua sự phân

Trang 11

biệt nó với người kể chuyện, nhân vật kể chuyện trong thực tế đời sống với các nhân vật khác và với tác giả

1.1.1 Nhân vật kể chuyện, người kể chuyện là những hình thức do nhà văn sáng tạo ra để kể chuyện

Thứ nhất, người kể chuyện và nhân vật kể chuyện là sản phẩm của sự

sáng tạo nghệ thuật, do vậy nó khác với người kể chuyện, nhân vật kể chuyện trong thực tế đời sống Nếu người kể chuyện trong thực tế là những con người

cụ thể, hữu hình, có điệu bộ, cử chỉ, giọng nói xác định thì “người kể chuyện”, “nhân vật kể chuyện” trong văn bản nghệ thuật tự sự là tất cả các yếu tố xác định đó, nhưng đã được nhà văn chuyển tải vào văn bản thông qua

hệ thống thi pháp của nghệ thuật Chính vì vậy, khác với người nghe-đối tượng của người kể chuyện thực tế, người đọc-đối tượng của người kể chuyện trong văn bản nghệ thuật sẽ có điều kiện phát huy tối đa khả năng liên tưởng, tưởng tượng của mình, có khả năng thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác giả thông qua người kể chuyện và nhân vật kể chuyện Khi tiếp xúc với văn bản, mỗi người đọc bằng vốn sống, vốn ngôn ngữ, hiểu biết riêng của mình có thể hình dung ra câu chuyện theo cách riêng của mình Đối tượng của người

kể chuyện, nhân vật kể chuyện trong văn bản nghệ thuật vì thế không thụ động mà chủ động tiếp nhận một cách sáng tạo

Thứ hai, điểm khác biệt giữa người kể chuyện, nhân vật kể chuyện

trong thực tế với người kể chuyện, nhân vật kể chuyện trong văn bản nghệ thuật là ở khả năng điểu chỉnh câu chuyện được kể Người kể chuyện, nhân vật kể chuyện thực tế hoàn toàn có khả năng điều chỉnh câu chuyện theo ý riêng của mình thì ngược lại người kể, nhân vật kể chuyện trong các văn bản nghệ thuật không có được quyền đó cho dù phản ứng của người đọc với câu chuyện họ kể là như thế nào Những gì được kể ra trong văn bản nghệ thuật là

cố định, không thêm bớt hay sữa chữa được nữa

Trang 12

Thứ ba, điểm khác biệt giữa người kể chuyện thực tế với người kể

chuyện, nhân vật kể chuyện trong văn bản nghệ thuật là ở trình tự thời gian kể chuyện, cách sắp xếp câu chuyện được kể Nếu người kể chuyện thực tế thường kể theo tuần tự thời gian, theo trận tự tuyến tính để người nghe tiện theo dõi thì người kể chuyện, nhân vật kể chuyện trong văn bản nghệ thuật tự

sự lại có thể sử dụng lối kể đảo tuyến, đan xen giữa hiện tại, quá khứ và tương lai để làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện được kể

Như vậy, “người kể chuyện” và “nhân vật kể chuyện” là sản phẩm sáng tạo của nhà văn nhằm thực hiện tư tưởng, dụng ý nghệ thuật đồng thời chuyển tải thông điệp mà nhà văn muốn hướng tới độc giả

1.1.2 Nhân vật kể chuyện, người kể chuyện là những chủ thể kể chuyện nhưng có quan hệ khác nhau với các nhân vật khác trong tác phẩm

Trước hết, người kể chuyện, nhân vật kể chuyện là người định giá tư tưởng thẩm mỹ của tác phẩm, là một “hình tượng thái độ”(Chữ dùng của

Uspensky) Mỗi tác phẩm là một câu chuyện, một cách nhìn, cách đánh giá của người kể chuyện, nhân vật kể chuyện về cuộc sống Khi chúng ta tiếp xúc với tác phẩm văn học thì bên cạnh những sự kiện được thông báo chúng ta cũng tìm thấy sự đánh giá, thái độ của người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện Bất cứ truyện kể nào cũng khắc in cái nhìn, cách cảm thụ, phương thức tư duy, năng lực trí tuệ và tư cách, tình cảm của người kể chuyện và nhân vật kể chuyện Như vậy, người kể chuyện và nhân vật kể chuyện đều có chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm, tổ chức ngôn ngữ của các nhân vật khác:

“Người kể chuyện bắt tất cả các đặc điểm ngôn ngữ của các nhân vật mà họ nhắc tới phải lệ thuộc vào mình ngay cả khi người kể chuyện cho nhân vật một sự độc lập đầy đủ về mặt ngôn ngữ [34, tr.32] Người kể chuyện, nhân vật kể chuyện phải tìm được một cách tiếp cận nhân vật, kể về nhân vật sao

cho hấp dẫn nhất Trong Tập truyện Pêtecbua của Gôgôn, người kể chuyện

Trang 13

khi khắc hoạ nhân vật trung uý Piaragop đã đặt nhân vật vào những buổi dạ hội, những bữa ăn chiều tại nhà các vị cố vấn tam tứ phẩm, những buổi khiêu

vũ nhỏ để làm nổi bật căn bệnh giai cấp của nhân vật này

Thứ hai, việc sử dụng hình thức người kể chuyện hay nhân vật kể

chuyện trong tác phẩm tuỳ thuộc vào động cơ, thái độ của tác giả:

Khi sử dụng hình thức nhân vật kể chuyện thì chủ thể kể có thể xuất hiện một cách tường minh trong tác phẩm với tư cách là một nhân vật Nhân vật kể chuyện cũng như các nhân vật khác tham gia vào những sự kiện, biến

cố của cốt truyện và đứng cùng bình diện với các nhân vật khác Trong trường hợp này người đọc dễ dàng nhận ra nhân vật kể chuyện thông qua những dấu hiệu như: tên tuổi, nghề nghiệp, dáng hình, cử chỉ, điệu bộ, tính cách Chẳng

hạn, bé Hồng(Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng); Thuần(Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp); Quỳ(Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của

Nguyễn Minh Châu)

Khi sử dụng hình thức người kể chuyện, chủ thể kể thường hàm ẩn, không có mặt trực tiếp trong tác phẩm, không đứng cùng bình diện với các

nhân vật khác trong tác phẩm Chẳng hạn, người kể chuyện trong Chí phèo (Nam Cao); Hai đứa trẻ (Thạch Lam); Giọt máu (Nguyễn Huy Thiệp) Nói

cách khác, ở hình thức người kể chuyện, chủ thể kể không có tên tuổi, hình dáng, nội tâm, tính cách

Chính vì nhân vật kể chuyện, người kể chuyện khác nhau như vậy, nên nhà văn trong quá trình sáng tác phải lựa chọn cho được một hình thức kể chuyện phù hợp, để bộc lộ rõ nét và sâu sắc nhất tư tưởng nghệ thuật và ý đồ sáng tạo nghệ thuật của mình

1.1.3 Nhân vật kể thống nhất nhưng không đồng nhất với tác giả

Trước hết, nhân vật kể chuyện chuyện thống nhất với tác giả.Theo quan

điểm của một số nhà tự sự học thì nhân vật kể chuyện chỉ là một yếu tố hình

Trang 14

thức thuần tuý, hoàn toàn tách biệt với tác giả thực tế R.Barthes cho rằng:

“Người kể chuyện và nhân vật của anh ta bản chất là những thực thể trên mặt giấy, tác giả thực tế của văn bản không có điểm gì chung với người kể chuyện” [57, tr.487].Trên thực tế đây là những quan điểm cực đoan Không ai

có thể phủ nhận được giữa nhân vật kể chuyện và tác giả có mối quan hệ mật thiết với nhau Bởi lẽ, hình thức nhân vật kể chuyện là sản phẩm mà nhà văn sáng tạo ra Do vậy, ta vẫn có thể đoán định âm sắc tác giả qua đối tượng câu chuyện kể cũng như qua chính câu chuyện mà nhân vật kể chuyện bộc lộ

trong quá trình kể Đọc “Lão Hạc” của Nam Cao qua lời kể của nhân vật kể

chuyện ta cảm nhận được niềm đau đớn, cay đắng của tác giả trước thân phận của con người

Đặc biệt, qua các tác phẩm tự truyện, người đọc thấy rõ sự thống nhất giữa nhân vật kể chuyện và tác giả Bởi lẽ, tự truyện là một thể loại văn học đặc biệt trong loại tự sự với đặc điểm là tác giả tự viết về mình, lấy chính cuộc đời mình làm cơ sở cho sáng tạo nghệ thuật Do vậy, nhân vật kể chuyện trong tác phẩm tự sự ta thấy được khá rõ cái tôi của tác giả ngoài cuộc đời Chẳng hạn, qua lời kể mộc mạc, chân tình của nhân vật Tôi trong bộ ba tự

truyện(Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi) ta có thể hình

dung rất rõ cuộc đời cơ cực, gian khổ và lỗ lực vươn tới đỉnh cao văn hoá của tác giả Gorki Như vậy, giữa người kể chuyện, nhân vật kể chuyện và tác giả

có những nét thống nhất với nhau nhưng ta cũng tuyệt đối không được đồng nhất là một Có thể lý giải điều này bằng những lý do sau:

Thứ nhất, tư tưởng của tác giả bao giờ cũng rộng hơn tư tưởng của

nhân vật kể chuyện Tư tưởng của tác giả được thể hiện trong toàn bộ tác phẩm, qua hệ thống các nhân vật chứ không chỉ thể hiện duy nhất ở nhân vật

kể chuyện Chẳng hạn, trong “Nhật ký người điên” của Lỗ Tấn, nhận thức của

nhân vật kể chuyện xưng Tôi-người điên mới chỉ là nhận thức cụ thể, trực

Trang 15

tiếp, cảm tính còn nhận thức của tác giả là nhận thức mang tính khái quát, tổng hợp Cái mà nhân vật kể chuyện xưng Tôi gọi là “ăn thịt người” thì chỉ là

ăn thịt về xác thịt còn hàm ý của tác giả là cả ăn thịt về mặt tinh thần Những

kẻ trực tiếp ăn thịt người là: Ông Triệu, ông Cố Cửu, lão thầy thuốc nhưng sâu xa hơn đó là biểu tượng của chế độ phong kiến cổ hủ, lạc hậu đương thời

Thứ hai, nhân vật kể chuyện không thể đồng nhất với tác giả bởi hình

kể chuyện này vừa có mặt chủ quan vừa có mặt khách quan Nhân vật kể chuyện không chỉ mang thái độ chủ quan của tác giả mà còn mang trong mình nội dung khách quan của thế giới được phản ánh Chẳng hạn, qua nhân vật kể

chuyện trong các tác phẩm: Điếu văn, Cái mặt không chơi được, Mua nhà, Những chuyện không muốn viết ta vừa thấy được bản thân nhà văn Nam

Cao vừa thấy được hình ảnh những người trí thức nghèo trong xã hội cũ

Thậm chí, trong những tác phẩm có tính chất tự truyện thì giữa tác giả với nhân vật kể chuyện vẫn có những nét khác nhau Mặc dù tác phẩm tự truyện thường lấy chính cuộc đời tác giả làm chất liệu sáng tác nhưng rõ ràng thế giới tồn tại của nhân vật kể chuyện và thế giới tồn tại của nhân vật được

kể lại là hoàn toàn khác nhau về thời gian, không gian, khác nhau về cảm xúc,

tư tưởng Nhân vật kể chuyện chỉ có thể ý thức lại được thế giới kia chứ không thể thâm nhập, can thiệp vào thế giới kia được, không thể làm lại được Những hành động, tâm trạng, cảm giác mà nhân vật kể chuyện kể lại trong tác phẩm tự truyện có thể là của nhà văn nhưng đó là những hành động, tâm trạng

đã xảy ra với nhà văn trong quá khứ chứ không phải là thời khắc hiện tại mà nhà văn đang viết Khoảng cách giữa cái xảy ra và những điều đang viết lại sẽ

không còn nguyên vẹn như nó có nữa Chẳng hạn, trong tác phẩm Người tình

của M.Duras đã kể lại câu truyện xảy ra trên một địa điểm đúng như những gì tác giả đã trãi qua với những sự kiện khiến độc giả dễ đi đến kết luận nhân vật

kể chuyện là tác giả Nhưng thực tế không thể đồng nhất như vậy, bởi vì từ lai

Trang 16

lịch cuộc đời đến hình tượng nhân vật kể chuyện đã là một quá trình sản xuất lại, hư cấu, sáng tạo của nhà văn Do vậy, chúng ta chỉ xem đó là bóng dáng chứ không phải là bản thân nhà văn Chính nữ văn sĩ M.Duras cũng khẳng định: “Câu chuyện về cuộc đời các bạn, cuộc đời tôi, không có hoặc đó là một vấn đề từ vựng Cuốn tiểu thuyết về cuộc đời tôi, cuộc đời chúng ta thì có đấy, nhưng câu chuyện thì không có đâu Đó là sự trình bày thời gian qua đầu

óc tưởng tượng mà hơi thở đã có sự sống” [59, tr.457] Để chứng minh một cách rõ ràng hơn cho luận điểm này chúng ta có thể dừng lại ý kiến của nhà

nghiên cứu M.Butor trong cuốn “Luận đề về tiểu thuyết”: “Người kể chuyện

trong tiểu thuyết không phải là một ngôi thứ nhất thuần tuý Người đó chẳng bao giờ hoàn toàn là chính bản thân tác giả Không bao giờ nhập làm một Robinxon với Defoe, Marul với Proust Bản thân người kể chuyện là một hư cấu, nhưng giữa đám nhân vật tưởng tượng, tất cả dĩ nhiên đều ở ngôi thứ ba,

y là đại diện của tác giả Ta đừng quên rằng y cũng là đại diện của độc giả, nói chính xác ra là điểm nhìn mà tác giả mời bạn đọc đặt mình vào để đánh giá, thưởng thức, rút ra bài học cho mình về một chuỗi sự kiện nào đấy” [59, tr.457]

Như vậy, ta có thể thấy rõ đằng sau câu chuyện của nhân vật kể chuyện chúng ta đọc được một câu chuyện thứ hai nữa-câu chuyện của tác giả cùng

về cái mà nhân vật kể chuyện đã kể.Từ sự phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm nhân vật kể chuyện như sau:

Nhân vật kể chuyện: Đây là hình thức kể chuyện mới xuất hiện trong

văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ xx Đây là hình thức kể mà chủ thể kể tham gia trực tiếp vào tác phẩm với một hình hài, vóc dáng, số phận cụ thể trong câu chuyện được kể Nhân vật kể chuyện do vậy không chỉ là người dẫn chuyện mà còn là nhân vật chính hoặc phụ trong tác phẩm kể lại câu chuyện

về một người nào khác hoặc của chính bản thân mình Đây là hình thức kể

Trang 17

chuyện được phát huy nhiều trong nghệ thuật kể chuyện hiện đại bởi những

ưu thế của nó so với nghệ thuật kể chuyện truyền thống Nó tạo được sự chân thực, tin tưởng nơi người đọc vì những điều “mắt thấy tai nghe” Hình thức nhân vật kể chuyện thường kể ở ngôi thứ nhất xưng Tôi hoặc Chúng Tôi và đóng vai trò quan trọng trong việc bộc lộ quan điểm, tư tưởng của nhà văn, đồng thời tạo nên tính khách quan của truyện kể

1 2 Chức năng của nhân vật kể chuyện, người kể chuyện trong tác phẩm

tự sự

Như trên ta đã thấy, người kể chuyện và nhân vật kể chuyện là những hình thức được nhà văn sáng tạo ra để kể chuyện, để phục vụ cho việc gắn kết giữa nhà văn-tác phẩm-độc giả Do vậy, việc tác giả lựa chọn hình thức kể chuyện nào để kể hoàn toàn không phải một sự ngẫu nhiên mà nó mang tính quan niệm, nhằm mục đích chuyển tải tư tưởng, nội dung một cách hiệu quả nhất Đây là lý do chính mà các nhà văn khi cầm bút đều cân nhắc rất kĩ khi lựa chọn hình thức người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện.Ta hiểu vì sao

tác giả của những khúc ngâm như “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm” là

đàn ông nhưng chủ thể kể chuyện trong tác phẩm này lại là nữ Có lẽ chỉ có thể người kể chuyện là nữ thì mới có thể nói được một cách sâu sắc, chân thực nhất tâm trạng của mình khi hạnh phúc bị chia ly, không trọn vẹn Giả sử nếu hai tác phẩm này được kể dưới hình thức người kể chuyện theo điểm nhìn của một người kể chuyện đứng từ bên ngoài thì tâm lý nhân vật có được mô tả chân thực, tinh tế như thế hay không? Hay đọc truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai, một nhà văn nữ lại hay xuất hiện ở hình thức nhân vật kể chuyện xưng Tôi là nam Phải chăng tác giả muốn đi vào miêu tả, khám phá bản chất phụ

nữ qua con mắt đàn ông? Hay phải chăng nhà văn nữ này muốn khám phá thế giới bí ẩn của đàn ông, muốn thử nghiệm những cảm xúc của đàn ông?

Trang 18

Như vậy, người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện là cầu nối trung gian kết nối nhà văn-tác phẩm-bạn đọc Do vậy, nghiên cứu chức năng người

kể chuyện và nhân vật kể chuyện ta cũng phải xem xét đến mối quan hệ này

1.2.1 Nhân vật kể chuyện, người kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm

Mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn, hoàn chỉnh với nhiều khả năng kết cấu khác nhau và mỗi khả năng kết cấu chỉ thích hợp với một quá trình khái quát nghệ thuật của người nghệ sĩ Do đó, công việc của người nghệ sĩ là phải làm sao tìm được một kết cấu hợp lý, tối ưu nhất để thể hiện ý đồ sáng tạo nghệ thuật của mình Ở phương diện này, vai trò của người

kể chuyện, nhân vật kể chuyện là hết sức quan trọng Hai hình thức kể này có khả năng tổ chức kết cấu câu chuyện làm cho nó hấp dẫn và lôi cuấn người đọc Vai trò tổ chức kết cấu tác phẩm của người kể chuyện và nhân vật kể chuyện được thể hiện trên nhưng phương diện sau:

Thứ nhất, người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện là người tổ chức hệ

thống hình tượng nhân vật Do vậy hai hình thức này có thể tổ chức các quan

hệ của nhân vật trong văn bản nghệ thuật theo nhiều hình thức: đối lập, đối chiếu, tương phản hoặc bổ sung Chẳng hạn, trong quan hệ giữa Đôn Kihôtê

và Panxa (Xecvantex); giữa anh béo và anh gầy (Sêkhôp) ; giữa Thuý Kiều và Thuý Vân (Nguyễn Du) đều được chủ thể kể chuyện tổ chức theo lối này

Thứ hai, nhân vật kể chuyện, người kể chuyện có chức năng tổ chức hệ

thống các sự kiện, liên kết chúng lại để tạo thành truyện Người đọc sẽ tiếp xúc lần lượt với những tình huống, chi tiết trong tác phẩm thông qua cái nhìn, cách kể của người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện Các tình huống, sự kiện trong truyện được đưa ra trước hay sau, bằng cách nào đều tuỳ thuộc vào sự lựa chọn và tổ chức của người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện nhằm phục

vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả Chẳng hạn, trong truyện ngắn Anh hùng bĩ

Trang 19

vận của Nguyễn Khải nhà văn đã chứng tỏ sự kết nối tài hoa và khéo léo của

hình thức người kể chuyện Tác phẩm bao gồm nhiều câu chuyện khác nhau,

có vẻ như chẳng liên quan gì đến nhau: Đó là câu chuyện đáng buồn của một

xã đã từng lừng lẫy tiếng tăm về thành tích lao động nay khủng hoảng đi vào ngõ cụt; đó là câu chuyện về cuộc đời một nhà văn có số phận lao đao, bấp bênh trong nền kinh tế thị trường; đó là câu chuyện về cuộc đời ông Cậy- chủ một gia đình đã từng làm ăn giàu có, phát đạt bây giờ thua lỗ, sa sút con cái phải tha hương khắp nơi Rõ ràng người kể chuyện tài tình, khéo léo đã kết lối các sự kiện, câu chuyện riêng lẻ ấy thành một mạch truyện thống nhất để làm

cấu truyện khác nhau: có truyện chỉ có một nhân vật kể chuyện và cũng chỉ kể

một câu chuyện ( Đồng hào có ma- Nguyễn Công Hoan); có truyện chỉ có một người kể chuyện nhưng kể nhiều câu chuyện khác nhau( Đất kinh kì-

Nguyễn Khải); có truyện nhiều người kể chuyện cùng kể về một câu chuyện (

Khách ở quê ra- Nguyễn Minh Châu) ; có truyện trong đó nhiều người kể chuyện và kể nhiều câu chuyện khác nhau ( Người đàn bà trên tuyến tàu tốc hành- Nguyễn Minh Châu)

Thứ ba, người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện còn là người tổ chức

kết cấu tác phẩm nghệ thuật Đó là việc sắp xếp bố cục trần thuật sao cho hợp

lí và thể hiện đúng ý đồ tác giả Chúng ta hiểu vì sao Nam Cao lựa chọn miêu

tả tiếng chửi của Chí Phèo ngay khi bắt đầu câu chuyện chứ không phải là miêu tả quãng thời thơ ấu của Chí Phèo Sở dĩ có sự đảo ngược trình tự thời gian ấy là vì người kể chuyện muốn cho chúng ta thấy hành trình trở lại làm

Trang 20

người của một con quỷ dữ chứ không muốn diễn tả quá trình trở thành quỷ dữ của một người nông dân lương thiện Khả năng tổ chức kết cấu của người kể chuyện và nhân vật kể chuyện còn thể hiện ở việc lựa chọn, kết hợp các thành

phần trần thuật Chẳng hạn trong tiểu thuyết Lão Gôriô của Banzac, người kể

chuyện không chỉ sử dụng những lời kể thuần tuý mà còn xen lẫn rất nhiều lời miêu tả Đoạn miêu tả quang cảnh quán trọ của bà Vônke độc giả thấy được

sự ảm đạm, buồn tẻ, ghê tởm của một nơi tối tăm, ẩm thấp, nghèo nàn và ô hợp mà một ông già đã từng nắm trong tay rất nhiều của cải, tiền bạc phải sống, phải thuê trọ Miêu tả một quán trọ như thế tác giả muốn đối lập với cảnh sống xa hoa, sang trọng trong gia đình của hai cô con gái lão Gôriô Người kể chuyện ở đây muốn phơi bày bản chất ích kỉ, vụ lợi, vô ơn và bất hiếu của con người trong xã hội tư sản Pháp thế kỉ XIX

Thứ tư, nhân vật kể chuyện và người kể chuyện còn tổ chức các điểm nhìn trong tác phẩm Chẳng hạn trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao,

điểm nhìn trần thuật có sự thay đổi rất linh hoạt: Lúc thì là điểm nhìn của Chí Phèo, lúc lại là điểm nhìn của người dân làng Vũ Đại, có lúc lại là điểm nhìn của người kể chuyện Việc thay đổi linh hoạt với nhiều điểm nhìn khác nhau như thế giúp câu chuyện được kể có được tính khách quan nhiều chiều Nhà văn có thể đi sâu khai thác được cả nhân vật, cả người kể chuyện, cả nhân vật

kể chuyện và người tiếp nhận câu chuyện

Tóm lại, nhân vật kể chuyện và người kể chuyện có vai trò rất lớn trong

việc tổ chức kết cấu tác phẩm Viện sĩ Timofiev khẳng định : “Hình tượng này có tầm quan trọng hết sức to lớn trong việc xây dựng tác phẩm, các biến

cố xảy ra, cách đánh giá các nhân vật và biến cố đều xuất phát từ cá nhân người kể chuyện [34, tr 44]

1.2.2 Nhân vật kể chuyện, người kể chuyện với chức năng dẫn dắt, định hướng người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật

Trang 21

M Gorki đã từng khẳng định: “Trong tiểu thuyết, những con người được tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả; tác giả luôn bên cạnh họ, tác giả mách cho người đọc hiểu rõ cần phải hiểu như thế nào, giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩa thầm kín, những động cơ bí ẩn ở phía sau những hành động của các nhân vật được miêu tả” [58, tr.117] “Tác giả” mà Gorki nói đến ở đây chính là người kể chuyện Bởi tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm nhưng tác giả không bao giờ xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm đó mà lại hư cấu ra người kể chuyện, nhân vật kể chuyện để thay mặt mình dẫn dắt người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm

Trước hết nhân vật kể chuyện, người kể chuyện là người môi giới, gợi

mở, dẫn dắt giúp người đọc tiếp cận với thế giới nhân vật, hiểu được bản chất của nhân vật, rút ngắn khoảng cách giữa nhân vật với người đọc Chẳng hạn,

trong Anna Karênina ( Lép Tônxtôi), người kể chuyện đã vừa kể, vừa tả, vừa

giải thích, bình luận giúp người đọc hiểu rõ hơn về nhân vật Anna Mặc dù trong quan niệm của xã hội thượng lưu phong kiến Anna là người phụ nữ sa đoạ, đáng lên án nhưng trong cái nhìn của người kể chuyện nàng là một phụ

nữ “đáng thương chứ không đáng tội”, một phụ nữ đáng tôn trọng Để người đọc hiểu thêm về Anna, người kể chuyện đã miêu tả nàng qua cái nhìn của nhiều nhân vật khác: Đối với Lêvin thì “Anna là người đàn bà tế nhị, cởi mở Ngoài cái thông minh, duyên dáng, sắc đẹp nàng còn là người thẳng thắn nữa” Đối với nữ công tước Miaccaia thì “Anna đã làm cái điều mà tất cả những người đàn bà, trừ tôi ra, đều làm vụng trộm Chị ấy không muốn lừa dối và đã xử sự tốt” Chủ thể kể chuyện cứ dẫn dắt, gợi mở và truyền đến cho người đọc một sự cảm thông đối với số phận của Anna

Thứ hai, không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn, sâu hơn về nhân vật mà

người kể chuyện, nhân vật kể chuyện còn hướng người đọc cùng suy ngẫm, chia sẻ và đồng cảm với những chiêm nghiệm, những suy nghĩ của mình về

Trang 22

cuộc đời Chẳng hạn, đọc Chiếc áo khoác của Gôgôn, qua lời kể của chủ thể

kể chuyện vừa mai mỉa vừa thương cảm người đọc cảm thấy xót xa cho thân phận nhỏ bé của người viên chức trong bộ máy quan liêu của nước Nga Hình ảnh chiếc áo khoác đã trở thành món ăn tinh thần, nó đã làm thay đổi cuộc sống của bác Akaki Akakievits nó làm cho “ Cuộc sống của bác có phần đầy

đủ hơn Bác trở lên lanh lợi hơn, cương quyết hơn” Chỉ một ước mơ rất nhỏ

bé cũng đủ soi sáng phần đời còn lại của con người tội nghiệp này

Thứ ba, trong nhiều trường hợp khác nhân vật kể chuyện, người kể

chuyện còn tiến hành đối thoại, tranh luận với người đọc để cùng nhau tìm kiếm, khám phá chân lí cuộc sống Trong các tác phẩm được sáng tác trong thời kì đương đại như tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh ; các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Minh Châu là những ví dụ rất tiêu biểu Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp nhân vật kể chuyện, người kể chuyện thường kể những chuyện phi lí, phản logíc, trái ngược với lịch sử, hoặc đưa vào trong câu chuyện của mình kể những chi tiết mâu thuẫn với nhau, vênh nhau một cách lộ liễu để kích thích sự phản ứng của người đọc, trọc tức người đọc, buộc người đọc phải lên tiếng, đối thoại để rồi tự chiêm nghiệm, nhìn

nhận lại và tìm ra chân lí thực sự Chẳng hạn, trong Kiếm sắc, Đặng Phú Lân

đã bị Gia Long chém chết bằng chính thanh bảo kiếm của mình Nhưng sau

đó chủ thể kể chuyện lại điềm nhiên kể: “ Lân và Hoa trốn lên Đà Bắc, giả làm người Mường, về sau lập trại sinh con ở đấy trở thành tổ phụ của ông Quách Ngọc Minh” Ở đây chủ thể kể chuyện đã đẩy người đọc vào những tình huống hỗn độn, buộc người đọc không thể tin cậy hoàn toàn vào những lời anh ta kể mà phải tìm tòi để đưa ra cách kiến giải của riêng mình

1.2.3 Nhân vật kể chuyện thay mặt tác giả phát biểu những quan niệm về cuộc sống, nghệ thuật

Trang 23

Mỗi nhà văn đến với văn học nghệ thuật với những động cơ và mục đích khác nhau nhưng tất cả họ đều gặp nhau ở một điểm là đều mong muốn thể hiện một quan niệm , một thái độ, một tư tưởng về cuộc sống và con người Tuy nhiên khác các nhà tư tưởng, các nhà văn không trực tiếp bày tỏ chính kiến của mình bằng những lời phát biểu trực tiếp mà trình bày một cách nghệ thuật thông qua các hình thức nghệ thuật do mình hư cấu nên, trong đó

có hình thức nhân vật kể chuyện

Thứ nhất, qua nhân vật kể chuyện ta phần nào thấy được tư tưởng, quan niệm sống của nhà văn Chẳng hạn, trong tập Giamalia- Truyện núi đồi và thảo nguyên, qua thái độ, quan niệm của nhân vật kể chuyện ta thấy được tư

tưởng của nhà văn Aimatốp Trước hết đó là thái độ phê phán quyết liệt đối với những hủ tục lạc hậu của lối sống gia trưởng, coi thường phụ nữ, coi

“hạnh phúc của người phụ nữ chỉ là sinh con đẻ cái, trong nhà dư dật” Gắn thái độ lên án những hủ tục đó, nhân vật kể chuyện còn bày tỏ một sự nâng niu, trân trọng, thông cảm đối với người phụ nữ Nhân vật kể chuyện trong

truyện ngắn Giamalia đã bày tỏ một cách trực tiếp tình cảm của mình đối với

chị dâu, đã ca ngơi vẻ đẹp của chị, đồng cảm với việc chị dám vượt lên cuộc sống, dám bước qua những tập tục quái gở để tìm hạnh phúc chân chính, đích thực của mình Dù cho dân bản coi Giamalia là kẻ phản bội thì nhân vật kể chuyện vẫn khẳng định: “Có một mình tôi không chê trách Giamalia Tôi không phản bội chân lí, chân lí của cuộc sống, chân lí của hai người đó” Sự đồng tình của nhân vật kể chuyện xưngTôi với tình yêu của Giamalia cũng chính là tấm lòng nhân đạo của tác giả, tư tưởng tiến bộ của Aimatốp Trong

Cố hương, nhân vật kể chuyện thể hiện thái độ đau buồn vì xã hội thối nát đã

làm vẩn đục tình cảm con người, tạo nên một bức tường ngăn cách giữa người với người: “Tôi đã lớn tiếng yêu cầu xoá bỏ sự ngăn cách người lao động với

trí thức, đạp đổ bức tường do chế độ phong kiến dựng lên” Trong Nhật kí

Trang 24

người điên, nhân vật kể chuyện đã phê phán những kể ăn thịt người, đã kêu

gọi xã hội hãy cứu lấy trẻ em Tư tưởng đó trước hết là của nhân vật kể chuyện nhưng đó cũng chính là tư tưởng, thái độ của Lỗ Tấn trước thực tại xã hhội đương thời

Thứ hai, không chỉ quan niệm về cuộc sống qua nhân vật kể chuyện ta

còn thấy quan niệm về văn chương nghệ thuật của nhà văn Đọc truyện ngắn của Nam Cao, nếu ta tập hợp những suy nghĩ của nhân vật kể chuyện lại thì

có thể thấy được quan niện văn chương tương đối hoàn chỉnh, hệ thống và nhất quán của nhà văn Chẳng hạn, đó là quan niệm coi trong vai trò của nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật: “Nhà văn phải biết dùng những câu chuyện

chẳng có gì để nói những cái sâu sắc”(Nhỏ nhen) Cũng có khi, Nam Cao

thông qua nhân vật kể chuyện chế giễu những nhà văn a dua, chạy theo mốt

thời thượng, “Thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào”(Những chuyyện không muốn viết) Hay qua nhân vật Thuần-nhân vật kể chuyện trong Tướng

về hưu, Nguyễn Huy Thiệp đã nói lên được cảm nhận của mình về bản chất

của sự sáng tạo nghệ thuật: “Thuần cứ mơ hồ cảm thấy những nghệ sĩ trác tuyệt là những con người cô đơn khủng khiếp”

Từ những minh chứng trên có thể thấy, nhân vật kể chuyện là nhân tố tích cực trong việc tổ chức tác phẩm; dẫn dắt, định hướng và khơi gợi khả năng đối thoại, tranh luận của người đọc Ngoài ra, hình thức này còn là một điểm tựa để tác giả bộc lộ những quan điểm của mình về cuộc sống, nghệ thuật

1.3 Các tiêu chí để nhận diện nhân vật kể chuyện, người kể chuyện

1.3.1 Điểm nhìn kể chuyện

Nói đến người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện trước hết ta phải nói

tới điểm nhìn của anh ta Chính vì vậy, xung quanh khái niệm “ điểm nhìn” có

rất nhiều các nhà nghiên cứu bàn tới Từ đầu thế kỉ XIX, nhà văn Anna

Trang 25

Barbauld là người đầu tiên đề xuất vấn đề điểm nhìn và đến cuối thế kỉ XIX vấn đề này được Henry James và F Schlegel trình bày cụ thể hơn Sang đầu thế kỉ XX hàng loạt các nhà nghiên cứu : K Friedeman (1910), Fercy Lubbock (1921) và E.M Poste (1927) lại tiếp tục đề cập đến điểm nhìn trong tiểu thuyết hiện đại Từ những năm 20 trở đi, điểm nhìn trở thành một trong những tiêu điểm của nghiên cứu văn học Các tác giả như: Tz Todorốp, B Tômasepxki, M.Bakhtin, V.Vinôgrađốp trong các công trình nghiên cứu đều bàn đến điểm nhìn trong văn bản nghệ thuật Vì vậy điểm nhìn là vấn đề then chốt của kết cấu văn bản trần thuật, là vấn đề quan hệ giữa nhân vật kể chuyện, người kể chuyện với cái được kể Nhà nghiên cứu Pospelov trong

Dẫn luận nghiên cứu văn học nhấn mạnh: “ Trong tác phẩm tự sự, điều quan

trọng là điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [55, tr.90] M.Bakhtin đã xem điểm nhìn như là “Cái lập trường mà xuất phát

từ đó câu chuyện được kể, hình tượng được miêu tả hay sự việc được thông

báo” [4, tr.86] Trong Lí luận văn học các nhà lí luận cho rằng: “Nghệ sĩ

không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện về đời sống được nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với các sự vật, hiện tượng: Nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong ra hay từ bên ngoài vào Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật”

[48, tr.310] Nguyễn Thái Hoà trong Những vấn đề thi pháp của truyện cũng

rất chú trọng đến vấn đề điểm nhìn và tác giả khẳng định điểm nhìn: “ Không phải là lập trường xã hội mà là toạ độ thời gian được lựa chọn cho hành động

kể chuyện, phát triển nội dung, sắp xếp bố cục, hư cấu thành truyện” [25, tr.122]

Những ý kiến trên tuy có những điểm khác nhau nhưng hầu như đều thống nhất ở chỗ, xem điểm nhìn của người kể chuyện, nhân vật kể chuyện chính là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn,

Trang 26

cách cảm thụ thế giới của anh ta Nói tới điểm nhìn của nhân vật kể chuyện, người kể chuyện ta thường nói tới mấy loại điểm nhìn sau:

Thứ nhất là điểm nhìn biết hết, đây là loại trần thuật đặc biệt phổ biến

trong văn học, xuất hiện từ những sử thi cổ đại cho tới những sáng tác văn học hiện đại ngày nay Hình thức trần thuật này người kể chuyện là người thông tuệ, có khả năng am hiểu hoàn toàn về thế giới mình kể, am hiểu cả hành động bên ngoài lẫn nội tâm bên trong của nhân vật Người kể chuyện luôn biết nhiều hơn và nói nhiều hơn bất cứ một nhân vật nào trong tác phẩm Người kể chuyện giống như một vị thần có khả năng thấy được nhân vật làm, nghe được nhân vật nói, hiểu được mọi điều nhân vật nghĩ, theo dõi đầy đủ những bước đường, những đoạn ngoặt rẽ của nhân vật Với cái nhìn thông suốt đó, người kể chuyện kể lại mọi việc với một thái độ khách quan, trung tính: “ Năm Đinh Hợi, niên hiệu Vĩnh Lạc, khi đại quân bình định Giao Chỉ, viên đầu mục là Ngô Miễn gieo mình xuống sông tự vẫn; vào thời Lí , An

Nam có Lê Phụng Hiểu, người Thanh Hoá, sinh ra đã to lớn lạ thường” ( Nam Ông mộc lục - Hồ Nguyên Trừng)

Các nhà văn hiện đại cũng sử dụng hình thức người kể chuyện theo điểm nhìn biết hết nhưng đã có những ưu thế hơn so với các nhà văn trung cận đại Người kể chuyện ngoài nhiệm vụ chính là kể còn xen vào đó một đôi

lời nhận xét, đánh giá Chẳng hạn, Lep Tônxtôi trong tác phẩm Cái chết của Ivan Ilich cũng đã sử dụng hình thức kể chuyện này Trong thư gửi con gái

ông đã nhấn mạnh “Cần phải viết từ điểm nhìn biết hết của ngôi thứ ba, nếu không sẽ bị lúng túng” [31, tr.168] Thực tế đọc tác phẩm này, độc giả không thấy người kể chuyện xuất đầu lộ diện, anh ta dường như đứng lên trên tất cả những mối quan hệ của nhân vật để ghi lại một cách tỉ mỉ, chi tiết về những buồn vui, sướng khổ, suy tư của Ivan Ilich Kết thúc tác phẩm người kể

Trang 27

chuyện bày tỏ sự đánh giá của mình: “Câu chuyện về cuộc đời của Ivan Ilich

là một câu chuyện đơn giản, bình thường nhất và khủng khiếp nhất”

Thứ hai là điểm nhìn bên ngoài, trong hình thức này, người kể chuyện

hoàn toàn xa lạ với thế giới mà anh ta kể lại, anh ta chỉ là người ngoài cuộc và chỉ có thể kể về những hành động, lời nói thể hiện ra bên ngoài của nhân vật chứ không có khả năng am hiểu đời sống nội tâm bên trong của nhân vật Sự tham gia của người kể chuyện vào câu chuyện là rất nhỏ Anh ta chỉ thuần tuý

là người quan sát và ghi lại cuộc đối thoại của các nhân vật chứ ít có lời giải thích, bình luận nào Nhân vật hoạt động trước mặt mà người kể chuyện không bao giờ biết được tư tưởng và tình cảm của họ Đọc truyện ngắn của

Nam Cao: Nghèo; Cái chết của con mực; Mua danh; Đôi móng giò tác giả

đã tạo cho mình một điểm nhìn bên ngoài độc đáo Người kể chuyện của Nam Cao đôi khi tỏ ra khách quan, lạnh lùng đối với sự thật được kể- một sự thật trần trụi, xót xa và chỉ bày tỏ thái độ của mình khi nào thực sự cần thiết

Trong truyện ngắn Nghèo người kể chuyện hoàn toàn khách quan miêu tả cụ

thể từng hành động của anh Đĩ Chuột, từ việc buộc dây thừng cho đến việc cho dây vào cổ để chết Thế nhưng, trong những lời kể khách quan, lạnh lùng

ấy ta vẫn thấy thấp thoáng một tiếng nói thương cảm dành cho nhân vật: “ Anh Đĩ Chuột rít hai hàm răng lại Hai chân giận dữ đạp phắt cái ghế đổ văng xuống đất Cái tròng rút mạnh lại Cái bộ xương bọc da giãy giụa như một con

gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi dây thừng lung lay” [8, tr.10] Nhân vật hoạt động trước mắt mà người kể chuyện không bao giờ biết được tư tưởng và tình cảm của chúng: “Nó tối tăm như một câu đố”

[25, tr.208] Trong truyện Mười một người con trai của Kafka, người kể

chuyện quan sát và kể lại những điều mắt mình thấy chứ không bày tỏ thái độ chủ quan gì, nếu có thì cũng chỉ là những chi tiết rất nhỏ: “Thực ra tôi hạnh phúc vì có được đứa con như thế”, “Mặc dù tự hào về mười một người con

Trang 28

như vậy, nhưng tôi vẫn muốn giữ kín nó” Những lời bình luận, đánh giá hiếm hoi này không đủ để ta hiểu gì về thái độ người kể chuyện Có lẽ chính về điểm nhìn bên ngoài này mà đọc truyện Kafka ta thường có cảm giác người

kể chuyện rất mờ nhạt và dường như vắng bóng

Thứ ba là hình thức điểm nhìn bên trong, chủ thể kể chuyện hạn chế

điểm nhìn tự sự của mình vào điểm nhìn nhân vật Tức là chủ thể kể chuyện thâm nhập vào cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật, nhìn thế giới theo con mắt của nhân vật Với điểm nhìn này, chủ thể kể chuyện có khả năng thâm nhập sâu vào đời sống nội tâm của nhân vật, có thể biết được nhân vật nghĩ gì, sự hiểu biết của chủ thể kể chuyện bằng với sự hiểu biết của nhân vật Chủ thể kể chuyện theo điểm nhìn bên trong thường có hai dạng biểu hiện cơ bản:

Dạng biểu hiện thứ nhất là nhân vật kể chuyện xưng Tôi tự thú nhận, quan sát, bộc bạch chuyện của mình, kể về những cảm xúc, tâm trạng mà

mình đã nếm trải Đọc những truyện ngắn: Cái mặt không chơi được; Những chuyện không muốn viết; Mua nhà của Nam Cao ta thấy đây là những truyện

với hình thức nhân vật kể chuyện nhưng không phải để kể việc mà là để giãi bày tâm sự ngổn ngang, phức tạp của người trí thức

Chẳng hạn, trong Mua nhà, thái độ của nhân vật kể chuyện được bộc

bạch một cách mạnh dạn và thẳng thắn Đầu tiên là thái độ ăn năn, hối tiếc về việc làm của mình: “Tôi ác quá! Tôi ác quá!” Nhưng xem xét kĩ lưỡng hơn, anh ta lại thấy: nếu mình không mua ngôi nhà ấy thì sẽ có người khác mua Nên suy cho cùng “hạnh phúc chỉ là một cái chăn hẹp Người này co thì người kia bị hở, giá người ta vẫn có thể nghĩ đến mình mà chẳng thiệt hại đến ai” [8,

tr.289].Tương tự như vậy, truyện Cát đợi của Nguyễn Thị Thu Huệ ta bắt gặp

nhân vật kể chuyện xưng Tôi đang giãi bày về tâm trạng đợi chờ người yêu một cách tuyệt vọng của mình Điểm nhìn bên trong được tác giả khai thác triệt để nhằm phô bày, bộc bạch những gì sâu thẳm nhất, kín đáo nhất bên

Trang 29

trong tâm hồn: những đam mê và rụt rè; những hạnh phúc và đau khổ; những

hy vọng và thất vọng; những hành động có ý thức và cả những ám ảnh vô thức của nhân vật Tôi Người đọc cũng như bị lôi cuấn vào trong những đợt sóng tình cảm của nhân vật Chính bằng việc sử dụng điểm nhìn bên trong của nhân vật Tôi, chủ thể kể chuyện đã tạo nên ở người đọc niềm tin về tính chân thật của câu chuyện vì họ cứ nghĩ đây là lời thú nhận của chính người trong cuộc

Dạng biểu hiện nữa của người kể chuyện, nhân vật kể chuyện theo điểm nhìn bên trong là chủ thể kể đứng ở ngôi thứ ba từ bên ngoài nhưng lại

tựa vào điểm nhìn của nhân vật để kể Chẳng hạn, truyện ngắn Chí Phèo

được quán xuyến bởi người kể chuyện ở ngôi thứ ba Ở điểm nhìn này, đầu tiên người kể chuyện kể một cách khách quan về hành động say rượu của Chí Phèo: “Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế cứ rượu xong là hắn chửi” [8, tr.12] Nhưng ngay sau đó, điểm nhìn đã có sự thay đổi Từ điểm nhìn người

kể chuyện ngôi thứ ba, điển nhìn được chuyển cho nhân vật kể chuyện, nhân vật tự bộc lộ: “Bắt đầu chửi trời Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời Thế cũng chẳng sao: Đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại(Điểm nhìn Chí Phèo-Nhân vật kể chuyện) Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “chắc nó trừ mình ra !” Không

ai lên tiếng cả(Điểm nhìn người kể chuyện) Tức thật! Ồ thế này thì tức thật!(Điểm nhìn Chí Phèo-Nhân vật kể chuyện) [8, tr.12]

Sự phân biệt trên đây chỉ hoàn toàn có ý nghĩa tương đối Hầu như không có tác phẩm nào chỉ sử dụng một điểm nhìn bên trong hoặc bên ngoài

từ đầu đến cuối mà thông thường các tác giả thường phối hợp các điểm nhìn với nhau,đặc biệt là các nhà văn hiện đại sau này Vấn đề là ở tác phẩm này thì điểm nhìn bên trong đóng vai trò chủ đạo còn ở tác phẩm kia lại là điểm nhìn bên ngoài hay điểm nhìn biết hết

Trang 30

1.3.2.Giọng điệu kể chuyện

Trong nghệ thuật tự sự nói chung và nghệ thuật trần thuật nói riêng, giọng điệu là một yếu tố quan trọng bên cạnh điểm nhìn Mỗi tác phẩm, tác giả đều có những giọng điệu đặc trưng, nếu thiếu giọng điệu ấy thì tác giả cũng như tác phẩm sẽ trở nên mờ nhạt và thiếu bản sắc

Trong đời sống hàng ngày, giọng điệu được hiểu là giọng nói, lời nói biểu thị một thái độ của người nói: Khi vui giọng điệu thường vang, rõ; khi buồn giọng điệu thường lắng xuống, thấp xuống

Giọng điệu trong văn học là hiện tượng “ Siêu ngôn ngữ văn học” được

thể hiện ở ngôn ngữ và điểm nhìn của chủ thể kể chuyện đối với cái được kể Giọng điệu văn học bắt nguồn và có liên quan mật thiết với giọng điệu đời sống Giọng điệu văn học biểu hiện cảm xúc, tư thế của người nghệ sĩ Để nhận diện người kể chuyện và nhân vật kể chuyện trong tác phẩm tự sự, ta không thể không căn cứ vào giọng điệu kể chuyện

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giọng điệu Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm giọng điệu nghệ thuật là: “ Thái độ, tình cảm, lập trường

tư tưởng, đạo đức của người kể chuyện thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân xơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học [52, tr.112]

Nguyễn Thái Hoà trong Những vấn đề thi pháp của truyện đã khẳng

định: “ Giọng điệu chính là mối quan hệ giữa chủ thể và hiện thực khách quan thể hiện bằng hành vi ngôn ngữ trong đó bao hàm cả việc định hướng, đánh giá và thói quen cá nhân sử dụng ngôn từ trong những tình huống cụ thể” [25, tr.154]

Trang 31

Trong Dẫn luận nghiên cứu văn học N Pospelov còn gọi giọng điệu là

“ Các kiểu cách dùng để kể câu chuyện” [55, tr.89] của nhà văn

Giọng điệu là một hiện tượng nghệ thuật Nó thống nhất với toàn bộ chỉnh thể trong tư cách là một yếu tố của các sinh thể nghệ thuật toàn vẹn Giọng điệu vừa mang nội dung vừa khái quát nghệ thuật và phối hợp với đối tượng mà nó thể hiện Bởi vậy để xác định giọng điệu của một nhà văn, chúng

ta căn cứ vào đối tượng thể hiện, vào sự lặp lại của yếu tố hình thức Khi bàn

về vấn đề giọng điệu trong văn chương Khrapchenko nhận định: “ Đề tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong môi trường và giọng điệu nhất định Hiệu suất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu vốn là dặc trưng của tác phẩm văn học với tư cách là một thể thống nhất hoàn chỉnh” [31, tr.167-168]

Nhìn chung, giọng điệu giữ một vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo của nhà văn Cũng giống như điểm nhìn, giọng điệu là một trong những nhân tố khiến nhà văn phải cân nhắc nhiều nhất trứớc khi viết ra tác phẩm Giọng điệu tạo ra bản sắc riêng, độc đáo cho nhà văn Nếu nhà văn không có giọng điệu riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả

Có rất nhiều giọng điệu khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau: Nếu chia theo sắc thái tình cảm ta có giọng trang trọng hay thân mật; mạnh

mẽ hay yếu ớt; tha thiết hay gay gắt Nếu chia theo loại tình cảm ta có giọng

bi hay hài; trữ tình hay châm biếm Nếu chia theo khuynh hướng tình cảm ta lại có giọng thương cảm hay lên án; phê phán hay ca ngợi

Các bình diện trên đây không tách rời nhau, không đứng độc lập với nhau mà xen lẫn nhau, hoà quyện với nhau Vì thế giọng điệu kể chuyện của tác phẩm

có thể hết sức đa dạng, phức tạp Ở đây tôi chỉ điểm qua một số giọng điệu quen thuộc mà ta thường gặp:

Trang 32

Trước hết là giọng điệu kể chuyện trải nghiệm da diết Giọng điệu này

thường được các nhà văn sử dụng để góp phần làm cho câu chuyện thêm phần sâu sắc, chân thực hơn Người kể chuyện và nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Khải thường kể chuyện bằng giọng điệu trải

nghiệm da diết Chẳng hạn, trong truyện Hai ông già ở Đồng Tháp Mười, từ

cuộc đời thăng trầm chìm nổi của hai ông già, chủ thể kể chuyện đã khái quát

về cái được mất của đời người: “ Tới lúc bị đẩy xuống vực mới biết thế nào cái mặn chát của một kiếp người khắc nghiệt đến cùng nhưng không phải không có cái bao dung Mỗi lần bưng bát cơm, nước mắt lại muốn ứa ra vì cái khắc nghiệt của đời người cũng có mà cái bao dung đời người cũng có” Hay

xuyên suốt truyện ngắn Cái thời lãng mạn là những suy tư của chủ thể kể

chuyện về những sai lầm ấu trĩ mà bản thân mình đã từng nếm trải: “ Mới biết thời thế đã đổi thay một đời người ngắn ngủi Đã ngắn lại còn những giấc mộng hão huyền, những tham vọng vớ vẩn, những việc làm vô ích và buồn cười”

Chính bằng giọng điệu trải nghiệm cá nhân chứa đầy những nỗi niềm suy tư, người kể chuyện và nhân vật kể chuyện như kéo người đọc lại gần để tâm sự, giãi bày Mỗi người đọc dường như cũng tìm được sự đồng điệu bởi những cảnh ngộ, tâm trạng mà chủ thể kể chuyện đã nếm trải Chính vì vậy mối quan hệ giữa người kể chuyện, nhân vật kể chuyện và độc giả trở nên bình đẳng hơn, dân chủ hơn

Thứ hai là giọng triết lí, suy ngẫm Chẳng hạn đọc truyện ngắn của

Sêkhốp, ta thấy giọng điệu này đóng vai trò chủ đạo Chủ thể kể chuyện thường hướng cái nhìn của mình tới những con người bình thường trong cuộc sống bình thường Thông qua những câu chuyện tưởng chừng vụn vặt ấy, chủ thể kể chuyện đã suy ngẫm và khám phá ra tính bi kịch vĩnh cửu của đời sống, đã triết lí về những vấn đề to lớn của nhân sinh Cụ thể đó là triết lí về

Trang 33

nỗi khổ ở đời: “ Không kiếm đủ cơm ăn, cái khổ cũng do đấy mà ra Một ngưòi mà cả người cả ngựa đều no bụng thì chẳng có điều gì làm cho người

đó lo nghĩ” ( Nỗi nhớ) Đó có thể là triết lí về lẽ công bằng: “ Nói đến chuyện

công lí, há chẳng buồn cười lắm sao khi mà mọi sự cưỡng bức đều được xã hội coi như sự tất yếu, phải chăng là hợp lí Sự công bằng thời nay là ở chỗ người ta dùng chức vụ, huân chương không phải để thưởng cho đức hạnh mà

để cho người làm việc nhà nước nói chung, bất kì làm việc như thế

nào”(Phòng số 6) Bên cạnh triết lí về cuộc đời, giọng điệu triết lí của người

kể chuyện, nhân vật kể chuyện còn được thể hiện qua những lời triết lí về con người: “Có những người bao giờ cũng chỉ nói những lời nói thông minh và tốt

lành nhưng người ta vẫn cảm thấy đó là kẻ đần độn”(Phòng số 6) Chính

giọng điệu triết lí, suy ngẫm trong các truyện ngắn của Sêkhốp đã khiến người đọc phải suy nghĩ để rồi lí giải những vấn đề mà người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện đặt ra trong tác phẩm

Thứ ba là giọng giễu nhại Loại giọng này xuất hiện khá nhiều trong

văn xuôi Việt Nam sau 1975 mà tiêu biểu là trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Với giọng giễu nhại tác giả muốn nhại lại cái đáng cười, đáng chê trách từ đó làm cho tâm hồn, tính cách con người thêm trong sáng và hoàn

hoàn hảo hơn Chẳng hạn trong Huyền thoại phố phường, bằng giọng điệu

giễu nhại chủ thể kể chuyện đã bóc trần những cái lố bịch, những thói đạo đức giả của con người: “ Hàng tháng, Hạnh trả cho ông chú họ một khoản tiền nhà Khoản tiền này cứ tăng lên bất chấp sự cố gắng cải thiện tình cảm ruột rà

mà y cố công vun đắp Ông chú họ xử thế với y khá là giản dị theo tinh thần

câu ngạn ngữ “ Đã quen phải lèn cho đau” ” Hay trong truyện ngắn Mưa

vấn đề thế giới quan được người kể chuyện kể lại: “ Hắn bắt một con thạch sùng rồi để lên bàn Hắn trình bày thế giới bằng cách miêu tả con thạch sùng

ấy Thượng tầng kiến trúc là đầu, hạ tầng cơ sở là chân, khúc đuôi là đạo đức

Trang 34

Hắn cho rằng đạo đức rụng rồi lại mọc, đạo đức có thể ngoe nguẩy một mình, còn toàn bộ sự sống chuồn mất”

Tóm lại: giọng điệu là một trong những yếu tố đặc trưng của người kể

chuyện hay nhân vật kể chuyện trong tác phẩm tự sự Giọng điệu tự sự là chỗ dựa quan trọng để các yếu tố trong tác phẩm quy tụ, định hình và thống nhất với nhau trong một âm hưởng chung, khuynh hướng chung

Trần Đình Sử đã phân biệt rõ giữa ngôn ngữ người kể chuyện- lời gián tiếp với ngôn ngữ các nhân vật khác- lời trực tiếp: “ Lời gián tiếp là lời văn đảm đương chức năng trần thuật, giới thiệu, miêu tả, bình luận của con người

và sự kiện, phân biệt với lời trực tiếp được đặt trong ngoặc kép hoặc sau ngạch đầu dòng” [ 58, tr.178]

Theo Nguyễn Xuân Nam thì “ Ngôn ngữ người kể chuyện là ngôn ngữ của tác giả hoặc của nhân vật được tác giả dùng để kể lại câu chuyện trong tác phẩm tự sự” [ 51, tr.124]

Từ các ý kiến trên có thể hiểu: ngôn ngữ kể chuyện là phương tiện cơ bản dùng để kể chuyện, miêu tả và bình giá các nhân vật, sự kiện, biến cố trong tác phẩm tự sự Khả năng phản ánh của ngôn ngữ kể chuyện là rất lớn,

nó “ không chỉ tái hiện cái được kể mà còn tái hiện người kể”, nó “ mang dấu

ấn về cách cảm thụ thế giới và cuối cùng là mang tư chất, trí tuệ, tình cảm của người kể chuyện, mang tính cách của anh ta” [55, tr.281] Nói đến ngôn ngữ

Trang 35

kể chuyện ta thường nói đến ba thành phần cơ bản sau: lời kể, lời tả và lời bình luận

Thành phần thứ nhất của ngôn ngữ kể chuyện là lời kể: đây là cách trần

thuật, sắp xếp các sự kiện, chi tiết, biến cố trong toàn bộ tác phẩm, làm cho nó trở thành một dòng chảy liền mạch Khi kể, nhà văn đã hình thành một sợi dây xuyên suốt và sâu chuỗi mọi sự kiện xảy ra với nhân vật trong tác phẩm, giúp người đọc có một cái nhìn trọn vẹn về chỉnh thể thống nhất

Thành phần kể trong ngôn ngữ kể chuyện được nhà văn sử dụng linh hoạt trong tác phẩm, có thể theo thời gian tuyến tính hoặc đảo ngược hoặc xen lồng giữa quá khứ, hiện tại, tương lai, có thể giản căng hoặc co trùng thời gian theo ý muốn chủ quan của người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện Chẳng hạn khi kể về cuộc đời nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã không tuân theo cách

kể thông thường Nhà văn đã đi theo hướng từ hiện tại ( Chí vừa ra tù, vừa đi vừa chửi), trở về quá khứ ( Chí là một đứa trẻ bị bỏ rơi, đi ở hết nhà này đến nhà nọ, năm 20 tuổi làm canh điền cho nhà Bá Kiến, bị Bá Kiến ghen đẩy vào tù) Tiếp theo người kể chuyện lại quay trở về hiện tại( Chí đã ra tù, bị tước

đi nhân hình và nhân tính, trở thành quỉ dữ của làng Vũ Đại) Kết thúc tác

phẩm là cái chết của Chí nhưng chủ thể kể chuyện lại mở ra mạch vận động

cho tương lai( Thị Nở nhìn xuống bụng và trong đầu Thị xuất hiện hình ảnh cái lò gạch bỏ không)

Lời kể trong các tác phẩm khác nhau sẽ có giọng điệu khác nhau Chẳng hạn lời kể trong tác phẩm của Kafka mang tính trung hoà, vô sắc Đó

có thể là lời kể về một sự biến hoá dị thường “Một sáng tỉnh giấc boăn khoăn, Gregor Samsa nằm trên giường thấy mình biến thành một con côn trùng

khổng lồ”(Hoá thân) Đó có thể là lời kể về một vết thương khủng khiếp:

“Máu đỏ tươi luôn luôn thay đổi hình dạng đen ngòm ở dưới đáy, sáng hơn khi ở quanh miệng những hạt máu đỏ mịn, xen lẫn những cục máu đen dị

Trang 36

thường bày ra trông như thể miệng của một hầm mỏ trong ánh sáng ban

ngày”(Một thầy thuốc nông thôn) Dường như người kể chuyện, nhân vật kể

chuyện không hề để lộ một xúc cảm nào qua lời kể Tác giả đã triệt tiêu các tính từ biểu hiện cảm xúc trong các truyện ngắn của mình Tần số xuất hiện các tính từ trong tác phẩm của ông rất ít, nếu có thì cũng chỉ là các từ ở mức

độ trung tính như “boăn khoăn”, “khắc khoải” hay “buồn bực”, “day dứt” Chính lời kể mang tính trung hoà, vô sắc này là một phương tiện rất hữu hiệu để thể hiện tư tưởng của người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện về một thế giới hỗn loạn, quái dị xen lẫn với cái bình thường

Thành phần thứ hai của ngôn ngữ kể chuyện là lời miêu tả: thành phần

này là cách làm cho đối tượng hiện lên cụ thể cảm tính, tác động trực tiếp vào trí tưởng tượng của bạn đọc bằng càng nhiều giác quan càng tốt Để từ đó bạn đọc có thể hình dung ra cụ thể về đối tượng một cách toàn vẹn Thành phần tả trong ngôn ngữ kể chuyện được áp dụng cho nhiều đối tượng Con người ( ngoại hình, hành động, tâm lí), thiên nhiên ( màu sắc, kích cỡ), loài vật và ở phạm vi nào đó đòi hỏi nhà văn phải có óc quan sát tinh tế, có sự nhạy bén và

am hiểu Việc sử dụng đậm nhạt thành phần này tuỳ thuộc vào mục đích, sở trường của từng tác giả

Chẳng hạn trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nhân vật Chí Phèo

được miêu tả từ nhiều khía cạnh khác nhau: hình dáng, ăn mặc, đi đứng, nói năng Nhờ thành phần tả, nhân vật hiện lên trước mắt độc giả cụ thể sống động và tác động vào rất nhiều giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác Chẳng hạn về thị giác Chí Phèo được nguời kể chuyện đặc tả để làm rõ hình dáng, diện mạo: “ Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen

mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết” và “ Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai tay cũng thế Trông gớm chết!”

Trang 37

Chí Phèo còn tác động vào cả thính giác thông qua tiếng chửi và kêu làng ăn

vạ Đó là cách để hắn giao tiếp với cuộc đời để tạo sự chú ý từ phía cộng đồng làng Vũ Đại Nó nói lên sự cô đơn đáng sợ và thể hiện bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Nam Cao đã thể hiện khá sâu sắc tiếng chửi của Chí Phèo bằng thành phần tả của ngôn ngữ kể chuyện Chí Phèo còn tác động đến xúc giác của độc giả thông qua hành động “lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt Máu me loe loét trông gớm quá!” Như vậy qua việc miêu tả thì hình hài, diện mạo, hành động của Chí Phèo hiện lên một cách sống động, chân thực, cụ thể, tác động trực tiếp vào giác quan của độc giả

Bên cạnh lời miêu tả nhân vật, ta còn phải kể tới những lời miêu tả

thiên nhiên Đọc Chiến tranh và hoà bình ( Lep Tônxtôi), qua những lời miêu

tả của người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện ta thấy thiên nhiên hiện lên như một nhân vật sống Bầu trời Auxteclit mênh mông, thăm thẳm của Anđrây; bầu trời Otơratnôie ngập tràn ánh trăng của Natasa; bầu trời có ngôi sao chổi rực rỡ của Pie; bầu trời trong trẻo huyền ảo và đầy tiếng nhạc của Pêchia Bầu trời thực sự đã trở thành biểu tượng cho một cái gì đó cao cả, vĩnh hằng mà các nhân vật này khao khát vươn tới Nó phù hợp với trạng thái

tâm hồn của các nhân vật Tương tự như vậy, đọc Epghênhi Ônhighin của

Puskin ta thấy người kể chuyện hay nhân vật kể chuyện đã miêu tả một cách lên thơ sống động thiên nhiên Nga, đã khám phá thấy cái đẹp trong những cảnh bình thường nhất, đơn sơ nhất, chân thật của nó Đó là cảnh một buổi sớm mùa đông với con đường tuyết phủ; đó là cảnh mùa xuân với những lộc non vừa mới nhú, những con ong đầu tiên đi tìm mật

Thành phần thứ ba là thành phần phân tích, bình luận: với bộ phận

ngôn ngữ này, chủ thể kể chuyện có thể trực tiếp bộc lộ những tư tưởng, quan

niệm của mình đối với cuộc sống và nhân vật Chẳng hạn, đọc Những linh

Trang 38

hồn chết của Gôgôn ta thấy chủ thể kể dù đang kể hay tả thì cũng thường

dừng lại để bình luận, để trực tiếp bày tỏ sự đánh giá của mình về nhiều vấn

đề khác nhau: từ thói quỵ lụy cấp bậc đến cách đặt biệt hiệu, từ những kỷ niện thời niên thiếu đến những suy nghĩ về hai loại nhà văn, từ số phận của nông

nô Nga đến hình ảnh tươi mát của chiếc vườn hoang, từ tiếng hát dân gian đầy sức quyến rũ cho đến hình ảnh chiếc xe tam mã tượng trưng cho nước Nga Qua những lời trữ tình ngoại đề ta cảm nhận được khá sâu sắc sự cảm thông đối với nhân dân Nga, sự mỉa mai, lên án đối với những cái xấu xa đáng kinh tởm của chế độ nông nô và niềm tin tưởng, hy vọng vào một tương lai tươi sáng, tốt đẹp của chủ thể kể chuyện

Ba thành phần lời kể, lời tả và lời phân tích, bình luận trong ngôn ngữ

kể chuyện không tách rời nhau mà hài hoà với nhau, bổ sung cho nhau, cùng góp phần tăng thêm sự hấp dẫn cho câu chuyện

Tiểu kết chương 1

Nội dung chủ đạo của chương1 là xem xét một cách hệ thống những vấn đề chung nhất của lí thuyết người kể chuyện và nhân vật kể chuyện Nhân vật kể chuyện hay người kể chuyện là những hình thức do nhà văn hư cấu nên

để kể chuyện Việc nhà văn lựa chọn hình thức người kể chuyện hay nhân vật

kể chuyện để kể là hoàn toàn không phải là một sự ngẫu nhiên mà nó mang tính quan niệm, nhằm mục đích chuyển tải tư tưởng, nội dung tác phẩm một cách hiệu quả nhất

CHƯƠNG 2 HÌNH THỨC NHÂN VẬT KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN

CỦA NGUYỄN MINH CHÂU Hình thức kể chuyện mới xuất hiện trong văn học Việt Nam từ đầu thế

kỷ xx Đây là hình thức kể mà chủ thể kể tham gia trực tiếp vào tác phẩm với một hình hài, vóc dáng, số phận cụ thể trong câu chuyện được kể Nhân vật kể

Trang 39

chuyện do vậy không chỉ là người dẫn chuyện mà còn là nhân vật chính hoặc phụ trong tác phẩm, kể lại câu chuyện về một người nào khác hoặc của chính bản thân mình Đây là hình thức kể chuyện được phát huy nhiều trong nghệ thuật kể chuyện hiện đại bởi những ưu thế của nó so với nghệ thuật kể chuyện truyền thống Hình thức nhân vật kể chuyện thường kể ở ngôi thứ nhất xưng Tôi hoặc Chúng tôi và đóng vai trò quan trọng trong việc bộc lộ quan điểm, tư tưởng của nhà văn, đồng thời tạo nên tính khách quan của truyện kể

2.1.Mỗi nhân vật kể chuyện là một con người lịch sử cụ thể, cá biệt

Khi tìm hiểu, nghiên cứu hình thức nhân vật kể chuyện, Nắng Mai( PGS.TS Phùng Minh Hiến) cho rằng: “Nhân vật kể chuyện được sáng tạo không ngừng với tư cách là con người cụ thể và cá biệt Cho nên chúng khá

đa dạng và không lặp lại” [39, tr.43] Với hình thức kể chuyện này, trong cùng một tác giả nhưng sẽ tạo được những “cái nhìn nghệ thuật” khác nhau Đây là điều mà hình thức kể chuyện truyền thống(người kể chuyện) rất khó thực hiện

Trong các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, ta thấy rất rõ nhân vật

kể chuyện hiện lên với tư cách con người lịch sử cụ thể, cá biệt Nói cách khác, nhân vật kể chuyện quan hệ với các nhân vật khác, trước hết,với tư cách con người xã hội cụ thể và cá biệt Nó thể hiện rõ không những về nghề nghiệp, về quan hệ xóm giềng, mà còn cả về mức sống và mức độ cảm thông

với những người xung quanh Đọc các truyện ngắn trước 1975 như: Mảnh trăng cuối rừng, Người mẹ xóm nhà thờ, Nguồn suối, Nhành mai ta thấy các

nhân vật kể chuyện là những con người xã hội cụ thể với nghề nghiệp cụ thể(cán bộ, chiến sĩ, lái xe ) Tương tự như vậy, đọc các truyện ngắn sau

1975 như Bức tranh, Cỏ lau, Sống mãi với cây xanh, người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Mùa trái cóc ở Miền Nam, Chiếc thuyền ngoài xa ta dễ

dàng nhận ra con người lịch sử cụ thể, cá biệt của nhân vật kể chuyện xưng

Trang 40

Tôi với tư cách là nhà báo, nhà văn, họa sĩ hay một bệnh nhân Ở hình thức

nhân vật kể chuyện với tư cách là con người lịch sử cụ thể, cá biệt, chủ thể kể

có thể kể chuyện của chính mình, chuyện của người khác Chủ thể kể chuyện

có thể tự chiêm nghiệm, lí giải một cách sâu sắc mọi uẩn khúc trong tâm hồn của mình, mọi khao khát tầm thường lẫn sự thánh thiện thiêng liêng Hình thức nhân vật kể chuyện vì vậy cho phép đạt tới sự thật một cách đầy đặn nhất Bởi vì, nếu có ai nói với bạn một điều gì xảy ra với chính họ, bạn sẽ dễ tin hơn là nghe họ kể về một chuyện xảy ra với người khác Hơn nữa, với tư cách con người xã hội cụ thể và cá biệt như thế, nhân vật kể chuyện có thể bộc lộ thái độ của mình một cách cụ thể, trực tiếp và phong phú đa dạng hơn Sáng tạo ra những nhân vật kể chuyện khác nhau như thế, Nguyễn Minh Châu

đã đồng thời tạo được những cái nhìn nghệ thuật khác nhau ở cùng một tác giả Trái lại, cũng ở ông, các truyện viết theo hình thức người kể chuyện

truyền thống như Chuyện đai đội, Những vùng trời khác nhau hay các tiểu thuyết Dấu chân người lính, Cửa sông rất khó thực hiện những ưu thế trên

Truyện ngắn sử dụng hình thức này cũng vì thế thường ở dạng độc thoại, trong đó nhân vật xưng Tôi bộc bạch tâm tư, tình cảm, suy nghĩ và những trải nghiệm của mình Để rồi, thông qua những bộc bạch này, người đọc có thể thâm nhập vào đời sống riêng tư của anh ta và khám phá thân tính của anh ta Một trong những nét đặc trưng và cũng là yếu tố hấp dẫn người đọc là ở hình thức này nhân vật kể chuyện tự khắc hoạ chân dung, tính cách dần dần qua chính các suy nghĩ, hành vi, ngôn ngữ của họ Chẳng hạn, truyện

ngắn Bức tranh là một minh chứng điển hình cho hình thức nhân vật kể

chuyện Ở đây, nhân vật xưng Tôi- ông hoạ sĩ đang đưa mình vào những cuộc

“tra tấn tinh thần” thực sự, đang tự mổ xẻ, đào bới tâm hồn mình, đang lật

tung mọi ngóc ngách trong tâm hồn mình để phán xét, truy bức đến cùng con người bên trong của bản thân Người hoạ sĩ đã phân thân thành hai con

Ngày đăng: 22/07/2015, 22:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyên An(2001), Nguyễn Minh Châu tài năng và sáng tạo nghệ thuật, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu tài năng và sáng tạo nghệ thuật
Tác giả: Nguyên An
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
[2]. Lại Nguyên Ân(1986), “Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám, một nền sử thi hiện đại”, Tạp chí văn học, (5), tr 24- 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám, một nền sử thi hiện đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
[3]. Lại Nguyên Ân(1987), “Sáng tác trong những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu”, Tạp chí văn học, (3), tr 42-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác trong những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1987
[4]. M. Bakhtin(1992), Lí luận về thi pháp tiểu thuyết, Nxb Bộ văn hóa thông tin và thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận về thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Bộ văn hóa thông tin và thể thao
Năm: 1992
[5]. Nguyễn Thị Bình(1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
[6]. Nguyễn Thị Bình(2007), Văn xuôi Việt Nam, những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam, những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[7]. Ngô Vĩnh Bình(1999), “Nhà văn Nguyễn Minh Châu bàn về truyện ngắn”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (4), tr 99-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Minh Châu bàn về truyện ngắn”, "Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Năm: 1999
[8]. Nam Cao(2005), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
[9]. Nguyễn Minh Châu toàn tập(1989), tập1, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Tác giả: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1989
[10]. Nguyễn Minh Châu toàn tập(198), tập2, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Nhà XB: Nxb văn học
[11]. Nguyễn Minh Châu toàn tập(1989), tập3, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Tác giả: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1989
[12]. Nguyễn Minh Châu toàn tập(2001), tập4, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Tác giả: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2001
[13]. Nguyễn Minh Châu toàn tập(2001), tập5, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Tác giả: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2001
[14]. Nguyễn Minh Châu toàn tập(2001), Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Tác giả: Nguyễn Minh Châu toàn tập
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2001
[15]. Nguyễn Minh Châu(2006), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
[16]. Nguyễn Minh Châu(1983), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1983
[17]. Nguyễn Minh Châu(1985), Bến quê(Tập truyện ngắn), Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bến quê
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1985
[18]. Nguyễn Minh Châu(1989), Cỏ lau(Tập truyện ngắn), Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cỏ lau
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1989
[19]. Nguyễn Minh Châu(2002), Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
[20]. Trần Thanh Đạm(1989), “Nghĩ về một xu thế đổi mới trong đời sống văn chương hiện nay”, Báo văn nghệ, (1), tr 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về một xu thế đổi mới trong đời sống văn chương hiện nay”, "Báo văn nghệ
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Năm: 1989

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức người - Ưu thế riêng của hình thức nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
Hình th ức người (Trang 83)
Hình thức nhân  vật kể chuyện - Ưu thế riêng của hình thức nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
Hình th ức nhân vật kể chuyện (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w