Trong điều kiện Việt Nam hiện nay chúng ta có thể hiểu: Trang 12 Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khóa học : 2013 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Quý Ly
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên;
- Ban Chủ nhiệm khoa cùng tập thể các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý Tài nguyên nói riêng và các thầy, cô trong Nhà trường nói chung
đã tận tình đào tạo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt khoá học
- Các bác, cô, chú trong Cục Quy hoạch đất đai và các bác, cô, chú lãnh đạo địa phương, tập thể cán bộ và toàn thể nhân dân xã Vân Diên
- Đồ án được hoàn thành nhờ sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của thầy giáo ThS Nguyễn Quý Ly - Giáo viên Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em xin chân thành cảm
ơn thầy với lòng biết ơn sâu sắc
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 08 năm 2014
Sinh viên
Đinh Thị Trang
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CN- TTCN : Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp GTVT : Giao thông vận tải
NN PTNT : Nông nghiệp Phát triển nông thôn
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 của xã Vân Diên 25 Bảng 4.2: Hiện trạng dân số xã Vân Diên năm 2013 30 Bảng 4.3: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch so với bộ tiêu
chí của xã Vân Diên năm 2013 36 Bảng 4.4: Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội so với bộ tiêu chí của xã
Vân Diên năm 2013 37 Bảng 4.5: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất so với tiêu chí của xã
Vân Diên năm 2013 42 Bảng 4.6: Thực trạng Văn hóa – Xã hội – Môi trường so với bộ tiêu chí
của xã Vân Diên năm 2013 44 Bảng 4.7: Thực trạng hệ thống chính trị so với bộ tiêu chí của xã Vân
Diên năm 2013 47 Bảng 4.8: Bảng tổng hợp các tiêu chí đã đạt của xã Vân Diên so với tiêu
chí nông thôn mới 48
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lí luận của đề tài 4
2.1.1 Khái niệm nông thôn 4
2.1.2 Khái niệm về mô hình nông thôn mới 5
2.1.3 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở nước ta 7
2.1.4 Vai trò của mô hình nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội 9
2.1.5 Nội dung xây dựng nông thôn mới 10
2.1.6 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới 12
2.2 Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1 Kinh nghiêm của một số nước về xây dưng mô hình nông thôn mới trên thế giới 16
2.2.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc 16
2.2.1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Mỹ 16
2.2.1.3 Phát triển nông nghiệp ở Đài Loan 17
2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển nông thôn ở Việt Nam 18
2.2.3 Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới 20
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 22
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.3.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội của xã Vân Diên – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An 22
3.3.2 Thực trạng nông thôn xã Vân Diên so với bộ tiêu chí nông thôn mới 22
3.3.3 Mục tiêu, phương hướng và giải pháp xây dựng xã Vân Diên đến năm 2015 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu 22
Trang 63.4.2 Phương pháp điều tra thực tế 22
3.4.3 Phương pháp tổng hợp thông tin phân tích, so sánh , đánh giá 22
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
4.1.1.1 Vị trí địa lí 23
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo 23
4.1.1.3 Khí hậu, thời tiết 23
4.1.1.4 Thủy văn 24
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên 24
4.1.1.6 Cảnh quan môi trường 26
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế 27
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 27
4.1.2.3 Dân số, lao động, việc làm 29
4.1.2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 31
4.1.2.5 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng xã hội 32
4.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của xã Vân Diên 34
4.2 Thực trạng nông thôn ở xã Vân Diên so với bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới 35
4.2.1 Thực trạng nông thôn và so sánh với bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở xã Vân Diên 35
4.3 Mục tiêu, phương hướng và giải pháp xây dựng xã Vân Diên đến năm 2015 52
4.3.1 Quan điểm về xây dựng nông thôn mới ở xã Vân Diên 52
4.3.1.1 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm phát triển nông thôn bền vững 52
4.3.1.2 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm vừa hiện đại vừa giữ gìn được bản sắc dân tộc 52
4.3.1.3 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm phát triển toàn diện 52
4.3.1.4 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm phát huy lợi thế của địa phương 52
4.3.1.5 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm phát huy mọi nguồn lực để xây dựng với tốc độ nhanh 53
4.3.1.6 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm kế thừa các thành tựu đã đạt được 53
4.3.2 Mục tiêu, phương hướng xây dựng nông thôn mới ở xã Vân Diên đến năm 2015 53
4.3.2.1 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở xã Vân Diên 53
4.3.2.2 Phương hướng xây dựng nông thôn mới ở xã vân Diên 53
4.3.3 Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới xã Vân Diên 66
Trang 74.3.3.1 Tuyên truyền, vận động, giáo dục để tất cả các cấp các ngành và
người dân tham gia xây dựng nông thôn mới 66
4.3.3.2 Đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới 67
4.3.3.3 Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 67
4.3.3.4 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao thu nhập cho người dân 67
4.3.3.5 Củng cố nâng cao chất lượng tổ chức đảng, vai trò của chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội ở cơ sơ để thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới 68
4.3.3.6 Về cơ chế huy động nguồn vốn đầu tư 68
4.3.3.7 Phải có sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình NTM 69
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, khu vực nông thôn Việt Nam đã có sự thay đổi rõ nét Trong nông nghiệp, để khắc phục tình trạng khủng hoảng về mô hình tổ chức sản xuất, ngày 13/01/1981, Ban Bí thư
TW đã ban hành chỉ thị 100 CT/CP, chính thức quy định chủ trương khoán sản phẩm cuối cùng tới nhóm và người lao động Chỉ thị của Ban Bí thư đã đáp ứng được nguyện vọng của người dân vì vậy mà nông dân khắp mọi miền hưởng ứng nhiệt tình Hình thức này đã khắc phục được những hạn chế của các hình thức khoán trong HTX nông nghiệp trước đây, gắn được lợi ích của người lao động với sản phẩm họ làm ra Do người nông dân rất tích cực tham gia sản xuất Vì vậy năng suất, sản lượng tăng đáng kể Nền kinh tế dần được phục hồi nhưng chưa ổn định
Để đưa đất nước thoát dần cuộc khủng khoảng kinh tế - xã hội, tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng quyết định thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, mở ra thời kì mới cho phát triển kinh tế Việt Nam Cơ cấu kinh tế có
sự chuyển dịch tích cực, hoạt động dịch vụ phát triển mạnh, hình thành và phát triển các mô hình kinh tế mới (khu công nghiệp, trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân) hoạt động có hiệu quả thu hút nhiều lao động nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm cho nền kinh tế Kết cấu kinh tế - xã hội ở nông thôn có nhiều thay đổi, hệ thống điện, đường trường trạm, cơ sở y tế, nước sạch, môi trường được quan tâm và đẩy mạnh Công tác xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước Ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị
Trang 9theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Sau hơn ba năm hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới đã làm thay đổi một cách căn bản diện mạo nông thôn, nếp sống, nếp nghĩ Giúp người dân biết áp dụng KHKT vào sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, làm cho cả đời sống vật chất và tinh thần của người dân đều được nâng cao,
bộ mặt làng xã đã có sự thay đổi rõ rệt, cảnh quan môi trường được bảo vệ Nhưng mặt hạn chế cũng không phải là ít, theo Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của tỉnh, thì đây là một lĩnh vực mới, trong khi kinh nghiệm của cán bộ chưa có nhiều Khi đề xuất nội dung xây dựng đã yêu cầu chỉ chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng mà chưa quan tâm nhiều tới các mô hình sản xuất Sự trông chờ, ỉ lại của một bộ phận cán bộ cơ sở, dân cư là khá lớn, vẫn tồn tại quan niệm “xin-cho” Vì thế mà họ chỉ quan tâm tới việc giải ngân tốt mà chưa để ý tới mục tiêu chất lượng của chương trình
Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ThS Nguyễn Quý Ly, em tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá công tác thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại
xã Vân Diên – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An năm 2013”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá công tác thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại
xã Vân Diên – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An và đề xuất một số giải pháp
để chương trình thực hiện nông thôn mới đạt hiệu quả cao nhất
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
- Tìm hiểu và đánh giá công tác thực hiện mô hình nông thôn mới và quá trình xây dựng nông thôn mới ở xã Vân Diên – huyện Nam Đàn – tỉnh
Trang 10Nghệ An thời gian qua
- Rút ra những ưu điểm và vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện chương trình nông thôn mới tại xã Vân Diên – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu
- Củng cố kiến thức về nông thôn mới cho sinh viên
- Giúp sinh viên tiếp xúc thực tế, nâng cao năng lực, rèn luyện kĩ năng
và trang bị kiến thức thực tế phục vụ cho quá trình công tác sau này
- Là tài liệu tham khảo cho khoa Quản lý Tài nguyên, nhà trường và các sinh viên quan tâm
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các địa phương khác có thể nhìn nhận, khai thác và áp dụng và phát huy những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu của địa phương mình
- Đề xuất những giải pháp khả thi để khắc phục những khó khăn nhằm thực hiện tốt hơn chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm cải thiện đời sống người dân nông thôn
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lí luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm nông thôn
Nông thôn là những vùng dân cư sinh sống bằng nghề nông nghiệp, dựa vào tiềm năng của môi trường tự nhiên để sinh sống và tạo ra của cải mới trong môi trường tự nhiên đó Từ hái lượm của cải tự nhiên sẵn có dần dần tiến đến canh tác và dần tạo ra của cải cho mình Nông thôn được coi như là khu vực địa lí nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt đông sản xuất nông nghiệp
Hiện nay vẫn chưa có khái niệm chuẩn xác về nông thôn và còn có nhiều quan điểm khác nhau
Có những quan điểm lại cho rằng: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã
Có quan điểm lại cho rằng, dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ
sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị
Nông thôn là những nơi mà dân cư trung thành từng khối thường được gọi là xã, làng, xóm, đội, tổ.v.v mọi người đều cùng làm những việc thuộc lĩnh vực nông nghiệp:trồng lúa, trồng rau, chăn nuôi gia súc gia cầm.v.v Cuộc sống của họ thanh bình không ồn ã, tấp nập, không có nhiều nhà máy, công trường xí nghiệp, nhà cao tầng, những thứ xa hoa lộng lẫy Quan điểm khác lại cho rằng, nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng vùng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường thấp hơn so với đô thị
Một ý kiến khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân nông thôn trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng quốc gia nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện Việt Nam hiện nay chúng ta có thể hiểu:
“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá,
xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”(3)
Trang 12Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hoá và môi trường, quá trình này, trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ và các tổ chức khác
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí
2.1.2 Khái niệm về mô hình nông thôn mới
Trước hết chúng ta cần phải có cái hiểu đúng về nông thôn mới Khái
niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn… Trong Nghị
quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch
vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”; Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của
cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội,
mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp Đề ra mục tiêu đến năm 2020 xây dựng được khoảng 50% số xã trên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Đây là một chủ trương có ý nghĩa to lớn cả về chính trị, kinh tế, xã hội; thực hiện thắng lợi chủ trương này sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nền kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, một lực lượng xã hội đông đảo chiếm khoảng 70% dân số của cả nước, tạo ra diện mạo nông thôn mới “ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc”, thể hiện rõ bản chất ưu việt, tốt đẹp của chế độ ta
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: (1) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (2) sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; (3) đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; (4) bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; (5) xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ Đô thị hóa và
Trang 13phi nông hóa nông dân chính là nguồn động lực quan trọng để xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới phải đặt trong bối cảnh đô thị hóa Trong khi đó, chuyển dịch lao động nông thôn chính là nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dưng nông thôn mới và chủ thể là các tổ chức nông dân Các tổ chức hợp tác khu xã nông dân kiểu mới đóng một vai trò đặc biệt trong sự nghiệp này
Khái niệm mô hình nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau Nhìn chung, mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa
Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những KHKT hiện đại, song vẫn giữ được nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn hóa, tinh thần
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển; Có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; Đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội; Tiến bộ hơn so với mô hình cũ; Chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước Xây dựng nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện mạo đời sống, văn hóa, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và thành thị Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước và của các địa phương trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài Mục tiêu chính của xã nông thôn mới làm sao để nhân dân làm chủ, Đảng lãnh đạo, chính quyền hỗ trợ Vì vậy, địa phương cần phát huy nội lực của người dân, tạo ra mô hình kinh tế mới, sáng tạo trong sản xuất Bên cạnh đó, cần phải tuyên truyền tập trung hơn nữa về nội dung đăng ký thực hiện hộ, tổ, ấp nông thôn mới để người dân giúp đỡ lẫn nhau, góp phần phát triển toàn diện Có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn
ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; Nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ tri thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công CNH – HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 142.1.3 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở nước ta
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là chương trình tổng thể phát triển kinh tế - xã hội có quy mô rất lớn và toàn diện lần
đầu tiên được thực hiện tại nước ta trên quy mô cả nước theo tinh thần
Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Theo đó, để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, phải xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, thực trạng nông thôn nước ta nói chung và của tỉnh Nghệ
An nói riêng hiện nay phát triển còn kém bền vững và còn nhiều hạn chế,
đòi hỏi phải có sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, chính quyền địa phương
và sự cố gắng, nỗ lực của toàn thể cộng đồng để thực hiện Chương trình có hiệu quả trên địa bàn của tỉnh:
+Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát
Cơ chế quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu Xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh quan làng quê bị pha tạp, lộn xộn, nhiều nét văn hóa truyền thống bị mai một Nhà nào mạnh người ấy tự ý phát triển, xây dựng tràn lan không theo một quy hoạch hay khuôn mẫu nhất định nào cả Làm mất mỹ quan nông thôn
+Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu, chưa trở thành động lực lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội lâu dài
Trong đó giao thông nông thôn, đặc biệt là ở các xã khó khăn vùng sâu, vùng xa trở thành rào cản lớn nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cần được đầu tư mạnh mẽ phục vụ sản xuất và sinh hoạt của cư dân nông thôn
Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh
Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa chưa cao Giao thông chất lượng thấp, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng hóa, phần lớn chưa đạt chuẩn quy định Hệ thống lưới điện hạ thế ở tình trạng chắp vá, chất lượng thấp, quản lý lưới điện ở nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao (22-25%), nông dân phải chịu giá điện cao hơn giá trần Nhà nước quy định Tỷ lệ chợ nông thôn đạt chuẩn thấp Cả nước hiện còn hơn hàng nghìn nhà ở tạm bợ (tranh, tre, nứa lá), hầu hết nhà ở nông thôn được xây không có quy hoạch, quy chuẩn
Trang 15+ Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân nông thôn còn
ở mức thấp: Kinh tế hộ ở nông thôn vẫn là chủ yếu với quy mô nhỏ, kinh tế
trang trại, HTX hoạt động chưa thực sự hiệu quả trong việc thu hút lao
động, giải quyết việc làm và tạo ra giá trị hàng hoá lớn, doanh nghiệp đầu
tư hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp không đáng kể, lợi nhuận thấp; Thu nhập bình quân của người dân nông thôn chỉ bằng 70% mức thu nhập bình quân của tỉnh
+ Văn hoá – xã hội – môi trường khu vực nông thôn còn nhiều vấn đề cần quan tâm đầu tư, giải quyết: Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo còn rất thấp (dưới 5%), một số tệ nạn xã hội còn phổ biến ở nhiều nơi, môi trường sống bị giảm cấp và ô nhiếm nghiêm trọng
+Hệ thống chính trị cơ sở còn yếu (nhất là trình độ năng lực quản lý, điều hành): tỷ lệ cán bộ xã (do dân bầu) đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, trình độ quản lý là 58,19%, chủ yếu là trình độ trung cấp và sơ cấp; công chức xã đạt chuẩn về chuyên môn tỷ lệ là 86,58%; 29,17% số Đảng bộ, chính quyền xã chưa đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh
Việc xây dựng nông thôn mới là một vấn đề cần thiết vì các nguyên nhân:
- Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân
bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển
- Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ
- Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao
- Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục );
Trang 16nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế -
xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch
- Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần
3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
- Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó
Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hóa và môi trường, quá trình này trước hết là do nỗ lực của chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ, các tổ chức khác Xây dựng nông thôn mới là chính sách về một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, duy ý chí
2.1.4 Vai trò của mô hình nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội
* Về kinh tế
Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán
- Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị
- Hình thức sở hữa đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác
xã theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn
- Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao,mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch
* Về chính trị
Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỉ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã Phát huy tối đa quy chế dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới
Trang 17* Về văn hóa- xã hội
Xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
Xây dựng khu dân cư đoàn kết, phát triển cộng đồng, tinh thần bền vững từ các dòng họ phát triển lâu dài
* Về con người
Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu
có, kết tinh các tư cách: Công dân, dân của làng, con người của các dòng
họ, gia đình
* Về môi trường
Xây dựng và củng cố, bảo vệ môi trường, sinh thái Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí về chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình nông thôn mới có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kĩ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới
2.1.5 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới không phải chỉ nhằm xây dựng con đường, kênh mương, trường học, hội trường…mà cái chính là qua cách làm này sẽ tạo cho người nông dân hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa và thúc đẩy họ tự tin, tự quyết, đưa ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra một nông thôn mới năng động hơn Phải xác định rằng, đây không phải đề án đầu tư của Nhà nước mà là việc người dân cần làm, để cuộc sống tốt hơn, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần
Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng thôn về tiềm năng, lợi thế, năng lực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân… hướng dẫn để người dân bàn bạc đề xuất các nhu cầu và nội dung hoạt động của đề án Xét trên khía cạnh tổng thể, những nội dung sau đây cần được xem xét trong xây dựng mô hình nông thôn mới
* Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng
- Nâng cao năng lực cộng đồng trong việc quy hoạch, thiết kế, triển khai thực hiện, quản lý, điều hành các chương trình, dự án trên địa bàn thôn, bản
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp
về phát triển nông thôn bền vững
- Nâng cao trình độ dân trí của người dân
Trang 18- Phát triển mô hình câu lạc bộ khuyến nông thôn để giúp nhau ứng dụng TBKT vào sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ để giảm lao động nông nghiệp
* Tăng cường và nâng cao mức sống cho người dân
- Quy hoạch lại các khu dân cư nông thôn, với phương châm: Giữ gìn tính truyền thống, bản sắc của thôn, đồng thời đảm bảo tính văn minh, hiện đại, đảm bảo môi trường bền vững
- Cải thiện điều kiện sinh hoạt của khu dân cư: Ưu tiên những nhu cầu cấp thiết nhất của cộng đồng dân cư để triển khai thực hiện xây dựng: Đường làng, nhà văn hóa, hệ thống tiêu thoát nước…
- Cải thiện nhà ở cho các hộ dân: Tăng cường thực hiện xóa nhà tạm, nhà tranh tre nứa, hỗ trợ người dân cải thiện nhà ở, nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi, hầm biogas cho khu chăn nuôi…
* Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ nâng cao thu nhập
Căn cứ vào điều kiện cụ thể của mỗi thôn để xác định một cơ cấu kinh
tế hợp lý, có hiệu quả, trong đó:
Sản xuất nông nghiệp: Lựa chọn tập trung phát triển cây trồng, vật nuôi là lợi thế, có khối lượng hàng hóa lớn và có thị trường, đồng thời đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy khả năng về đất đai, nguồn nước và nhân lực tại địa phương
Cung ứng các dịch vụ sản xuất và đời sống như: Cung ứng vật tư, hàng hóa nước sạch cho sinh hoạt, nước cho sản xuất, điện, tư vấn kĩ thuật chuyển giao tiến bộ khoa học, tín dụng…
Hỗ trợ trang bị kiến thức và kỹ năng bố trí sản xuất, thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý
- Củng cố, tăng cương quan hệ sản xuất, tư vấn hỗ trợ việc hình thành
và hoạt động của các tổ chức: Tổ hợp tác, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư…tạo mối liên kết bốn nhà trong sản xuất, chế biến, và tiêu thụ sản phẩm
* Xây dưng nông thôn gắn với phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp
- Đối với những thôn chưa có nghề phi nông nghiệp: Để phát triển được ngành nghề nông thôn cần tiến hành “cấy nghề” cho những địa phương còn “trắng” nghề
- Đối với những thôn đã có nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng tay nghề cho lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lý môi trường, hỗ trợ tư vấn thi trường để phát triển bền vững
* Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất
Trang 19- Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng, chuyển đổi ruộng đất, khuyến khích tịch tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại với nhiều loại hình thích hợp
- Hỗ trợ xây dựng mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, chế biến thu hoạch, giao thông, thủy lợi nội đồng
* Xây dựng nông thôn gắn với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường
ở nông thôn
Vấn đề bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường từ việc quản lý nguồn cấp nước, thoát nước đến quản lý thu gom rác thải ở nông thôn cũng đã trở lên đáng báo động Đã đến lúc cơ quan địa phương mình như: Xây dựng hệ thống xử lý rác thải, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, xây dựng hệ thống quản lý môi trường ở khu vực mình một cách chặt chẽ
* Phát triển cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở nông thôn
Thông qua các hoạt động ở nhà văn hóa làng, những giá trị mang đậm nét quê đã được lưu truyền qua các thế hệ, tạo nên những phong trào đặc sắc mang hồn quê Việt Nam riêng biệt, mộc mạc – chân chất – thắm đượm tình quê hương
Xã hội hóa các hoạt động văn hóa ở nông thôn, trước hết xuất phát từ xây dựng làng văn hóa, nhà văn hóa làng và các hoạt động trong nhà văn hóa làng Phong trào này được phát triển trên diện rộng và chiều sâu
2.1.6 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Căn cứ Quyết định số: 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Quyết định số 800 QĐ/TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
* Các nhóm tiêu chí: gồm 5 nhóm
- Nhóm I : Quy hoạch (có 01 tiêu chí)
- Nhóm II : Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 08 tiêu chí)
- Nhóm III : Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí)
- Nhóm IV : Văn hóa – xã hội – môi trường (có 04 tiêu chí)
- Nhóm V : Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí)
Trang 20Đạt
1.2 Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế -
xã hội - môi trường theo chuẩn mới Đạt 1.3 Quy hoạch phát triển các khu dân cư
mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
100% (70% cứng hóa) 2.4 Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng
được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận lợi 70%
3 Thủy lợi
3.1 Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu
3.2 Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý
4 Điện
4.1 Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ
4.2 Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên,
Trang 21IV Văn hóa – xã hội – môi trường
14 Giáo dục 14.1 Phổ cập giáo dục trung học cơ sở Đạt
Trang 22Số
TT
Tên
14.2 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề)
Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch
17.3 Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
chuẩn “trong sạch, vững mạnh” Đạt 18.4 Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã
đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên Đạt
Trang 2319 An ninh, trật tự, xã hội được giữ vững Đạt
(Nguồn: Đề án xây dựng nông thôn mới xã Vân Diên, 2013)
là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển kinh tế nước ta hiện nay
2.2.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Hàn Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên, một nước từng bị đô hộ từ cuối thế kỷ 19, xuất phát điểm là một trong những quốc gia nghèo đói Cuối thập kỷ 60, GDP bình quân đầu người chỉ có 85 USD, phần lớn người dân không đủ ăn, 80% người dân nông thôn vẫn không có điện thắp sáng
và phải dùng đèn dầu, ở trong những căn nhà lợp bằng lá Lúc ấy, nền kinh
tế của Hàn Quốc phải dựa vào nông nghiệp trong khi khắp đất nước, lũ lụt
và hạn hạn lại xảy ra thường xuyên Xã hội Hàn Quốc thời đó là một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô vọng Mối lo lớn nhất của Chính phủ là làm sao thoát khỏi đói nghèo
Sau trận lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường sá
mà không có sự trợ giúp của Chính phủ Điều này làm Tổng thống suy nghĩ rất nhiều và nhận ra rằng “Viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp chính mình” Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào xây dựng nông thôn mới của Hàn Quốc sau này (Saemaul Udong)
Từ đó đến nay, phong trào Saemaul Udong đã thu được những thành tựu rất to lớn, sau 40 năm đưa đất nước Hàn Quốc từ nghèo đói sang một nước phát triển, nằm trong tốp G20 của thế giới với thu nhập bình quân đầu người hơn 30.000 USD/năm
2.2.1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Mỹ
* Phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới
Trang 24Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn
Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra
ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh - từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Và gần 60% trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình
Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, người Mỹ ở vùng đô thị hay ven đô hướng về những ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng, phong cảnh miền quê truyền thống, yên tĩnh Tuy nhiên,
để duy trì “trang trại gia đình” và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức
2.2.1.3 Phát triển nông nghiệp ở Đài Loan
* Nông hội Đài Loan, cầu nối giữa chính phủ và nông dân
Nông hội Đài Loan được thành lập năm 1990, nông hội được xây
dựng để làm cầu nối giữa chính phủ và nông dân, gắn nông dân với chính phủ và được hiểu như là HTX của các HTX thành lập ở cấp huyện, tỉnh và trung ương Mặt khác giúp chính phủ thực thi chiến lược nông nghiệp một cách hiệu quả cũng như là phản ánh những nhu cầu phát triển của nông dân với chính phủ và bảo vệ quyền lợi của họ Đây là điểm khác biệt giữa nông hội với các tổ chức khác, thuần túy phục vụ lợi ích cho nhân dân
Trang 25Nông hội là tổ chức của nhân dân, nhằm bảo vệ quyền lợi và là đại biểu của nhân dân Thực hiện các dịch vụ nông hộ như: khuyên nông, tín dụng, bảo hiểm, thông tin, tiếp thị và tiêu thụ nông sản
Là tổ chức được chính phủ ủy thác giải quyết các vấn đề nhằm phục
vụ các mục tiêu của Chính phủ về phát triển nông nghiệp nông thôn Là tổ chức kinh tế - xã hội - chính trị đặc biệt để tổ chức và giúp đỡ các trang trại hộ nông dân quy mô nhỏ trong quá trình sản xuất hàng hóa lớn Cho nên nhà nước tập trung cho nông hội Trước hết là sự hỗ trợ to lớn về tài chính: 50% vốn của Nông hội do chính phủ cung cấp, chưa kể các đầu tư trực tiếp cho nông thôn như xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển giao giống mới, tiến bộ kĩ thuật qua các chương trình phát triển
2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển nông thôn ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp truyền thống với trên 70% dân số làm nông nghiệp, đất trồng trọt và đất rừng chiếm 60% tổng diện tích lãnh thổ, tổng giá trị nông nghiệp chiếm 20% GDP, nông nghiệp – nông thôn – nông dân chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế xã hội Việt Nam Từ khi đổi mới mở cửa đến nay, Việt Nam đã không ngừng đổi mới chính sách đất đai, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, khiến nông nghiệp nông thôn phát triển mạnh và đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
Quá trình đổi mới chính sách đất đai ở nông thôn Việt Nam lấy sở hữu toàn dân về đất đai làm tiền đề, lấy chế độ khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình ở nông thôn làm khâu đột phá Thông qua giao quyền sử dụng đất cho nông dân, xác nhận bằng hình thức luật pháp quyền sử dụng đất lâu dài và địa vị kinh tế chủ thể của nông dân, Việt Nam đã từng bước thương mại hóa đất đai và quy mô hóa việc kinh doanh đất đai Quá trình này nhìn chung trải qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn I: chuyển từ chế độ tập thể hóa nông nghiệp sang chế độ khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình trong những năm 80 thế kỷ XX
Tháng 4/1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 10 về “Đổi mới quản lý nông nghiệp”, quyết định thực hiện chế độ khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình trong cả nước, cho phép nông dân tự kinh doanh, quyền sử dụng đất từ 2 năm trước đây kéo dài đến 15 năm
Giai đoạn II: bắt đầu từ những năm 90 thế kỷ XX, từng bước xây dựng chế độ về quyền sở hữu đất đai lấy “5 quyền” làm trung tâm
Tháng 6/1993, Hội nghị toàn thể trung ương 5 khóa 7 Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ phải để nông dân có “5 quyền” là: quyền trao đổi, quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền thừa kế, quyền thế chấp đất đai Tháng 7/1993, Quốc hội Việt Nam công bố bộ “Luật đất đai” thứ hai, xác nhận bằng hình thức pháp luật quyền sử dụng đất lâu dài và địa vị chủ thể
Trang 26kinh tế của nông dân, quy định rõ thời hạn sử dụng đất lâu dài và địa vị chủ thể kinh tế của nông dân, quy định rõ thời hạn sử dụng đất canh tác nông nghiệp dùng để trồng cây nông nghiệp ngắn ngày và đất nuôi trồng thủy sản là 20 năm, thời hạn sử dụng dùng trong kinh doanh cây nông nghiệp dài ngày là 50 năm, nông dân sử dụng đất theo pháp luật, sau khi hết hạn có thể được gia hạn thêm; quyền sử dụng đất có thể được kế thừa, cũng có thể trao đổi hoặc dùng làm thế chấp, trong một số tình huống nào đó còn có thể cho thuê và chuyển nhượng, thời gian cho thuê và chuyển nhượng nhiều nhất là 3 năm
Sau đó, Việt Nam lần lượt sửa đổi, bổ sung “Luật đất đai” vào năm
1998 và năm 2001, công bố bộ “Luật đất đai” thứ 3 vào năm 2003, thời hạn
sử dụng đất kéo dài nhất tới 70 năm, xác định rõ nghĩa vụ của nhà nước và người sử dụng đất, có những quy định tỉ mỉ đối với việc phê duyệt, cho thuê, chuyển nhượng, đấu giá quyền sử dụng đất
Giai đoạn III: Thúc đẩy thê một bước thương mại hóa quyền sử dụng
đất và quy mô hóa kinh doanh đất đai trên cơ sở xây dựng chế độ về quyền
sở hữu đất đai hoàn chỉnh
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2001 đề xuất xây dựng
và phát triển thị trường bất động sản bao gồm cả buôn bán giao dịch quyền
sử dụng đất Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2006 lại tiến thêm một bước nêu rõ muốn đảm bảo chuyển hóa thuận lợi quyền sử dụng đất thành hàng hóa, làm cho đất đai thật sự trở thành vốn phát triển, yêu cầu phải sớm giải quyết hiện trạng đất canh tác của các hộ nông dân nhỏ lẻ phân tán, khuyến khích trao đổi đất canh tác tập trung, dùng cho thuê hoặc góp cổ phần bằng đất đai
Hội nghị toàn thể trung ương 7 khóa 10 Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 7/2008 thông nghị quyết riêng về vấn đề “tam nông”, các gia đình và
cá nhân được sở hữu đất ổn định lâu dài, nới lỏng kỳ hạn sử dụng đất, xây dựng cơ chế vận hành của thị trường về quyền sử dụng đất công khai, minh bạch, thúc đẩy công tác dịch chuyển và tập trung đất đai để người sở hữu đất có thể đầu tư vào các công ty và doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất như là tài sản
Chính sách phân phối đất đai cho nông dân sử dụng lâu dài đã giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát huy mạnh mẽ tính tích cực của nông dân, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và làm thay đổi bộ mặt nông thôn Từ một nước nhập khẩu lương thực trước khi đổi mới, Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo chủ yếu trên thế giới, địa vị cơ sở của nông nghiệp được củng cố, trình độ phát triển kinh tế ở nông thôn được nâng lên nhiều, đời sống khó khăn của người nông dân bấy lâu được cải thiện rõ rệt, điều này đã có ý nghĩa quan trọng đối với việc
Trang 27đảm bảo an ninh xã hội, củng cố vững chắc cơ sở chính quyền, nâng cao khả năng phòng tránh rủi ro của cả nền kinh tế quốc dân
Đất đai có được trong quá trình đổi mới chính sách đã trở thành vốn ban đầu để người nông dân thoát nghèo đi lên giàu có, ngoài chuyên tâm trồng cấy để có thu hoạch, nông dân còn có thể tăng thêm thu nhập vào tài sản bằng các phương thức cho thuê, chuyển nhượng, kế thừa và thế chấp đất Địa vị kinh tế xã hội, phương thức sản xuất, sinh hoạt, thậm chí cả cách tư duy của nông dân Việt Nam từ đó đã có những thay đổi to lớn
2.2.3 Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới
Trước hết đã thúc đẩy chuyển đổi yếu tố sản xuất nông nghiệp Việc cho phép giao dịch đất đai đã khiến thị trường này ra đời và trở nên sôi động, có ảnh hưởng sâu sắc đối với việc phát triển kinh tế thị trường và tiến trình đô thị hóa Chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã thúc đẩy chuyển dịch sức lao động ở nông thôn, một số nông dân sau khi chuyển nhượng hoặc cho thuê đất đã chuyển sang làm trong ngành nghề thứ hai hoặc thứ
ba, ngành công nghiệp xây dựng hoặc dịch vụ thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển đa dạng Ngoài ra còn có rất nhiều nông dân tới các thành phố tìm việc làm, cung cấp sức lao động dồi dào cho tiến trình công nghiệp hóa
có thể thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sở hữu đất Thế chấp đất trở thành nguồn đảm bảo quan trọng khiến thị trường tín dụng ở nông thôn Việt Nam phát triển tương đối mạnh, đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng đỡ người nghèo và phát triển nông thôn
Ba là, thúc đẩy hoạt động quy mô hóa nông nghiệp Chính phủ Việt Nam khuyến khích và hỗ trợ nông dân thông qua biện pháp trao đổi đất đai với nhau để giải quyết vấn đề đất đai quá phân tán do chế độ khoán sản mang lại, thông qua các phương thức chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất hợp pháp đã chấn chỉnh, dồn dịch nguồn tài nguyên đất, thực hiện liên kết và liên doanh Chủ trang trại áp dụng phương thức liên doanh với người thầu khoán đất hoặc mua quyền sử dụng đất của nông dân
và nhận thầu đất hoang đồi núi trọc, thực hiện kinh doanh trên nhiều mảnh đất, thuê nhân công với số lượng khác nhau, đưa sản phẩm trực tiếp ra thị trường
Cần phải tăng cường quản lý, bảo vệ lợi ích nông dân trong đổi mới
Trong quá trình đô thị hóa nông thôn và thương mại hóa đất đai, do chính sách pháp luật không kiện toàn, quản lý không hoàn thiện và do nạn
Trang 28tham nhũng, những vấn đề nảy sinh trong quản lý và sử dụng đất đai ở nông thôn Việt Nam từng một thời tương đối tập trung, nông dân liên tục khiếu kiện kêu oan, các vụ khiếu kiện như vậy chiếm tới 60% tổng số các
vụ khiếu kiện trong cả nước, thậm chí lúc nào cũng có thể xảy ra các sự kiện tập thể quy mô lớn do sự xúi giục của các thế lực thù địch, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình ổn định chính trị xã hội
Hoàn thiện cơ chế quản lý Quy định trách nhiệm và quyền hạn của nhà nước trong việc quản lý đất đai, tăng cường quản lý theo pháp luật và công khai minh bạch, ngăn chặn các hiện tượng tham nhũng, lãng phí và tiêu cực trong quá trình quản lý và sử dụng đất Thanh tra triệt để tình hình
sử dụng đất đai trên cả nước, điều chỉnh hợp lý và công khai với xã hội quy hoạch sử dụng đất
Giải quyết ổn thỏa những vấn đề phát sinh do trưng dụng đất Đảng và Chính phủ Việt Nam cần phải chỉ đạo điều chỉnh công tác bồi thường cho những hộ dân bị trưng dụng đất theo nguyên tắc đảm bảo lợi ích hợp lý của các bên liên quan (bao gồm bên cung cấp đất, bên tiếp nhận đất và nhà nước), quan tâm nhiều hơn tới lợi ích của nông dân, lần đầu tiên quy định
rõ ràng bằng văn bản pháp luật “phải đảm bảo mức sống của những người
bị trưng dụng đất tốt hơn trước khi bị trưng dụng” Đồng thời, tập trung giải quyết vấn đề tìm lại việc làm cho những người mất đất, ưu tiên đào tạo nghề và giúp họ tìm việc
Đẩy mạnh kiểm tra xử lý những vi phạm liên quan đất đai Tập trung giải quyết những vụ khiếu kiện tố cáo liên quan đến đất đai còn tồn tại trước đây, xử lý nghiêm túc những hành vi bắt ép nông dân, chiếm đoạt đất của nông dân Chính phủ lập ra chức danh Kiểm sát viên chuyên trách về đất đai để kiểm tra tình hình chính quyền các cấp quản lý đất đai và các tổ chức, cá nhân thi hành chính sách pháp luật liên quan, khi phát hiện hành vi
vi phạm Kiểm sát viên được xử lý theo quyền hạn hoặc kiến nghị với các ngành chức năng của nhà nước để xử lý Đã có những quy định xử phạt cụ thể đối với những công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai
Để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới phải là một phong trào quần chúng rộng lớn, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, có
sự tham gia chủ động, tích cực, tự giác của mỗi người dân, mỗi cộng đồng dân cư, của cả hệ thống chính trị ở cơ sở, phát huy cao nhất nội lực, có sự
hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước và chính quyền các cấp Vì vậy, để xây dựng
mô hình thành công cần có sự cộng đồng trách nhiệm của chính quyền các cấp với đoàn thể địa phương và sự hợp tác, ý thức, nỗ lực của chính những người dân vốn quen với cách sống sau lũy tre làng
Trang 29PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở, các tổ chức đoàn thể ở địa phương
- Các hoạt động xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Tại xã Vân Diên – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Cục Quy hoạch đất đai - Tổng cục quản lý đất đai
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài: 02/6/2013 đến 08/8/2013
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội của xã Vân Diên – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An
3.3.2 Thực trạng nông thôn xã Vân Diên so với bộ tiêu chí nông thôn mới 3.3.3 Mục tiêu, phương hướng và giải pháp xây dựng xã Vân Diên đến năm 2015
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu
Khảo sát tình hình thực tế của địa bàn để thu thập được số liệu về công
tác thực hiện chương trình nông thông mới Từ đó, đánh giá thuận lợi, khó khăn của việc thực hiện chương trình nông thôn mới
3.4.2 Phương pháp điều tra thực tế
Nắm bắt tình hình thực tế tại địa bàn, từng người dân và các đối tượng
tham gia
3.4.3 Phương pháp tổng hợp thông tin phân tích, so sánh , đánh giá
Tiến hành đánh giá phân tích tổng hợp số liệu từ phương pháp thống kê
và phương pháp điều tra Ngoài ra phương pháp so sánh kết hợp với những lý luận khoa học để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu
Phân tích những thuận lợi khó khăn trong đường lối chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện chương trình nông thôn mới
Trang 30PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lí
Vân Diên nằm cách Thị Trấn Nam Đàn 1Km về phía Tây, cách Thành phố Vinh 21Km về phía Tây, nằm giáp bên bờ Sông Lam và Sông Đào Có tổng diện tích tự nhiên là 1.362,97 ha, có vị trí địa lý như sau :
+ Phía Đông giáp xã Xuân Hoà
+ Phía Bắc giáp xã Nam Thanh, xã Nam Nghĩa
+ Phía Nam giáp Thị trấn Nam Đàn , Nam Tân
+ Phía Tây giáp xã Nam Thượng, xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, xã Thanh Khai - huyện Thanh Chương
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Vân Diên là một xã nửa đồng bằng nửa bán sơn địa có địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, có độ cao từ 25-35m so với mực nước biển
Địa hình đồng bằng có độ cao mặt đất không đồng đều Mùa mưa lũ thường bị ngập úng cục bộ gây khó khăn cho xây dựng giao thông nội đồng sản xuất nông nghiệp
Địa hình đồi núi có độ dốc lớn, thích hợp với cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả Nhưng đường giao thông thường bị bào mòn khi mùa mưa lũ tới
4.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Vân Diên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có chung đặc điểm của vùng đồng bằng Bắc Trung Bộ, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc vào mùa đông và gió phơn tây nam vào mùa hè
Trang 31Chế độ nhiệt: phân làm 2 mùa rõ rệt Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch với nhiệt độ cao nhất đạt 41,10C, mùa lạnh bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm với nhiệt độ thấp nhất 100
C, nhiệt độ trung bình năm 23,70C, số giờ nắng trung bình năm 1.637 giờ
Độ ẩm trung bình hàng năm là 85%
Chế độ mưa: Trong năm lượng mưa phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung vào tháng 3, tháng 8,9,10 thường bị ngập úng Lượng mưa thấp nhất vào tháng 1 đến đầu tháng 3 chỉ đạt 10% lượng mưa cả năm
Với đặc điểm thời tiết trên, cần bố trí cây trồng, cơ cấu thời vụ thích hợp, né tránh các yếu tố bất thuận, tăng cường bảo vệ đất kết hợp với sử dụng đất hợp lý để nâng cao độ phì nhiêu cho đất
4.1.1.4 Thủy văn
Trên địa bàn xã có con sông Lam và kênh Đào chảy qua nên nguồn nước tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp là khá phong phú Hơn nữa, diện tích ao hồ đào lại có chất lượng nước tốt với cao trình mặt đất canh tác là 2 đến 3m, nên toàn bộ diện tích canh tác cũng được tưới tiêu khá chủ động thông qua hệ thống kênh mương trên địa bàn xã Ngoài ra xã cũng có nguồn nước ngầm vô cùng phong phú, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong xã
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên 1.362,97ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp hiện tại là 1.016,40ha chiếm 74,57%; đất phi nông nghiệp 321,94 chiếm 23,62% và đất chưa sử dụng 24,63ha chiếm 1,81% so với tổng diện tích tự nhiên
Trang 32Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 của xã Vân Diên
Năm 2013 Diện
tích (ha)
Cơ cấu (%)
1 ĐẤT NÔNG NGHIỆP NNP 1016,40 74,57 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 677,39 100
1.1.1.1 Đất chuyên trồng lúa nước LUC 448,31 93,18
1.2 Đất trồng cây hằng năm còn lại HNK 35,42 5,23 1.3 Đất trồng cây lâu năm CLN 160,83 23,74 1.2 Đất lâm nghiệp LNP 315,22 31,01
2.2 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình
2.9.4 Đất công trình bưu chính viễn thông DBV 0,36 0,21
(Nguồn: Kiểm kê đất đai, 2013)
Trang 33Theo kết quả điều tra khảo sát và kết quả tổng hợp được từ bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Nghệ An tỷ lệ 1: 100.000 trên địa bàn xã Vân Diên có các loại đất chính sau:
Đất vàng nhạt trên sa thạch và cuội kết (Fu): Tầng đất khá sâu, độ phì nhiêu trung bình, thích hợp với các loại cây ăn quả và lâu năm
Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs): Có độ phì nhiêu thích hợp trên nhiều loại cây
Đất Feralit đỏ vàng trên núi (Hs): Đất hình thành trên vùng núi, độ dốc hầu hết trên 300 thuộc các khu vực rừng đầu nguồn Nên dành để phát triển sản xuất lâm nghiệp
Đất phù sa (Fa): Đây là loại đất thích hợp cho trồng lúa và hoa màu
b) Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt phụ thuộc vào nguồn nước mưa, nước sông Lam, sông Đào va các hồ đập trong địa phương đưa về các kênh mương Lượng mưa hàng năm tuy lớn nhưng lại tập trung theo mùa, mùa mưa chiếm trên 90% tổng lượng mưa, ngược lại mùa khô chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm
Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của xã tương đối dồi dào chia làm hai dạng: nước ngầm mạch nông và nước ngầm mạch sâu Nước ngầm mạch nông được khai thác rộng rãi bằng các giếng đào ở độ sâu 8-15 m Nước ngầm mạch sâu được khai thác bằng giếng khoan ở độ sâu 30-39 m
c) Tài nguyên khoáng sản
Có mỏ đá xanh khai thác phục vụ xây dựng các công trình Có nguồn đất sét sản xuất vật liệu xây dựng
d) Tài nguyên nhân văn
Toàn xã có 2.882 hộ, đồng bào dân tộc thiểu số 3 hộ Tổng số nhân khẩu là 11.940 khẩu, với tổng lao động trong độ tuổi 5.356 lao động, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 32% Với nguồn nhân lực trên là điều kiện góp phần quan trọng trong phát triển kinh - tế xã hội hiện nay và trong tương lai Hơn nữa là địa phương có truyền thống cách mạng, người dân sinh sống có tinh thần đoàn kết yêu thương quê hương, có đức tính cần cù, chăm chỉ, vượt qua khó khăn gian khổ về kinh tế để từng bước đi lên Đó là điều kiện thuận lợi để Đảng và Chính quyền xã lãnh đạo nhân dân vững bước tiến lên trong sự nghiệp công nghiếp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn
4.1.1.6 Cảnh quan môi trường
Hiện nay, môi trường sinh thái của Vân Diên khá tốt, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ sức khỏe của nhân dân Có hệ thống làng mạc lâu đời với nhiều đình, đền, chùa và các di tích lịch sử văn hóa lâu dời, tạo cho khu
Trang 34vực cảnh quan đẹp và môi trường sinh thái hấp dẫn
Xã Vân Diên là một xã thuần nông nên ít chịu ảnh hưởng của việc phát triển công nghiệp và đô thị, ô nhiễm môi trường ít
Tuy nhiên cần áp dụng các biện pháp thủy lợi và canh tác hợp lý nhằm hạn chế nguy cơ đất đai bị ô nhiễm khuyến khích nông dân sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón có nguồn gốc sinh học, sử dụng thức ăn trong nuôi trồng thủy sản hợp lý… để đảm bảo an toàn cho môi trường đất và nước
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Vân Diên không ngừng nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn và thử thách
đã có những tiến bộ quan trọng Nhiều ngành, nhiều lĩnh vực xuất hiện nhiều nhân tố mới, những mô hình tốt tạo đà cho đổi mới phát triển trong giai đoạn tới
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Trong những năm qua xã Vân Diên đã tạo cho mình một nền kinh tế khá ổn định và có những bước phát triển tích cực, cơ cấu kinh tế đang chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hóa, theo bước phát huy được tiềm năng của địa phương
Tổng giá trị sản xuất đạt 451.891 triệu đồng theo giá trị hiện hành Trong đó:
Giá trị sản xuất ngành nông, lâm, ngư nghiệp đạt 125.417 triệu đồng tăng 12,3% so với năm 2012
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng đạt 160.923 triệu đồng, tăng 13,8% so với năm 2012
Giá trị sản xuất ngành thương mại, dịch vụ, du lịch đạt 165.551 triệu đồng, tăng 14,8% so với năm 2012
a) Ngành nông nghiệp
Trồng trọt:
Trang 35Việc ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất ngày càng được mở rộng như đưa lúa lai ở vụ xuân hàng năm đạt từ 70-72% lúa giống, lúa chất lượng cao từ 10-15% diện tích là những cây cho năng suất và giá trị kinh tế cao trên đất 2 lúa Đến nay 100% diện tích đất nông nghiệp cho giá trị sản xuất 35 triệu đồng trở lên/ha/năm, trong đó 56,1% diện tích đất nông nghiệp đạt giá trị sản xuất trên 50 triệu đồng/ha/năm, có khoảng 20ha đạt trên 100 triệu đồng/ha/năm
Cây lúa: Diện tích 662ha, năng suất bình quân đạt 62 tạ/ha tăng 2 tạ/ha so với năm 2012
Cây ngô: Diện tích gieo trồng 141,4 ha, giảm 65,6 ha so với năm
2012, năng suất bình quân đạt 41 tạ/ha
Cây lạc: Diện tích gieo trồng 99 ha, giảm 5,2 ha so với năm 2012, năng suất bình quân đạt 22 tạ/ha
Cây vừng: Diện tích gieo trồng 5,1 ha, năng suất bình quân đạt 8 tạ/ha
Cây sắn: diện tích gieo trồng 6 ha, năng suất bình quân đạt 90 tạ/ha
Chăn nuôi:
Tiếp tục giữ vững phát triển ngành chăn nuôi cả về lượng và chất Tổng đàn trâu bò có 1.463 con, tăng 0,2% so với năm 2012 Đàn lợn có 1.741 con, tăng 0,1% so với năm 2012 Đàn gia cầm có 33.000 con, tăng 1,1% so với năm 2012
Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc gia cầm được quan tâm thường xuyên Kết quả tiêm phòng cho đàn trâu bò được 557 con đạt 38% tổng đàn, đàn lợn được 261 con đạt 21% tổng đàn, đàn gia cầm được 27.250 con đạt 80% tổng đàn Trong năm toàn xã không có dịch bệnh xẩy ra
b) Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 36Phát huy các ngành nghề truyền thống và mở rộng sản xuất một số ngành nghề có giá trị kinh tế cao như chế biến thép phôi từ thép phế liệu, chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất các mặt hàng dân dụng, giữ vững và phát triển làng nghề cả về chất và lượng
Xây dựng cơ bản
Trong những năm gần đây, thu nhập bình quân của người dân ngày càng tăng cao nên xây dựng cơ bản trong nhân dân phát triển mạnh đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn
Một số công trình như trường học, trạm y tế… cũng được xã đầu tư xây dựng nhằm đảm bảo cho công tác dạy và học cũng như nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân
c) Ngành thương mai dịch vụ
Phát triển toàn diện các loại hình dịch vụ, một số ngành có ưu thế như: Nhà hàng ăn uống, kinh doanh vận tải, buôn bán vật liệu xây dựng, dịch vụ tổng hợp…
Hoạt động thương mại ngày càng phát triển, đã có những bước chuyển mạnh mẽ trong việc cung ứng và lưu thông hàng hóa góp phần đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng, phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất và đời sống
Tổng số hộ dịch vụ là 227 hộ, số hộ kinh doanh tăng 2,7% so với năm 2012, số lao động làm dịch vụ tăng 4% so với năm 2012
4.1.2.3 Dân số, lao động, việc làm
Trang 37đình được phát huy sâu rộng trong nhân dân, tỷ lệ sinh con thứ 3 chiếm 25,6%, tỷ lệ phát triển dân số 0,94%
Bảng 4.2: Hiện trạng dân số xã Vân Diên năm 2013
STT Tên đơn vị hành chính Số hộ Số nhân khẩu
(Nguồn: Thuyết minh quy hoạch xây dựng nông thôn mới
xã Vân Diên – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An)
Trang 38b) Lao động và việc làm
Hiện nay, số người đang trong độ tuổi lao động của xã có khoảng 5.356 người, chiếm 47,86% dân số xã, trong đó lao động nông nghiệp chiếm khoảng 65%, lao động phi nông nghiệp chiếm 35% Để nâng cao chất lượng nguồn lao động đáp ứng nhu cầu lao động cho các dự án phát triển công nghiệp trên địa bàn xã đòi hỏi huyện Nam Đàn và xã Vân Diên cần có chiến lược đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng lao động trẻ
Giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động là vấn đề được chính quyền cũng nhân dân đặc biệt quan tâm Từ năm 2005 đến nay
đã triển khai nhiều dự án phát triển kinh tế xoá đói giảm nghèo, hoàn thành chương trình, chỉ tiêu nhà tình nghĩa, nhà tình thương, thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về được ưu tiên giới thiệu việc làm tại các cơ sở đóng trên địa bàn Cùng với việc chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn Tạo điều kiện nâng cao mức sống của nhân dân góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội
c) Thu nhập
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển nhanh về kinh tế,
cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao Các lĩnh vực giao thông vận tải, văn hoá, thông tin, y
tế, giáo dục đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân dân Mức sống dân
cư được nâng lên rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, 100% hộ được dùng nước sạch (nước giếng khoan), 100% hộ được dùng điện lưới quốc gia vào sản xuất và sinh hoạt Các chính sách xã hội đối với đồng bào dân tộc, gia đình chính sách được Đảng bộ và Chính quyền xã
đặc biệt quan tâm
4.1.2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Trong những năm gần đây xã có nhiều thay đổi Các công trình xây
Trang 39dựng như trụ sở làm việc của các cơ quan, công trình phúc lợi xã hội, mạng lưới điện chiếu sáng, mạng lưới thông tin, bưu điện, nhà ở đang được cải tạo, nâng cấp với kiến trúc khang trang Các điểm dân cư hình thành, phát triển qua nhiều thế hệ với hình thái phân bố mang đậm nét đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộ
Nhìn chung, dân cư sống quần tụ, hạ tầng cơ sở tạm đáp ứng nhu cầu
sử dụng của nhân dân địa phương Tuy nhiên hiện nay đời sống của nhân vẫn còn khó khăn, tỉ lệ nhà cấp 4 đơn giản vẫn còn
4.1.2.5 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng xã hội
a) Giao thông
Xã có Quốc lộ 46 và 15A chạy qua, đây là con đường huyết mạch lưu thông hàng hóa cũng như giao lưu văn hóa của xã với các xã trong cũng như ngoài huyện Ngoài ra xã còn có một hệ thống giao thông tương đối tốt, chủ yếu làm bằng vật liệu cứng tạo điều kiện tốt cho nhân dân trong xã trong việc sản xuất cũng như sinh hoạt Bên cạnh đó bề mặt đường còn hẹp, nền đường nhiều nơi còn chưa được cứng hóa Vì vậy trong thời gian tới cần được mở rộng và nâng cấp, đảm bảo 100% được cứng hóa tạo điều kiện hơn cho giao lưu hoàng hóa cũng như hoạt động của nhân dân
b) Thủy lợi
Xã có hệ thống kênh mương, trạm bơm phân phối khá hợp lý phân đều cho các khu vực trong xã cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất, và sinh hoạt của nhân dân Trong hệ thống kênh mương nội đồng tương đối hợp lý, tuy nhiên còn hẹp ít được khơi thông và chưa được kiên
cố hóa Chủ yếu phục vụ tưới, còn hệ thống mương tiêu còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng nhu cầu do đó dẫn đến tình trạng thoát nước chậm trong mùa mưa gây ngập úng Vì vậy cần mở rộng một cách hợp lý, thường xuyên nạo vét kênh mương và kiên cố hóa để đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp của nhân dân
Trang 40c) Giáo dục - Đào tạo
Các nhà trường đã hưởng ứng tích cực chủ trương của Bộ giáo dục nói không với tiêu cực trong thi cử, chống bệnh thành tích, không dậy đọc chép, không ngồi nhầm lớp và không vi phạm đạo đức nhà giáo
Tập trung thực hiện cuộc vận động ký cương, tình thương và trách nhiệm kết hợp với cuộc vận động xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực trong ngành giáo dục
Kết quả giáo dục năm 2012 - 2013 Vân Diên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học, thực hiện nghiêm túc chủ đề của năm học để phân loại, đánh giá học lực của học sinh, chất lượng giáo dục đại trà ổn định, chất lượng học sinh giỏi được tăng lên ở các ngành học, bặc học, sự nghiệp giáo dục của xã được đánh giá tốt
d) Y tế
Năm 2013 công tác y tế đã có nhiều cố gắng, thực hiện tốt kế hoạch
đề ra, các chương trình hoạt động có hiệu quả, sức khỏe nhân dân trong xã ngày càng được đảm bảo
e) Văn hoá - thể dục thể thao
* Công tác thông tin tuyên truyền
Các hoạt động văn hóa thông tin thể thao phụ vụ kịp thời cho các các nhiệm vụ chính trị địa phương Tuyên truyền 81 năm ngày thành lập Đảng,
100 năm bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, tuyên truyền chương trình xây dựng nông thôn mới đặc biệt là tập trung tuyên truyền cho bầu cử Quốc hội
và HĐND các cấp
* Công tác thể thao
Làm tốt công tác tuyên truyền động viên nhân dân tích cực luyện tập thể dục thể thao nâng cao sức khỏe cá nhân như đi bộ, xe đạp, tập dưỡng sinh, điền kinh, cờ tướng… Tổ chức giao lưu bóng đá dịp 27/3 ngày thể thao Việt Nam và kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh