Văn học nước ngoài trong chương trình Tiểu học với các truyện đọc, truyện kể và những bài học trong sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 đã đem đến cho học sinh những cốt truyện hay, những
Trang 1mĩ Trước mục tiêu mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ tư: biên soạn chương trình Tiểu học và Trung học cơ sở cho những năm 2000 Chương trình và sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt 4 (2000) được triển khai đại trà toàn quốc từ năm học 2006-2007 nên việc nghiên cứu phương pháp dạy học các phân môn Tiếng Việt lớp 4 vẫn là một việc làm có tính thời sự và cần thiết
Ở trường Tiểu học, môn Tiếng Việt có một vị trí vô cùng quan trọng, chiếm số tiết nhiều nhất trong tất cả các môn học Tổng số tiết Tiếng Việt trong 5 năm là 1.610 tiết, so với môn Toán có 864 tiết Dạy Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm giúp HS sử dụng tiếng Việt vào hoạt động giao tiếp và học tập Học Tiếng Việt, học sinh được phát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trên cơ
sở những tri thức cơ bản Đồng thời môn Tiếng Việt còn góp phần bồi dưỡng cho các em tình yêu cái đẹp, yêu quê hương đất nước, hình thành và phát triển nhân cách tốt đẹp của con người trong thế kỉ mới
Văn học nước ngoài trong chương trình Tiểu học với các truyện đọc, truyện kể và những bài học trong sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 đã đem đến cho học sinh những cốt truyện hay, những hình tượng đẹp, làm giàu cho trí tưởng tượng của các em Văn học nước ngoài trong chương trình Tiểu học
Trang 2cũng đem lại cho các em những hiểu biết về đất nước và con người của nhiều quốc gia trên thế giới như Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc, Nga, Đức, Anh, Pháp Đó là những tri thức vô cùng phong phú và đa dạng cho lứa tuổi của các em Dạy học các tri thức nước ngoài và các tác phẩm văn học nước ngoài nói chung trong chương trình Tiểu học là đem lại cho các em những hiểu biết
về đất nước và con người của nhiều quốc gia trên thế giới, bồi đắp cho HS những tình cảm, những ước mơ mới mẻ, giàu tính nhân văn
Dạy học kiến thức nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậc Tiểu học nói riêng là công việc không đơn giản Để có thể khai thác được cái hay, cái đẹp và chiều sâu tư tưởng, tâm hồn của dân tộc khác ẩn chứa trong các văn
bản ngôn từ, người dạy (và cả người học) phải có sự hiểu biết rộng rãi về văn
hóa, văn học của chính các dân tộc ấy Bởi thế, người dạy văn học nước ngoài, ngoài nhiệm vụ nghiên cứu văn bản, tác phẩm cần giảng dạy, còn cần đọc nhiều tư liệu tham khảo xung quanh nó Trong khi đó, ở nước ta hiện nay, điều kiện tự tìm hiểu, tra cứu các tư liệu tham khảo về tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài còn nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với HS
Tuy nhiên, giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậc Tiểu học nói riêng không chỉ hướng tới việc tìm hiểu những đặc sắc của một nền văn hóa, văn học khác mà còn góp phần hiểu thêm về văn hóa, văn học của dân tộc mình Bởi vậy, trong bối cảnh thế giới đang tăng cường các hoạt động giao lưu, hội nhập như hiện nay, dạy - học kiến thức nước ngoài trong chương trình Tiểu học dù còn hạn chế về điều kiện song có nhiều có ý nghĩa nên rất cần được nghiên cứu để hoạt động này có hiệu quả tốt hơn
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Dạy - học kiến thức nước
ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
Trang 32 Lịch sử vấn đề
2.1 Về một số tác giả, tác phẩm Văn học nước ngoài
Các tác phẩm văn học nước ngoài được dịch và nghiên cứu khá nhiều tại Việt Nam Tuy nhiên, số lượng công trình đặt vấn đề nghiên cứu và giảng dạy văn học nước ngoài trong các nhà trường, nhất là ở bậc Tiểu học khá hạn chế Hầu hết các công trình, luận án, luận văn nghiên cứu về văn học nói chung, văn học nước ngoài nói riêng đều là các nghiên cứu chuyên sâu, thiên về lý luận, hoặc khái quát hoặc phân tích các phương diện giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm cụ thể Phổ biến hơn cả là các bài viết, bài nghiên cứu
về đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học như Toán, Mỹ thuật, Âm nhạc… ở trường Tiểu học được trình bày tại các hội thảo, hội nghị khoa học Tuy không liên quan đến đề tài, nhưng các nghiên cứu này cũng thực sự là những tư liệu bổ ích vì nguồn tư liệu tham khảo để thực hiện đề tài khá hạn hẹp
Hiện chỗ dựa chủ yếu của việc thực hiện luận văn chỉ là cuốn sách Cảm thụ và giảng dạy Văn học nước ngoài của GS.Phùng Văn Tửu (xuất bản năm
2007, Nhà xuất bản Giáo dục) Đúng như tác giả cuốn sách đã viết: “…đây không phải là hướng dẫn giảng dạy men theo từng bài trong SGK như kiểu
“sách giáo viên”, nhưng vấn đề cảm thụ và giảng dạy bộ phận văn học này về mặt lý thuyết và ứng dụng vẫn luôn luôn khiến nhiều người quan tâm, không chỉ ở Trung học phổ thông, Trung học cơ sở và hệ thống các trường Đại học
Sư phạm và Cao đẳng Sư phạm nữa” (Lời nói đầu) Không đề cập trực tiếp đến việc giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình bậc Tiểu học, công trình này đã cung cấp các nguyên tắc tiếp cận và những điểm đáng lưu ý khi giảng dạy chương trình nói chung và qua các tác phẩm cụ thể nói riêng
Trang 4Đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục Tiếp cận và giảng dạy các tác
phẩm văn học nước ngoài ở trường Tiểu học, tác giả Đỗ Việt Nga đã cung
cấp một cái nhìn khái quát và cụ thể về thực trạng giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc giảng dạy bộ phận văn học này
từ các phương diện lý thuyết và đặc thù Qua đó, góp phần vào việc nâng cao năng lực cảm thụ và giảng dạy các tác phẩm văn học nói chung, văn học nước ngoài nói riêng trong nhà trường Tiểu học hiện nay
Tuy nhiên, công trình này cũng mới dừng lại ở việc dạy và học các tác phẩm văn học, tức là phân môn Tập đọc, chưa đề cập đến các phân môn khác như Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện, Chính tả…
2.2 Về danh từ riêng nước ngoài
Giáo trình Từ loại tiếng Việt hiện đại của tác giả Lê Biên (1999), Nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội, là tài liệu được viết theo tinh thần chương trình mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng những yêu cầu của cải cách giáo dục Giáo trình cung cấp một cách hệ thống những kiến thức cơ bản, cần yếu nhất về Từ loại tiếng Việt - một nội dung quan trọng của ngữ pháp tiếng Việt Giáo trình nhấn mạnh danh từ là một trong ba từ loại cơ bản của tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ Bộ phận tên riêng nước ngoài được đề cập không nhiều nhưng người học, người đọc cũng có thể hình dung ra nó nằm trong tiểu loại danh từ riêng, cách cấu tạo và sử dụng cơ bản của nó Cách viết tên riêng nước ngoài này cho đến nay vẫn còn là vấn đề thời sự nên trong quá trình chuẩn hóa tiếng Việt, người học và người dạy cần tìm hiểu, học tập để
sử dụng và giảng dạy cho đúng quy tắc và đúng chuẩn của tiếng Việt
Hoàng Văn Thung - Đỗ Xuân Thảo (2007) trong cuốn Dạy học Chính tả
ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục đã bàn về việc kĩ năng chính tả thực sự
Trang 5cần thiết đối với mọi người, không chỉ với học sinh Tiểu học Cuốn sách này
là một tài liệu tham khảo cho các thầy giáo, cô giáo dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học, các thầy giáo, cô giáo dạy môn Tiếng Việt - Văn ở Trung học cơ sở
và Trung học phổ thông, sinh viên ngành ngữ văn các trường Sư phạm Cuốn
sách đã đề cập đến vấn đề Chính tả các từ phiên âm như sau: Phiên âm, chuyển tự theo nguyên dạng tiếng nước ngoài và Chính tả tên riêng và thuật ngữ theo các quy định về cách viết phiên âm và chuyển tự
Hiện nay vẫn tồn tại hai cách xử lý chính tả khi viết các tên riêng và thuật ngữ tiếng nước ngoài Đó là: cách viết liền các âm tiết trong từ nguyên ngữ và cách viết rời từng âm tiết trong từ nguyên ngữ (cách viết tiếng Việt)
2.3 Về chương trình SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học
Về SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu và thể hiện rõ quan điểm của mình qua những công trình nghiên cứu
Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học của tác giả Lê A
- Thành Thị Yên Mĩ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến (1998),
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội cũng như giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học của Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1999), Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội viết cho sinh viên các trường Sư phạm dành trọn một chương 3 để nghiên cứu về chương trình và SGK Tiếng Việt Tiểu học Giáo trình cung cấp những kiến thức về mục tiêu môn học Tiếng Việt, cơ sở xây dựng chương trình, các nguyên tắc xây dựng chương trình và các nguyên tắc biên soạn SGK Tiếng Việt, chương trình môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học
Đề cập riêng đến phương pháp dạy học các môn học lớp 4 nói chung,
môn Tiếng Việt nói riêng, cuốn Phương pháp dạy học các môn học lớp 1,2,3,4,5 tập hợp, bổ sung, hoàn thiện bộ tài liệu đã được Bộ Giáo dục và Đào
Trang 6tạo sử dụng để bồi dưỡng giáo viên (GV) Tiểu học trên toàn quốc nhằm thực hiện tốt yêu cầu đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở cấp Tiểu học
Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn sách Dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới viết năm 2008, Nhà xuất bản Giáo dục đã nhấn mạnh
vào hoạt động dạy và học của thầy và trò trong trường Tiểu học khi áp dụng chương trình mới có những thay đổi tích cực về nội dung lẫn phương pháp đem lại hiệu quả giáo dục cao
Chương trình Tiểu học (2008, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội) do Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành thống nhất chương trình các môn học ở cấp Tiểu học nói chung, môn Tiếng Việt nói riêng Qua đó, giúp người GV Tiểu học có cái nhìn khái quát cũng như cụ thể về nội dung, cách phân bố chương trình Tiểu học Từ đó, họ có định hướng đúng đắn hơn trong quá trình dạy học các lớp ở Tiểu học
Để tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học, tạo điều kiện thuận lợi cho GV
và cán bộ quản lý, chỉ đạo chuyên môn, năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ
chức biên soạn Bộ tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội) Chuẩn kiến thức, kĩ
năng được cụ thể hóa ở các chủ đề của môn học theo từng lớp, ở các lĩnh vực học tập cho từng lớp và cho cả cấp học Chuẩn kiến thức, kĩ năng là cơ sở để biên soạn SGK, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học và hoạt động giáo dục bảo đảm tính thống nhất, tính khả thi của Chương trình Tiểu học, đảm bảo chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục ở Tiểu học
Riêng đối với cuốn Tiếng Việt và phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học (Đinh Thị Oanh - Vũ Thị Kim Dung - Phạm Thị Thanh, Dự án phát triển
giáo viên Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006), ngoài việc cung cấp cho
Trang 7bạn đọc những phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình
và phương pháp mới còn cung cấp cho bạn đọc những vấn đề về lý thuyết hội thoại, về từ Hán Việt, về câu trong văn bản… Mặc dù được biên soạn bởi các nhóm tác giả khác nhau nhưng cả hai cuốn sách này đều hướng đến việc nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chương trình, SGK Tiểu học mới Cả hai cung cấp cho bạn đọc những kiến thức và kĩ năng để dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học theo hướng đổi mới như: phương pháp dạy học học vần, tập viết, chính tả, tập đọc,… Sách được biên soạn nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở Tiểu học theo chương trình và SGK mới, theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học Cả hai cuốn sách đều rất có ích đối với bạn đọc, đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cán bộ quản lý giáo dục Tiểu học, giảng viên, sinh viên
Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, người tham gia viết SGK và nghiên cứu về việc làm SGK của nhiều quốc gia: “So với 3 lần cải cách giáo dục trước đây, thì lần đổi mới SGK năm 2002 là bài bản nhất Năm 2002, chúng ta xây dựng chương trình trước, biên soạn trong tài liệu dạy thử nghiện bốn năm mới hoàn thành chương trình, rồi mới làm SGK chính thức Chúng ta cũng có điều kiện tiếp thu được nhiều kinh nghiệm biên soạn SGK của nước ngoài…”[35]
Những công trình nghiên cứu trên tuy chưa bàn đến một cách cụ thể những vấn đề mà luận văn quan tâm song đó là gợi ý cần thiết định hướng cho
việc nghiên cứu luận văn Dạy - học kiến thức nước ngoài trong chủ điểm
“Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
Trang 83 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra phương pháp phù hợp để nâng cao chất lượng dạy - học các bài học có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những vấn đề l í luận làm cơ sở cho đề tài
- Khảo sát chương trình, SGK Tiếng Việt lớp 4 và thực trạng dạy học những bài có liên quan đến đề tài
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học các bài học
có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt
4, tập 1)
- Thực nghiệm sư phạm
5 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc dạy - học các bài học có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm
“Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Các bài học có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1) Cụ thể:
Tập đọc: Ở Vương quốc Tương Lai (Theo Mát-téc-lích)
Điều ước của vua Mi-đát (Theo thần thoại Hy Lạp)
Kể chuyện: Kể chuyện đã nghe, đã đọc
Luyện từ và câu: Cách viết tên người, tên địa lý nước ngoài
Trang 9Tập làm văn: Luyện tập phát triển câu chuyện (tiết 2)
Chính tả: Nghe - viết Gà Trống và Cáo (theo La-phông-ten)
Chú dế sau lò sưởi (Theo Xư-phe-rốp, Bài tập 2b)
Phạm vi TN tại hai trường: Tiểu học Việt Nam - Cu Ba, quận Ba Đình
(nội thành Hà Nội) và Tiểu học Đại Mỗ, huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội)
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Luận văn sử dụng phương pháp này nhằm thống kê cụ thể các bài học có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1), phân loại theo phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện, Chính tả Nhờ đó nắm được nội dung, cấu trúc phân môn và có cơ sở nêu lên những nhận xét khái quát về nội dung, cấu trúc, những ưu, nhược điểm để đề ra phương pháp giảng dạy có hiệu quả
Phương pháp này còn được sử dụng để thống kê, phân loại các phiếu khảo sát của HS để rút ra những kết luận cần thiết của luận văn
Việc phân loại dựa trên cơ sở đặc điểm về nội dung và cấu trúc của chương trình Tiếng Việt lớp 4
6.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Sau khi phân loại, cần tiến hành so sánh, đối chiếu các bài học có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” và các bài học trong chương trình Tiếng Việt 4 để tìm ra điểm giống và khác nhau, phần kiến thức nào hay, mở rộng, có ích cho việc thu nhận kiến thức của HS
Trang 106.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp này được vận dụng để tìm hiểu những kiến thức về ngôn ngữ nước ngoài, cụ thể là bộ phận tên riêng nước ngoài và việc tiếp cận, giảng dạy một số tác phẩm văn học nước ngoài trong SGK Tiếng Việt lớp 4 Chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học nước ngoài (giống mối quan hệ giữa tiếng Việt và văn học Việt Nam) Từ đó, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc dạy - học kiến thức nước ngoài trong chủ điểm
“Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
6.4 Phương pháp điều tra - thực nghiệm
Bằng TN quan sát, phân loại, nêu và tìm hiểu việc dạy học các bài có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1) ở các trường Tiểu học để từ đó tìm ra phương pháp dạy học có hiệu quả, gây hứng thú cho HS
Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả (bằng phiếu khảo sát) của HS cả
trong và sau quá trình học tập có so sánh với lớp đối chứng (ĐC) Công cụ kiểm tra đánh giá phải cụ thể và có thể đo được Công cụ đánh giá dùng cho
cả bài học thực nghiệm (TN) và bài học ĐC
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy- học kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
8 Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài nghiên cứu thành công sẽ tìm ra các biện pháp nâng cao hiệu quả việc dạy - học các bài học có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Về văn học nước ngoài
1.1.1.1 Tác giả Mát-téc-lích và tác phẩm kịch “Con chim xanh”
a Tác giả Mát-téc-lích
Maurince Polydore Marie Bernard Maeterlinck (1862-1949) - nhà thơ, nhà văn Bỉ, nói và viết bằng tiếng Pháp, sinh ở Găng (Gand) Theo mong muốn của gia đình, ông học và hành nghề luật sư nhưng vẫn rất thích thơ ca Năm 1887, ông đi Paris sáu tháng và quen biết một số nhà thơ của trường phái tượng trưng chủ nghĩa Trở về Bỉ, ông làm luật sư ít lâu nữa rồi
bỏ hẳn để chuyển sang sáng tác Tập thơ đầu tay Những nhà kính ấm nóng (Serres chaudes, 1889) được dư luận chú ý Tiếp đó là các vở kịch Công chúa Malen (La Princesse Maleine, 1889), Bảy nàng công chúa (Les Sept Princesse, 1891), Pelêax và Mêlizăng (Pelléas et Mélisande,1982)… và tập thơ trữ tình Mười hai bài ca (Dauze chansons, 1894) Các vở kịch thuộc giai
đoạn này của ông mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng với các màu
sắc bi quan khá rõ Tiêu biểu hơn cả là vở Pelêax và Mêlizăng, kịch 5 hồi
bằng văn xuôi, dựng lên mối tình của Trixtăng (Tristan) và Yzơ (Yseult)
Năm 1896, Mát-téc-lích sang sống ở Pháp, tiếp tục sáng tác nhiều thơ và
kịch Mở đầu cho giai đoạn kịch thứ hai này là vở Monna Vanna (Monna
Vanna, 1902) một vở kịch bằng văn xuôi, chất kịch thì ít mà chất thơ thì nhiều Màu sắc bi quan ngày càng mờ dần đi và ngày càng ánh lên âm điệu tin
Trang 12yêu vào cuộc sống và con người Vở kịch Con chim xanh là tác phẩm tiêu
biểu cho thời kì này
Thời kì Đại chiến I, ông dùng ngòi bút để phục vụ đất nước, viết nhiều
bài được tập hợp trong Những tàn tích của chiến tranh (Lé Débrí de la guerre, 1916) và vở kịch Viên Thị trưởng Xtilơmông (Le Bourgmestre de Stilmonde, 1918) về đề tài quân Đức chiếm đóng nước Bỉ Vở Lễ đính hôn (Lé
Fiancailles, 1922) mở đầu cho giai đoạn kịch thứ ba, đặc biệt chú trọng đến
kỹ thuật xây dựng kịch Có thể kể các vở Nỗi bất hạnh đi qua (Le Malheur passe, 1925), Quyền lực của những người chết (La Puissance des morts, 1926), Mari-Victoa (Marie-Victoire, 1927), Công chúa Izaben (La Princese
Íabelle, 1935) Trong đại chiến II, Mát-téc-lích lánh sang Mỹ Ông còn là
người yêu thích thiên nhiên và nhất là các loài vật, viết một số sách về loài ong, loài kiến, được giải thưởng Nôben về văn học năm 1911
Mát-téc-lích được trao giải nhờ những tác phẩm kịch mang nội dung
phong phú, giàu tưởng tượng đầy thi vị Ông thường sử dụng thể loại cổ tích bởi vì cổ tích là biểu hiện sâu nhất và giản dị nhất của nhận thức tập thể, khơi dậy những cảm xúc con người
b Tác phẩm “Con chim xanh”
Con chim xanh (L’Oiseau bleu) của Mát-téc-lích được sáng tác năm
1906, diễn lần đầu ở Mat-xcơ-va năm 1908 và in năm 1909, không những tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác thứ hai của Mát-téc-lích mà còn cho cả sự nghiệp sáng tác của ông Đây cũng chính là tác phẩm giúp nhà văn đạt giải Nobel năm 1911
Vở kịch mang dáng dấp thần tiên với 6 hồi và 12 cảnh
Bé trai Tyltyl và bé gái Mytyl là con của một tiều phu theo lời tiên Bérylun đi tìm Chim xanh Nhưng con chim mà họ cho là Chim xanh, thực ra
Trang 13không phải như họ nghĩ Chim xanh ở trong xứ sở Hoài Niệm đã chết từ lâu
Bà ngoại cho họ con chim sáo mà họ cứ ngỡ là Chim xanh nhưng khi họ giã
từ xứ sở này thì Chim xanh trở thành đen Ở trong vương quốc Bóng Tối, họ tìm thấy trong vườn Ước Mơ và Ánh sáng ban đêm rất nhiều Chim xanh nhưng những con chim mà họ bắt được đều chết Đi qua Xứ sở Hồi ức, Lâu đài Đêm tối, Rừng Chết chóc, Vườn Hạnh phúc, Vương quốc Tương lai, Tyltyl và Mytyl đều không tìm được con Chim xanh có thể mang lại ánh sáng ban ngày
Con chim xanh được ngợi ca là một câu chuyện thần tiên rực rỡ chất thơ
của tuổi thơ ấu, dù còn mang nặng suy tư nên không giữ vẹn được tính hồn nhiên thuần khiết Trong tác phẩm, con chim xanh của hạnh phúc chỉ tồn tại ở bên kia thế giới phù du, nhưng với những người có trái tim trong sáng, họ sẽ không bao giờ tìm kiếm nó một cách vô ích, bởi cuộc sống tình cảm và trí tưởng tượng của họ sẽ làm phong phú và thanh tẩy họ trong chuyến du hành qua xứ sở những giấc mơ
Với ý nghĩa ấy, vở kịch Con chim xanh đã trở thành một điển cố văn học
biểu tượng cho hạnh phúc tình yêu
1.1.1.2 Tác giả La-phông-ten và bài thơ ngụ ngôn “Gà Trống và Cáo”
Trang 14đến những sáng tác của La-phông-ten : ngụ ngôn của ông đầy tính thơ ca, hiện diện nhiều hình ảnh của cỏ cây, gió mây, sông núi, con thỏ, con cừu, cả voi và sư tử nữa… ngòi bút của ông rất sắc sảo mỗi khi nói đến những người nghèo khổ
La-phông-ten giao thiệp rộng rãi, lui tới những nhóm trí thức tự do, yêu cuộc đời dễ dãi ; chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học Gaxăngđi (P Gassendi, 1592-1655) Ông tuy có làm thơ ca ngợi nhà vua nhưng vẫn sống cuộc sống độc lập, không gần gũi cung đình như nhiều nhà văn cổ điển khác
Ông viết nhiều thể loại : Truyện thơ (1665-1675), tiểu thuyết Xisê (1664-1674), kịch… nhưng tiêu biểu hơn cả vẫn là ngụ ngôn
Văn phong của La-phông-ten mang tính thơ nhẹ nhàng, mơ mộng, tươi vui, dí dỏm và đa dạng Bút pháp của ông thay đổi từ tác phẩm này sang tác phẩm khác, khi dí dỏm, khi châm biếm, khi mơ mộng, lúc phóng túng Truyện này giống như một vở kịch hề, truyện khác có dáng dấp một phabiô thời trung
cổ La-phông-ten, con người thích những đổi thay, thường được hình dung là một người tốt bụng, mơ màng, vô tâm, say sưa quan sát không biết chán một con cò hay một đàn kiến tha mồi Có thể tưởng như La-phông-ten là một nhà văn độc lập, đi bên lề văn học cổ điển Nhưng không phải, ông chính là một nhà văn cổ điển tiêu biểu, bên cạnh Môlie, Raxin, Boalô Ten (H Taine, 1828-1893) viết : “Theo người ta nói lại, khi Platông (Platon, 427-347 tr CN) được biết đức Đại đế muốn hiểu người Aten, ông đồng ý rằng cần trình bày lên ngài những hài kịch của Arixtôphan Nếu Đại đế muốn hiểu biết chúng ta
(tức là người Pháp), chúng ta sẽ phải trình lên ngài sách của La-phông-ten”
Cũng như Cornây sáng tạo bi kịch, La-phông-ten đã sáng tạo ngụ ngôn Pháp với đầy đủ tính dân tộc của nó Thế kỷ XVII, thế kỷ của sự thống nhất quốc gia Pháp, đã thành lập một nền văn học dân tộc - văn học cổ điển
Trang 15Như các nhà văn cổ điển khác, La-phông-ten có vốn kiến thức cổ kim sâu rộng, ông bắt chước Cổ đại, song “không là nô lệ”; và ông coi mục đích của văn học là răn dạy người đời bằng nghệ thuật ngôn ngữ
La-phông-ten được bầu vào Viện Hàn lâm năm 1683 Từ 1692, sức khỏe của ông giảm sút nhiều và mấy năm sau thì mất
b Bài thơ ngụ ngôn “Gà Trống và Cáo”
Truyện ngụ ngôn La-phông-ten do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn
hành năm 2007 là cuốn sách gồm hơn 100 bài thơ Mỗi bài là một câu chuyện
kể về các con vật, đồ vật, cỏ cây Các nhân vật này được tác giả gán cho những tính cách tốt xấu, chất phác, khờ khạo, khôn ngoan, quỷ quyệt Nội dung chủ yếu rút ra từ hiện thực cuộc sống, mang ý nghĩa khuyên răn, dạy bảo người đời: hãy làm việc bằng chính khả năng và sức lực của mình, chớ trông cậy vào người khác; hãy yêu mến và kính trọng mọi người; hãy khôn ngoan trong cách ứng xử, chớ nên vong ân, kết oán
Bằng cách dẫn chuyện bằng thơ với những chi tiết cụ thể, sinh động, phông-ten đã đưa người đọc đến gần với cuộc sống hơn, nhất là giáo dục các
La-em thiếu nhi những điều hay lẽ phải, luân lý đạo đức đời thường, từ hình ảnh loài vật, đồ vật gần gũi xung quanh
Bài thơ Gà Trống và Cáo được in trong tập sách ấy Bài thơ cũng được đưa vào SGK Tiếng Việt 4, tập 1 trong phân môn Tập đọc, Chính tả Gà Trống và Cáo là câu chuyện kể về cuộc đấu trí giữa hai nhân vật: Gà Trống
thông minh và Cáo gian ngoan, xảo trá Qua câu chuyện, nhà thơ muốn khuyên con người hãy cảnh giác, thông minh như Gà Trống, chớ tin lời lẽ ngọt ngào của kẻ xấu như Cáo
Trang 161.1.1.3 Thần thoại Hy Lạp
Thần thoại Hy Lạp là những truyện thần thoại của người Hy Lạp, bao gồm các truyền thuyết về các vị thần và các vị anh hùng của người Hy Lạp Ban đầu, thần thoại Hy Lạp là những câu chuyện thơ truyền khẩu qua nhiều thế hệ Các câu chuyện đó tồn tại đến ngày nay là nhờ các ghi chép về các câu chuyện truyền miệng nói trên, đôi khi chúng được bổ sung thêm các lời giải thích về các ý nghĩa biểu tượng hoặc các hàm ý khác có thể là hiện đại hoặc
cổ điển Nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu là tìm ra những ý nghĩa ban đầu được ẩn giấu trên các hình vẽ trên các bình gốm sứ, các bức họa, hoặc đằng sau những nghi lễ tôn giáo còn tồn tại đến ngày nay
Trong các truyền thuyết, câu chuyện và trường ca, tất cả các vị thần của
Hy Lạp cổ đại đều được miêu tả giống như hình dáng của con người, ngoại trừ một số sinh vật nửa người nửa thú như các nhân sư, số còn lại đều có nguồn gốc từ vùng Cận Đông và vùng Thổ Nhĩ Kỳ Các vị thần Hy Lạp có thể sinh con nhưng trẻ mãi không già, không bị thương tổn, không ốm đau, có thể tàng hình, có thể di chuyển rất nhanh và có thể dùng người là phương tiện truyền đạt ý tưởng của họ mà người đó có thể biết hoặc không biết Mỗi vị thần có một hình dáng, một nguồn gốc, một sở thích, một cá tính và một lĩnh vực chuyên môn mà họ quản lý; tuy nhiên, việc miêu tả các thần thường xuất phát từ các dị bản khác nhau nên không phải lúc nào cũng ăn khớp với nhau Khi các vị thần được vinh danh trong thơ ca hoặc khi cầu nguyện thì họ được coi như là một ý nghĩa tổng hợp gồm tên và trách nhiệm của các vị để phân biệt với các hình ảnh khác của các thần Trách nhiệm của một vị thần có thể phản ánh một khía cạnh đặc biệt về vai trò của vị thần đó, Ví dụ (VD): Apollo, vị thần thơ ca là tên dành cho thần Apollo, được coi là người bảo trợ cho nghệ thuật: thơ, ca, nhạc, họa; người cầm đầu các tiên nữ thơ ca muse
Trang 17Nhưng trách nhiệm của một vị thần cũng có thể dùng để phân biệt một khía cạnh đặc biệt nào đó của một vị thần
Trong các truyện thần thoại Hy Lạp, các vị thần được miêu tả là những người thuộc cùng một gia đình đa thế hệ Vị thần già nhất tạo ra thế giới, nhưng các vị thần trẻ hơn đã thay thế các vị thần già Mười hai vị thần trên đỉnh Olympus là các vị thần quen thuộc nhất với tôn giáo Hy Lạp và nghệ thuật Hy Lạp và được miêu tả trong các sử thi có hình dáng của con người
trong Thời đại của các anh hùng Đó là các bài học mà tổ tiên người Hy Lạp
phải học để có được các kỹ năng cần thiết, lòng kính sợ thần thánh, đề cao đức hạnh và trừng phạt tội lỗi Các vị thần nửa người, nửa thần được gọi là các “anh hùng” và cho đến khi thiết lập được thể chế dân chủ, các hậu duệ người Hy Lạp xây dựng trên cơ sở của tổ tiên
1.1.1.4 Tác giả Xư-phe-rốp và đoạn trích “Chú dế sau lò sưởi”
Đoạn văn được đưa vào là một phần của bài tập chính tả, môn Tiếng Việt lớp 4 Tác giả soạn sách đã chọn đoạn văn này nói về nhạc sĩ thiên tài, một thần đồng trong lịch sử âm nhạc thế giới Tài năng âm nhạc của ông được công nhận khi mới ba, bốn tuổi Đoạn văn được trích trong SGK là câu chuyện ngắn nói về một trong những động lực đã thúc đẩy Mô-da sớm trở thành một thiên tài âm nhạc, được nhiều người biết đến Qua việc điền những
tiếng có vần iên, yên hay iêng, bài tập giúp hoc sinh phân biệt cách dùng
những từ chứa tiếng có vần dễ lẫn, góp phần giúp các em nắm được cách viết đúng chính tả
1.1.2 Về lý luận ngôn ngữ học
Trong hệ thống từ tiếng Việt, có thể phân chia các từ thành hai mảng lớn: thực từ và hư từ Trong đó, danh từ, động từ, tính từ và số từ là những lớp
Trang 18thực từ Trong khuôn khổ luận văn này, do giới hạn của phạm vi nghiên cứu
nên chỉ đề cập đến từ loại danh từ
Theo tác giả Lê Biên (Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Giáo
dục, Hà Nội, 1999), danh từ là một trong ba từ loại cơ bản của tiếng Việt Chiếm một số lượng từ rất lớn trong kho từ vựng tiếng Việt, danh từ có vai trò bậc nhất trong cấu tạo ngữ pháp Danh từ cùng với động từ tạo nên cái trục
mà quay quanh nó là những vấn đề chủ yếu về ngữ pháp và cú pháp của tiếng Việt
Theo truyền thống và thói quen ngôn ngữ, ở tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác, phạm trù danh từ được chia thành hai mảng lớn, căn cứ vào tác dụng và phạm vi sử dụng, đó là: danh từ riêng và danh từ chung
Danh từ riêng là những danh từ dùng làm tên gọi cho một người, một sự
vật, một hiện tượng tự nhiên (một vùng đất, dòng sông, ngọn núi…) riêng
biệt, để phân biệt sự vật này với sự vật khác Nó là tên gọi riêng cho từng
người, từng vật, từng địa danh VD: anh Nam (Nam là tên gọi một người) ; Pa-ri : tên gọi của một thành phố lớn, thủ đô nước Pháp
Xét về cấu trúc của danh từ riêng có hai bộ phận:
- Bộ phận chỉ tên riêng Việt Nam như: Lê Quý Đôn; rừng Cúc Phương;
con Vàng; tập thơ Từ ấy…
- Bộ phận chỉ tên riêng nước ngoài (tên người, loài vật và tên địa danh)
Bộ phận này có những cách cấu tạo, sử dụng sau:
+ Tên riêng được vay mượn gián tiếp (qua cách đọc phiên âm Hán Việt, qua tiếng Pháp) như: vịnh Ba Tư (vịnh Péc-xích), Lê-nin…
+ Cấu tạo tên riêng bằng cách phiên âm trực tiếp cách phát âm của tiếng nước đó, như: Béc-lin, Ca-na-đa, Na-pô-nê-ông,…
Trang 19Xu thế này được nhiều người tán thành, sử dụng Địa hạt tên riêng chỉ người, tên địa danh nước ngoài, hiện nay vẫn còn những trường hợp là một tên người, một địa danh lại có hai, ba cách gọi khác nhau, như Mạc Tư Khoa
và Matxcơva, Nã Phá Luân và Na-pô-nê-ông…
Tuy nhiên, cần lưu ý cách viết tên riêng đến nay còn là vấn đề thời sự, đã
và đang được bàn luận để tìm cách viết hợp lý, giản tiện, đảm bảo tính khoa học Trong quá trình chuẩn hóa tiếng Việt, bước đầu đã có những quy định để dần dần thống nhất cách viết tên riêng trên sách báo, và dùng trong nhà trường Cần tìm hiểu, học tập để sử dụng và giảng dạy cho đúng quy tắc và đúng chuẩn của Tiếng Việt
Trong cuốn Dạy học Chính tả ở Tiểu học, xuất bản năm 2007, tác giả Hoàng Văn Thung - Đỗ Xuân Thảo đã đề cập đến vấn đề Chính tả các từ phiên âm như sau:
Phiên âm là cách đọc tiếng nước ngoài sang tiếng Việt bàng cách ghi âm của tiếng Việt Những tiếng nước ngoài thường phiên âm là tên riêng, tên tổ chức chính trị - xã hội, địa danh, tác phẩm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Theo nguyên tắc chung, phiên âm dựa trên cách đọc nguyên ngữ rồi ghi
âm bằng chữ viết tiếng Việt, để tái tạo lại cách đọc nguyên ngữ của các từ được ghi âm
Trong thực tế, cách viết ghi âm chỉ có thể phản ánh cách đọc tương đối đúng so với cách đọc nguyên ngữ Các chữ cái ở bảng chữ cái tiếng Việt vốn phù hợp với hệ thống ngữ âm tiếng Việt, có nhiều điểm không theo sát hệ thống những âm không có ở hệ thống ngữ âm tiếng nước ngoài, và trong hệ thống ngữ âm tiếng nước ngoài, và trong hệ thống ngữ âm tiếng nước ngoài cũng có những âm không có ở hệ thống ngữ âm tiếng Việt Nguyên nhân đó
Trang 20dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu chữ cái trong cách viết phiên âm Để khắc phục tình trạng đó, buộc phải sử dụng thêm một số chữ cái (chủ yếu là chữ La-tinh - cùng nguồn gốc với chữ Việt) để ghi những câu không có trong
hệ thống ngữ âm tiếng Việt Cách viết ghi âm bằng chữ viết La tinh để áp dụng khi tiếng nước ngoài cũng dùng chữ viết La tinh như tiếng Việt (tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ba Nha v.v )
Đối với các ngôn ngữ dùng chữ viết riêng-không phải là chữ viết La tinh, thì có thể căn cứ vào cách đọc nguyên dạng để ghi trực tiếp bằng chữ Việt (tiếng Nga, tiếng Lào, tiếng Hán, tiếng Cam-pu-chia v.v )
Chuyển tự là chuyển cách viết tiếng nước ngoài sang cách viết bằng chữ Việt Chuyển tự được thực hiện đối với những tiếng nước ngoài cùng sử dụng chữ La tinh như tiếng Việt
Đối với các nước dùng chữ viết không phải là chữ La tinh (chữ Hán, chữ Nhật, chữ Thái v.v ) thì phải chuyển tự sang chữ La tinh để viết tiếng Việt Chính tả tên riêng và thuật ngữ theo các quy định về cách viết phiên âm
và chuyển tự (ban hành kèm theo quyết định số 240/QĐ ngày 5-3-1984 của
Bộ giáo dục) cần chú ý một số điểm cụ thể sau:
a) Viết các tên riêng và thuật ngữ chủ yếu theo dạng chữ viết La tinh (chữ viết chính thức hay phiên âm từ nguyên ngữ) vận dụng vào từng trường hợp cụ thể được quy định trong văn bản trên
b) Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại hai cách xử lý chính tả khi viết các tên riêng và thuật ngữ tiếng nước ngoài:
Trang 21Các trường hợp Cách viết liền các âm
tiết trong từ nguyên ngữ
Cách viết rời từng âm tiết trong từ nguyên ngữ (cách viết tiếng Việt)
- Chữ viết của nguyên
ngữ là chữ cái La tinh
Paris (Pháp) London (Anh) Petofi (Hungari) Latin
Pa-ri Luân-đôn Pê-tơ-fi (phi)
Lô-mô-nô-xốp Mát-xcơ-va Sếch-xpia
-Chữ viết nguyên ngữ
không phải là chữ ghi
âm-phiên âm và chuyển
Ý, I-ta-li-a
Úc, Ốt-xtra-li-a Anh Pháp
- Các thuật ngữ khoa
học
acid gram sulfur parabol video
a-xit gam sun-fua pa-ra-bon vi-đi-ô
Trang 221.1.3 Về dạy học theo chủ điểm trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
Sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 thể hiện hướng tích hợp thông qua hệ thống các chủ điểm học tập Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn) trước đây ít được gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước
Ngoài ra, SGK Tiếng Việt còn được xây dựng dựa trên nguyên tắc tích hợp theo chiều dọc, nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới với những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc), cụ thể là: Kiến thức và kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kĩ năng của lớp dưới Có thể lấy một VD trong cuốn sách Tiếng Việt để làm rõ điều này: Trong bộ SGK, chủ điểm được chọn làm khung cho cả cuốn sách (chủ điểm Gia đình, Nhà trường, Xã hội, Thiên nhiên và đất nước…) Mỗi chủ điểm ứng với một đơn vị học tập Ở lớp 1, thời gian dành cho mỗi đơn vị học là một tuần; các chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; mỗi lần trở lại là một lần được khai thác sâu hơn Từ lớp 2 đến lớp 3, mỗi chủ điểm được dạy trong hai tuần; vòng đồng tâm xoáy trôn ốc ở đây thưa hơn: Phải sau một năm, học sinh trở lại với chủ điểm đã học Đến lớp 4 và lớp 5, mỗi chủ điểm được dạy trong 3 tuần và chỉ xuất hiện một lần
Về nội dung, cả ba lớp đầu cấp, toàn bộ các bài học đều được xây dựng theo các chủ điểm: Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên Tuy vậy, các chủ điểm được mở rộng và nâng cao dần ở mỗi lớp VD ở lớp 2, các chủ
Trang 23điểm trên được chia nhỏ với các tên gọi như: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân Đến lớp 3, các chủ điểm
từ tuần 1 đến tuần 6 (Măng non, Mái ấm, Tới trường) tuy quen thuộc nhưng
đã được mở rộng và nâng cao một bậc so với lớp 2; các chủ điểm từ tuần 7 đến tuần 32 (Cộng đồng, Quê hương Bắc - Trung - Nam, Anh em một nhà, Thành thị- nông thôn, Bảo vệ Tổ Quốc, Sáng tạo, Văn hóa - Nghệ thuật, Lễ hội, Thể thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất) thể hiện nội dung hoàn toàn mới so với lớp 2
Trong dạy học Tiếng Việt, tích hợp hiểu một cách đơn giản là dạy đọc, viết, nghe, nói, Làm văn, Luyện từ và câu… hợp nhất, hòa trộn và nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại Như thế mới tránh được những vướng mắc dư thừa hay chồng chéo nội dung trong quá trình dạy học Tiếng Việt và Làm văn, Luyện từ và câu như trước đây Có thể khẳng định ở đây là dạy học Tiếng Việt hướng tới mục tiêu chung là hình thành, rèn luyện bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS và đều dựa vào một chủ điểm Với sự mở rộng việc lựa chọn các chủ điểm như thế trong SGK sẽ tạo cơ hội và cơ sở tích hợp trong dạy học Tiếng Việt đậm đặc hơn Tuy nhiên, sự lựa chọn chủ điểm không thể tùy tiện Tiêu chuẩn đầu tiên để chọn chủ điểm được dùng chung này là phải đảm bảo mọi thuộc tính riêng của Tập đọc, Làm văn, Chính tả phải được hòa kết với nhau thì mới tạo nên “tam vị nhất thể” rõ ràng, nổi lên trên mọi thuộc tính đa biệt Như vậy, từ bốn kĩ năng được dạy tách biệt đã được hợp nhất về một môn có tên gọi Tiếng Việt
Có thể nói rằng tác phẩm văn học là một yếu tố cấu thành SGK Tiếng Việt Tiểu học Ở chương trình Tiểu học 2000, kiến thức về Ngữ chiếm tỉ lệ
Trang 24nhiều hơn kiến thức về Văn và được tích hợp thành một môn, được thể hiện
chung trong một cuốn sách - sách môn “Tiếng Việt”
Từ nội dung chương trình, từ chủ điểm, tác giả SGK đi tìm tác phẩm văn học và biên soạn thành bài học giáo khoa sao cho vừa phải đảm bảo tính giáo dục vừa cung cấp kiến thức ngôn từ, kiến thức về đời sống xã hội cho trẻ thơ Những bài thơ, bài văn, văn bản tác giả SGK phải tìm buộc phải thỏa mãn không ít yêu cầu, như phải gắn với chủ điểm, phải vừa có giá trị thẩm mĩ, giá trị giáo dục cao, vừa phù hợp đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học, vừa góp phần rèn luyện nhân cách vừa góp phần rèn luyện lời ăn tiếng nói cho HS Chương trình, đề cương mà chủ biên và hội đồng xây dựng cũng yêu cầu tác giả SGK phải chọn thơ, văn sao cho phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại, đặc sắc về cấu trúc, tinh tế hàm súc về ngôn từ, Đồng thời, với việc tìm chọn những văn bản đảm bảo giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật, tác giả SGK còn phải chú trọng tính đa dạng, đặc trưng của vùng miền, của các thế hệ nhà văn, nhà thơ,… Có thể nói mà không hề quá rằng tìm được bài thơ, bài văn làm ngữ liệu cho việc biên soạn các bài học, người viết SGK Tiếng Việt tiểu học 2000 đã hoàn thành hơn 90% công việc được giao
Tỷ lệ thơ so với văn xuôi ở mỗi lớp và mỗi phân môn không hoàn toàn như nhau Điều này tùy thuộc vào thế mạnh của mỗi thể loại trong sự gắn với nhiệm vụ chuyển tải các đơn vị kiến thức
Văn bản từ các nguồn từ sách in, báo in đến sách báo trên mạng Internet;
từ tác phẩm trong nước đến tác phẩm nước ngoài, đến tìm lại từ SGK cũ, đều được tác giả SGK Tiếng Việt Tiểu học tìm tòi, lục soát với nhiều phương thức, trong đó có cả tìm cách tiếp cận, gặp gỡ các nhà thơ, nhà văn để đặt hàng sáng tác bài vở cho chủ điểm mình cần
Trang 25Có thể mở bất cứ trang sách nào của SGK Tiếng Việt Tiểu học, ở mỗi tuần mỗi chủ điểm, ta đều dễ dàng bắt gặp những câu thơ, đoạn văn được làm dẫn liệu cho các kiểu rèn luyện chính tả, bài tập luyện từ và câu, bài tập làm văn v.v
Chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1) cũng theo cấu trúc như vậy Trong tổng số 24 bài học của chủ điểm có 6 bài dạy - học kiến thức nước ngoài
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực tiễn việc dạy - học phân môn Tiếng Việt theo chủ điểm
Dựa vào mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học, SGK đã tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và
xã hội thông qua các chủ điểm học tập theo nguyên tắc đồng quy Bằng việc
tổ chức hệ thống bài đọc, bài học theo chủ điểm, SGK dẫn dắt HS đi dần vào các lĩnh vực của đời sống, qua đó tăng cường vốn từ, vốn diễn đạt của các em
về nhà trường, gia đình và xã hội, đồng thời mở rộng cánh cửa cho các em bước vào thế giới xung quanh và soi vào thế giới tâm hồn của chính mình
Ở lớp 1, HS được học theo các chủ điểm tương đối rộng: Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên và Đất nước Lên lớp 2, các chủ điểm được chia nhỏ hơn VD: chủ điểm Nhà trường và Gia đình ở lớp 2 được chia thành 8 chủ điểm nhỏ: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn ở trong nhà Lớp 3, ngoài các chủ điểm đã học ở lớp 1 và 2, HS được tiếp cận với các chủ điểm mới mở rộng hơn như Quê hương, Cộng đồng, Bắc Trung Nam, Ngôi nhà chung, Khoa học, Thể thao, Lễ hội Lớp 4: Thương người như thể thương thân, Măng mọc thẳng, Trên đôi cánh ước mơ,
Có chí thì nên, Người ta là hoa đất, Những người quả cảm, Khám phá thế
Trang 26giới, Tình yêu cuộc sống Lớp 5: Việt Nam - Tổ quốc em, Cánh chim hoà bình, Con người với thiên nhiên, Giữ lấy màu xanh, Vì hạnh phúc con người,
Vì cuộc sống thanh bình, Nhớ nguồn, Những chủ nhân tương lai…
Việc chia nhỏ các chủ điểm phù hợp với sự phát triển nhận thức của trẻ
và giúp trẻ duy trì hứng thú học tập, loại trừ cảm giác nhàm chán dễ xảy ra khi học một chủ điểm trong một thời gian quá dài
Các chủ điểm là bộ khung cho cả cuốn SGK Ở lớp 1, thời gian học dành cho mỗi đơn vị học là 1 tuần; các chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy ốc; mỗi lần trở lại là một lần khai thác sâu hơn Từ lớp 2 trở lên, mỗi chủ điểm được dạy trong 2 tuần, vòng đồng tâm xoáy ốc thưa hơn Phải sau một năm, học sinh mới trở lại với chủ điểm đã học
Tính tích hợp của bộ sách còn thể hiện ở sự gắn bó giữa các bài học trong phân môn học, sự gắn bó các phân môn trong môn học Quan điểm tích hợp thể hiện rõ trong SGK Tiếng Việt Tiểu học có thể theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc
* Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức giữa tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy Chẳng hạn hướng tích hợp này được SGK Tiếng Việt lớp 4 thể hiện thông qua hệ thống 10 chủ điểm:
- Tập 1: Thương người như thể thương thân - Măng mọc thẳng - Trên đôi cánh ước mơ - Có chí thì nên - Tiếng sáo diều
- Tập 2: Người ta là hoa đất - Vẽ đẹp muôn màu - Những người quả cảm
- Khám phá thế giới - Tình yêu cuộc sống
SGK đã hướng dẫn các lĩnh vực vào đời sống Qua đó tăng cường vốn
từ, khả năng diễn đạt về mọi lĩnh vực Nhà trường - Gia đình - Xã hội giúp các
Trang 27em hiểu được thế giới xung quanh soi vào thế giới tâm hồn mình.Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Kể chuyện, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện
kỹ năng cũng gắn bõ chặt chẽ với nhau hơn trước
SGK Tiếng Việt lớp 2 có chủ điểm: “Em là học sinh” Mở đầu chủ điểm
là bài: “Lý lịch” để giáo dục HS biết những điều cơ bản và rất gần gũi về bản thân, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS Đây là chủ điểm mới thể hiện rất rõ tính nhân văn, rất gần gũi với HS
* Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức và kỹ năng với đơn vị kiến thức và kỹ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Nghĩa là: kiến thức và kỹ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm cả kiến thức và kỹ năng của lớp dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kỹ năng của lớp dưới, bậc học dưới Điều này ở phân môn Tập đọc thể hiện rất rõ VD: Về mặt kiến thức: Ở lớp 1 cũng như lớp 2, toàn bộ các bài học đều được xây dựng theo các chủ điểm Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên Ở lớp 1, thời gian dành cho mỗi đơn vị học là một tuần; các chủ điểm lần lượt trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; mỗi lần trở lại là một lần được khai thác sâu hơn Đến lớp 2, mỗi chủ điểm nói trên được chia thành nhiều chủ điểm nhỏ, tạo điều kiện cho HS hiểu biết sâu hơn nữa VD: chủ điểm Nhà trường bao gồm 4 chủ điểm nhỏ là Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, thầy cô Mỗi chủ điểm nhỏ được học trong 2 tuần và chỉ xuất hiện 1 lần Đến lớp 4 và lớp 5, mỗi chủ điểm được dạy trong 3 tuần và chỉ xuất hiện một lần
Trên cơ sở định hướng của Chương trình và SGK ta thấy SGK Tiếng Việt thực hiện việc tích hợp theo các hướng chính sau:
Trang 28- Tích hợp kiến thức thông qua các hệ thống chủ điểm (nội dung các bài đọc được thiết lập theo chủ điểm và chương trình là một hệ thống các chủ điểm về các vấn đề gần gũi với trẻ như gia đình, trường học)
- Tích hợp các kỹ năng học tập (các bài học đều chú ý rèn luyện cả 4 kỹ năng: nghe- nói- đọc- viết, kết hợp dạy thực hành các kỹ năng trên với dạy tri thức: ở lớp 4,5 tuy đã có bài dạy tri thức Tiếng Việt riêng, song các bài này vẫn được thực hiện trên cơ sở thực hành đọc, viết, nghe, nói Tuy nhiên trong
đó có một kỹ năng trung tâm, các kỹ năng khác được rèn luyện phối hợp và
Là chủ điểm thứ ba trong SGK Tiếng Việt 4, tập 1 Giống như các chủ
điểm khác, chủ điểm "Trên đôi cánh ước mơ” được dạy trong ba tuần 7,8,9
Mỗi tuần học là tám tiết: hai tiết Tập đọc, hai tiết Luyện từ và câu, hai tiết Tập làm văn, một tiết Chính tả và một tiết Kể chuyện Nhìn chung, các bài Tập đọc xoay quanh chủ đề cuộc sống có biết bao khó khăn, thử thách nhưng con người vẫn có thể vượt qua bằng nỗ lực, bằng cả sự lạc quan và biết ước mơ Thế nên những bài thơ, bài văn, văn bản mà các tác giả SGK lựa chọn cũng
đề cập đến chủ điểm xuyên suốt đó Không những thế, hầu hết các bài Tập
đọc trong chủ điểm là ngữ liệu cho bài viết Chính tả trong tuần như: Gà Trống và Cáo, Trung thu độc lập, Thợ rèn Phân môn Luyện từ và câu tập trung vào nội dung về từ loại: Cách viết tên người, tên địa lý Việt Nam; cách viết tên người, tên địa lý nước ngoài Thêm vào đó là một tiết Mở rộng vốn từ
về ước mơ, một bài về Dấu ngoặc kép và một bài về Động từ Phân môn kể
Trang 29chuyện bên cạnh việc tiếp tục hướng HS vào kĩ năng kể chuyện đã nghe, đã đọc, biết lựa chọn những câu chuyện phù hợp với chủ điểm: những ước mơ
đẹp hay những ước mơ viển vông, phi lý để kể SGK còn cung cấp cho HS
một số câu chuyện mới ở tuần 8 như: Lời ước dưới trăng mang một ý nghĩa
nhân văn sâu sắc, đó là những ước mơ đẹp mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mọi người Ngoài ra, trong chủ điểm còn giới thiệu một kiểu bài kể
chuyện mới: Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia tuy không phải là
mới hoàn toàn vì các em đã được làm quen với kiểu bài này trong phân môn Tập làm văn lớp 3 nhưng trong chủ điểm này lại đi sâu vào khai thác những câu chuyện là những ước mơ có thực, đẹp đẽ của mình hoặc bạn bè, người thân Qua bài học, HS có kĩ năng sắp xếp các sự việc thành một câu chuyện, sau đó biết trao đổi với các bạn về ý nghĩa câu chuyện của mình
Riêng với phân môn Tập làm văn, trong ba tuần học chủ điểm "Trên đôi
cánh ước mơ” chủ yếu tập trung dạy, học các dạng bài Luyện tập phát triển câu chuyện, chiếm 4 tiết/6 tiết tập làm văn Các dạng bài tập làm văn này
hướng tới mục tiêu làm quen với hoạt động phát triển câu chuyện, sắp xếp các
sự việc theo trình tự thời gian hoặc không gian 2/6 bài tập làm văn còn lại,
một bài Luyện tập xây dựng đoạn văn kể chuyện dựa vào cốt chuyện cho sẵn,
HS biết tạo dựng các đoạn văn của bài kể chuyện Đây có thể coi là một bài làm nền móng, mở đầu cho các kiểu bài luyện tập phát triển câu chuyện, khiến cho các em có thể thực hành tốt hơn dạng bài này Kết thức chủ điểm là
một dạng bài hoàn toàn mới: Luyện tập trao đổi ý kiến với người thân Sau
bài này, HS có khả năng thực hiện các cuộc trao đổi có mục đích với thái độ
tự tin, thân ái, lời lẽ có sức thuyết phục Góp phần rèn khả năng sử dụng lời
lẽ, cử chỉ thích hợp để thuyết phục người khác trong một việc nào đó
Tuy nhiên, chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” chưa được người GV, học viên lựa chọn để làm đề tài khoa học Chỉ có một số bài được lựa chọn để dạy
Trang 30chuyên đề, hội giảng như bài: Điều ước của vua Mi-đát, Nếu chúng mình có phép lạ (Tập đọc), Cách viết tên người, tên riêng Việt Nam, Mở rộng vốn từ: Ước mơ (Luyện từ và câu) Có lẽ là vì ở phân môn Luyện từ và câu có bài nội dung kiến thức tương đối rộng và khó như bài Cách viết tên người, tên địa
lý nước ngoài Các bài tập làm văn, kể chuyện thì đòi hỏi HS phải chủ động,
tự tin trong các hoạt động học thì giờ dạy mới thành công được Điều này khiến người GV luôn phải cân nhắc, cẩn trọng khi chọn bài để lên tiết dạy mẫu hay thi GV dạy giỏi
Tiểu kết chương 1
Các tác phẩm, trích đoạn tác phẩm được chọn để giảng dạy hoặc làm ngữ liệu giảng dạy đều thuộc các tác phẩm tiêu biểu của một số nền văn học nước ngoài; có nội dung dễ hiểu, đơn giản, gần gũi, phù hợp với tâm lý của trẻ thơ đồng thời phù hợp với định hướng giáo dục tâm lý, đạo đức của giáo dục Việt Nam
Vấn đề lý luận ngôn ngữ học làm cơ sở cho luận văn là những vấn đề về danh từ Trong đó, đặc biệt là vấn đề danh từ riêng và cách đọc, cách viết danh từ riêng nước ngoài Về vấn đề thứ hai, đã có quy định chung về cách
viết phiên âm và chuyển tự trong chính tả tên riêng và thuật ngữ (ban hành kèm theo Quyết định số 240/QĐ ngày 05-3-1984 của Bộ Giáo dục) Tuy
nhiên, cần lưu ý rằng hiện nay vẫn tồn tại hai cách xử lý chính tả khi viết các tên riêng và thuật ngữ tiếng nước ngoài, đó là cách viết liền các âm tiết trong
từ nguyên ngữ và cách viết rời từng âm tiết trong từ nguyên ngữ (cách viết tiếng Việt)
Chương trình Tiếng Việt Tiểu học - 2006 gồm các bộ phận là kỹ năng sử
dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói); tri thức Tiếng Việt (một số hiểu biết cơ
sở, tối thiểu về ngữ âm, chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp…); Tri thức về văn
Trang 31học, về tự nhiên và xã hội (một số hiểu biết tối thiểu về sáng tác văn học và cách tiếp cận chúng, về con người, về đời sống tinh thần và vật chất của họ,
về đất nước và dân tộc Việt Nam…) Cấu trúc này được sắp xếp theo hai giai
đoạn phát triển của HS lứa tuổi Tiểu học
Trong thực tế, hoạt động dạy học dựa trên cơ sở của nguyên tắc tích hợp, đồng quy: Tích hợp kiến thức thông qua các hệ thống chủ điểm; Tích hợp các
kỹ năng học tập
“Trên đôi cánh ước mơ” là chủ điểm thứ ba trong SGK Tiếng Việt 4, tập
1 Các bài Tập đọc trong chủ điểm này đều xoay quanh việc nêu gương, cổ vũ con người vượt qua những khó khăn thử thách, cám dỗ để vươn tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống Những bài tập đọc trở thành ngữ liệu cho các bài Chính tả, Luyện từ và câu…
Như vậy, Chương 1 của luận văn đã trình bày khái quát những cơ sở lý luận và thực tiễn cần thiết cho đề tài luận văn
Trang 32Chương 2:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY - HỌC KIẾN THỨC NƯỚC NGOÀI
TRONG CHỦ ĐIỂM “TRÊN ĐÔI CÁNH ƯỚC MƠ”
(TIẾNG VIỆT LỚP 4, TẬP 1)
2.1 Khái quát về chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương
trình môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1
2.1.1 Vị trí của chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1
Trong bộ SGK, chủ điểm được chọn làm khung cho cả cuốn sách (chủ điểm Gia đình, Nhà trường, Xã hội, Thiên nhiên và đất nước…) Mỗi chủ điểm ứng với một đơn vị học tập Ở lớp 1, thời gian dành cho mỗi đơn vị học
là một tuần; các chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; mỗi lần trở lại là một lần được khai thác sâu hơn Từ lớp 2 đến lớp 3, mỗi chủ điểm được dạy trong hai tuần; vòng đồng tâm xoáy trôn ốc ở đây thưa hơn: Phải sau một năm, HS trở lại với chủ điểm đã học Đến lớp 4 và lớp 5, mỗi chủ điểm được dạy trong 3 tuần và chỉ xuất hiện một lần
SGK Tiếng Việt 4 (tập 1, tập 2) dạy cho cả năm học được chia làm 10 chủ điểm Trong đó, chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” được xếp ở vị trí thứ
ba, sau 2 chủ điểm: Thương người như thể thương thân, Măng mọc thẳng Chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” được dạy trong ba tuần học: tuần 7, 8, 9 của học kỳ I Cách sắp xếp chủ điểm như vậy là phù hợp với nhận thức, tâm
lý lứa tuổi của học sinh Sở dĩ các chủ điểm được sắp xếp như vậy là vì ngay
từ những chủ điểm đầu tiên, chương trình SGK đã chuẩn bị và định hướng cho các em một số tính cách tốt đẹp của con người trong thế hệ mới Đó là
Trang 33nhân hậu, đoàn kết, tình yêu thương con người “Thương người như thể thương thân”; trung thực, tự trọng trong “Măng mọc thẳng” và biết ước mơ
và vươn tới thực hiện ước mơ của mình trong “Trên đôi cánh ước mơ” Các tính cách tốt đẹp đó được tiếp nối và tạm kết thúc vào cuối học kỳ I ở chủ điểm thứ tư, đó là: nghị lực, ý chí quyết tâm, vượt khó của con người Các chủ điểm tiếp sau đó ở học kỳ hai đi sâu vào chủ yếu khám phá các năng lực,
sở thích… của con người
2.1.2 Nội dung của chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1
Tính phù hợp lứa tuổi, trình độ nhận thức của đối tượng tiếp nhận luôn là tiêu chí tối cao cho việc lựa chọn tác phẩm để đưa vào chương trình dạy và học Hiệu quả giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, bước đầu nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Tiểu học phụ thuộc vào yếu tố này Dạy văn ở Tiểu học là dạy theo chủ điểm Bởi thế, các nhà biên soạn, khi lựa chọn giới thiệu, giảng dạy các tác phẩm văn học trong nước và nước ngoài trong chương trình Tiểu học đều quan tâm trước hết đến ý nghĩa giáo dục của nó Các khía cạnh khác như tính khái quát, tính nghệ thuật, tính hệ thống, tính lịch sử… của tác phẩm cũng quan trọng nhưng chưa cần thiết phải giới thiệu
kỹ vì chúng quá trừu tượng với các em
Trong chương trình Tiểu học có khoảng hơn 100 truyện dân gian cùng với các bài, các đoạn trích văn thơ của các tác giả nổi tiếng trên thế giới Các tác giả và tác phẩm ấy đã để lại những dấu ấn khó phai trong tâm trí của bạn đọc ở lứa tuổi Tiểu học về những kiến thức phong phú của đời sống, về những khát vọng cao cả của con người từ ngàn xưa cho đến bây giờ trên khắp trái đất của chúng ta
Trang 34Việc chia nhỏ các chủ điểm phù hợp với sự phát triển nhận thức của trẻ
và giúp trẻ duy trì hứng thú học tập, loại trừ cảm giác nhàm chán dễ xảy ra
khi học một chủ điểm trong một thời gian quá dài
Về nội dung, cả ba lớp đầu cấp, toàn bộ các bài học đều được xây dựng theo các chủ điểm: Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên Tuy vậy các chủ điểm được mở rộng và nâng cao dần ở mỗi lớp VD ở lớp 2, các chủ điểm trên được chia nhỏ với các tên gọi như: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân Đến lớp 3, các chủ điểm
từ tuần 1 đến tuần 6 (Măng non, Mái ấm, Tới trường) tuy quen thuộc nhưng
đã được mở rộng và nâng cao một bậc so với lớp 2; các chủ điểm từ tuần 7 đến tuần 32 (Cộng đồng, Quê hương Bắc - Trung - Nam, Anh em một nhà, Thành thị - nông thôn, Bảo vệ Tổ Quốc, Sáng tạo, Văn hóa - Nghệ thuật, Lễ hội, Thể thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất) thể hiện nội dung hoàn toàn mới so với lớp 2
Lên lớp 4, các chủ điểm vẫn trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy ốc, nhưng khai thác sâu hơn Nội dung các chủ điểm là những vấn đề về đời sống tinh thần như tính cách, đạo đức, năng lực, sở thích… Trong SGK Tiếng Việt 4,
tập 1 HS làm quen với 5 chủ điểm: “Thương người như thể thương thân” (nói
về lòng nhân ái), “Măng mọc thẳng” (nói về tính trung thực, lòng tự trọng),
“Trên đôi cánh ƣớc mơ” (nói về ước mơ của con người), “Có chí thì nên”
(nói về nghị lực của con người), “Tiếng sáo diều” (nói về vui chơi của trẻ em) Sang đến học kỳ 2, các em tiếp tục khám phá các chủ điểm như: “Người
ta là hoa đất” (nói về năng lực và tài trí), “Vẻ đẹp muôn màu” (nói về óc thẩm mĩ), “Những người quả cảm” (nói về lòng dũng cảm), “Khám phá thế giới”
Trang 35(nói về du lịch, thám hiểm), “Tình yêu cuộc sống” (Nói về lòng lạc quan, yêu đời)
Trong khuôn khổ có hạn, luận văn đi sâu vào chủ điểm thứ ba - “Trên đôi cánh ước mơ” Cuộc sống có biết bao khó khăn, thử thách, nhưng con người vẫn có thể vượt qua bằng nỗ lực, bằng sự lạc quan và biết ước mơ Mở
đầu chủ điểm là bài Tập đọc Trung thu độc lập, HS được biết đêm trung thu
đầu tiên của đất nước, anh chiến sĩ đứng gác và mơ ước về tương lai đẹp đẽ
của các em nhỏ và của đất nước Sau đó là câu chuyện Lời ước dưới trăng với
ý nghĩa: những ước mơ đẹp sẽ mang đến niềm vui và hạnh phúc cho con người Ước mơ của các bạn nhỏ về một cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, có
những phát minh độc đáo của trẻ em là nội dung của vở kịch Ở Vương quốc Tương Lai Ngoài ra, bài thơ Nếu chúng mình có phép lạ cho các em thấy
những ước mơ ngộ nghĩnh, đáng yêu của bạn nhỏ bộc lộ khát khao về một thế giới tốt đẹp Hay ước mơ giản dị của một bạn nhỏ trong tương lai là trở thành người thợ rèn và thuyết phục mẹ rằng nghề nào cũng đáng quý trong câu
chuyện Thưa chuyện với mẹ Tự có những ước mơ tốt đẹp của riêng mình
nhưng cũng biết quan tâm và tôn trong ước mơ của người khác như trong bài
Đôi giày ba ta màu xanh Và bài học sâu sắc những ước muốn tham lam không đem lại hạnh phúc cho con người sau câu chuyện Điều ước của vua Mi-đát… Tất cả những tác phẩm, những câu chuyện, bài thơ, vở kịch của các
tác giả văn học nổi tiếng trong nước và đặc biệt là trên thế giới được chọn trong chủ điểm đều nhằm giáo dục nhằm hình thành những phẩm chất tốt đẹp cho con người Ngoài việc đem lại các tác phẩm văn học nước ngoài, chủ điểm còn đem lại cho HS các bài học Luyện từ và câu, Tập làm văn, Chính tả liên quan đến kiến thức nước ngoài Đó là: cách viết tên người, tên địa lý nước ngoài - một trong những nội dung dạy học hay, mở mang tầm hiểu biết
về từ loại không hề dễ và gần gũi đối với HS Tiểu học
Trang 36Trong chủ điểm đặc biệt có bài: “Ở Vương quốc Tương Lai” là một đoạn
trích trong vở kịch Con chim xanh của Mát-téc-lích Đây là một thể loại nghệ
thuật không được giới thiệu nhiều trong chương trình học của HS Tiểu học
Cả chương trình học Tiếng Việt Tiểu học nói chung và Tiếng Việt 4 nói riêng
chỉ có một bài duy nhất viết theo thể loại kịch của văn học nước ngoài Tuy
nhiên nội dung của bài học lại rất nhân văn và phù hợp với nhận thức của trẻ nhỏ Đó là ước mơ của các bạn nhỏ về một cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, có những phát minh độc đáo của trẻ em trong tương lai Qua đó, tác giả và người xây dựng chương trình sách muốn giáo dục HS biết mơ ước, có những hành động và việc làm thiết thực để thực hiện ước mơ đó Đây là chủ điểm mới thể hiện rõ tính nhân văn, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và rất gần gũi với
HS
2.1.3 Ý nghĩa của chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1
Chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” không những cung cấp cho HS những
bài học có nội dung hay mà còn đem lại cho các em những bài học nhẹ nhàng, đầy ý nghĩa, giàu tính nhân văn Đó là việc ý thức được tầm quan trọng của những ước mơ trong tương lai, để từ đó có định hướng trong việc cố gắng học tập tốt, lao động tốt để đạt được những ước mơ tốt đẹp đó
Bởi mỗi con người ta khi sinh ra đều có những ước mơ, hoài bão cho riêng mình Những ước mơ đó là những khát khao, hi vọng mà chúng ta vươn tới Người GV giáo dục các em muốn thực hiện ước mơ đó, trước tiên chúng
ta cần phải học tập,lao động hết mình để góp phần nâng cánh những ước mơ
trở thành hiện thực M.Goorki đã nói: “Lao động là đôi cánh của ươc mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo” Như vậy, trước hết muốn lao động tốt
chúng ta phải phấn đấu học tập tốt Học tập và lao động là đôi cánh nâng
Trang 37những ước mơ bay cao, bay xa, đưa con người đến những thành công mới, khám phá những điều bất ngờ, thú vị Hiện nay ở nước ta và trên thế giới có rất nhiều người đã nuôi ước mơ và nâng cánh ước mơ từ học tập và lao động
mà đặc biệt là thế hệ trẻ-những chủ nhân tương lai của đất nước với những sự sáng tạo và cống hiến hết mình Và trong những lúc lao động ấy, được cống hiến là niềm vui của mỗi người Lao động không mệt mỏi còn giúp chúng ta vơi đi những nỗi buồn, nỗi đau trong cuộc sống Làm việc hết mình, suy nghĩ hết mình, sáng tạo làm cho chúng ta vui hơn khi mình có thể sáng chế, tìm tòi
ra những cái mới Và khi mà cuộc sống của chúng ta phát triển thì xã hội cũng
đi lên, phát triển mạnh mẽ, hội nhập ra toàn thế giới Như vậy, ý kiến của M Gooc-ki là hoàn toàn đúng Mỗi chúng ta đều phải tích cực lao động, lao động không ngừng, đồng thời chúng ta cần phải tích cực học tập, tìm tòi và phát triển cái mới Bên cạnh đó, mỗi HS chúng ta phải có thái độ tích cực, tự giác học tập nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật, có tính tự giác,
kỉ luật cao trong học tập, lao động để có được những thành quả lớn nhất Mỗi người chúng ta, bên cạnh việc học tập, phải lao động, sáng tạo và tìm tòi những cái mới, đồng thời cũng nhắc nhở, động viên những người xung quanh lao động sáng tạo để có kết quả tốt nhất Vì chính lao động cũng giúp cho cuộc sống và xã hội thêm phát triển
Chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” còn mang ý nghĩa thứ hai, đó là chính tình yêu thương, sự quan tâm của mọi người xung quanh sẽ góp phần chắp cánh cho ước mơ của các em nhỏ bay cao, bay xa Như Napoleon Hill đã nói:
“Hãy nuôi dưỡng và khát khao những ước mơ vì đó là động lực giúp bạn đạt được mục đích của mình" Và để đạt được thành công, bạn phải chắp cánh cho ước mơ bay thật cao, thật xa Không chỉ thế, bạn còn có thể chắp cánh cho ước mơ của mọi người…
Trang 382.1.4 Nhóm bài có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Chương trình môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1)
Trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ”, Tiếng Việt 4, tập 1, nhóm bài
có kiến thức nước ngoài bao gồm:
Bài 1: Tập đọc Ở Vương quốc Tương Lai
Bài 2: Luyện từ và câu Cách viết tên người, tên địa lý nước ngoài
Bài 3: Kể chuyện Kể chuyện đã nghe, đã đọc
Bài 4: Tập làm văn Luyện tập phát triển câu chuyện
Bài 5: Tập đọc Điều ước của vua Mi-đát
Bài 6: Chính tả Gà trống và Cáo
Nhóm bài trên, ngoài việc thể hiện nội dung “Trên đôi cánh ước mơ” của chủ điểm, còn thể hiện những nội dung kiến thức nước ngoài Đó là cách phát
âm, cách viết tên riêng (Mi-tin, Tin-tin, Mi-đát,…) Đó là giá trị văn hóa, văn
học của Thần thoại Hy Lạp mà trong bài Tập đọc Điều ước của vua Mi-đát
thể hiện khá rõ: con người và thần thánh có mối liên hệ gần gũi, gắn bó, thần thánh có hình dạng giống con người… (đặc điểm này khác những câu chuyện
cổ Việt Nam) Hay trong truyện thơ La-phông-ten, những bài học ngụ ngôn được thể hiện qua hình thức những bài thơ - khác với truyện ngụ ngôn của Việt Nam được thể hiện qua các câu chuyện văn xuôi Bên cạnh đó cũng cần nhắc đến nền văn minh vật chất với sự phát triển của khoa học kĩ thuật được
thể hiện qua những ước mơ của các bạn nhỏ trong bài Tập đọc Ở Vương quốc Tương Lai - tác phẩm ra đời từ đầu thế kỉ XX nhưng các bạn nhỏ đã vươn tới
những ước mơ về các loại máy móc, những sáng chế, phát minh… Trong các bài Tập làm văn về kể chuyện trong nhóm bài này, học sinh cần nắm được những chi tiết thể hiện kiến thức nước ngoài của các câu chuyện kể để việc kể chuyện đạt yêu cầu
Trang 392.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy - học kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 - tập 1
2.2.1 Phát huy liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ học
Liên tưởng là hoạt động tâm lý của con người, từ việc này mà nghĩ đến việc kia, từ người này mà nghĩ đến người khác Cơ sở của hoạt động liên tưởng là mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng trong đời sống
Trong hoạt động học tập của học sinh, liên tưởng là hoạt động có mục đích, nhằm làm nổi bật thực chất một hiện tượng, nhận ra một ý nghĩa nào đó Các loại liên tưởng bao gồm Liên tưởng tương cận, Liên tưởng tương đồng, Liên tưởng đối sánh, trái ngược, Liên tưởng nhân quả
Trong hoạt động liên tưởng, yêu cầu phải hợp lý, tự nhiên, mới mẻ và
Trong hoạt động tưởng tượng, yêu cầu cần phải hợp lý, phong phú, mới
mẻ và bất ngờ
Trong hoạt động học tập của học sinh, liên tưởng và tưởng tượng chắp cánh cho tư duy con người thoát khỏi sự lệ thuộc vào sự việc trước mắt, mở rộng tầm nhìn, đi vào những chỗ sâu thẳm, bí ẩn của thế giới và con người,
Trang 40tạo ra những sản phẩm mới, những hình tượng nghệ thuật không lặp lại Muốn đạt được kết quả tốt trong giảng dạy, GV phải có kĩ năng phân tích chương trình và SGK, xác định đúng mục đích yêu cầu và nội dung của từng bài học và tìm ra biện pháp thích hợp kích thức liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo của học sinh để giúp học sinh nắm vững kiến thức, hình thành kĩ năng Với mạch kiến thức được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm, tuỳ theo ở mỗi lớp mà có những yêu cầu khác nhau Tuy nhiên nếu các em nắm chắc những kiến thức ở lớp dưới thì lớp 4 các em sẽ nắm kiến thức dễ dàng hơn
Với phân môn Luyện từ và câu cũng vậy, để học tốt bài Cách viết tên người,
tên địa lý nước ngoài HS phải nắm vững và phát huy những kiến thức, kĩ
năng đã đạt được ở các lớp 1,2,3 và các bài học có liên quan trước đó
VD: Lớp 2, HS bước đầu nhận biết và phân biệt được sự khác nhau giữa
từ và câu qua bài học đầu tiên của phân môn “Từ và câu” Sau đó, tiếp tục
làm quen với từ chỉ sự vật thông qua hai bài Từ chỉ sự vật tuần 3 và 4 HS
hiểu từ chỉ sự vật (chỉ dừng lại ở mức sơ giản) là những từ chỉ người, đồ vật, con vật, cây cối Đến tuần 5, HS được biết phân biệt các từ chỉ sự vật nói
chung với tên riêng của từng sự vật, biết viết hoa tên riêng qua bài Tên riêng
và cách viết tên riêng
Lên lớp 3, HS tiếp tục được ôn luyện các bài tập liên quan đến từ chỉ sự
vật qua bài Ôn tập từ chỉ sự vật So sánh trong tuần học đầu tiên Đến giữa
năm học lớp 3, các em được biết thêm tên một số dân tộc thiểu số ở nước ta
qua bài Mở rộng vốn từ: Dân tộc…
Bước sang chương trình lớp 4, HS được học nhiều hơn về kiến thức từ
loại Ở bài Luyện từ và câu tuần 5, các em được học về danh từ HS hiểu
được danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị) (mức độ nhận thức đã bắt đầu cao hơn lớp 2), biết nhận biết được