Các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo chỉ được đưa ra một cách đúng đắn và phù hợp với thực tế của từng địa phương trên cơ sở có các kết quả điều tra cơ bản về sự phát tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS TRẦN THỊ LOAN
HÀ NỘI, 2009
Trang 2L I C M N
Em xin chân thành c m n PGS.TS Tr n Th Loan, ng i ã t n tâm h ng d n, giúp , ng viên em trong su t quá trình th c hi n lu n v n
Em c ng xin bày t lòng bi t n sâu s c n GS.TSKH T Thúy Lan, TS Mai V n
H ng ã nhi t tình giúp em trong quá trình th c hi n lu n v n
Em xin chân thành c m n Ban Giám hi u, phòng Sau i h c, các th y, cô trong Ban Ch nhi m Khoa Sinh h c Tr ng i h c S ph m Hà N i 2 ã t o i u ki n giúp em hoàn thành lu n v n này
Tôi xin c m n các th y giáo, cô giáo Tr ng Ti u h c và Tr ng Trung h c c s
xã ình T , huy n Thu n Thành, t nh B c Ninh ã t n tình giúp tôi trong su t quá trình h c t p và nghiên c u
Tôi xin chân thành c m n các b n bè, ng nghi p cùng gia ình ã quan tâm,
ng viên tôi trong quá trình th c hi n lu n v n
Hà N i, tháng 10 n m 2009
Tác gi
Lê Th Nh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là chân thực và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào
Tác giả
Lê Thị Nhị
Trang 4
3.1.1 Chiều cao của học sinh 21
3.1.2 Cân nặng của học sinh 29
3.1.3 Vòng ngực trung bình của học sinh 36
3.1.4 Chỉ số pignet của học sinh 44
3.1.5 Chỉ số BMI của học sinh 47 3.2 Các chỉ số hoạt động thần kinh cấp cao của học sinh 50
3.2.1 Chỉ số IQ và các mức trí tuệ 50
3.2.2 Trí nhớ của học sinh 57
4.1.1 Chiều cao của học sinh 66
4.1.2 Cân nặng của học sinh 69
4.1.3 Vòng ngực trung bình của học sinh 71
4.1.4 Chỉ số pignet và chỉ số BMI của học sinh 73 4.2 Một số chỉ số hoạt động thần kinh cấp cao của học sinh 77
Trang 5CHỮ VIẾT TẮT
TƯ : Trung ương
BMI : Chỉ số khối cơ thể (Body mass index)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính
Bảng 2.2 Phân loại theo chỉ số pignet
Bảng 2.3 Bảng phân loại theo chỉ số BMI
Bảng 2.4 Phân loại theo mức trí tuệ
Bảng 3.1 Chiều cao (cm) của học sinh nam
Bảng 3.2 Chiều cao (cm) của học sinh nữ
Bảng 3.3 Chiều cao (cm) của học sinh theo giới tính
Bảng 3.4 Cân nặng (kg) của học sinh nam
Bảng 3.5 Cân nặng (kg) của học sinh nữ
Bảng 3.6 Cân nặng (kg) của học sinh theo giới tính
Bảng 3.7 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh nam
Bảng 3.8 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh nữ
Bảng 3.9 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo giới tính
Bảng 3.10 Chỉ số pignet của học sinh theo giới tính
Bảng 3.11 Chỉ số BMI của học sinh theo giới tính
Bảng 3.12 Chỉ số IQ của học sinh
Bảng 3.13 Chỉ số IQ của học sinh theo giới tính
Bảng 3.14 Phân bố học sinh theo các mức trí tuệ
Bảng 3.15 Phân bố học sinh theo các mức trí tuệ và theo giới tính Bảng 3.16 Trí nhớ thị giác của học sinh
Bảng 3.17 Trí nhớ thính giác của học sinh
Bảng 3.18 So sánh trí nhớ thị giác và trí nhớ thính giác
của học sinh nam
Bảng 3.19 So sánh trí nhớ thị giác và trí nhớ thính giác của học sinh nữ Bảng 4.1 Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo nghiên cứu
của các tác giả khác nhau
Bảng 4.2 Cân nặng (kg) của học sinh theo nghiên cứu của
các tác giả khác nhau
Bảng 4.3.Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Bảng 4.4 Chỉ số pignet của học sinh theo nghiên cứu
của các tác giả khác nhau
Bảng 4.5 Chỉ số BMI của học sinh theo nghiên cứu của
các tác giả khác nhau
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ TRONG LUẬN VĂN Hình 3.1 Chiều cao (cm) của học sinh nam
Hình 3.2 Chiều cao (cm) của học sinh nữ
Hình 3.3 Chiều cao (cm) của học sinh theo giới tính
Hình 3.4 Mức tăng chiều cao (cm) của học sinh theo giới tính Hình 3.5 Cân nặng (kg) của học sinh nam
Hình 3.6 Cân nặng (kg) của học sinh nữ
Hình 3.7 Cân nặng (kg) của học sinh theo giới tính
Hình 3.8 Mức tăng cân nặng (kg) của học sinh theo giới tính
Hình 3.9 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh nam
Hình 3.10 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh nữ
Hình 3.11 Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo giới tính Hình 3.12 Mức tăng vòng ngực trung bình (cm) của học sinh
theo giới tính
Hình 3.13 Chỉ số pignet của học sinh theo giới tính
Hình 3.14 Sự biến đổi chỉ số pignet của học sinh theo giới tính Hình 3.15 Chỉ số BMI của học sinh theo giới tính
Hình 3.16 Sự biến đổi chỉ số BMI của học sinh theo giới tính
Hình 3.17 Chỉ số IQ của học sinh
Hình 3.18 Chỉ số IQ của học sinh theo giới tính
Hình 3.19 Phân bố học sinh theo các mức trí tuệ và theo giới tính Hình 3.20 Trí nhớ thị giác của học sinh
Hình 3.21 Trí nhớ thị giác của học sinh theo giới tính
Hình 3.22 Trí nhớ thính giác của học sinh
Hình 3.23 Trí nhớ thính giác của học sinh theo giới tính
Hình 4.1 Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng (cm) của học sinh
theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Hình 4.2 Đồ thị biểu diễn cân nặng (kg) của học sinh theo
nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Hình 4.3 Đồ thị biểu diễn vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Hình 4.4 Đồ thị biểu diễn chỉ số pignet của học sinh theo
nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Hình 4.5 Đồ thị biểu diễn chỉ số BMI của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau
PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trang 9Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền kinh tế tri thức, để bắt kịp và hội nhập với xu thế phát triển chung của thế giới, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần phải có những con người phù hợp với nó Phát triển con người là mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội, là nhân tố cơ bản để đi vào công mghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chính vì vậy, trong các văn kiện đại hội VIII và nghị quyết
TƯ II của Đảng về giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu” Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh văn minh phải có những con người phát triển toàn diện về mặt trí tuệ, đạo đức, lối sống mà còn phải cường tráng về thể chất Hơn thế nữa, soạn giả Đông Các Đại Học Sỹ Thân Nhân Trung đã từng viết:
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia Nguyên khí vững thế nước mạnh và thịnh Nguyên khí kém thế nước yếu và suy”, (Trích trong bia văn miếu Quốc tử giám)
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục là một nhu cầu thiết yếu của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và ở mọi thời đại Các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo chỉ được đưa ra một cách đúng đắn và phù hợp với thực tế của từng địa phương trên cơ sở có các kết quả điều tra cơ bản về sự phát triển thể lực và trí lực của học sinh
Bắc Ninh là tỉnh nằm ở phía Bắc của thủ đô Hà Nội và đang trên đà đô thị hoá, công nghiệp hóa rất mạnh Do vậy, nhu cầu về nguồn lao động có sức khoẻ có trình độ khoa học kỹ thuật là rất lớn Với truyền thống hiếu học của đất Kinh Bắc xưa, trong những năm gần đây nền giáo dục Bắc Ninh đang hoà chung cùng với sự phát triển của công tác giáo dục và đào tạo trong toàn quốc Để có phương pháp tác động tối ưu nhất đến sự phát triển toàn diện của con người ở Bắc Ninh chúng tôi
chọn đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số sinh học và hoạt động thần kinh cấp cao của học sinh tiểu học và trung học cơ sở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các chỉ số thể lực của học sinh tiểu học và trung học cơ sở
Trang 10- Xác định được các chỉ số trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở
- Xác định được các chỉ số trí nhớ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu được các chỉ số thể lực của học sinh như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chỉ số pignet và chỉ số BMI
- Nghiên cứu được các chỉ số trí tuệ của học sinh như chỉ số thông minh (IQ)
và sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ
- Nghiên cứu được các chỉ số trí nhớ của học sinh như trí nhớ thị giác và trí nhớ thính giác
4 Những đóng góp mới của đề tài
Đánh giá đặc điểm phát triển của một số chỉ số thể lực và hoạt động thần kinh cấp cao của học sinh tiểu học và trung học cơ sở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm
cơ sở cho nghiên cứu và giảng dạy về đặc điểm sự phát triển thể lực và trí tuệ của trẻ em ở lứa tuổi học đường Từ đó, đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Trang 11PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Sự phát triển thể lực là quá trình thay đổi hình dáng, chức năng của cơ thể con người trong đời sống cá thể Các đặc điểm về hình thái thể lực còn mang tính đặc thù về mặt chủng tộc, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp được thể hiện trong môi trường sống nhất định
Trong mối quan hệ giữa môi trường và sức khoẻ các thông số hình thái thể lực được coi là thước đo sức khoẻ và khả năng lao động của con người Hay nói cách khác, thể lực con người là một chỉ tiêu phức hợp Thể lực của con người được phản ánh qua những số đo kích thước cơ bản của cơ thể như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chỉ số pignet, chỉ số BMI Các chỉ số này, phản ánh sự tăng trưởng của
cơ thể con người từ lức mới sinh đến lúc chết đồng thời mang tính di truyền của mỗi dân tộc và từng cá thể [70]
Trong các chỉ số trên, chiều cao là dấu hiệu được nhận biết sớm hơn cả, nó là một trong những kích thước được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực của nhân trắc học Chiều cao phản ánh quá trình phát triển của các xương (xương đầu, xương
Trang 12thân, xương chi), chiều cao nói lên tầm vóc của một người Chiều cao mang đặc tính của từng chủng tộc, giới tính và chịu ảnh hưởng của môi trường sống
Trọng lượng cơ thể cũng là một số đo thường được sử dụng trong tất cả các công tác điều tra cơ bản cũng như hàng ngày “Trọng lượng là biểu hiện thực chất của thể lực” [14] Trọng lượng cơ thể gồm có 2 phần: là phần cố định và phần thay đổi Phần cố định bao gồm: xương, da, các tạng và thần kinh chiếm 1/3 tổng số cân nặng của cơ thể Phần còn lại chiếm 2/3 tổng số cân nặng là phần thay đổi, trong đó trọng lượng cơ chiếm 3/4 còn 1/4 là mỡ và nước Như vậy, khi tăng trọng lượng thì phần thay đổi chủ yếu là cơ Trọng lượng cơ thể liên quan chặt chẽ tới dinh dưỡng
ít phụ thuộc vào di truyền Mặc dù trọng lượng cơ thể không nói nên tầm vóc của con người nhưng sự phát triển của nó liên quan đến nhiều kích thước khác nên thường được khảo sát để đánh giá thể lực [14]
Một đặc trưng tiêu biểu khác của thể lực là vòng ngực Một người có vòng ngực rộng thì có thể lực tốt [46]
Việc nghiên cứu thể lực đã có từ rất lâu đời nhưng sang đến đầu thế kỷ 20 nhà nhân trắc học R.Martin được coi là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại với hai cuốn sách nổi tiếng của mình là “Giáo trình về nhân học” và “Chỉ nam
đo đạc cơ thể và xử lý thống kê” Ông đã đưa ra các phương pháp đo đạc cơ thể, có những phương pháp được sử dụng cho đến ngày nay (theo [51])
Năm 1962, tác giả P.N Baskirop đã xuất bản cuốn sách “Học thuyết về sự phát triển cơ thể người” Từ đó, ông nhận thấy rằng sự phát triển của cơ thể con người chịu ảnh hưởng của điều kiện sống (theo [70]) Còn tác giả F.Vandervael (1964) với cuốn sách “ Nhân trắc học” thì cho rằng, sự phát triển thể lực của con người chịu ảnh hưởng của giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp (theo [74]) Ông đã xây dựng thang phân loại thể lực theo các chỉ số thể lực dựa vào trung bình cộng và
độ lệch chuẩn Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học khác như Di truyền học, Sinh lý học, Sinh thái, Toán thống kê xác suất, việc nghiên cứu các chỉ số thể lực của con người ngày càng đa dạng hơn
Trang 13Năm 1754, tác giả C.F.Jumpert (theo [70]) là người đầu tiên nghiên cứu các chỉ số hình thái của con người Dựa vào phương pháp cắt ngang ông đã nghiên cứu
sự tăng trưởng chiều cao, cân nặng và vòng ngực của con người ở giai đoạn từ 1 –
25 tuổi Cũng trong thời gian đó P.Monbeilard (theo [70]) nghiên cứu dọc trên con trai của mình trong suốt 18 năm liên tục
Năm 1875, tác giả Mondier là người đầu tiên tiến hành nghiên cứu hình thái thể lực của người Việt Nam (theo [70])
Các công trình nghiên cứu trước năm 1975 được Nguyễn Tấn Gi Trọng và các tác giả khác tổng kết và trình bày trong quyển “Hằng số sinh học người Việt Nam” [71] Các thông số trong quyển sách này đã cho biết tương đối đầy đủ các trị
số về thể lực người Việt Nam ở mọi lứa tuổi Sau đó, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm thể lực của người Việt Nam [14], [19], [24], [33], [51], [54], [57], [60], [66], [74] Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy, chiều cao, trọng lượng cơ thể trung bình của người Việt Nam nhỏ hơn so với người Âu,
Mỹ ở mọi lứa tuổi, nhịp độ tăng trưởng chậm, thời kỳ tăng trưởng kéo dài hơn và bước vào thời kỳ nhảy vọt tăng trưởng dậy thì cũng muộn hơn [70], [71] Tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của nữ xuất hiện ở thời điểm 12 – 13 tuổi, còn của nam là 13 – 16 tuổi và đến 23 tuổi đạt giá trị tối đa, còn tăng trưởng nhảy vọt về cân nặng ở nữ xuất hiện lúc 13 tuổi và ở nam lúc 15 tuổi Thời điểm kết thúc tăng trưởng cân nặng của cơ thể diễn ra lúc 19 tuổi ở nữ và 20 tuổi ở nam Như vậy, nữ bước vào thời kỳ tăng tiến, thời kỳ ổn định chiều cao và cân nặng sớm hơn so với nam [51]
Tác giả Trịnh Văn Minh và cs [60] đã nghiên cứu các chỉ tiêu nhân trắc hình thái thể lực người miền Bắc Việt Nam trưởng thành trong thập niên 90 Kết quả nghiên cứu của các tác giả này cho thấy, sau tuổi dậy thì ở lứa tuổi thanh niên các kích thước hình thái thể lực của cơ thể vẫn tiếp tục tăng và đạt đỉnh cao vào lúc 20 – 21 tuổi ở nữ và 22 tuổi ở nam Trong giai đoạn này, chiều cao, cân nặng và các kích thước liên quan đến thể lực của nam giới luôn cao hơn so với nữ giới, còn các
Trang 14chỉ số hình thái khác liên quan đến dinh dưỡng, khối mỡ thì ở nữ lại cao hơn so với nam
Trong đề tài KX – 07 – 07, Lê Nam Trà và cs nhận thấy, không chỉ ở trẻ em
mà ngay cả ở thanh niên trong giai đoạn từ 18 – 25 tuổi cơ thể vẫn tiếp tục tăng trưởng Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng không nhiều như ở những giai đoạn trước
đó Đến tuổi 25, ở cả hai giới các chỉ số thể lực ổn định như ở tuổi trưởng thành [70]
Khi nghiên cứu các chỉ số nhân trắc trên 8000 người Việt Nam từ 1 – 55 tuổi trên toàn quốc, Thẩm Thị Hoàng Điêp và cs [19] đã thu được kết quả: Chiều cao trung bình của nam trưởng thành là 163 cm và ở nữ là 158 cm Chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi, còn của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi Vòng ngực trung bình của nam trưởng thành là 78 cm và của nữ là 79 cm
Đào Huy Khuê [33] nghiên cứu các đặc điểm về kích thước hình thái, về sự tăng trưởng và sự phát triển cơ thể của học sinh phổ thông 6 – 17 tuổi ở thị xã Hà Đông cũng nhận thấy, các chỉ số hình thái của học sinh tăng dần theo tuổi, nhưng tốc độ tăng không đồng đều giữa các năm
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [66] đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình thái của người Việt Nam từ 1 – 25 tuổi ở tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này của dân cư vùng đồng bằng Bắc
Bộ Tác giả còn nhận thấy, có sự khác biệt về các chỉ số hình thái thể lực theo giới tính Ở tất cả các độ tuổi, chiều cao của nam luôn lớn hơn của nữ Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của con người
Công trình nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắc học” của Nguyễn Đức Hồng [28] trên đối tượng người Việt Nam trong lứa tuổi lao động Tác giả nhận thấy, chiều cao người Việt Nam trong lứa tuổi lao động (trung bình là 163 cm ở nam và
Trang 15153 cm ở nữ) thuộc loại trung bình thấp so với thế giới, trọng lượng nhẹ, một số chỉ
số nhân trắc hình thái có số đo tăng dần từ Bắc vào Nam
Năm 1996, Trần Đình Long và cs khi nghiên cứu trên học sinh phổ thông từ
17 – 18 tuổi tại một số trường học ở Hà Nội thì nhận thấy, sự phát triển cơ thể ở cả hai giới đều chậm lại rõ rệt hoặc chững [53], [54]
Tác giả Đào Mai Luyến [56] nghiên cứu thể lực của người Ê Đê và người Kinh định cư ở ĐakLak nhận thấy rằng, hình thái thể lực của người Ê Đê tốt hơn của người Kinh định cư ở ĐakLak Tác giả cũng lý giải rằng, khả năng tăng trưởng hình thái thể lực chịu ảnh hưởng của chủng tộc, môi trường sống
Tác giả Trần Thị Loan đã nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của học sinh từ 6 – 17 tuổi tại quận Cầu Giấy – Hà Nội Kết quả cho thấy, trong cùng thời điểm nghiên cứu, các chỉ số chiều cao, trọng lượng cơ thể của học sinh ở Hà Nội có trị số lớn hơn so với học sinh ở Thái Bình và Hà Tây và cũng lớn hơn các kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỷ 80 trở về trước Điều đó được giải thích bằng sự ảnh hưởng của điều kiện sống tới sự sinh trưởng và phát triển, đồng thời cũng phản ánh hiện tượng tăng tốc sinh trưởng và phát triển của trẻ em trong những năm gần đây
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về hình thái thể lực của học sinh, sinh viên và thanh niên Việt Nam khá phong phú và đa dạng Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy, các chỉ số hình thái thể lực đều có sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ nhiều năm trước đây Đặc biệt là từ khi đất nước được đổi mới, các điều kiện kinh tế – xã hội trở nên tốt hơn, đã có ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ và tầm vóc của người Việt Nam Các chỉ số này đều được xác định là có sự biến đổi theo lứa tuổi và giới tính Trong quá trình phát triển của trẻ em có hai giai đoạn tăng trưởng nhảy vọt và có sự khác biệt giữa nam và nữ, giữa các vùng miền khác nhau
1.2 Các chỉ số hoạt động thần kinh cấp cao
1.2.1 Đặc điểm về trí tuệ
Trang 16Theo tiếng Latinh, trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ Theo
“Từ điển tiếng Việt” [64], trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc của con người Vì vậy, việc nghiên cứu trí tuệ là một trong số những vấn đề liên ngành được nhiều người quan tâm Các nhà khoa học đã dùng thuật ngữ “năng lực trí tuệ” để biểu thị cho năng lực hoạt động của chủ thể Xung quanh vấn đề này, có rất nhiều quan điểm khác nhau Muốn nghiên cứu và đánh giá trí tuệ thì trước tiên phải hiểu khái niệm về trí tuệ, có rất nhiều quan điểm về trí tuệ
Theo F.Raynal, A.Rieunier (theo [35]), trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, thích nghi với tình huống mới
Còn N.Sillamy (theo [35]), thì cho rằng trí tuệ là khả năng hiểu các quan hệ sẵn có giữa các yếu tố của tình huống và thích nghi để thực hiện lợi ích của bản thân
Đa số các nhà tâm lý học (theo [35]) thì cho rằng, trí tuệ là khả năng giải đáp các vấn đề mới bằng cách thích nghi kinh nghiệm và tri thức riêng với tình huống
cụ thể và thoát khỏi các khó khăn gặp phải ngoài các phương thức đã học
Tác giả nguyễn Khắc Viện (theo [35]), thì gọi intelligent là “Trí” mang nhiều nghĩa về khả năng hiểu biết, suy luận, sáng tạo Ông cho rằng, hành động thích nghi với biến động của hoàn cảnh thiên về hành động thì gọi là trí khôn, thiên về tư duy trừu tượng thì gọi là trí tuệ
Tác giả E.Thordike (theo [68]) thì cho rằng, có ít nhất 3 kiểu trí tuệ Đó là trí tuệ trừu tượng, trí tuệ thực tiễn và trí tuệ sáng tạo
Dearben thì coi trọng năng lực luyện tập, L.Terman nhấn mạnh vào năng lực
tư duy trừu tượng (theo [68]) Stern (1952) lại cho rằng, trí tuệ là năng lực thích ứng với ngoại cảnh, A.Binet (theo [68]) lại xem năng lực trí tuệ gồm nhiều năng lực riêng rẽ, còn N.X.Laytex cho rằng: “Năng lực trí tuệ trước hết phản ánh bản chất trí tuệ, biểu thị khả năng nhận thức lí luận và hoạt động của con người” (theo [68]) Sở dĩ, năng lực trí tuệ được hiểu theo nhiều cách như vậy là vì nó biểu hiện
Trang 17ra nhiều mặt và liên quan đến nhiều hiện tượng tâm lý khác nhau Năng lực trí tuệ
có thể biểu hiện ở mặt nhận thức như nhanh biết, nhanh nhớ hoặc biết suy xét nhanh chóng để tìm ra các quy luật Năng lực trí tuệ liên quan đến các chức năng tâm lý như nhận thức được đặc điểm bản chất của tình huống mới hoặc tự mình nêu
ra được vấn đề cần giải quyết Đồng thời sáng tạo ra công cụ mới, phương pháp mới, cách thức mới phù hợp với hoàn cảnh mới trên cơ sở những tri thức và kinh nghiệm vốn có [69]
Ngoài các cách hiểu như trên, năng lực trí tuệ còn được hiểu ở các phẩm chất khác như óc tò mò, lòng say mê, sự hứng thú, sự kiên trì và miệt mài Năng lực trí tuệ còn thể hiện ra hành động như nhanh trí, tháo vát, linh hoạt sáng tạo hay thể hiện ở khả năng tưởng tượng như óc tưởng tưởng tượng phong phú, hình dung ngay
và đúng điều người khác nói Do đó, có thể nói năng lực trí tuệ biểu hiện ở cả hai mặt nhận thức và hành động Như vậy, trong ba quan điểm trên thì quan điểm thứ
ba là đúng đắn nhất và được nhiều người ủng hộ
Xung quanh vấn đề trí tuệ, các nhà khoa học còn dùng các thuật ngữ “trí khôn”, “trí lực”, “trí thông minh” Trí khôn là một sự thích nghi tinh thần vào các hoàn cảnh mới [62] Buller thì cho rằng: “Trí khôn chỉ xuất hiện với những hành vi nắm hiểu đột ngột” (theo [62]) Còn D.Wechsler [78] lại coi trí khôn là tổng thể của nhiều chức năng trí tuệ, gắn chặt với nhiều điều kiện văn hoá xã hội nơi con người sinh ra và lớn lên
Trí lực là năng lực hoạt động của cá nhân trong những hoàn cảnh nhất định Tuy nhiên, khi xem xét trí lực cần tính đến các yếu tố nhân cách của cá nhân đó Thông minh là một phẩm chất tổng hợp của trí tuệ Cốt lõi của trí thông minh là phẩm chất tư duy tích cực, độc lập, linh hoạt, sáng tạo trước những vấn đề thực tiễn hoặc lí luận và sự liên quan chặt chẽ của nó với trình độ văn hoá của mỗi người [47]
Như vậy, các thuật ngữ trí tuệ, trí khôn, trí thông minh đều được dùng để chỉ khả năng hoạt động trí óc của con người Tuy nhiên, các thuật ngữ trên không đồng
Trang 18nhất với nhau “Trí khôn”, “trí thông minh”, “trí lực” là các phạm trù hẹp hơn nằm trong nội hàm trí tuệ
Đánh giá năng lực trí tuệ của con người là một vấn đề rất phức tạp Có nhiều phương pháp đo lường trí tuệ khác nhau như quan sát, điều tra, thực nghiệm, trắc nghiệm …Tuy nhiên, phương pháp được sử dụng phổ biến hơn cả là phương pháp trắc nghiệm (test) Mục đích của trắc nghiệm trí tuệ là xác định được năng lực trí tuệ của con người qua các chỉ số cơ bản như chỉ số IQ và mức trí tuệ
Năm 1905, A.Binet và T.Simon đã dùng test nghiên cứu trí tuệ để phân biệt trẻ em học kém bình thường với trẻ em học kém do trí tuệ phát triển chậm (theo [69]) Sau đó, test nghiên cứu trí tuệ của A.Binet và T.Simon đã được cải tiến nhiều lần để dùng cho trẻ em và người lớn
Năm 1912, V.Stern đã đưa ra cách tính chỉ số thông minh để đánh giá trình
độ phát triển trí tuệ của trẻ em ở từng độ tuổi (theo [69]) Theo ông, chỉ số IQ là thương số giữa tuổi trí tuệ (MA) và tuổi thực tính theo ngày tháng năm sinh (CA)
R Meili đã dùng test trí tuệ vào công việc tư vấn học đường và tư vấn nghề nghiệp (theo [69])
Để nghiên cứu trình độ phát triển trí tuệ của trẻ em, người ta còn sử dụng nhiều loại test đo lường trí tuệ khác như test phân tích nghiên cứu trí tuệ của Meili (1828), test khuôn hình tiếp diễn của Raven (1936), test trí tuệ đa dạng của Gille (1944), test trí thông minh của người lớn WAIS (1955) của D Wechslerr, test cấu trúc trí tuệ của Anthauer (1953) (theo [69])
Như vậy, test đã trở thành phương pháp cơ bản của khoa học chẩn đoán trí tuệ từ cuối thế kỷ XIX đến nay
Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam được tiến hành chậm hơn so với thế giới Trước năm 1975, việc nghiên cứu trí tuệ của con người chưa được quan tâm nhiều Chỉ có rất ít công trình được thực hiện trong nghành Y tế với mục đích chẩn đoán trí tuệ của bệnh tâm thần ở một số bệnh viện [68] Từ cuối thập niên 80 cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trí tuệ của người Việt Nam
Trang 19Năm 1989, Trần Trọng Thuỷ [67] nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh quận Hoàn Kiếm, Hà Nội bằng test Raven Ông đã nghiên cứu chiều hướng, cường độ và chất lượng phát triển của học sinh và nhận thấy rằng, trình độ phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam không thua kém so với học sinh nước ngoài
Năm 1994, Trịnh Văn Bảo và cs đã nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố di truyền và sự phát triển trí tuệ ở học sinh Kết quả cho thấy, di truyền là tiền đề cho
sự phát triển trí tuệ của con người [2], [3]
Các tác giả Tạ Thuý Lan và Võ Văn Toàn khi nghiên cứu khả năng trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở Hà Nội và Quy Nhơn đã xác định được rằng trí tuệ của học sinh phát triển theo lứa tuổi và năng lực trí tuệ của học sinh Quy Nhơn thấp hơn so với học sinh Hà Nội Khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh liên quan với quá trình hoàn chỉnh hoá điện não đồ, đặc biệt là ở thùy chẩm và thùy trán [39], [65]
Tạ Thuý Lan, Mai Văn Hưng khi nghiên cứu trí tuệ học sinh Thanh Hoá nhận thấy rằng, năng lực trí tuệ của học sinh tăng theo tuổi, đồng thời năng lực trí tuệ có mối tương quan thuận với học lực [44]
Tạ Thuý Lan và Trần Thị Loan [40], [42] khi nghiên cứu trí tuệ của học sinh nông thôn và thành phố Hà Nội bằng test Raven cho thấy, khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh nông thôn thấp hơn so với học sinh ở Hà Nội, không có sự khác biệt rõ rệt giữa học sinh nam và học sinh nữ về năng lực trí tuệ
Trần Thị Loan [50], [51] khi nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực trí tuệ
và học lực của học sinh phổ thông thì nhận thấy rằng, trí tuệ và học lực của học sinh có mối tương quan thuận nhưng không chặt chẽ
Trần Thị Loan đã nghiên cứu trí tuệ của học sinh từ 6 – 17 tuổi thuộc quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy, quá trình phát triển trí tuệ của học sinh diễn ra liên tục với tốc độ tương đối đồng đều giữa các năm và không có sự khác biệt theo giới tính Chỉ số thông minh (IQ) của học sinh có mối tương quan nghịch với chỉ số pignet và tương quan thuận với chỉ số
Trang 20BMI nhưng mối tương quan này không chặt chẽ Chỉ số thông minh (IQ) của học sinh có mối tương quan thuận với trí nhớ và năng lực học tập của các em [51] 1.2 Đặc điểm về trí nhớ
Trí nhớ là hình thức hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tâm lý của con người và là thành phần quan trọng của trí tuệ Trí nhớ là sự tiếp nhận, sự tái tạo những sự vật những hiện tượng mà con người đã cảm giác, đã suy nghĩ, đã hành động Trí nhớ của con người có bản chất là sự hình thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời, lưu giữ và tái hiện chung các cảm giác đơn lẻ được tạo ra khi các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tác động vào cơ thể Trên cơ sở các cảm giác đơn lẻ, não đã phân tích, tổng hợp để cho tri giác trọn vẹn các sự vật hiện tượng và để lại dấu vết của chúng trên vỏ não [67]
Các nhà khoa học đã chia trí nhớ thành hai nhóm chính là trí nhớ dài hạn và trí nhớ ngắn hạn Trong đó, trí nhớ dài hạn là sự lưu giữ thông tin trong một khoảng thời gian dài, như trong vài ngày, vài tuần hoặc lâu hơn Nó liên quan đến sự thay đổi bền vững về mặt vi thể hình thành các protein hoạt hoá Còn trí nhớ ngắn hạn,
là sự lưu giữ thông tin trong khoảng thời gian ngắn, có khi chỉ đến vài giây Nó liên quan đến sự lưu thông hưng phấn trong các vùng noron [37], [38] Có nhiều quan điểm khác nhau để lí giải cơ chế ghi nhớ
Hyden thì cho rằng, cơ sở của trí nhớ là sự thay đổi trong cấu trúc của phân
tử axit ribonucleic (theo [52]) Để giải thích cơ sở sinh lý học của trí nhớ, Tạ Thúy Lan cho rằng, khi một kích thích nào đó tác động nhiều lần vào vùng noron sẽ làm xuất hiện các điện thế hoạt động đặc trưng cho nó và làm thay đổi sự cân bằng ion trong sinh chất của tế bào thần kinh liên hợp, Từ đó, hoạt hoá axit deoxyribonucleic (AND) trong nhân tế bào, làm thay đổi cấu trúc của nó theo một cách nhất định nhằm tạo ra axit ribonucleic (ARN), ARN trung gian đặc biệt sẽ tham gia vào quá trình hình thành protein trong sinh chất đặc trưng cho từng cá thể Protein đặc biệt xuất hiện dưới tác động của các xung điện với tần số thay đổi theo một cách nhất định có thể tồn tại trong một khoảng thời gian dài và có thể tái hiện lại Việc cải tổ
Trang 21ARN và hình thành protein đặc trưng xảy ra ngay từ lần kích thích đầu tiên và tồn tại rất lâu [37]
Tác giả Levitov thì giải thích rằng, mỗi lần tế bào bị hoạt hoá lại xuất hiện ARN trung gian và một loại protein hoạt hoá [56] Song các chất này không mang tính đặc trưng cho từng trường hợp cụ thể như Hyden dự đoán Chúng chỉ khác nhau về nồng độ và cách phân bố bên trong tế bào tuỳ thuộc vào vùng sau xynap bị hoạt hoá Khi các vùng noron bị hoạt hoá thì protein hoạt hoá bền vững không chỉ xuất hiện theo cách nguyên phát tại vùng sau xynap của các noron liên hợp Nó còn chịu tác động của hưng phấn thứ phát ngược chiều từ các sợi trục tới Nhờ vậy, chỉ cần tác động vào một phần nào đó của vật thể hay vào môi trường tồn tại của nó cũng đủ để làm cho toàn bộ vòng noron hoạt động [38]
Còn W Penfield lại cho rằng, trong não có trung khu nhớ và mọi kích thích tác động lên cơ thể đều được giữ lại dưới dạng lưu trữ (theo [52])
Khi nghiên cứu trên một số địa bàn tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An, Nghiêm Xuân Thăng nhận thấy, khả năng ghi nhớ của con người biến đổi theo sự biến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và sự đối lưu không khí trong môi trường sống [66]
Trịnh Văn Bảo [2], [3] nghiên cứu trí nhớ của học sinh trường năng khiếu Marie - Curie và trường phổ thông cơ sở Tô Hoàng Hà – Nội nhận thấy, trí nhớ gần của nhóm học sinh năng khiếu tốt hơn so với nhóm học sinh bình thường
Khi nghiên cứu trí nhớ của học sinh phổ thông từ 6 đến 17 tuổi thuộc quận Cầu Giấy – Hà Nội, Trần Thị Loan đã nhận thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đều giữa các năm Khả năng ghi nhớ của học sinh tăng nhanh ở giai đoạn 6 – 17 tuổi và tăng chậm ở giai đoạn 11 – 15 tuổi Trong cùng một độ tuổi, không có sự khác biệt rõ rệt về trí nhớ giữa học sinh nam và học sinh nữ [51]
Trang 22Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học và trung học cơ sở xã Đình Tổ- huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với độ tuổi từ 7 – 15 Tất cả các đối tượng nghiên cứu có sức khoẻ và trạng thái tâm lý bình thường Tổng số đối tượng nghiên cứu là 987 học sinh, trong đó có 520 nam và 467 nữ Trong tổng số 987 học sinh
có 528 học sinh tiểu học và 459 học sinh trung học cơ sở Sự phân bố đối tượng theo tuổi và giới tính được trình bày trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng theo tuổi và giới tính
Trang 232.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Các chỉ số được nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số
2.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể lực
- Chiều cao: Khi đo chiều cao, học sinh phải ở tư thế đứng thẳng trên nền
phẳng, hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm (chẩm, lưng, mông, gót) chạm vào thước đo Tư thế thẳng đứng được xác định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song song với mặt bàn cân Thước đo bằng polyme có độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trường học – Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất Lấy trị số chiều cao chính xác đến 0,1 cm
- Vòng ngực trung bình: Được xác định bằng số trung bình cộng của số đo
vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra gắng sức Vòng ngực được đo ở tư thế thẳng đứng, đo bằng thước dây quấn quanh ngực qua mũi ức, dưới núm vú sao cho mặt phẳng của thước dây tạo ra song song với mặt đất Thước dây không co giãn và vạch chia đến 0,1 cm Trước khi đo hướng dẫn học sinh cách hít vào tận lực và thở ra
Trang 24gắng sức Khi đo, học sinh chỉ mặc áo mỏng Lấy trị số vòng ngực chính xác đến 0,1 cm
- Cân nặng: Được xác định bằng cân đồng hồ có vạch chia đến 0,1 kg Khi
đo, đối tượng chỉ mặc quần áo mỏng, không mang dày, dép và đặc biệt phải đứng yên (không cử động) ở giữa bàn cân Lấy trị số cân nặng chính xác đến 0,1 kg
- Chỉ số pignet được tính theo công thức sau:
Pignet = Chiều cao (cm) - [Cân nặng (kg) + Vòng ngực trung bình (cm)]
Chỉ số Pignet được đánh giá dựa theo thang phân loại của Nguyễn Quang Quyền và Đỗ Như Cương (theo [14])
Bảng 2.2 Phân loại chỉ số pignet
Trang 25- Trí tuệ: Được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm và sử dụng test
“Khuôn hình tiếp diễn” của Raven loại A, B, C, D và E (dùng cho người từ 6 tuổi trở lên)
Toàn bộ bài trắc nghiệm test Raven gồm 5 bộ, mỗi bộ gồm 12 bài tập Mức
độ phức tạp tăng dần từ bộ A đến bộ E, và trong mỗi bộ độ phức tạp cũng tăng dần (dễ nhất là bài tập 1của bộ A và khó nhất là bài tập 12 của bộ E) Tuy nhiên, mỗi bộ được xây dựng theo nguyên tắc khác nhau
Bộ A được xây dựng theo nguyên tắc trọn vẹn và toàn bộ của cấu trúc, các chi tiết trong cấu trúc ấy được sắp xếp một cách liên tục, gắn liền với nhau trong một chỉnh thể Nên giải được các bài trong bộ A là tìm được mối liên hệ liên tục trong các chỉnh thể ấy Do vậy, ở bộ này đòi hỏi ở đối tượng khả năng tri giác toàn
bộ sự vật Bộ này có khả năng đo tri giác khái quát chung của đối tượng
Bộ B được xây dựng theo nguyên tắc giống nhau của các cặp hình Do đó, bộ
B có thể giúp chúng ta đo khả năng phân tích trong tư duy để tìm ra mối quan hệ giống và tương đồng của các sự vật hiện tượng
Bộ C được xây dựng theo nguyên tắc tiếp diễn logic của sự biến đổi các cấu trúc Bài tập của bộ C chứa đựng những sự thay đổi của các hình phù hợp với nguyên tắc phát triển phong phú, độ khó tăng dần theo chiều nằm ngang và thẳng đứng Bộ C có thể đo đạc được khả năng khái quát hoá, trừu tượng hoá để suy diễn
ra một logic, tức là một tư duy theo kiểu toán học
Trang 26Bộ D được xây dựng dựa trên sự thay đổi của các hình
Bộ E được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích cấu trúc của các bộ phận Bộ này phức tạp nhất, muốn giải được nó thì cần phải có hoạt động tư duy phân tích, tổng hợp
Sau khi hướng dẫn cách thực hiện, mỗi học sinh được phát một quyển test Raven và một phiếu trả lời rồi làm bài hoàn toàn độc lập Học sinh thực hiện test theo nhịp điệu vốn có của mình, không hạn chế thời gian Song, trong thực tế không có đối tượng nào làm bài quá 60 phút
Cứ mỗi bài tập được một điểm Chỉ có bài tập nào có độ biến thiên cho phép thì mới được tính, nếu không đáp ứng được yêu cầu đó sẽ bị loại và phải làm lại Căn cứ vào điểm test Raven tính chỉ số IQ theo công thức:
Bảng 2.4 Phân loại trí tuệ
- Trí nhớ: Được xác định bằng phương pháp Nechaiev
Để nghiên cứu trí nhớ thị giác, nghiệm viên sử dụng một bảng số trên đó có
viết 12 số Trong đó, mỗi số gồm hai chữ số, 6 số lẻ và 6 số chẵn, được sắp xếp
Trang 27một cách ngẫu nhiên, không theo một quy luật nào Không được dùng các chữ số chẵn chục (tận cùng bằng số không (0)) và các số có hai chữ số giống nhau Mỗi học sinh được phát một phiếu và bút để ghi kết quả trắc nghiệm của mình Nghiệm viên hướng dẫn học sinh ghi đầy đủ các thông tin cá nhân vào phiếu trả lời và sau
đó giơ bảng số với thời gian 30 giây để cho học sinh nhìn và cố gắng ghi nhớ các
số ghi trên bảng số Trong thời gian nghiệm viên giơ bảng số, học sinh không được ghi chép mà chỉ cố gắng ghi nhớ ở trong đầu Sau khi đã cất bảng số đi thì học sinh dùng bút ghi các số nhớ được vào phiếu trả lời không cần theo thứ tự các số ở trong bảng số
Trí nhớ thính giác cũng được nghiên cứu theo phương pháp Neichaev, nhưng
thay cho việc cho học sinh nhìn bảng số thì nghiệm viên đọc to, rõ ràng và ngắt nhịp đúng cách 3 lần để học sinh nghe và cố gắng ghi nhớ ở trong đầu, không được ghi chép trong thời gian nghiệm viên đọc
bỏ và yêu cầu đối tượng làm lại
+ Đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá của các loại test được sử dụng để chấm điểm các phiếu trả lời của từng đối tượng
+ Lập bảng thống kê số liệu theo các chỉ số nghiên cứu
- Bước 2: Tính toán các thông số theo toán thống kê xác suất dùng cho y –
sinh học để phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu
Các mẫu nghiên cứu đều có n > 30 nên chúng tôi tính các đại lượng theo các công thức sau:
n
X
n i i
1
Trang 28Giá trị trung bình X =
Trong đó:
X : Giá trị trung bình
X i : Giá trị thứ i của đại lượng X
n : Số cá thể ở mẫu nghiên cứu
Độ lệch chuẩn SD =
Trong đó:
X : Giá trị trung bình
X i : Giá trị thứ i của đại lượng X
n : Số cá thể ở mẫu nghiên cứu
So sánh hai giá trị trung bình ở mức ý nghĩa α
m
SD n
SD
Y X Z
Y X
2 2
i i n
i i i
i i i
n i i
Y Y
n X X
n
Y X
Y X n
1 2 1
2 1
2 2
1
) ( )
(
) )(
(
Trong đó:
r : Hệ số tương quan
X i : Giá trị thứ i của đại lượng X
Yi : Giá trị thứ i của đại lượng X
n : Số cá thể ở mẫu nghiên cứu
n i
i X X
n 1
2
) (
1
Trang 29Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 CÁC CHỈ SỐ THỂ LỰC CỦA HỌC SINH
3.1.1 Chiều cao của học sinh
3.1.1.1 Chiều cao đứng của học sinh nam
Kết quả nghiên cứu chiều cao của học sinh nam từ 7 đến 15 tuổi được thể hiện trong bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 Chiều cao của học sinh nam
Tuổi n
Chiều cao của học sinh nam (cm)
Số học sinh có chiều cao nằm ngoài giá trị
[XSD] (%)
Trang 30Chiều cao(cm)
114.82
157.23 151.51 144.65 138.85 133.14 128.32 123.41 119.32
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180
7 8 9 10 11 12 13 14 15 Tuổi
Hình 3.1 Chiều cao của học sinh nam
Các số liệu trong bảng 3.1 cho thấy, chiều cao của học sinh nam tăng dần theo tuổi Cụ thể là lúc 7 tuổi, chiều cao của học sinh nam là 114,82 cm, và 15 tuổi
là 157,23 cm Như vậy, tốc độ tăng chiều cao của học sinh nam trung bình mỗi năm
là 5,30 cm/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng chiều cao của học sinh nam không đồng đều giữa các năm Từ 7 đến 11 tuổi chiều cao của học sinh nam tăng chậm, trung bình tăng 4,58 cm/năm Từ 11 đến 15 tuổi chiều cao của học sinh nam tăng nhanh hơn, trung bình tăng 6,02 cm/năm Thời điểm tăng nhảy vọt về chiều cao của học sinh nam xuất hiện lúc 13 – 14 tuổi (tăng 6,86 cm/năm) Thời điểm tăng nhanh và tăng nhảy vọt về chiều cao của học sinh nam liên quan với tuổi dậy thì
Mức chênh lệch chiều cao giữa học sinh cao nhất với học sinh thấp nhất trong cùng một độ tuổi rất lớn Mức chênh lệch chiều cao giữa học sinh cao nhất với học sinh thấp nhất có trị số nhỏ nhất là lúc 7 tuổi (chênh lệch 15,2 cm) và cao nhất lúc 12 tuổi (chênh lệch 26,0 cm) Mức chênh lệch chiều cao giữa học sinh cao nhất với học sinh thấp nhất tăng dần từ 7 đến 12 tuổi sau đó lại giảm dần từ 13 –
15 tuổi Sự khác nhau này, có thể là do học sinh bắt đầu bước vào tuổi dậy thì
Trang 31không giống nhau Một số học sinh bước vào giai đoạn tuổi dậy thì sớm hơn nên nhanh chóng tăng vọt về chiều cao, trong khi một số khác lại chưa bước vào tuổi dậy thì, chiều cao còn tăng chậm Do vậy, sự chênh lệch chiều cao trong một nhóm học sinh là rất lớn
Số học sinh nam có chiều cao nằm trong khoảng giá trị trung bình chiếm 69,83 % tổng số học sinh nam Số học sinh nam có chiều cao nằm trong giá trị trung bình ở các lứa tuổi thay đổi từ 67,93 % lúc 11 tuổi đến 71,67% lúc 10 tuổi
Như vậy, số học sinh nam có chiều cao nằm ngoài giá trị trung bình chiếm 30,17 % tổng số học sinh nam Số học sinh nam có chiều cao nằm ngoài giá trị trung bình ở các lứa tuổi thay đổi từ 28,33 % lúc 10 tuổi đến 32,07 % lúc 11 tuổi Điều này chứng tỏ, ở giai đoạn từ 7 đến 15 tuổi, chiều cao giữa các học sinh nam khác nhau rất nhiều Đó chính là một trong những bằng chứng chứng minh cho quy luật phát triển không đồng đều của trẻ em
3.1.1.3 Chiều cao của học sinh nữ
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học sinh nữ từ 7 đến 15 tuổi được thể hiện trong bảng 3.2 và hình 3.2
Các số liệu trong bảng 3.2 cho thấy, chiều cao của học sinh nữ tăng dần theo tuổi Cụ thể là lúc 7 tuổi, chiều cao của học sinh nữ là 114,49 cm, và 15 tuổi là 152,13 cm Như vậy, tốc độ tăng chiều cao của học sinh nữ trung bình là 4,71 cm/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng chiều cao của học sinh nữ diễn ra không đồng đều giữa các năm Từ 7 đến 8 tuổi chiều cao của học sinh nữ tăng chậm, trung bình tăng 4,63 cm/năm Từ 8 đến 13 tuổi chiều cao của học sinh nữ tăng nhanh hơn, trung bình tăng 5,29 cm/năm Còn ở giai đoạn từ 14 đến 15 tuổi, chiều cao của học sinh
nữ lại tăng chậm, trung bình tăng 2,95 cm/năm Thời điểm tăng nhảy vọt về chiều cao của học sinh nữ xuất hiện lúc 12 – 13 tuổi (tăng 6,78 cm/năm)
Trang 32Bảng 3.2 Chiều cao đứng của học sinh nữ
Tuổi n
Chiều cao của học sinh nữ (cm)
Số học sinh có chiều cao nằm ngoài giá trị X SD
Trang 33Chiều cao(cm)
152.13 149.38
146.23 139.45
134.16 129.42 124.36 119.12 114.49
0 20 40 60 80 100 120 140 160
7 8 9 10 11 12 13 14 15
Tuổi
Hình 3.2 Chiều cao đứng của học sinh nữ Mức chênh lệch chiều cao giữa học sinh cao nhất với học sinh thấp nhất trong cùng một độ tuổi rất lớn Mức chênh lệch chiều cao giữa học sinh cao nhất với học sinh thấp nhất có trị số nhỏ nhất là lúc 9 tuổi (chênh lệch 17,9 cm) và cao nhất lúc 14 tuổi (chênh lệch 25,0 cm) Mức chênh lệch chiều cao giữa học sinh cao nhất với học sinh thấp nhất tăng dần từ 7 đến 14 tuổi sau đó lại giảm dần Sự khác nhau này có thể là do học sinh nữ bắt đầu bước vào tuổi dậy thì không giống nhau Một số học sinh bước vào giai đoạn tuổi dậy thì sớm hơn nên nhanh chóng tăng vọt
về chiều cao trong khi một số khác lại chưa bước vào tuổi dậy thì, chiều cao còn tăng chậm Do vậy, sự chênh lệch chiều cao trong một nhóm học sinh là rất lớn
Số học sinh nữ có chiều cao nằm trong khoảng giá trị trung bình chiếm 71,65
% tổng số học sinh nữ Số học sinh nữ có chiều cao nằm trong giá trị trung bình ở các lứa tuổi thay đổi từ 68,33 % lúc 11 tuổi đến 74,48 % lúc 8 tuổi
Như vậy, số học sinh nữ có chiều cao nằm ngoài giá trị trung bình chiếm 28,26 % tổng số học sinh nữ Số học sinh nữ có chiều cao nằm ngoài giá trị trung bình ở các lứa tuổi thay đổi từ 25,52 % lúc 8 tuổi đến 31,67 % lúc 11 tuổi Điều này
Trang 34chứng tỏ, ở giai đoạn từ 7 đến 15 tuổi, chiều cao giữa các học sinh nữ khác nhau rất nhiều Đó chính là một trong những bằng chứng chứng minh cho quy luật phát triển không đồng đều của trẻ em
3.1.1.3 So sánh chiều cao của học sinh nam và nữ
Chiều cao đứng của học sinh nam và học sinh nữ được trình bày trong bảng 3.3 và hình 3.3
Bảng 3.3 Chiều cao của học sinh theo giới tính
Trang 355.71 4.82
4.91 4.09 4.5
2.75 3.15
6.78
5.29 4.74
5.06 5.24 4.63
0 1 2 3 4 5 6 7 8
7 8 9 10 11 12 13 14 15 Tuổi
Nam Nữ
Hình 3.4 Mức tăng chiều cao của học sinh theo giới tính Các số liệu trong bảng 3.3 cho thấy, chiều cao đứng của cả học sinh nam và học sinh nữ tăng dần theo tuổi Tốc độ tăng chiều cao của học sinh nam trong giai đoạn 7 – 15 tuổi trung bình là 5,30 cm/năm và của học sinh nữ trung bình là 4,71
Chiều cao(cm)
100 110 120 130 140 150 160 170
Nam Nữ
Trang 36cm/năm Điều đó chứng tỏ rằng, ở giai đoạn 7 – 15 tuổi tốc độ tăng chiều cao của học sinh nam diễn ra nhanh hơn so với của học sinh nữ
Tốc độ tăng chiều cao của cả học sinh nam và học sinh nữ diễn ra không đồng đều qua các năm, có giai đoạn tăng nhanh, có giai đoạn tăng chậm Cả học sinh nam và học sinh nữ đều có những thời điểm tăng nhảy vọt về chiều cao Ở nam, thời điểm tăng nhảy vọt về chiều cao xuất hiện lúc 13 – 15 tuổi, còn ở học sinh nữ, thời điểm tăng vọt về chiều cao xuất hiện lúc 12 – 13 tuổi Như vậy, thời điểm tăng nhảy vọt về chiều cao của học sinh nữ xuất hiện sớm hơn so với của học sinh nam Thời điểm tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của cả học sinh nam và học sinh nữ diễn ra ở giai đoạn dậy thì, đây là thời điểm cơ thể của các em có sự biển đổi mạnh mẽ về mặt hình thái
Trong cùng một độ tuổi, chiều cao đứng của học sinh nam và học sinh nữ không hoàn toàn giống nhau Ở giai đoạn 7 – 8 tuổi, chiều cao của học sinh nam có trị số lớn hơn so với học sinh nữ Ở giai đoạn 9 – 13 tuổi, chiều cao của học sinh nam có trị số nhỏ hơn so với học sinh nữ Và giai đoạn 14 – 15 tuổi, chiều cao của học sinh nam lại có trị số lớn hơn so với học sinh nữ Vì vậy, trên đồ thị biểu diễn
sự tăng trưởng chiều cao của học sinh nam và học sinh nữ xuất hiện 2 điểm giao chéo Điểm giao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ nhất xuất hiện lúc học sinh 8 –
9 tuổi và điểm giao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ hai xuất hiện lúc học sinh
13 – 14 tuổi Điều đó chửng tỏ rằng, ở giai đoạn 7 – 10 tuổi, tốc độ tăng chiều cao của nữ lớn hơn của nam Ở giai đoạn 11 – 15 tuổi, tốc độ tăng chiều cao của nữ lại nhỏ hơn của nam Tuy nhiên, từ 7 – 14 tuổi, mức chênh lệch chiều cao giữa học sinh nam và học sinh nữ không lớn lắm, chỉ dao động trong khoảng 0,20 – 2,13 cm
và không có ý nghĩa thống kê (p<1,96) Còn riêng ở độ tuổi 15, mức chênh lệch chiều cao giữa học sinh nam và học sinh nữ là 5,10 cm và có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Trang 373.1.2 Cân nặng của học sinh
3.1.2 Cân nặng của học sinh nam
Kết quả nghiên cứu cân nặng của học sinh nam 7 – 15 tuổi được trình bày trong bảng 3.4 và hình 3.5
Bảng 3.4 Cân nặng của học sinh nam
Tuổi n
Cân nặng của học sinh nam (kg)
Số học sinh có cân nặng nằm ngoài giá trị X SD
Trang 38Cân nặng(kg)
20.68 22.14
24.53 27.41
30.48 33.89 38.15 43.88
18.45
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
Tuổi
Hình 3.5 Cân nặng của học sinh nam Các số liệu trong bảng 3.4 và hình 3.5 cho thấy, cân nặng của học sinh nam tăng dần theo tuổi Cụ thể là lúc 7 tuổi, cân nặng của học sinh nam là 18,45 kg, và
15 tuổi là 43,88 kg Như vậy, tốc độ tăng cân nặng của học sinh nam trung bình mỗi năm là 3,18 kg/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng cân nặng của học sinh nam không đồng đều giữa các năm Từ 7 đến 11 tuổi cân nặng của học sinh nam tăng chậm, trung bình tăng 2,24 kg/năm Từ 12 đến 15 tuổi cân nặng của học sinh nam tăng nhanh hơn, trung bình tăng 4,12 kg/năm Thời điểm tăng nhảy vọt về cân nặng của học sinh nam xuất hiện lúc 14 – 15 tuổi (tăng 5,73 kg/năm)
Mức chênh lệch cân nặng giữa học sinh nặng cân nhất với học sinh nhẹ cân nhất trong cùng một độ tuổi rất lớn Mức chênh lệch cân nặng giữa học sinh nặng cân nhất với học sinh nhẹ cân nhất có trị số nhỏ nhất là lúc 7 tuổi (chênh lệch 8,7 kg) và cao nhất lúc 15 tuổi (chênh lệch 27,0 kg)
Số học sinh nam có cân nặng nằm trong khoảng giá trị trung bình chiếm 69,62 % tổng số học sinh nam Số học sinh nam có cân nặng nằm trong giá trị trung
bình ở các lứa tuổi thay đổi từ 67,16 % lúc 12 tuổi đến 70,96 % lúc 13 tuổi
Trang 39Như vậy, số học sinh nam có cân nặng nằm ngoài giá trị trung bình chiếm tỉ
lệ tương đối lớn chiếm 30,38 % tổng số học sinh nam Số học sinh nam có cân nặng nằm ngoài giá trị trung bình ở các lứa tuổi thay đổi từ 29,04 % lúc 13 tuổi đến 32,84 % lúc 12 tuổi Điều này chứng tỏ, ở giai đoạn từ 7 đến 15 tuổi, cân nặng giữa các học sinh nam khác nhau rất nhiều Đó cũng chính là một trong những bằng chứng chứng minh cho quy luật phát triển không đồng đều của trẻ em
3.1.2.2 Cân nặng của học sinh nữ
Kết quả cân nặng của học sinh nữ từ 7 – 15 tuổi được trình bày trong bảng 3.5 và hình 3.6
Bảng 3.5 Cân nặng của học sinh nữ
Tuổi n
Cân nặng của học sinh nữ (kg)
Số học sinh có cân nặng nằm ngoài giá trị X SD
2,95 14,99 14,35 29,34
Trang 40Cân nặng(kg)
41.52 38.12 33.47 30.06 27.13 24.47 21.15 19.25 17.95
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
7 8 9 10 11 12 13 14 15 Tuổi
Hình 3.6 Cân nặng của học sinh nữ
Các số liệu trong bảng 3.5 và hình 3.6 cho thấy, cân nặng của học sinh nữ tăng dần theo tuổi Cụ thể là lúc 7 tuổi, cân nặng của học sinh nữ là 17,95 kg, và 15 tuổi là 41,52 kg Như vậy, tốc độ tăng cân nặng của học sinh nữ trung bình là 2,95 kg/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng cân nặng của học sinh nữ không đồng đều giữa các năm Từ 7 đến 9 tuổi cân nặng của học sinh nữ tăng chậm, trung bình tăng 1,60 kg/năm Từ 10 đến 15 tuổi cân nặng của học sinh nữ tăng nhanh hơn, trung bình tăng 3,40 kg/năm Thời điểm tăng nhảy vọt về cân nặng của học sinh nữ xuất hiện lúc 13 – 14 tuổi (tăng 4,65 kg/năm)
Đối với học sinh nữ, mức chênh lệch cân nặng giữa học sinh nặng cân nhất với học sinh nhẹ cân nhất trong cùng một độ tuổi có trị số rất lớn Mức chênh lệch cân nặng giữa học sinh nặng cân nhất với học sinh nhẹ cân nhất có trị số nhỏ nhất
là lúc 7 tuổi (chênh lệch 9,3 kg) và cao nhất lúc 15 tuổi (chênh lệch 25,0 kg) Mức chênh lệch cân nặng giữa học sinh nặng cân nhất với học sinh nhẹ cân nhất tăng dần từ 7 đến 15 tuổi