Những nội dung của chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh có mối liên hệ chặt chẽ với lí thuyết HT nói chung và việc rèn kĩ năng Đáp lời phân môn TLV của HS lớp 2 nói riêng..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-*** -
LÊ THỊ MINH HUYỀN
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT HỘI THOẠI, TÍCH HỢP GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH
TRONG VIỆC RÈN KĨ NĂNG ĐÁP LỜI
(PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN) CHO HỌC SINH LỚP 2
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Anh Xuân
HÀ NỘI, 2012
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC VÀ BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề hội thoại 2
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh Thủ đô 3
2.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy - học phân môn Tập làm văn trong trường Tiểu học 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4.1 Mục đích nghiên cứu 6
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại 7
5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp 7
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu 7
5.4 Phương pháp thực nghiệm 7
6 Giả thuyết khoa học 8
7 Bố cục luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
Trang 31.1.2 Cơ sở Tâm lí học 15 1.1.3 Nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh lớp 1, 2 liên quan đến kĩ năng Đáp lời 17 1.2 Cơ sở thực tiễn 18 1.2.1 Thực trạng dạy - học kĩ năng Đáp lời trong phân môn Tập làm văn lớp 2 hiện nay 18 1.2.2 Thực trạng về tình hình giáo dục đạo đức, nhân cách của học sinh trong nhà trường 20
Chương 2 VẬN DỤNG LÍ THUYẾT HỘI THOẠI, TÍCH HỢP GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ RÈN KĨ NĂNG ĐÁP LỜI (PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN) CHO HỌC SINH LỚP 2 24
2.1 Các bài Tập làm văn liên quan đến kĩ năng Đáp lời 24 2.1.1 Mục tiêu của việc dạy học các bài Tập làm văn liên quan đến kĩ năng Đáp lời 24
2.1.2 Các dạng bài dạy liên quan đến việc rèn kĩ năng Đáp lời 25
2.2 Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch -
văn minh vào việc rèn kĩ năng Đáp lời đóng trong phân môn Tập làm văn
cho HS lớp 2 27 2.2.1 Yêu cầu cần đạt của kĩ năng Đáp lời đóng 27 2.2.2 Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng Đáp lời đóng trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2 27 2.3 Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng Đáp lời mở trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2 40 2.3.1 Yêu cầu cần đạt của kĩ năng Đáp lời mở 40
Trang 4văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng Đáp lời mở trong phân môn
Tập làm văn cho học sinh lớp 2 41
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52
3.1 Một số vấn đề chung 52
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 52
3.1.2 Nội dung thực nghiệm 52
3.1.3 Cơ sở và đối tượng thực nghiệm 86
3.1.4 Thời gian và quy trình thực nghiệm 86
3.2 Tiến trình triển khai thực nghiệm 87
3.3 Kết quả thực nghiệm 87
3.3.1 Kết quả định tính (qua điều tra quan sát và phiếu hỏi) 87
3.3.2 Kết quả định lượng (qua các bài kiểm tra) 88
3.3.3 Nhận xét chung 89
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
I Kết luận 91
II Kiến nghị 92
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 94
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 5VD
TN
ĐC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Quan điểm giao tiếp hay quan điểm phát triển lời nói là một trong
những nguyên tắc, phương hướng xây dựng chương trình môn Tiếng Việt cải
cách giáo dục ở Tiểu học Sự phát triển mạnh mẽ của Ngữ dụng học trong những năm gần đây đã đặt giao tiếp và hội thoại (HT) vào một vị thế mới
Trong chương trình môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học, HT gắn với tình
huống giao tiếp của Ngữ dụng học đã trở thành một nội dung học tập Phân môn Tập làm văn (TLV) là phân môn duy nhất rèn kĩ năng này cho học sinh (HS) Tiểu học
1.2 Mục tiêu của chương trình TLV lớp 2 thực chất là thông qua các bài
tập thực hành tổng hợp về Tiếng Việt, giúp HS củng cố, bổ sung kiến thức
(ngôn ngữ, đời sống), rèn luyện kĩ năng (nói - viết), qua đó nâng cao năng lực
tư duy, giáo dục tư tưởng, tình cảm và mĩ cảm cho các em Yêu cầu của tiết TLV lớp 2 mới dừng ở mức độ: bước đầu cho HS làm quen với việc tạo lập văn bản (nói - viết) qua từng công đoạn, từ các yêu cầu đơn giản như nhắc lại lời của người trong tranh , sắp xếp lại thứ tự tranh vẽ hoặc tình huống theo nội dung câu chuyện đã học cho đến quan sát tranh trả lời câu hỏi Còn việc nói hay viết một đoạn văn theo đề tài nhất định dựa vào hệ thống câu hỏi gợi
ý cho trước là nhằm chuẩn bị cho bước phát triển cao hơn ở lớp 3 và chuẩn bị
cho yêu cầu học TLV với quy trình đầy đủ ở lớp 4, 5 Chương trình TLV ở
lớp 2 có 31 tiết TLV (1 tiết/1 tuần) trên tổng số 35 tuần học Trong 4 tuần ôn tập giữa học kì I và giữa học kì II, cuối học kì I và cuối học kì II (mỗi tuần 10
tiết) cũng có nhiều bài tập thuộc phân môn TLV Khi HS học phân môn TLV,
các em sẽ được rèn luyện cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Ở hầu hết các nội dung, HS đều được rèn luyện cả hình thức nói và viết, thường là tập nói trước, tập viết sau Riêng học kì II có nhiều tiết HS được rèn về kĩ năng Đáp lời - một nghi thức lời nói quan trọng và phổ biến của cuộc sống, gắn với HT trong những tình huống giao tiếp cụ thể
1.3 Thanh lịch văn minh là nét đẹp truyền thống đã được nhiều thế hệ người dân Hà Nội tạo nên và lưu giữ Trân trọng, kế thừa và phát huy nét đẹp
ấy trong đời sống người Hà Nội hôm nay và mai sau là trách nhiệm, là niềm
Trang 7tự hào và vinh dự của người dân Thủ đô, trong đó có thế hệ trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường Bắt đầu từ năm học 2010 - 2011, chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh cho HS Hà Nội đã được đưa vào giảng dạy trong các trường Phổ thông của thành phố Hà Nội Những nội dung của chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh có mối liên hệ chặt chẽ với lí thuyết HT nói chung và việc rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) của HS lớp
2 nói riêng
1.4 Việc đưa Giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh và rèn kĩ năng Đáp lời vào chương trình học của HS lớp 2 đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nhận thức cũng như nội dung phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ và dạy ngoại ngữ Tuy nhiên do hiểu biết về lí thuyết Ngữ dụng học nói chung và
lí thuyết HT nói riêng của giáo viên (GV) tiểu học còn hạn chế, kinh nghiệm của GV còn ít ỏi cho nên nhiều GV còn gặp khó khăn khi muốn dạy hiệu quả dạng bài rèn kĩ năng Đáp lời sao cho vừa đúng quy tắc HT vừa thanh lịch - văn minh
Đó chính là những lí do cơ bản khiến chúng tôi chọn đề tài Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong việc rèn kĩ năng Đáp lời ( phân môn Tập làm văn) cho học sinh lớp 2
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề hội thoại
Hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ, vì vậy lí thuyết HT là một phần không thể thiếu của Ngữ dụng học Từ năm 1970, HT trở thành đối tượng chính thức của một phân ngành Ngôn ngữ học, ngành phân tích HT Cho đến nay thì Ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó
có Việt Nam đều bàn đến HT
Trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ học - tập 2 Ngữ dụng học, tác giả Đỗ
Hữu Châu đã giải thích: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến trong sự hành chức của ngôn ngữ.” Lí thuyết HT là lĩnh vực nghiên cứu cuối cùng của ngôn ngữ học quan tâm đến các diễn ngôn trong hoạt động, trong hoàn cảnh giao tiếp Chính vì vậy, nghiên cứu HT phải vận dụng tổng hòa những tri thức về cấu trúc ngôn ngữ, những tri thức ngữ dụng
và cả những tri thức xã hội học, tâm lí học, văn hóa học Mặt khác qua nghiên
Trang 8cứu HT, chúng ta mới có được hiểu biết đầy đủ, toàn diện tất cả những thành
tố tạo nên ngôn ngữ và những thành phần nằm trong lĩnh vực Ngữ dụng học vốn từng được xem xét riêng rẽ trước đây
Ở cuốn Dụng học Việt ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã trình bày
những vấn đề của lí thuyết HT bằng những dẫn chứng sinh động cụ thế, bằng
sự sáng rõ trong phân tích, mạch lạc trong cách trình bày Trong cuốn sách này, tác giả cũng không quên đề cập đến mối liên quan giữa văn hóa và ngôn ngữ để từ đó xác định lí thuyết HT nên đi theo hướng nào để phát hiện và để khai thác các nhân tố văn hóa có thể có Song làm thế nào để vận dụng được lí
thuyết HT vào dạy học các môn Tiếng Việt cho HS tiểu học để các em có thể
giao tiếp một cách có văn hóa, thanh lịch? Đó là nội dung cuốn sách này chưa bàn đến
Ngoài hai công trình đó còn có rất nhiều công trình nghiên cứu có tính dẫn luận về Ngữ dụng học nói chung và lí thuyết HT nói riêng như:
- Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục
- Đỗ Hữu Châu (2002), Giáo trình giản yếu về Ngữ dụng học, Nhà xuất
bản Giáo dục
- Đỗ Thị Kim Liên (2005), Giáo trình Ngữ dụng học, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội
Một ngành khoa học mới bao giờ cũng có một hệ thống thuật ngữ mới Tác giả của các công trình này đã có những cố gắng đáng kể đưa khái niệm nền tảng của Ngữ dụng học đến với đông đảo bạn đọc Bên cạnh đó, họ đã không quên đề cập đến văn hóa và ngôn ngữ, hình thành cho mọi người một cái nhìn tổng thể để từ đó xác định rõ khi nghiên cứu Ngữ dụng học cần đi theo hướng nào để phát hiện, khai thác các nhân tố văn hóa có thể có Các công trình này đều mang tính ứng dụng cao, có tác dụng thúc đẩy Ngữ dụng học ở Việt Nam phát triển mạnh hơn, cố gắng tiến kịp với Ngữ dụng học thế giới
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh Thủ đô
Nhân kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, bên cạnh những công trình lớn được xây dựng để chào mừng Đại lễ kỉ niệm, thực trạng văn hóa giao tiếp, ứng xử, nếp sống văn minh của người Hà Nội là mối quan tâm của
Trang 9các nhà quản lý, nhà giáo dục và của toàn xã hội Thực tế, Hà Nội chưa có chương trình, tài liệu chính thức nào giáo dục Nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Vì vậy, thực hiện Chương trình 08-CT ngày 04/8/2006 của Thành ủy
Hà Nội, Kế hoạch số 55/KH-UBND ngày 29/9/2006 của UBND Thành phố
Hà Nội về “Phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, thiết thực kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội”; căn cứ ý kiến chỉ đạo UBND Thành phố tại văn bản số 1319/VX-KG&VX ngày 03/6/2009, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Nhà xuất bản Hà Nội xây dựng Đề án biên soạn Bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh” để đưa vào giảng dạy cho HS các trường phổ thông ở Hà Nội
Bộ tài liệu biên soạn cho từng cấp bao gồm tài liệu dành cho HS và tài liệu hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên (GV) Cách biên soạn bộ tài liệu đảm bảo tính đồng tâm, phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông và không làm quá tải chương trình Nội dung của bộ tài liệu đã khơi dậy được trong các
em niềm tự hào, mong muốn kế thừa truyền thống thanh lịch, văn minh, nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Hà Nội Bộ tài liệu cũng tuyên truyền trách nhiệm của HS Thủ đô trong việc xây dựng nếp sống thanh lịch, văn minh; tạo
sự chuyển biến từng bước về nhận thức và hành vi trong sinh hoạt đời sống hằng ngày; từ đó góp phần đào tạo, xây dựng các thế hệ người Hà Nội ngày càng thanh lịch, văn minh để xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, tươi đẹp
Bên cạnh đó, còn có thể kể ra rất nhiều tài liệu nghiên cứu về Nếp sống thanh lịch, văn minh như:
- Nguyễn Viết Chức (Chủ biên) (2001), Nếp sống người Hà Nội, Viện
Văn hóa và nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội
- Hoàng Đạo Thúy (2010), Nét văn hóa thanh lịch của người Hà Nội,
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
- Thái Hà (2009), Bé học ứng xử văn minh, Nhà xuất bản Thời đại
- Giang Quân (2010), Văn hóa gia đình người Hà Nội, Nhà xuất bản
Thời đại
Nhưng tất cả các tài liệu kể trên mới nói về cách ứng xử trong gia đình, ngoài xã hội sao cho thanh lịch, văn minh Hiện nay chưa có bất kì một tài liệu nào nghiên cứu về vấn đề Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho
Trang 10HS Thủ đô và càng không có tài liệu nào nghiên cứu về cách tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc dạy các môn học trong nhà trường
2.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy - học phân môn Tập làm văn trong trường Tiểu học
Về phân môn TLV trong trường Tiểu học đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu và thể hiện rõ quan điểm của mình qua các công trình nghiên cứu như Nguyễn Trí, Lê Phương Nga, Nguyễn Minh Thuyết
Tác giả Nguyễn Trí trong một công trình cùng đồng tác giả Lê Phương
Nga cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt đã thể hiện chiến lược dạy học
Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Đó là hướng đi đúng, có cơ sở khoa học vững chắc song tác giả chưa đi sâu vào vấn đề dạy TLV, đặc biệt là kĩ năng Đáp lời
Trong một cuốn khác - Một số vấn đề dạy Tiếng Việt theo quan điểm
giao tiếp ở Tiểu học - tác giả Nguyễn Trí đã đưa ra được quy trình dạy TLV có
vận dụng lí thuyết HT Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu lí luận, giới thiệu kinh nghiệm ban đầu chứ chưa có được những hướng dẫn cụ
thể về việc rèn kĩ năng Đáp lời - một phần quan trọng của kĩ năng nói - trong
phân môn TLV
Còn ở cuốn Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh tiểu học, tác giả
Nguyễn Trí đã đưa ra quan điểm dùng thực hành giao tiếp để hình thành các
kĩ năng nói trong dạy TLV Tuy vậy, tác giả mới đưa ra được các bước triển khai trao lời đáp bằng nghi thức lời nói phù hợp chứ chưa đưa ra được cách đáp lời sao cho văn minh, lịch sự
Với cuốn Hỏi - Đáp về dạy Tiếng Việt 2, tác giả Nguyễn Minh Thuyết
đã phân tích được nhiệm vụ chính của môn TLV, mối quan hệ giữa TLV với
các loại bài học khác trong Tiếng Việt đồng thời tập trung giúp người đọc thấy
được mức độ yêu cầu và các dạng bài TLV ở trường Tiểu học Tuy nhiên chương trình TLV hiện nay đã một số thay đổi với những dạng bài và mức độ yêu cầu cũng phát triển hơn nên nhận định của tác giả cũng bị hạn chế
Những công trình nghiên cứu trên tuy chưa bàn đến một cách cụ thể những vấn đề mà luận văn quan tâm Song đó là những gợi ý cần thiết định
Trang 11hướng cho việc nghiên cứu luận văn Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong việc rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn Tập làm văn) cho học sinh lớp 2
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc vận dụng lí thuyết HT, tích
hợp nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) cho HS lớp 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Các bài TLV dạy kĩ năng Đáp lời cho HS lớp 2 có liên quan đến HT và có thể tích hợp với nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh
Giới hạn phạm vi thực nghiệm: Việc thực nghiệm (TN) được thực hiện tại trường Tiểu học Kim Đồng - Quận Ba Đình (nội thành Hà Nội) và trường Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa lí thuyết HT và nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh với việc rèn kĩ năng Đáp lời trong phân môn
TLV lớp 2
- Làm rõ sự cần thiết phải vận dụng lí thuyết HT, tích hợp giáo dục nếp
sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) cho
HS lớp 2
- Làm rõ hiệu quả của việc vận dụng lí thuyết HT, tích hợp giáo dục
nếp sống thanh lịch - văn minh khi rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) cho
HS lớp 2
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về lí thuyết Ngữ dụng học (lí thuyết HT)
Trang 12- Nghiên cứu về đặc điểm tâm lí và ngôn ngữ lứa tuổi (lớp 2)
- Nghiên cứu về chương trình sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy, thực tế việc dạy học rèn kĩ năng Đáp lời trong phân môn TLV lớp 2
- Thực nghiệm
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp thống kê, phân loại được sử dụng để thống kê, phân loại các bài TLV trong chương trình, các phiếu điều tra, bài kiểm tra của HS để rút
ra những kết luận cần thiết của luận văn
5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp này được vận dụng khi nghiên cứu phân tích các tài liệu
về lí thuyết HT, các tài liệu liên quan đến nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Hà Nội, các tài liệu về tâm lí lứa tuổi, đặc điểm ngôn ngữ của HS Tiểu học, các tài liệu về chương trình, sách giáo khoa (SGK), phương pháp dạy học, đặc biệt tài liệu về đổi mới phương pháp rèn kĩ năng Đáp lời để tìm ra cơ sở khoa học về HT và xác định những tiền đề tâm lí cho việc rèn kĩ năng Đáp lời theo hướng vận dụng lí thuyết HT, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Sau khi phân loại, cần tiến hành so sánh, đối chiếu các bài trong chương trình để tìm ra điểm giống và khác nhau, phần kiến thức nào hay, mở rộng, có ích cho việc thu nhận kiến thức của HS
5.4 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này vận dụng trong quá trình quan sát, dự giờ, tìm hiểu để nắm bắt tình hình rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) ở trường Tiểu học bao gồm hoạt động dạy học, chất lượng dạy học, xu thế dạy học để rút ra được những nhận định về thực trạng cũng như hướng phát triển của phương pháp rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) cho HS lớp 2 hiện nay
Trang 13Phương pháp này cũng vận dụng trong việc định hướng thiết kế các bài dạy kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) vận dụng theo lí thuyết HT, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh; hướng dẫn GV thực hiện mô hình thiết kế, quy trình hoạt động, chọn và tổ chức dạy TN ở trường Tiểu học có đối chứng (ĐC); tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả (bằng phiếu điều tra, bài kiểm tra) của
HS cả trước và sau quá trình học tập có so sánh với lớp ĐC
6 Giả thuyết khoa học
Đề tài thực hiện thành công sẽ giúp HS rèn kĩ năng Đáp lời phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp sao cho thanh lịch - văn minh từ đó có ý thức rèn kĩ năng Đáp lời phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp; yêu thích phân môn TLV, yêu thích bộ môn Tiếng Việt và hình thành tình yêu tiếng mẹ đẻ, tình yêu nét đẹp thanh lịch, văn minh trong giao tiếp ứng xử của người HS Thủ đô
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn Tập làm văn) cho học sinh lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14
PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Lí thuyết hội thoại
1.1.1.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ,
nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác [7; tr.201]
1.1.1.2 Đơn vị hội thoại
Các đơn vị HT gồm: cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại (lưỡng thoại); tham thoại và hành vi ngôn ngữ (đơn thoại) Liên quan đến đề tài này là các
đơn vị lưỡng thoại
Ví dụ (VD): Đoạn đối thoại của mẹ Sơn và Nam trong Bài tập 3 (Tiết
TLV: Đáp lời chào, lời tự giới thiệu - sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 12) là một cuộc
thoại
Đoạn thoại
Về nguyên tắc, có thể định nghĩa “đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng” [7; tr.313].Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề
Cấu trúc tổng quát của một cuộc HT có thể là: đoạn thoại mở thoại, các đoạn thân thoại và đoạn thoại kết thúc
Trang 15Đoạn thoại mở thoại phần lớn là công thức hoá, có tác dụng mở ra mối quan hệ giữa các nhân vật Người mở thoại thường tránh sự xúc phạm đến thể
diện của người nghe, chuẩn bị một “hoà khí” cho cuộc thoại
VD: Đoạn thoại mở đầu trong Bài tập 3 (Tiết TLV Đáp lời chào, lời tự giới
thiệu - sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 12) như sau:
- Mẹ Sơn: Chào cháu
- Nam: Cháu chào cô ạ
Các đoạn thân thoại có thể gồm một vài đoạn thoại để phát triển nội dung
đề tài cuộc thoại
VD: Đoạn thoại kế tiếp trong Bài tập 3 (Tiết TLV Đáp lời chào, lời tự
giới thiệu - sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 12) là đoạn thân thoại:
- Mẹ Sơn: Cháu cho cô hỏi đây có phải nhà bạn Nam không?
- Nam: Vâng ạ, cháu là Nam đây! Cô hỏi gì cháu ạ?
- Mẹ Sơn: Tốt quá Cô là mẹ bạn Sơn đây
- Nam: Thế ạ
- Mẹ Sơn: Sơn bị sốt Cô nhờ cháu chuyển giúp cô đơn xin phép cho Sơn
nghỉ học
- Nam: Vâng ạ Cháu sẽ chuyển
Đoạn thoại kết thúc có chức năng đóng cuộc thoại
Cặp thoại
Một cặp thoại tối thiểu chỉ gồm một lời trao (lời dẫn nhập) và một lời đáp (lời hồi đáp) Đó là cặp thoại điển hình sau:
- Mẹ Sơn: Cháu cho cô hỏi đây có phải nhà bạn Nam không?
- Nam: Vâng ạ, cháu là Nam đây! Cô hỏi gì cháu ạ?
Quy luật thông thường là trao gì, đáp nấy Tuy vậy cũng có trường hợp
có cặp thoại chỉ có lời trao mà không có lời đáp mà thay thế vào đó là hành động cụ thể
VD: Trong đoạn thoại trên, sau khi Nam nhận mình đúng là người mẹ Sơn cần tìm thì mẹ Sơn có thể gật đầu đưa luôn cho Nam lá đơn xin phép
nghỉ ốm của Sơn
Trang 161.1.1.3 Quy tắc hội thoại
Quy tắc HT là những quy tắc bất thành văn nhưng được xã hội chấp nhận và những người tham gia HT phải tuân theo khi thực hiện các vận động
HT để cho cuộc thoại vận động như mong muốn
Các quy tắc HT:
Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời:
Một cuộc HT phải có người nói và người nghe Người nói có người nghe và ngược lại Khi có hai người HT, người kia phải nói khi người này nhường lời cho anh ta theo cách lời người này kế tiếp lời người kia, không có
sự dẫm đạp lên lời của nhau Không thể vì vội mà cả hai cùng tranh nhau nói,
như vậy sẽ không đạt được hiệu quả giao tiếp
Các lượt lời có thể được một người điều khiển phân phối hoặc do các nhân vật HT tự thương lượng một cách không tường minh với nhau Người nói nên biết kết thúc lượt lời của mình đúng lúc để nhường lời cho người khác thì mới tỏ ra là người biết trò chuyện lịch sự và là người nói chuyện có duyên Tránh tình trạng nói quá dài, quá lâu sẽ làm cho người nghe sốt ruột và sẽ ngắt lời, hoặc vì lịch sự, họ lơ đãng, không còn chú ý đến những điều mà bạn đang nói
Dấu hiệu của sự kết thúc lượt lời là sự trọn vẹn về ý, sự trọn vẹn về cú
pháp, ngữ điệu, các câu hỏi, các tiểu từ tình thái cuối câu “nhé”, “nghen” …
VD: Đoạn đối thoại trong phần a của Bài tập 2(Tiết TLV Đáp lời đồng ý -
sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 66):
- Hương cho tớ mượn cái tẩy nhé
- Ừ
- Cảm ơn cậu nhé
Qui tắc chi phối cấu trúc HT
Một cuộc HT không phải là sự lắp ghép ngẫu nhiên, tùy tiện các phát ngôn, các hành động ngôn ngữ Các phát ngôn, các hành động ngôn ngữ trong một cuộc HT phải liên kết với nhau Nguyên tắc này không chỉ chi phối các ngôn bản đơn thoại mà chi phối cả các lời tạo thành một cuộc HT Nếu giữa
các lời của các nhân vật HT không có liên kết thì một “cuộc HT giữa những
người điếc” sẽ xảy ra, trong đó “ông nói gà, bà nói vịt”
Trang 17Tính liên kết HT thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hành động ngôn ngữ, giữa các đơn vị HT ở cả hai phương diện nội dung và hình thức
Qui tắc điều hành nội dung hội thoại
Cuộc HT nào cũng có nội dung Các nội dung này lại được thể hiện trong nội dung các lượt lời Sự phát triển của nội dung HT để đạt đến đích của cuộc HT phụ thuộc rất nhiều vào nội dung các lượt lời Quy tắc luân phiên lượt lời bảo đảm sự kế tiếp các lượt lời về mặt hình thức để sự phát triển HT được liên tục và hợp lí Còn quy tắc điều hành nội dung HT sẽ điều hành quan
hệ và nội dung giữa các lượt lời Sự điều hành này đòi hỏi mỗi người tham gia
HT phải đảm bảo hai yêu cầu: Lời nói của họ phải phù hợp với đề tài và nội dung cuộc thoại ở thời điểm họ tham gia; lời nói của họ phải phù hợp với đích của HT
Vì vậy người tham gia HT phải thực hiện bốn phương châm sau:
- Phương châm về lượng: Phương châm này đòi hỏi lời nói phải có nội dung Không nên nói quá ít hoặc quá nhiều những điều không đúng với đích cuộc thoại Nếu nói quá nhiều sẽ làm người nghe mệt mỏi dẫn đến lơ đãng, không còn chú ý đến cuộc thoại
- Phương châm về chất: Phương châm này khuyên người nói: Hãy nói
những điều anh tin rằng đúng hoặc có bằng chứng xác thực Không nên nói
những điều không có căn cứ chắc chắn, mình không tin lắm Khi có vấn đề gì
đó chưa rõ, chưa xác định thì nên có sự tìm hiểu, kiểm tra lại thông tin hoặc tra cứu lại cẩn thận
- Phương châm về cách thức: Nên nói một cách rõ ràng, mạch lạc, có
hệ thống và có tính lôgic chặt chẽ để người nghe dễ nhận ra ý mà người nói định nói Tránh lời nói mập mờ, tối nghĩa, gây sự hiểu lầm
- Phương châm về quan hệ (còn gọi là phương châm quan yếu): Cần trình bày sao cho câu chuyện của bạn có quan hệ với câu chuyện đang diễn ra
Qui tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại - phép lịch sự
Theo cách hiểu thông thường, lịch sự có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là có
thái độ nhã nhặn, lễ độ khi tiếp xúc, phù hợp với quan niệm và phép tắc xã giao của xã hội, VD: nói năng lịch sự Nghĩa thứ hai là đẹp một cách sang
Trang 18trọng và trang nhã, VD: ăn mặc lịch sự Trong hai nghĩa trên, nghĩa thứ nhất
gắn với các hoạt động giao tiếp, hội thoại [34; tr.189]
Theo các nhà Ngữ dụng học, lịch sự là một qui tắc quan trọng của lí thuyết HT liên quan đến phương diện liên cá nhân trong các cuộc giao tiếp, trò chuyện Quan hệ liên cá nhân trong HT luôn được duy trì hay phát triển
theo hướng lợi ích các bên tham gia HT được hài hòa hay bị tổn thất
Lịch sự có liên quan đến thể diện những người tham gia HT Theo cách hiểu thông thường, thể diện là những cái làm cho người ta coi trọng mình khi
tiếp xúc (nói tổng quát), VD: giữ thể diện cho gia đình [34; tr.189]
Nói đến qui tắc lịch sự trong HT là nói đến hành vi đe dọa thể diện hay
tôn vinh thể diện Trong giao tiếp, HT, hầu hết các hành vi ngôn ngữ đều tiềm
ẩn khả năng làm tổn hại đến các thể diện kể trên Lịch sự trong giao tiếp đòi
hỏi khi giao tiếp, các đối tác cần giữ thể diện cho mình và cho người Khi có hành vi ở lời hoặc hoạt động nào có nguy cơ làm mất thể diện của đối tác thì cần có hành vi cứu vãn thể diện Hoạt động cứu vãn thể diện là “tất cả những
điều mà một người phải làm để nhằm làm sao cho hành động của anh ta không làm mất thể diện cho ai, kể cả thể diện của chính mình.” (Goffman)
Phép lịch sự trong HT có quan hệ mật thiết với đặc thù văn hóa từng
dân tộc VD: Người phương tây, khi giao tiếp, cấm kị việc hỏi tuổi (nhất là
với phụ nữ) Với người phương đông thì ngược lại Hỏi tuổi chứng tỏ sự quan tâm tới người đối thoại với mình
Phép lịch sự trong HT liên quan đến đức tính khiêm tốn Tuy nhiên không phải lúc nào khiêm tốn cũng là lịch sự Tự khen mình quá hoặc tự chê mình quá lời… cũng đều là không lịch sự vì đó đều là cách đề cao cái tôi, đều thiếu khiêm tốn do đó thiếu lịch sự
1.1.1.4 Các vận động hội thoại
Trong bất cứ cuộc HT nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp và tương tác
Vận động trao lời: là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và
hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra là dành cho mình
Trang 19Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là điều tất yếu Sự có mặt của Sp1 thể hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, ở quan điểm của Sp1 trong nội dung lượt lời trao; ở dấu hiệu bổ sung cho lời nói (điệu bộ,
cử chỉ gãi đầu, vỗ ngực, đập bàn…)
Sự có mặt của Sp2 thể hiện qua những yếu tố ngôn ngữ tường minh như lời hô gọi, chỉ định, những lời thưa gửi và các từ nhân xưng ngôi thứ 2; những yếu tố hàm ẩn như những tiền giả định giao tiếp, những biểu hiện mà Sp1 và Sp2 đã có chung; ở hứng thú hoặc tâm trạng của Sp2 mà Sp1 đã nhận biết trước khi trao lời
Vận động trao đáp: là vận động mà khi Sp2 đáp lời Sp1, có sự lần lượt
thay đổi vai nói, vai nghe giữa các nhân vật giao tiếp là trao đáp Chỉ khi Sp2 hồi đáp lại lượt lời của Sp1 thì mới thực sự có vận động trao đáp, HT mới chính thức được hình thành
Sự hồi đáp có thể bằng các hành động ngôn ngữ tương thích với hành động dẫn nhập lập thành cặp như hỏi - trả lời, chào - chào, cầu khiến - nhận lời…; cũng có thể được thực hiện bằng những hành động bất kì, không tương thích với hành động dẫn nhập
Ngay cả những hành động tự thân không đòi hỏi sự hồi đáp như hành động cảm thán vẫn cần được hồi đáp
Vận động tương tác: là kết quả sự phối hợp của các nhân vật giao tiếp
trong suốt quá trình diễn ra cuộc thoại Các nhân vật sẽ tác động qua lại lẫn nhau, làm biến đổi lẫn nhau
Trước khi HT, giữa các thoại nhân có sự khác biệt đối lập, thậm chí trái ngược nhau về các mặt (hiểu biết, tâm lí, tình cảm…)
Trong HT và qua HT, khoảng giao nhau giữa các mặt của người đối thoại mở rộng dần và một cuộc HT thành công là cuộc thoại mà sau đó sự khác biệt nói trên bị mất đi (dĩ nhiên có những cuộc HT không thành công, khoảng bất đồng vẫn y nguyên, thậm chí còn mở rộng ra)
Trong HT, một lời nói bị chấm dứt khi người kia không tỏ ra chú ý đến nội dung của nó, lảng xa nó Lúc này người nói phải tìm cách hòa phối lại cuộc HT bằng cách kéo đối phương trở lại câu chuyện và khi thấy rằng đã kéo lại được rồi thì cần khởi động lại câu chuyện
Trang 20Tương tác là một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người Hễ có một hoạt động xã hội thì có sự tương tác Tương tác bằng lời chỉ là một trong những dạng tương tác giữa người với người Có tương tác bằng lời mà cũng
có tương tác không bằng lời Giữa tương tác bằng lời và tương tác không bằng lời có những yếu tố đồng nhất: đầu tiên là khái niệm lượt lời Trong HT, điều quan trọng là người trong cuộc phải tuân theo những quy tắc nhất định thì mới có sự phân chia “lượt” Nếu người này nói tranh phần của người kia (cướp lời người khác) thì gọi là vi phạm “lượt lời”, còn nếu cả hai người đối thoại tranh nhau nói hoặc ngắt quãng không chịu nói thì dẫn tới sự “trật khớp”
về lượt Ngoài ra giữa tương tác bằng lời và tương tác không bằng lời còn có
sự đồng nhất về cặp khái niệm kế cận được điều khiển bởi quy tắc giữ sự cân bằng trong tương tác
Cuối cùng, trong tương tác còn có những cặp trao đáp củng cố và sửa chữa Trao đáp củng cố nhằm thiết lập hay làm vững chắc quan hệ giữa người trong cuộc để cuộc tương tác đạt hiệu quả Khi chúng ta xúc phạm hoặc cho rằng mình xúc phạm đến người cùng tham gia vào một hoạt động xã hội với mình, chúng ta thực hiện cặp trao đáp sửa chữa Sự sửa chữa có thể bằng lời: xin lỗi, tỏ ra ân hận, mà cũng có thể không bằng lời: cười, đưa quà tặng, tự tay sửa chữa lại cái mình làm hỏng
Ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng cho một cuộc thoại Những quy tắc, cấu trúc và chức năng trong HT đều bắt nguồn từ ba vận động trên, chủ yếu là vận động tương tác
Trong thực tế, khi rèn kĩ năng Đáp lời ở phân môn TLV lớp 2, có trường hợp HS không chịu nói lời đáp (im lặng) hoặc nếu bắt buộc phải đáp lời thì đọc lại lời đáp mẫu trong sách
1.1.2 Cơ sở Tâm lí học
1.1.2.1 Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi học sinh lớp 2
Ở mỗi độ tuổi khác nhau, việc tiếp nhận tiếng mẹ đẻ của trẻ em đều
chịu sự chi phối của sự phát triển tâm sinh lí Dạy Tiếng Việt nói chung, dạy
TLV nói riêng, chúng ta phải chú ý đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi để từ đó tìm
ra phương hướng, biện pháp giảng dạy thích hợp
Trang 21Đối với HS ở độ tuổi 7 - 8, tư duy, cách suy nghĩ mang tính chất cảm tính, hình tượng cụ thể Tuy nhiên, HS lớp 2 đã có một bước phát triển cao hơn về tư duy - đánh dấu sự nhảy vọt về tâm lí Các em đã bước đầu suy nghĩ một cách trừu tượng và khái quát hơn
Nhưng trong cùng một lớp học, một trường, cùng một độ tuổi nhưng sự phát triển tâm lí ở từng HS có sự phát triển không đồng đều Ngoài ra với HS tiểu học, đặc biệt là HS lớp 2 thường tiếp nhận đối tượng bằng những hình ảnh cảm tính, những biểu tượng cụ thể Bên cạnh đó còn có quy luật tâm lí: càng nhiều cơ quan cảm giác tham gia vào việc tiếp nhận đối tượng thì đối tượng ấy càng khắc sâu trong trí nhớ một cách bền vững Chương trình TLV ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng đã bước đầu chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi để xây dựng nội dung, cấu trúc chương trình
Vì vậy để có phương pháp dạy đúng đắn, khoa học, phù hợp với trình
độ của HS và bài giảng có sức cuốn hút, người GV cũng cần nắm chắc những đặc điểm tâm lí nổi bật của lứa tuổi Như vậy, việc dạy - học TLV sẽ đạt được kết quả tốt như mong muốn
1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ của lứa tuổi học sinh lớp 2
Khi bước chân đến trường Tiểu học, hầu hết trẻ đã có ngôn ngữ nói thành thạo Các em đã biết diễn đạt bằng lời nói những suy nghĩ của mình cũng như có thể thông hiểu ngôn ngữ nói của người khác
Vốn từ của HS lớp 2 tăng lên rất nhiều do được học nhiều môn học, phạm vi tiếp xúc được mở rộng Không chỉ là số lượng từ mà việc hiểu ý nghĩa khái quát của từ cũng phát triển ở trẻ Trẻ ngày càng dùng từ chính xác hơn, hợp văn cảnh hơn Có thể nói, ngôn ngữ của HS lớp 2 phát triển ở cả ba mặt: ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Nhờ có ngôn ngữ viết, trẻ có khả năng tự học mà không cần sự giúp đỡ trực tiếp của GV Ngôn ngữ phát triển đã trở thành điều kiện cho các quá trình nhận thức của trẻ tiểu học phát triển mạnh
Tư duy, tưởng tượng chỉ có thể mang tính khái quát và trừu tượng khi dựa trên phương tiện ngôn ngữ Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho HS là nhiệm
vụ cực kì quan trọng của GV và nhà trường Tiểu học Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý: chuẩn xác trong phát âm, tìm biện pháp làm giàu vốn từ cho trẻ, rèn luyện ngôn ngữ nói, viết cho các em ngay từ lớp 1, uốn nắn kịp thời những sai sót trong ngôn ngữ của HS, đặc biệt là những thói quen như
Trang 22nói ngọng, nói lắp, nói trống không,… Muốn vậy bản thân GV phải có ngôn ngữ chuẩn mực, trong sáng, ngữ điệu phù hợp khi dạy học - giao tiếp với các em
1.1.3 Nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh lớp 1, 2 liên quan đến kĩ năng Đáp lời
Chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Thủ đô tập trung vào 5 nội dung chính:
Nội dung 1: Khái niệm thanh lịch - văn minh
Nội dung 2: Phong cách thanh lịch - văn minh
Nội dung 3: Giao tiếp thanh lịch - văn minh
Nội dung 4: Ứng xử thanh lịch - văn minh nơi công cộng
Nội dung 5: Ứng xử thanh lịch - văn minh với thiên nhiên, môi trường
Với những nội dung trên thì ở lớp 1 và lớp 2 tập trung chỉ dẫn hành vi
cá nhân cụ thể về ăn, mặc, nghe, nói, cử chỉ cơ bản Các nội dung đề cập ở mức độ sơ đẳng nhất, chỉ nêu hiện tượng đúng sai để HS nhận thức từ đó làm theo cái đúng mà không cần giải thích phân tích kĩ Trong những nội dung trên, ở chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh của lớp 1và lớp
2 chỉ có những bài sau liên quan đến kĩ năng Đáp lời:
Bài 3 Bữa ăn trong gia đình
Bài 4 Bữa ăn bán trú
Bài 2 Tôn trọng người nghe
Bài 3 Bữa ăn cùng khách
Bài 4 Sinh nhật bạn
Trang 23ủi (Tuần 33) ở hai trường Tiểu học Kim Đồng - Quận Ba Đình (nội thành Hà
Nội) và Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội) trong năm học 2011 - 2012 Các vấn đề chúng tôi tập trung theo dõi trong các tiết dự giờ là: Quy trình dạy học TLV, kĩ năng Đáp lời của HS, mối liên hệ giữa nội dung bài học và nội dung chương trình nếp sống thanh lịch - văn minh đã được học,
giữa HS với GV, giữa HS với HS Nói chung cách thức dạy học đã có những
chuyển biến theo hướng tăng cường hoạt động của HS Người GV khi dạy kĩ năng Đáp lời trong giờ TLV nhìn chung đã biết tổ chức cho HS tham gia vào hoạt động giao tiếp trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể nhưng chưa biết uốn nắn cho HS khi đáp lời có sai sót Một đặc điểm tâm lí khá phổ biến của GV khi dạy TLV là rất ngại dạy kĩ năng nói, mà kĩ năng Đáp lời đòi hỏi HS phải nói rất nhiều Điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là GV chưa được trang bị đầy đủ những vấn đề lí thuyết về HT đủ để rèn luyện cho các em hiệu quả Cho đến tận bây giờ, những vấn đề mang tính
lí thuyết thực sự khoa học chứ không phải là những vấn đề lí thuyết của sự đúc kết kinh nghiệm giảng dạy cũng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Ngoài
ra, vốn sống, vốn hiểu biết của các em về thanh lịch - văn minh còn chưa nhiều, đa số HS còn nhút nhát chưa có thói quen hoạt động độc lập Chính vì vậy, trong phần rèn kĩ năng Đáp lời của phân môn TLV lớp 2, nhiều HS chưa thể vận dụng vốn ngôn ngữ, kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt để mạnh dạn, tự tin trình bày ý kiến của mình và thực hành đáp lời theo tiêu chí thanh lịch - văn minh đã được học ở chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh Ngoài ra, đôi khi GV còn áp đặt coi hoạt động đáp lời là một cuộc hỏi đáp trong đó GV là người hỏi, HS là người trả lời Vì vậy, người học thụ động không quan tâm đến việc vận dụng những nghi thức lời nói ấy ở ngoài đời thường ra sao nên việc dạy chúng trở nên hình thức và sáo rỗng
Trang 241.2.1.2 Qua phiếu hỏi
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát 50 HS và 4 cô giáo ở hai trường: Tiểu học Kim Đồng - Quận Ba Đình (nội thành Hà Nội) và Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội) trong năm học 2011 - 2012 theo phiếu hỏi Nội dung phiếu hỏi (Phụ lục 1 - Phiếu 1) dành cho HS gồm 5 câu hỏi tập trung khảo sát xem có những hoạt động nào diễn ra, HS chú ý của vào vấn đề nào khi học các bài rèn kĩ năng Đáp lời và đặc biệt khảo sát sự hiểu biết của các em về nội dung Nếp sống thanh lịch - văn minh có liên quan đến
kĩ năng Đáp lời đó trong tiết TLV Kết quả là rất ít HS lựa chọn câu đáp án c của câu hỏi 1, 4, 5 là những câu nhằm khai thác hiểu biết về hoạt động HT trong giờ TLV của HS Đối với câu hỏi 2, 3 có rất nhiều em đã lựa chọn đáp
án b Điều đó cho thấy HS vẫn còn thụ động chưa có nhu cầu giao tiếp và không muốn giao tiếp trong khi học TLV
Đối với người dạy, chúng tôi khảo sát mối quan tâm của họ đối với hiệu quả của việc rèn kĩ năng Đáp lời cũng như hiểu biết của họ về nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh có liên quan và khảo sát xem họ thường gặp khó khăn gì cũng như họ có những mong muốn nào khi dạy nội dung Đáp lời trong các giờ TLV ở lớp 2 (Phụ lục 1 - Phiếu 2) Kết quả là đa
số GV đã lựa chọn đáp án a cho câu hỏi 1, 2, 4, 5 Ở câu hỏi 3 thì hầu hết GV đều lựa chọn đáp án c Như thế chứng tỏ ngay cả người dạy cũng không chú ý lắm đến việc dạy cho HS đáp lời sao cho đúng (quy tắc HT), cho hay (Nếp sống thanh lịch - văn minh) mà chỉ quan tâm xem HS của mình đã biết cách đáp lời chưa để dạy
1.2.1.3 Nhận xét
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi khẳng định việc rèn kĩ năng Đáp lời cho
HS sao cho đúng quy tắc HT và thanh lịch - văn minh rất được chú trọng trong môn TLV lớp 2 Dạy để các em có kĩ năng Đáp lời đúng và thanh lịch - văn minh là tâm điểm chú ý, là nơi để người GV chứng tỏ năng lực sư phạm của mình Và trong thực tế giảng dạy cũng như qua các tiết dự giờ, chúng tôi
nhận thấy việc rèn kĩ năng Đáp lời trong phân môn TLV lớp 2 vẫn còn tồn tại
một số nhược điểm:
Nhược điểm thứ nhất là: Người dạy coi việc dạy kĩ năng Đáp lời là một
cuộc hỏi - đáp Ở đó người GV xuất hiện với tư cách người hỏi, còn HS là người trả lời Ở đó, người GV không quan tâm đến hứng thú và sự chú ý của
Trang 25HS với những điều mình hỏi, cũng không quan tâm cách đáp lời của HS như thế nào, có đúng quy tắc HT không và đã thanh lịch - văn minh chưa? Kiểu dạy này khiến cho HS dễ dàng đáp lời theo khuôn mẫu sẵn có, không cần tham gia luyện tập vào các tình huống đáp lời trong đời thường là có thể hoàn thành bài tập Hoạt động chủ yếu của HS là nghe và trả lời HS sẽ nghe những điều thầy hỏi và chỉ việc nói theo Cách “dạy” này không đúng với quan điểm dạy học trong giao tiếp
Nhược điểm thứ hai là: Người dạy coi việc rèn kĩ năng Đáp lời là việc
làm bài tập Khi đó, người GV giao bài tập cho HS viết các câu đáp lời của mình vào vở Lúc này, cuộc đáp lời không diễn ra và vì vậy người học không được rèn luyện kĩ năng Đáp lời trong HT để biết đáp lời sao cho thanh lịch - văn minh
Thêm nữa, do tác động của “phong trào” đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường hoạt động của HS, đòi hỏi người GV phải biết sử dụng thiết bị dạy học và biết ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy nên
dù có rất nhiều ưu điểm thì thiết bị dạy học cũng cần được sử dụng hợp lí Bởi
vì, mặt mạnh của kĩ năng Đáp lời là phản xạ và cảm xúc từ tình huống thực tế chứ không phải cứng nhắc áp dụng một công thức giống nhau trong các tình huống tương tự
Từ thực tế trên, chúng tôi thấy yêu cầu đặt ra cho việc rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) là đi sâu nghiên cứu hơn nữa các kĩ năng Đáp lời để xác định các thao tác, xây dựng các đề bài gắn với tình huống đáp lời, tổ chức các tiết TLV để người học thấy hứng thú, có nhu cầu đáp lời một cách có văn hóa
và tích hợp được với chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh
đã được học, để từ đó vận dụng có hiệu quả trong cuộc sống
1.2.2 Thực trạng về tình hình giáo dục đạo đức, nhân cách của học sinh trong nhà trường
1.2.2.1 Qua khảo sát
Ngày 1/8/2008, ngành Giáo dục và đào tạo Hà Nội chính thức triển khai thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện Hà Nội được mở rộng địa giới hành chính Cùng với sự phát triển của Thủ đô, quy mô mạng lưới trường lớp của Giáo dục và đào tạo Hà Nội cũng được mở rộng, phân bổ từ thành phố đến các huyện vùng sâu, vùng xa Vì vậy, sự hợp nhất mặt bằng chất lượng và
Trang 26điều kiện cơ sở vật chất của các đơn vị cơ sở không đồng đều… Đặc biệt, trong xu thế hội nhập quốc tế về giáo dục, một vấn đề được đặt ra cho ngành giáo dục Thủ đô là cần phải đào tạo thế hệ HS không chỉ có tri thức về các ngành khoa học cơ bản mà còn được trang bị kiến thức về mọi mặt để phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ, vừa giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, vừa theo kịp xu hướng của thời đại
Trong những năm qua, công tác giáo dục đạo đức, xây dựng nhà trường văn hóa, HS thanh lịch luôn được các cấp, ban ngành quan tâm chỉ đạo Bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ Phần lớn các em HS có nhận thức đúng về phẩm chất tốt đẹp của con người Thủ đô Hà Nội như: HS phải học giỏi, ngoan, lễ phép với mọi người, không mắc tệ nạn xã hội, phải sống tốt với mọi người, luôn tiếp thu học hỏi những kiến thức mới của thời đại, trang phục đẹp, nói năng hòa nhã, hiếu khách, lịch sự trong quan hệ với người nước ngoài…
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế cho thấy ngành Giáo dục và đào tạo Thủ đô đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ Những năm gần đây, xuất hiện những biểu hiện chưa lành mạnh trong nhà trường: một số HS lười học, thiếu trung thực, chưa lễ phép, thiếu về kĩ năng sống và văn hóa sống… Tệ nạn xã hội cũng đã thâm nhập vào trường học: nói tục, chửi bậy, bạo hành, nghiện hút, tham gia đua xe máy, cờ bạc… Mặt trái của nền kinh tế thị trường phần nào làm phong hóa, lu mờ nhiều nếp sống đẹp của người Tràng An xưa; nét đẹp thanh lịch văn minh, nhất là trong giao tiếp ứng
xử không còn là nếp sống tự giác, phổ biến, chưa thành thói quen của người dân; việc giáo dục xây dựng những giá trị tốt đẹp trong quan hệ xã hội còn bị buông lỏng; một bộ phận thanh thiếu niên nhận thức lệch lạc, thiếu lòng tự hào và ý chí vươn lên Nguyên nhân của những yếu kém trên là do tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh, kèm theo những vấn đề xã hội nảy sinh chưa được quan tâm, giải quyết đúng mức Các lực lượng xã hội chưa thực sự quan tâm cùng ngành Giáo dục và đào tạo trong công tác giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật cho HS; đặc biệt sự quan tâm giáo dục trong các gia đình có phần lơi lỏng, thiếu sát sao, những giá trị truyền thống gia đình chưa được các bậc phụ huynh quan tâm giáo dục con em Ngoài những lí do trên còn phải kể đến môi trường xã hội ngày càng phức tạp mà bản thân HS chưa có ý thức tự giác rèn luyện, chưa hiểu rõ thế nào là người HS Thủ đô văn minh, thanh lịch; trong nhà trường còn thiếu các biện pháp đồng bộ, chưa tích cực và triệt để; môn
Trang 27học Đạo đức và Giáo dục công dân chưa được coi trọng đúng mức, nội dung, phương pháp còn nặng về lí thuyết, mang tính hàn lâm, chưa kịp thời đổi mới
để thích ứng với điều kiện hiện tại…; GV chưa tâm huyết; tài liệu về nếp sống thanh lịch - văn minh chưa có; mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường chưa chặt chẽ Những tồn tại trên đã làm ảnh hưởng tới công tác giáo dục trong nhà trường, làm hạn chế hiệu quả giáo dục đạo đức và pháp luật cho HS
1.2.2.2 Qua phiếu hỏi
Chúng tôi cũng khảo sát 50 HS và 4 cô giáo ở hai trường: Tiểu học Kim Đồng - Quận Ba Đình (nội thành Hà Nội) và Tiểu học Cầu Diễn - Huyện
Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội) trong năm học 2011 - 2012 theo phiếu hỏi Nội dung phiều hỏi dành cho HS (Phụ lục 1 - Phiếu 3) gồm 4 câu hỏi tập trung khảo sát sự hiểu biết của các em về những vấn đề đạo đức, phát triển nhân cách của mình và bạn mình trong thời buổi hiện nay, xem các em có hứng thú
gì khi học môn học Đạo đức và có thấy cần thiết phải áp dụng những điều được học vào thực tế cuộc sống không Còn nội dung phiếu hỏi dành cho GV cũng gồm 4 câu (Phụ lục 1 - Phiếu 4) nhằm khảo sát sự đánh giá của GV về nội dung chương trình môn Đạo đức xem đã phù hợp chưa, nội dung ấy có giúp HS nắm được những chuẩn mực đạo đức để phát triển nhân cách của các
em không và nhận xét của họ về tình hình đạo đức, phát triển nhân cách của
HS lớp mình giảng dạy Kết quả là với HS thì đa phần các em đều chọn đáp
án a ở câu hỏi 1, 3, 4 Còn đối với câu hỏi 2 thì HS đều cho rằng tất cả các đáp án là đúng Như vậy là HS cũng có những hiểu biết ban đầu về một người thanh lịch - văn minh và cần phải làm gì để trở thành người thanh lịch - văn minh như thế Đó là về phía người học, về người dạy thì hầu hết GV đều đồng
ý với tất cả các đáp án ở câu hỏi 1, 2 Trong câu hỏi 3, 4, đa số các thầy cô đều chọn đáp án a và b Điều đó chứng tỏ người GV Thủ đô ngày nay đều có những hiểu biết nhất định về chương trình giáo dục đạo đức trong nhà trường
và đều có mong muốn HS của mình trở thành những công dân tốt
1.2.2.3 Nhận xét
Như vậy, chương trình môn học Đạo đức và Giáo dục công dân của Bộ Giáo dục và Đào tạo được biên soạn để sử dụng thống nhất chung trong toàn quốc Chương trình đã cung cấp được kiến thức cơ bản cần thiết cho HS trên
cả 2 lĩnh vực giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật Nội dung SGK đã có nhiều đổi mới, góp phần trang bị kiến thức và trang bị kĩ năng sống cho HS
Trang 28Tuy nhiên do thời lượng còn hạn chế, các nội dung phải dàn trải trên nhiều lĩnh vực nên chưa có điều kiện đi sâu vào những khía cạnh cụ thể, chi tiết có tính đặc thù của địa phương, ở từng thời điểm cụ thể Những nội dung giáo dục kĩ năng sống chưa đủ rộng và sâu, chưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục hiện nay Với đặc thù riêng, Hà Nội hiện nay đã có một chương trình riêng để giảng dạy về truyền thống, về nếp sống thanh lịch, văn minh cho đối tượng
HS Tuy vậy để đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống lịch sử, hình thành
và khắc sâu trong các em ý thức kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của đất nước và Thủ đô, trân trọng bản sắc dân tộc; khơi dậy lòng tự hào, ý thức
tự tôn dân tộc thì đội ngũ GV giảng dạy cần có tâm huyết, kinh nghiệm và đặc biệt là phải có cách truyền thụ phù hợp, chủ động sáng tạo mới đáp ứng được những yêu cầu trên
* Tiểu kết 1
Những tiền đề khoa học (cả lí luận và thực tiễn) về lí thuyết HT, tâm lí học, giáo dục học và tình hình dạy kĩ năng Đáp lời trong phân môn TLV lớp 2 cũng như tình hình giáo dục đạo đức, nhân cách của HS trong nhà trường hiện
nay là cơ sở lí luận để nghiên cứu đề tài Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong việc rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn Tập làm văn) cho học sinh lớp 2
Dạy kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) ở lớp 2 là một hoạt động giao tiếp đặc biệt, bao gồm cả giao tiếp sư phạm và giao tiếp đời thường, cùng với những ưu thế của các hoạt động giao tiếp này có tác dụng làm tăng hiệu quả
kĩ năng nói và hiệu quả giáo dục HS lớp 2 có đầy đủ các điều kiện về tâm, sinh lí để tham gia vào quá trình HT
Chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh là một chương trình bổ ích, mang đến cho HS lớp 2 nói riêng, HS Tiểu học nói chung vốn hiểu biết phong phú về nếp sống, cách ăn mặc, nói năng của người Thủ đô thanh lịch, văn minh và có rất nhiều điểm tương đồng với nội dung rèn kĩ năng Đáp lời ở phân môn TLV lớp 2
Những yếu tố trên là tiền đề khoa học vững chắc để khẳng định: Vận
dụng lí thuyết HT, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong việc rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) cho HS lớp 2 là một nghiên cứu khả thi,
nếu thành công sẽ là một giải pháp góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp rèn kĩ năng Đáp lời trong trường Tiểu học hiện nay
Trang 29Chương 2
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT HỘI THOẠI, TÍCH HỢP GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ RÈN KĨ NĂNG ĐÁP LỜI (PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN) CHO HỌC SINH LỚP 2
2.1 Các bài Tập làm văn liên quan đến kĩ năng Đáp lời
2.1.1 Mục tiêu của việc dạy học các bài Tập làm văn liên quan đến kĩ năng Đáp lời
Chương trình TLV hiện nay được xây dựng phù hợp với mục tiêu giáo dục Tiểu học là đưa quan điểm giao tiếp hay quan điểm phát triển lời nói làm
phương hướng xây dựng chương trình môn Tiếng Việt cải cách giáo dục, đảm
bảo cho HS:
- Biết các nghi thức lời nói tối thiểu (chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, tán thành, từ chối, chia vui, chia buồn,…); biết sử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp nơi công cộng, ở gia đình, trong trường học và biết đáp lại những lời đó
- Có các kĩ năng phục vụ học tập và cuộc sống hàng ngày: khai bản tự thuật, viết thư ngắn để nhắn tin, chia vui hoặc chia buồn, tra mục lục sách, đọc thời khóa biểu, đọc và lập thời gian biểu…
- Biết nói, viết về những vấn đề thuộc chủ điểm: kể một sự việc đơn giản; tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh hoặc câu hỏi…
Trong chương trình TLV lớp 2, so với kĩ năng viết (chiếm 40%) thì kĩ năng nói được chú ý hơn rất nhiều (chiếm tới 60%) Trong kĩ năng nói như kĩ năng trao lời, kĩ năng kể chuyện, kĩ năng giới thiệu, kĩ năng Đáp lời thì kĩ năng Đáp lời chiếm 56% HS lớp 2 thường xuyên được chơi từng nhóm đóng vai ông già và các cháu nhỏ, người bán hàng và người mua hàng,… để luyện tập các nghi thức lời nói (chào hỏi khi gặp mặt, chia tay; nói lời và đáp lời cảm ơn, xin lỗi; yêu cầu đề nghị một việc gì,…) Hoạt động này vừa là một cách luyện tập để phát triển ngôn ngữ nói vừa giáo dục tác phong văn minh lịch sự Theo công văn số 5842/BGD ĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của
Trang 30Bộ Giáo dục và đào tạo (Chương trình giảm tải), HS lớp 2 sẽ học các kĩ năng
Đáp lời sau:
Tuần 19 Bốn mùa Đáp lời chào, lời tự giới thiệu
(Mỗi bài trên chỉ học 1/2 tiết vì mỗi tiết TLV gồm hai nội dung)
2.1.2 Các dạng bài dạy liên quan đến việc rèn kĩ năng Đáp lời
Giao tiếp được chia thành hai dạng: HT và độc thoại Nghi thức lời đáp thuộc dạng HT là nghi thức đã được xã hội quy thành chuẩn mực được dùng phổ biến trong giao tiếp Việc dạy sử dụng nghi thức lời đáp được tập trung chủ yếu ở lớp 2
Trong nghi thức lời đáp có tình huống Đáp lời đóng và tình huống Đáp lời mở Đây là hai khái niệm cần nắm vững khi dạy học đáp lời
Đáp lời đóng là tình huống đáp lời chỉ đòi hỏi người tham gia đáp lời thực hiện một lượt lời đáp để hoàn thành và cũng là để kết thúc tình huống đáp lời Tình huống Đáp lời đóng là tình huống đáp lời đơn giản có thể dùng
để luyện tập từng kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói, nghi thức giao tiếp…
Trang 31VD: Tình huống Đáp lời đóng là đoạn HT trong Bài tập 1 (Bài Đáp lời
xin lỗi, tuần 22, Tiếng Việt 2, tập hai, tr 39):
- Bạn áo hồng (làm rơi vở của bạn liền cúi xuống vừa nhặt vừa nói):
Xin lỗi Tớ vô ý quá
- Bạn áo xanh: Không sao
Đây là tình huống giao tiếp đơn giản Muốn thực hiện tình huống giao tiếp này, HS dù không gặp trong thực tế nhưng vẫn phải mặc nhiên coi mình
là người bị bạn làm rơi vở Từ đó HS suy nghĩ, lựa chọn câu đáp sao cho phù hợp Đây là một cuộc thoại ngắn, chỉ thực hiện một lượt lời đáp, cuộc thoại đã kết thúc
Đáp lời mở là tình huống giao tiếp đòi hỏi người tham gia đáp lời thực hiện một đoạn thoại hoặc một cuộc thoại Thực hiện tình huống Đáp lời mở, cuộc thoại sẽ diễn ra theo trình tự từ mở đầu cuộc thoại đến phát triển đề tài
và kết thúc cuộc thoại Đây là tình huống giao tiếp phức tạp đòi hỏi người tham gia phải vận dụng nhiều kĩ năng khác nhau (kĩ năng mở đầu, kết thúc cuộc thoại, kĩ năng vận dụng các quy tắc, phương châm HT, kĩ năng thể hiện phép lịch sự…) Tình huống Đáp lời mở có thể dùng để luyện tập tổng hợp các
kĩ năng HT, có thể dùng để luyện tập nghệ thuật HT, nghệ thuật giao tiếp
VD: Tình huống giao tiếp ở bài tập 3 (Bài Đáp lời chào, lời tự giới
thiệu, tuần 19, Tiếng Việt 2, tập hai, tr 12): Viết lời đáp của Nam vào vở:
với nhiều đoạn thoại khác nhau
Trang 322.2 Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng Đáp lời đóng trong phân
môn Tập làm văn cho HS lớp 2
2.2.1 Yêu cầu cần đạt của kĩ năng Đáp lời đóng
Yêu cầu cần đạt của bài rèn kĩ năng Đáp lời đóng gồm:
- Biết đáp lời chào, lời tự giới thiệu, lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời đồng ý, lời chia vui, lời khen ngợi, lời từ chối, lời an ủi
- Biết dùng từ xưng hô, biết nói đúng vai trong hội thoại
- Có tư thế lịch sự văn minh khi tham gia hội thoại
- Nói rõ ràng, rành mạch
Trong các yêu cầu này thì yêu cầu thứ nhất (biết đáp lời chào, lời tự giới thiệu, lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời đồng ý, lời chia vui, lời khen ngợi, lời từ chối, lời an ủi), yêu cầu thứ hai (biết dùng từ xưng hô, biết nói đúng vai trong HT) và yêu cầu thứ tư (nói một cách rõ ràng, rành mạch) là những yêu cầu liên quan đến lí thuyết HT Còn yêu cầu thứ ba (giúp HS có tư thế lịch sự văn minh khi tham gia HT) là yêu cầu liên quan đến Nếp sống thanh lịch - văn minh
2.2.2 Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng Đáp lời đóng trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2
2.2.2.1 Các kiểu bài tập dạy nghi thức Đáp lời đóng
Để rèn kĩ năng Đáp lời đóng cho HS lớp 2, SGK Tiếng Việt lớp 2 đưa
ra hai kiểu bài tập:
- Kiểu thứ nhất: Làm quen với mẫu nghi thức lời đáp
Đầu bài kiểu bài tập này là một yêu cầu đọc lại hoặc nhắc lại lời các nhân vật trong bức tranh hay trong đoạn thoại Dưới yêu cầu có thể là một bức tranh mô tả tình huống giao tiếp trong đó có một nhân vật nói lời trao và nhân vật còn lại nói lời đáp Nhiệm vụ của HS là phải đọc thầm lại mẫu nghi thức lời đáp đó rồi có thể đóng vai theo nhóm đôi để học cách đáp lời trong trường hợp tương tự
Trang 33- Kiểu thứ hai: Sử dụng nghi thức lời đáp
Đầu bài tập kiểu này gồm một lời trao hoặc tranh ảnh mô tả tình huống giao tiếp trong đó một nhân vật nói lời trao HS sẽ căn cứ vào các dữ kiện đã cho, đóng vai nhân vật còn lại để nói tiếp lời đáp
Dưới đây là bảng tổng hợp, phân loại:
b Nếu bố mẹ em đi vắng?
Sử dụng nghi thức lời đáp
Làm quen với mẫu nghi thức lời đáp
Sử dụng nghi thức lời đáp
Trang 34rồi.”
c, Em rót nước mời khách đến nhà Khách
nói: “Cảm ơn cháu
Cháu ngoan quá.”
Làm quen với mẫu nghi thức lời đáp
a, Một bạn vội, nói với
em trên cầu thang:
“Xin lỗi Cho tớ đi
trước một chút.”
b, Một bạn vô ý đụng vào người em, vội nói:
“Xin lỗi Tớ vô ý quá!”
c, Một bạn nghịch, làm mực bắn vào áo em,
xin lỗi em: “Xin lỗi
bạn Mình lỡ tay thôi.”
d, Bạn xin lỗi em vì quên mang sách trả
em: “Xin lỗi cậu Tớ
quên mang sách trả cậu rồi.”
Em đáp lại lời xin lỗi trong các trường hợp sau như thế nào?
Sử dụng nghi thức lời đáp
6 Bài tập 1
(Bài Đáp lời
Hà: - Cháu chào bác ạ
Cháu xin phép bác cho
Đọc đoạn đối thoại sau Nhắc lại lời của
Làm quen với mẫu
Trang 35Hà: - Cháu cảm ơn
bác Cháu xin phép bác
bạn Hà khi được bố của Dũng đồng ý cho gặp Dũng:
nghi thức lời đáp
b, - Em cho anh chạy
thử cái tàu thủy của
Sử dụng nghi thức lời đáp
mở cửa nói: “Cháu vào
đi!”
b, Em mời cô y tá ở gần nhà tới tiêm thuốc cho mẹ Cô y tá nhận
lời: “Cô sẽ sang ngay.”
c, Em mời bạn đến chơi nhà Bạn nhận lời:
“Ừ, đợi tớ xin phép mẹ
đã.”
Nói lời đáp lại của
em trong các trường hợp sau
Sử dụng nghi thức lời đáp
Trang 36Làm quen với mẫu nghi thức lời đáp
“Truyện này tớ cũng đi
mượn.”
b, Em nhờ bố làm giúp bài tập vẽ Bố bảo:
Sử dụng nghi thức lời đáp
giáo an ủi: “Đừng
buồn Nếu cố gắng hơn, em sẽ được điểm tốt.”
b, Em rất tiếc vì mất con chó Bạn em nói:
“Mình chia buồn với
bạn.”
c, Em rất lo khi con
Nói lời đáp của em trong các trường hợp sau:
Sử dụng nghi thức lời đáp
Trang 37mèo nhà em lạc, đã hai ngày không về Bà em
Bạn khâm phục: “Cậu
nhanh thật đấy!”
Nói lời đáp của em trong mỗi trường hợp sau:
Sử dụng nghi thức lời đáp
em vừa nói: “Bạn đau
lắm phải không?”
b, Em rất buồn vì lỡ tay làm vỡ chiếc ấm pha trà của ông Ông
bảo: “Đừng tiếc nữa
cháu ạ! Ông sẽ mua chiếc khác.”
Nói lời đáp của em trong mỗi trường hợp sau:
Sử dụng nghi thức lời đáp
Trang 38c, Em quét nhà giúp
mẹ Nhà chưa thật sạch, nhưng mẹ bảo:
“Con muốn giúp mẹ là
tốt rồi Nhất định lần sau con sẽ quét sạch hơn.”
Hãy nhắc lại lời an
ủi và đáp lời chào của các nhân vật trong tranh dưới đây:
Làm quen với mẫu nghi thức lời đáp
2.2.2.2 Các bước vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng Đáp lời đóng
Nhìn một cách tổng quát, việc xác định cách nói lời đáp khi dạy HS làm bài tập dạy nghi thức Đáp lời đóng dường như đã được ấn định bởi các yếu tố giao tiếp được nêu ra trong đầu bài Vì vậy mỗi đầu bài dường như sẵn
có một lời giải VD tình huống sau:
- Hương cho tớ mượn cái tẩy nhé?
- Ừ
-
(SGK Tiếng Việt 2, tập hai, tr 66)
Lời giải cho tình huống trên chỉ có một lời đáp là: “Cảm ơn!” hoặc là
“Cảm ơn cậu!”
Tuy nhiên trong một số trường hợp có thể có đến hai ba hoặc nhiều hơn cách diễn đạt cho một nội dung đáp lời
Trang 39VD: Khi gặp tình huống sau:
Em ngã đau Bạn chạy đến đỡ em dậy, vừa xoa chỗ đau cho em vừa
nói: “Bạn đau lắm phải không?”
Có nhiều cách diễn đạt lời cảm ơn ở tình huống này:
- Cảm ơn cậu! (lịch sự)
- Mình cảm ơn cậu rất nhiều! (lịch sự, thân tình)
- Cảm ơn! Tôi không sao! (khách sáo)
Mỗi cách diễn đạt lời cảm ơn trên thể hiện tình cảm hay trình độ văn minh của người đáp (thân thiện hay hờ hững, lịch sự hay thiếu lịch sự…) GV cần suy ngẫm để có thể nhận diện đúng từng dạng đáp lời để từ đó khuyến khích HS đáp lời không dập khuôn, máy móc
Khi hướng dẫn HS thực hiện bài tập dạy tình huống Đáp lời đóng, GV cần tiến hành các bước sau:
1 Bước 1: Phân tích tình huống đáp lời
Việc Phân tích tình huống trong một cuộc đáp lời thường được thực hiện dưới dạng tìm hiểu bài Việc tìm hiểu đề bài sẽ trả lời được câu hỏi: Đáp lời để làm gì? (xác định mục tiêu đáp lời); Đáp lời như thế nào? (xác định nội dung đáp lời) GV sử dụng phương pháp phân tích để HS nhận ra các yếu tố của tình huống đáp lời (như hoàn cảnh xã hội, nhân vật, môi trường), nhận ra
đề và đích của cuộc đáp lời, nhận ra mối liên quan giữa cuộc đáp lời đó với nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh mình đã được học Ở bước này, cả GV và HS đều phải sử dụng nhiều vốn liếng về đời sống,
về xã hội, về văn hóa… mới trả lời được các câu hỏi đặt ra Nhờ vậy, các em
sẽ được học văn hóa giao tiếp, học tác phong văn minh lịch sự trong quan hệ
xã hội
VD: Khi thực hiện tình huống: Em mời bạn đến chơi nhà Bạn nhận lời:
“Ừ, đợi tớ xin phép mẹ đã.” - Bài tập 1 (Bài Đáp lời đồng ý, Tiếng Việt 2, tập
hai, tr 76)
GV cần hướng dẫn HS xác định:
- Đề tài đáp lời: Lời đồng ý của bạn
- Nhân vật tham gia đáp lời: Bạn và các em
Trang 40- Hoàn cảnh xảy ra đáp lời: Em muốn bạn đến chơi nhà mình Em rất mong đợi vì em sẽ có thêm nhiều niềm vui khi được bạn đến chơi nhà
- Môi trường đáp lời (không gian và thời gian xảy ra cuộc đáp lời đó): Tại lớp học của em hoặc tại cửa nhà bạn
- Đích của đáp lời: Đáp lời đồng ý của bạn
- Vấn đề đặt ra trong tình huống đáp lời: Em sẽ đáp lời đồng ý của bạn như thế nào? (Ở lớp 1, em đã được học bài Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn
minh: Em hỏi và trả lời Em đã biết được khi hỏi và trả lời phải chú ý hỏi và
trả lời đầy đủ cả câu, không hỏi và trả lời trống không và phải biết lễ phép với người lớn, thân mật với bạn bè, em nhỏ Còn ở lớp 2, các em cũng được học
bài: Ý kiến của em và Tôn trọng người nghe Cho nên các em cũng có kĩ năng
biết xin phép người nghe để nêu ý kiến và luôn chú ý thái độ người nghe để
có cách ứng xử phù hợp.) Vì vậy, các em cần đáp lời đồng ý của bạn bằng một lời như thế nào để thể hiện thái độ ra sao cho phù hợp với những hiểu biết của các em theo tiêu chí thanh lịch văn minh đã được học
VD: Sách Tiếng Việt 2, tập hai, tr.142 đưa ra tình huống sau và yêu cầu
HS nói lời đáp:
Bạn em va vào bàn, làm rơi cái lọ Em nhanh tay đỡ được Bạn khâm
phục: “Cậu nhanh thật đấy!”
Trong tình huống đáp lời trên, đích của cuộc đáp lời đã được đặt ra (em phải nói được lời đáp đối với lời khen của bạn), nhân vật đáp lời đã được xác định (em và bạn em), hoàn cảnh đáp lời cũng đã rõ (bạn va vào bàn, cái lọ rơi,
em đỡ được) Vấn đề đáp lời đã được đặt ra (bạn nói lời khâm phục em, vậy
em phải đáp lại thế nào cho đúng và phù hợp với những tiêu chí thanh lịch, văn minh em đã được học)
2 Bước 2: Thực hành đáp lời
Ở bước này, dựa trên kết quả phân tích tình huống đáp lời mà HS tìm cách giải quyết vấn đề đặt ra trong bài tập Các em dùng trí tưởng tượng kết hợp với vốn hiểu biết của bản thân liên quan đến đề tài đáp lời để chọn lựa nhanh câu đáp cho phù hợp Để dạy kĩ năng Đáp lời đóng có vận dụng lí thuyết HT, GV cần xác định đóng vai là phương pháp đặc trưng để hướng dẫn
HS thực hiện các bài tập Người tham gia đóng vai là HS trong cùng bàn, cùng tổ hoặc cùng lớp Các em đóng vai không nhằm luyện tập các kĩ năng