Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, qu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MÔNG THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MÔNG THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Ngành : Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI ĐÌNH HÒA
Thái Nguyên -2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và hình ảnh trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Mông Thị Phương Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
Tất cả các thầy cô giáo Phòng quản lý đào tạo sau đại học, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng
dẫn TS Bùi Đình Hòa đã định hướng, chỉ bảo, dìu dắt tôi trong quá trình học
tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng tài nguyên môi trường thành phố Thái Nguyên, Chi cục thống kê thành phố Thái Nguyên, Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Thái Nguyên, UBND các xã Tân Cương, Đồng Bẩm, Lương Sơn
đã cung cấp số liệu khách quan, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tác giả
Mông Thị Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC 4
1.1.1 Giới tính và Giới 4
1.1.2 Phát triển kinh tế hộ ở nông thôn 7
1.1.3 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 10
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 9
1.2.1 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 9
1.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.2.3 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 20
1.3 Đánh giá chung 27
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 29
2.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 31
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 31
Trang 6CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Thái Nguyên 33
3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 33
3.1.2 Điều kiện đất đai và tình hình sử dụng đất 34
3.1.3.Thời tiết, khí hậu, thủy văn 35
3.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 36
3.2.1 Nông lâm nghiệp 36
3.2.2 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 37
3.2.3 Thương mại, dịch vụ 38
3.2.4 Tình hình dân số và lao động 40
3.2.5 Cơ sở hạ tầng 40
3.2.6 Về giáo dục đào tạo 42
3.2.7 Về y tế 42
3.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 42
3.3.1 Những thuận lợi 42
3.3.2 Khó khăn 43
3.4 Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế thành phố Thái Nguyên 43
3.4.1 Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn thành phố 43
3.4.2 Thực trạng vai trò phụ nữ trong các hộ nghiên cứu 47
3.4.2.1 Vai trò trong tham gia công tác xã hội 47
3.4.2.2 Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất 48
3.4.2.3 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 50
3.4.2.4 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận khoa học kỹ thuật 56
3.4.2.5 Vai trò trong kiểm soát các nguồn lực 60
3.4.2.6 Vai trò trong việc nâng cao trình độ 63
3.4.2.7 Vai trò trong công tác chăm sóc sức khoẻ gia đình 64
3.5 Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ 65
Trang 73.5.1 Yếu tố thuận lợi 65
3.5.2 Yếu tố cản trở 67
3.6 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ 70
3.6.1 Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ các cấp trong thực hiện bình đẳng giới 70
3.6.2 Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề giới 71
3.6.3 Nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ, tăng cường khả năng tiếp cận với giáo dục 71
3.6.4 Lồng ghép giới, đưa các chỉ tiêu về giới, các công cụ giám sát và đánh giá có phân tích giới vào chính sách, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển 72
3.6.5 Tăng khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực của phụ nữ 73
3.6.6 Tăng cường tạo quyền và khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với quá trình ra quyết định ở các cơ quan, đơn vị 74
3.6.7 Giải pháp hoạt động khuyến nông và thông tin nông nghiệp đối với phụ nữ nông thôn 75
3.6.8 Giảm bớt gánh nặng công việc gia đình cho phụ nữ 76
3.6.9 Phụ nữ phải tự ý thức để giải phóng chính mình, gạt bỏ tâm lý tự ti, mặc cảm 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 79
2.1 Đối với trung ương 80
2.2 Đối với địa phương 80
2.3 Đối với người dân 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
2 CN- TTCN Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
3 CNVC Công nhân viên chức
4 CT CP Công ty cổ phần
5 Đoàn TN Đoàn thanh niên
6 GDP Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội
7 HĐND Hội đồng nhân dân
8 KHKT Khoa học kỹ thuật
10 LĐLĐ Liên đoàn lao động
11 LĐ-TBXH Lao dộng- thương binh xã hội
12 ODA Official Development Assistance: Viện trợ
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
giai đoạn 2012-2013 34 Bảng 3.2: Khí hậu, thời tiết khu vực thành phố Thái Nguyên năm 2013 36
Bảng 3.3: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu KT-XH chủ yếu năm 2013 của
Bảng 3.6: Số lượng phụ nữ tham gia các lớp đào tạo, tập huấn 46
Bảng 3.7: Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể
tại các xã vùng nghiên cứu 47
Bảng 3.8: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng ở các điểm nghiên cứu 48
Bảng 3.9: Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ 49
Bảng 3.10: Phân công lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ ở các
điểm nghiên cứu năm 2014 52
Bảng 3.11: Phân công lao động trong hoạt động khác ở 3 xã nghiên cứu 53
Bảng 3.12: Tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ vùng nghiên cứu
trong một năm 56
Bảng 3.13: Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở điểm nghiên cứu 57
Bảng 3.14: Tỷ lệ tiếp cận kiến thức của phụ nữ và nam giới ở các điểm
nghiên cứu 59
Bảng 3.15: Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 60
Bảng 3.16: Tình hình quản lý tài chính của hộ tại vùng nghiên cứu 62
Bảng 3.17: Tỷ lệ người ốm trong các hộ được chăm sóc, chữa trị ở các
vùng nghiên cứu 64
Bảng 3.18: Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và
công cuộc phát triển 69
Trang 10BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội cả nước qua các khóa 17 Biểu đồ 3.1: Trình độ văn hóa lao động nữ tự do khu vực thành phố
Thái Nguyên 46 Biểu đồ 3.2: Trình độ văn hoá của nam và nữ trong độ tuổi ở vùng
nghiên cứu 63 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình 66
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam luôn giữ vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của đất nước
Từ cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường của Bà Trưng, Bà Triệu đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lịch sử lại tiếp tục ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng cống hiến không những cuộc đời mình mà còn hy sinh cả con em họ cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc Không chỉ chiến đấu anh hùng, phụ nữ đã và đang lao động cần cù, vượt mọi gian khó, vươn lên thoát cảnh đói nghèo, lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp, vững mạnh Ngày nay, tiếp nối truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam, các tầng lớp phụ nữ ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước, thể hiện ở số phụ nữ tham gia trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng tăng
Ngày nay đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập và phát triển, người phụ nữ cũng tác động tới sự vận động của xã hội Phụ nữ Việt Nam tiếp tục tỏ rõ năng lực và khẳng định mình, thời gian qua đại bộ phận cơ quan quản lý hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực, đều có sự tham gia góp mặt của “phái yếu” Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động, phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…Ở khu vực nông thôn, cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát
Trang 12triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phương làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam
Ở khu vực nông thôn của thành phố Thái Nguyên, phụ nữ cũng đã và đang có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế- xã hội Tuy nhiên, sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình Phụ nữ phải mang nhiều gánh nặng nên quỹ thời gian dành cho việc hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần, việc học tập nâng cao trình
độ kiến thức của phụ nữ là rất hiếm hoi Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và
hy sinh nhưng quyền lợi về mọi mặt của họ lại chưa được quan tâm đúng mức
Trong quá trình học tập và nghiên cứu về lĩnh vực liên quan đến phụ
nữ, nhiều câu hỏi được đặt ra cho bản thân: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay như thế nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay ra sao? Phụ nữ có nhiều đóng góp như vậy nhưng lại luôn phải chịu thiệt thòi, vậy giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn và nâng cao năng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn ở thành phố Thái Nguyên trong việc phát triển kinh
tế được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này, nhằm thúc đẩy
sự phát triển nông nghiệp nông thôn
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Thái Nguyên”
Trang 132 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Quá trình nghiên cứu giúp cho học viên có điều kiện tự khẳng định mình, củng cố cho học viên những kiến thức còn thiếu sót cần bổ sung để
sau này có năng lực chuyên môn tốt đáp ứng nhu cầu của công việc
Ngoài ra, đề tài là một kênh thông tin để Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ thành phố tham mưu giúp Ban chấp hành Đảng bộ thành phố xây dựng giải pháp thực hiện chương trình hành động nhằm năng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, góp phần thực hiện hiệu quả công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng thành công chương trình nông thôn mới trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1.1 Giới tính và Giới
1.1.1.1 Khái niệm Giới tính và Giới
*Giới tính(trong một số tài liệu sử dụng thuật ngữ giống): Chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ sinh lý học (cấu tạo hóc môn, nhiễm sắc
thể, các bộ phận sinh dục, ) Sự khác biệt này liên quan chủ yếu tới quá trình tái sản xuát nòi giống, cụ thể là phụ nữ có thể mang thai, còn nam giới là một trong các yếu tố không thể thiếu được trong quá trình thụ thai [1]
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền Ví dụ, người nào có cặp nhiệm sắc thể giới tính XX thì thuộc
về nữ giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới
*Giới: chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai
và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính [1]
Khái niệm về "Giới" được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80
“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ "Giới" đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể
“Giới" là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể "Giới" là sản
Trang 15phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan
hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội
1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
* Đặc điểm về giới:
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được
và nam giới trong xã hội
Trang 16Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau
1.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình [1]
Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện
cụ thể mà phụ nữ trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ
vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể
* Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ
nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng [1]
* Bình đẳng giới: Bình đẳng giới có nghĩa phụ nữ và nam giới có được địa
vị như nhau, cơ hội như nhau để phát triển tiềm năng và được hưởng thụ bình đẳng và công bằng những lợi ích của sự phát triển.[1]
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
- Có địa vị như nhau và quyền như nhau trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
- Có cơ hội như nhau trong sử dụng và quản lý nguồn lực
Trang 17- Phụ nữ và nam giới đều được bình đẳng tham gia ra quyết định
- Hưởng thụ bình đẳng và công bằng thành quả lao động và phúc lợi xã hội
1.1.1.4 Vai trò của giới
- Vai trò sản xuất: được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi hình thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội
- Vai trò tái sản xuất sức lao động: bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu như của người phụ nữ
- Vai trò cộng đồng: thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng
1.1.2 Phát triển kinh tế hộ nông thôn
1.1.2.1 Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế
*Phát triển: Là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự
tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [4]
Phát triển kinh tế: Có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền
kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [8]
1.1.2.2 Khái niệm về nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ của một
nhà nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường
tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp [23]
Trang 181.1.2.3.Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông thôn
* Khái niệm hộ: Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triến Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là :“Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất đế nuôi sổng và tăng thêm tích luỹ cho gia đình
và xã hội” Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:
- Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ "Hộ là tất cả những người cũng sổng chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công" [17]
- Theo Liên hợp quốc "Hộ là những người cùng sổng chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ" [17]
- Năm 1981, Harris (London - Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng:
"Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động" và trên góc độ này, nhóm các đại biểu thuộc trường phái "Hệ thống Thế Giới" (Mỹ) là Smith (1985 Martin
và Beiltell (1987) có bổ sung thêm: "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung" [17]
- Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: "Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế" [17]
* Hộ gia đình: Có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định
nghĩa khái niệm hộ gia đình:
- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
- Cùng cư trú
- Có cơ sở kinh tế chung [17]
Trang 19Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng
hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ [17]
Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình
* Kinh tế hộ nông dân: Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao [17]
Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau:
- Đất đai: nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất
có tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai
- Lao động: lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhận Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thái hàng hoá, họ không có khái niệm tiền công, tiền lương
- Tiền vốn: chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ
Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới bán ra thị trường
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
1.2.1.1 Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2 trong tổng sản lượng nông nghiệp Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc
Trang 20khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao [18]
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ
là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ [3] Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế
về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì
có đến 70% là nữ Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ…
Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong Quốc hội (cao nhất ở Châu Á
và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (ĐBQH) cao nhất thế giới); tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69% [22]
Tuy nhiên, so với con số trung bình theo quy định của Quốc tế tỷ lệ lao động nữ là đại biểu Quốc hội của Việt Nam chưa đạt và có xu hướng giảm dần Theo số liệu của Văn phòng Quốc hội thì tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia vào Quốc hội giai đoạn 1975 – 1976 là 32%; 1976 – 1981 là 27%; 2002 – 2007 chỉ còn 27,31%; 2007 - 2011 tăng lên là 25,76 % [22]
Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và
xã hội Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong
Trang 21các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội
1.2.1.2 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
- Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động cộng đồng tại xóm, thôn bản
Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bước tiến của nhân loại Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
1.2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
* Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số nước Á Đông: Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ
công việc gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm nay Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng
Trang 22nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia đình Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế [6]
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều hạn chế: Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin
nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% [14] Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái Còn ở Việt Nam, theo thống
kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước; chỉ có 0,63 % công nhân
kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [13] Điều đó cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới
Trang 23Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ thấp
*Yếu tố về sức khoẻ: Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa phải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn
* Khả năng tiếp nhận thông tin: Do phụ nữ phải đảm nhận một khối
lượng công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác
* Các yếu tố chủ quan: Một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó
là nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó
Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là việc của phụ nữ Họ tỏ ra không hài lòng về người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần
Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự phát triển của nhân loại Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn
Trang 24quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với nữ trên toàn thế giới Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại
1.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.2.1 Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới
Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ
nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90%
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao Một số tài liệu thống
kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
- Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động so với 82,5% nam giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%) Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54 Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động [6]
- Trung Quốc: Nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ
nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [6]
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp: Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp Ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không
Trang 25được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai vì ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là
do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những người thân của mình Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ [6]
* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các nước đang phát triển Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng
Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng, nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những khó khăn nhất định Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ… Như vậy, mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự
Trang 261.2.2.2 Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
* Thực trạng phụ nữ Việt Nam: Là một nước có nền công nghiệp chưa
phát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp như: cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, xát gạo… [20]
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
- Do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 80 - 90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong
đó lao động nữ chiếm 55% [5]
- Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc
- Do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90, khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ hàng hoá, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp
- Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông
*Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế- xã hội: Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải
phóng phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
Trang 27tổ quốc Quyền bình đẳng của phụ nữ đã được ghi trong Điều 36 Hiến pháp Việt Nam năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi và bổ sung năm 2002) một lần nữa khẳng định: "Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội" Trên tinh thần đó, các tầng lớp phụ nữ đã tích cực học tập, lao động sáng tạo, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và giữ vị trí quan trọng
*Phụ nữ trong hệ thống dân cử:
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm của phụ nữ trong xã hội và trong quản lý Nhà nước Chỉ thị 37- CT/TW ngày 16/5/1994 khẳng định "nâng cao
tỷ lệ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế là một yêu cầu quan trọng
để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ" [2] Nuớc ta được đánh giá là
có số đại biểu nữ cao trong Quốc hội, đứng đầu Châu Á và đứng thứ hai khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và xếp thứ 9/135 các nước trên thế giới Trong chặng đường 60 năm, Quốc hội nước ta đã trải qua 12 nhiệm kỳ, đội ngũ cán bộ nữ trưởng thành cả về số lượng và chất lượng Tính đến nhiệm kỳ 2002- 2007, 1.038 nữ đại biểu được bầu vào Quốc hội Khoá I có 3% đại biểu
nữ thì đến khoá XI đã tăng lên 27,31%, cán bộ nữ giữ chức chủ nhiệm, phó chủ nhiệm các uỷ ban của Quốc hội chiếm 25% Nhiệm kỳ 1999-2004, số nữ đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh chiếm 22,33%, cấp huyện chiếm 20,12%,
cấp xã chiếm 16,56% Tuy nhiên so với nam giới tỷ lệ này vẫn thấp [11]
Trang 28(Nguồn: Vụ các vấn đề xã hội, 2011)
Phụ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng: Trong các kỳ đại hội Đảng gần đây,
tỷ lệ phụ nữ trong các cấp uỷ tăng lên không đáng kể So với các cấp, số lượng phụ nữ tham gia Ban chấp hành Trung Ương Đảng chiếm tỷ lệ thấp nhất, khoá VII có 12 đồng chí, khoá VIII tăng lên là 18 đồng chí nhưng đến khoá IX lại còn 12 đồng chí Phụ nữ tham gia các cấp uỷ địa phương có từ 10-11%, trong đó uỷ viên ban thường vụ trở lên đạt từ 3% đến 8% Phần lớn các chị em trong ban thường vụ cấp uỷ thường được phân công làm công tác kiểm tra và dân vận [11]
*Phụ nữ tham gia các cấp chính quyền:
Trong những năm gần đây, tỷ lệ lãnh đạo nữ ở cấp Trung Ương thấp Năm 2008, tỷ lệ phó chủ tịch nước là 25%, bộ trưởng 4,55%, tương đương bộ trưởng là 11,43%, thứ trưởng 2,75%, tương đương thứ trưởng là 9,21%, vụ trưởng và tương đương là 20,74% [11]
Tỷ lệ nữ là chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh/thành nhiệm kỳ
1999-2004 chỉ có 1,64%, đến nhiệm kỳ 1999-2004-2009 tăng lên là 3,12%, nhưng ở cấp huyện lại có xu hướng giảm, từ 5,27% ở cả 2 cấp giảm xuống còn 3,62% [11]
*Trong các doanh nghiệp: Trong hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt
động theo Luật doanh nghiệp, có 15% phụ nữ đứng đầu hoặc nắm cương vị chủ chốt Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp ở một số ngành dệt, may mặc, giầy dép, thực phẩm…chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông, vận tải,
Trang 29xây dựng, khai khoáng… chiếm 20% Trong 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình có 27% phụ nữ điều hành [11]
Bên cạnh việc tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, phụ nữ Việt Nam còn luôn cố gắng làm tròn nhiệm vụ người vợ, người mẹ gánh vác công việc nội trợ Trong hoàn cảnh còn thiếu thốn, phụ nữ nông thôn phải lo cho gia đình đủ cơm ăn, con cái được học hành và khoẻ mạnh Người phụ nữ còn là người giữ gìn, truyền thụ những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta từ thế hệ này sang thế hệ khác, gia đình Việt Nam đến nay vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp là do công lao to lớn của người phụ nữ
* Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụ
nữ Bác nhấn mạnh: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được một nửa loài người” Người cho rằng, muốn giải phóng phụ nữ trước hết phải giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng trọng nam khinh nữ, ra khỏi sự bất công trong gia đình mình cũng như xã hội, đồng thời nâng cao vị thế của họ trong xã hội Thế nên, Người đã yêu cầu các ngành, các địa phương phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, để phụ nữ phát huy quyền và khả năng công dân của mình
Tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta
đã ban hành và thực hiện không ít những quyết sách mang tính chiến lược đối với vấn đề phụ nữ như: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 12/4/1993 của Bộ Chính trị “Về đổi mới và tăng cường vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung Ương Đảng khoá VII “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” Năm
1995, Tại Hội nghị lần thứ IV về phụ nữ của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc), các quốc gia đã nhất trí thông qua Cương lĩnh hành động
vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cường quyền lực cho phụ nữ trên toàn thế giới Mỗi quốc gia xây dựng chiến
Trang 30lược của nước mình nhằm thực hiện Cương lĩnh Bắc Kinh Tại Hội nghị này, Chính phủ Việt Nam đã công bố chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ
nữ Việt Nam đến năm 2000 với 10 mục tiêu Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg, ngày 21/01/2002 về phê duyệt Chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 với mục tiêu là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ; tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội” Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (tháng 1/2011) cũng đã khẳng định: đối với phụ nữ thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt nhiệm vụ của người vợ, người mẹ, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc
Cùng phụ nữ cả nước, phụ nữ nông thôn đang đóng góp sức lực, trí tuệ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sự ra đời của Ban vì sự tiến
bộ của phụ nữ các cấp đã giúp đỡ, khuyến khích động viên phụ nữ thực tốt vai trò, vị trí của mình
1.2.3 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn
1.2.3.1 Về vấn đề sức khoẻ
Sức khoẻ là một tài sản hết sức quan trọng đối với con người, đối với phụ nữ thì sức khoẻ lại càng quan trọng, vì nó không chỉ làm tăng khả năng lao động của phụ nữ mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của họ và các thành viên trong gia đình Những bà mẹ khoẻ mạnh sẽ sinh ra những đứa con khoẻ mạnh Vì thế, quan tâm và cải thiện sức khoẻ cho phụ nữ là một phương tiện cho phát triển kinh tế và phát triển con người Mặc dù những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan trong lĩnh vực chăm sóc sức
Trang 31khoẻ, như nhận xét của các chuyên gia quốc tế: “Ngay từ năm 1992 Việt Nam
đã đứng hàng thứ hai về tỷ lệ người lớn biết chữ và là một trong những nước đứng đầu về tiếp cận dịch vụ y tế và đứng đầu về tiếp cận an toàn trong các nước ASEAN” [21] Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra về sức khoẻ của phụ nữ nông thôn
- Về sức khoẻ thể chất: Qua kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt
Nam (2000) cho thấy tình trạng đau ốm theo giới tính như sau: 68% (nữ) và 64% (nam) Tình trạng đau ốm của phụ nữ cao hơn nam giới trong nghiên cứu trên đã phản ánh một thực tế: sức khoẻ phụ nữ là một vấn đề đáng lo ngại đặc biệt là sức khoẻ của phụ nữ ở các vùng nông thôn So với phụ nữ ở đô thị, phụ
nữ ở nông thôn có tỷ lệ đau ốm cao hơn: 69,2% và 63,7% Điều tra mức sống dân cư lần 2 (2000) cho thấy: tỷ lệ đau ốm của người dân khá cao, nông thôn cao hơn thành thị, phụ nữ đau ốm nhiều hơn nam giới (45% và 38%) Nếu xét theo nhóm tuổi trong độ tuổi lao động thì ở một vài nhóm tuổi được xem là
“sung sức” hơn cả như: 25 - 29; 30-34; 40-44 thì tỷ lệ đau ốm của phụ nữ vẫn cao hơn nam giới từ 10% đến 12% [16] Theo chúng tôi sức khoẻ của phụ nữ nông thôn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố sau đây:
+ Lao động vất vả: phụ nữ đảm nhận khối công việc nhiều hơn nam
giới Thời gian làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn thường lao động vất vả trong thời gian mang thai, trong thời gian này họ vẫn lao động bình thường, thậm trí vẫn lao động nặng trong những tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi
+ Môi trường ô nhiễm: Với phụ nữ, ảnh hưởng của môi trường ô
nhiễm càng nhiều vì thời gian phụ nữ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơn nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam có nhiều hồ, ao tù Đây là nguồn nước chủ yếu của người dân
ở nông thôn (tắm, giặt giũ ) đồng thời cũng tạo điều kiện cho muỗi, ký sinh trùng sinh sôi nảy nở [8]
Trang 32+ Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: có một điều dễ nhận thấy là ở Việt
Nam còn có hiện tượng tảo hôn Những năm gần đây, ở các vùng nông thôn hiện tượng tảo hôn, lấy chồng sớm có xu hướng gia tăng bởi nhiều nguyên nhân văn hoá - xã hội, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để tách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ hội nhận ruộng
vì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm) Lấy chồng sớm dẫn đến hệ quả là bên cạnh việc chưa được chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý để làm dâu, làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con Sự thiếu hiểu biết về dân số - kế hoạch hoá gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều
+ Dinh dưỡng không đảm bảo: năm 2011, một cuộc khảo sát quốc gia
về mức độ thiếu vitamin A và suy dinh dưỡng do thiếu Protein đã phát hiện 41% tổng số phụ nữ bị suy dinh dưỡng: 26% suy dinh dưỡng hạng 1 (chỉ số
về khối lượng cơ thể (BMI) giữa 17,0 và 18,49), 15% độ II và độ III (BMI dưới 17,0) Thiếu máu cũng là hiện tượng phổ biến, một nghiên cứu quy mô nhỏ ở Việt Nam kiểm tra lượng Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49% phụ nữ nông thôn có lượng Hb dưới tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới Suy dinh dưỡng ở phụ nữ không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến thai sản có thể dẫn đến tử vong mẹ mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con cái Hiện nay, 35% trẻ em Việt Nam bị suy dinh dưỡng
* Sức khoẻ về tinh thần:
Đời sống văn hoá nghèo nàn: Sự đơn điệu trong đời sống văn hoá, thiếu nơi vui chơi giải trí, hội họp sinh hoạt, thiếu thông tin thời sự chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và kinh tế và hiện tượng dễ thấy ở nhiều vùng nông thôn hiện nay Đời sống văn hoá ở nông thôn nghèo nàn là một lý do thúc đẩy thanh niên rời bỏ nông thôn [12] Do vậy, xoá bỏ sự nghèo nàn trong đời sống văn hoá ở nông thôn là một yêu cầu bức thiết của sự công nghiệp hoá nông thôn, làm điều đó cũng chính là đẩy mạnh việc truyền bá kiến thức khoa học -
kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân nông
Trang 33thôn về pháp luật, lối sống văn hoá Hơn nữa, còn ngăn chặn và loại bỏ những các tật xấu như: mê tín, cờ bạc, số đề, bói toán
1.2.3.2 Về chuyên môn kỹ thuật
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường trong những năm gần đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhưng chưa thực sự giải phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điều kiện của lao động nữ trong sản xuất, kinh doanh Sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu người dân ở nông thôn chỉ
có kinh nghiệm được tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về khoa học,
kỹ thuật và công nghệ mới
Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ
có một ưu điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người, số thành công do được học hành, đào tạo chưa nhiều Nhược điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển nông thôn
1.2.3.3 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định
Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới nhưng vẫn phải thừa nhận rằng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại ở Việt Nam - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của bất bình đẳng giới là: sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng Phụ nữ ít được tham gia trong các lĩnh vực, các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực của đời sống gia đình, xã hội, ít nhiều còn bị phân biệt trong tiếp cận các phúc lợi về y tế, giáo dục [1]
* Về vấn đề tiếp cận đất đai:
Trang 34Đối với người dân Việt Nam, nhà cửa, đất đai bao giờ cũng có giá trị lớn và có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống gia đình Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, điều này là đặc biệt quan trọng, khi mà gần 80% dân cư sống ở nông thôn, chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai là tư liệu sản xuất chính của họ
Việc xem xét người đứng tên giấy tờ sở hữu nhà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cần thiết để có thể phân biệt rõ về người tiếp cận và quản lý nguồn lực trong hộ gia đình hay nói cách khác đi là quyền của mỗi người nam và nữ trong gia đình
Về mặt pháp luật, ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng
về tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp và những bộ luật liên quan đến quyền sở hữu như Luật đất đai (2013), Bộ luật dân sự (2005), Luật hôn nhân
và gia đình (2000) Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có lúc, có nơi chưa đảm bảo theo đúng quy định
Ví dụ: Việc thực hiện quyền sử dụng đất đã được quy định trong Luật đất đai; Luật này quy định hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi đầy đủ tên của cả vợ
và chồng Nhưng trong thực tế, hầu như các giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ ghi tên một người (chủ yếu là người chồng) Vì thế từ vị trí đồng sử dụng với người chồng, người vợ đã rơi xuống vị trí người thừa hành, không có quyền quyết định Người chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và kinh tế hơn các thành viên khác trong gia đình Việc không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạn khác của người phụ nữ như chuyển nhượng, thừa kế Việc không có quyền tương đương với nam giới đối với đất đai - một tài sản chủ chốt, một tư liệu sản xuất quan trọng của hộ gia đình nông thôn, ảnh hưởng rất lớn đến địa vị kinh tế và xã hội của phụ nữ so với nam giới
Trang 35Cho dù pháp luật quy định về quyền thừa kế như nhau của con trai và con gái, nhưng theo truyền thống thì chủ yếu người con trai trong gia đình có quyền thừa kế về nhà cửa, đất đai Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ có quyền sử dụng đất trong mối liên hệ với đàn ông Sau khi kết hôn, người vợ
về cư trú bên bố mẹ chồng và khi ra ở riêng có thể được gia đình bố mẹ chồng chia sẻ một phần đất canh tác Song, nếu như cuộc hôn nhân này bị đổ vỡ thì hầu như khó đảm bảo quyền sử dụng đất đai của người phụ nữ sau khi li dị
Người phụ nữ goá cũng không gặp không ít rắc rối về việc được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì nếu trong gia đình có người con trai lớn thì nhiều khả năng tên của người con trai sẽ được ghi vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải tên của người phụ nữ
* Tiếp cận về vốn:
Cung cấp tín dụng không chỉ là một phương tiện quan trọng để xoá đói giảm nghèo mà là phương tiện để tăng thu nhập và phát triển kinh tế nông thôn lâu dài Tuy vậy, phần lớn tín dụng hiện nay là do khu vực phi chính thức, và phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các khoản vay chính thức hơn so với nam giới 2/3 số người vay vốn là nam giới Đối với phụ nữ chỉ có 18% số vốn vay được cung cấp thông qua khu vực chính thức, còn lại nguồn tín dụng phổ biến nhất là từ họ hàng và các cá nhân khác Việc vay vốn từ nguồn các nhân dẫn tới việc chịu lãi xuất cao và đối với phụ nữ điều này cũng phản ánh
họ thiếu khả năng tiếp cận với những khoản vay thế chấp Trong khi 41% số khoản vay của nam giới dựa trên thế chấp tài sản, thì khoản vay của phụ nữ chỉ chiến 27% [15]
* Vấn đề tiếp cận giáo dục, đào tạo:
Số liệu Tổng điều tra dân số năm 2009 cho thấy 12% em gái trong độ tuổi từ
5 tuổi trở lên chưa bao giờ được đi học, trong khi đó tỷ lệ này chỉ 7,5 cho bé trai Trong các gia đình nghèo nhất, các em gái đi học ít hơn các em trai Năm
Trang 361998, khoảng cách giữa em trai và em gái tiếp cận cấp tiểu học lớn hơn 20% đối với các gia đình nghèo nhất so với toàn bộ dân số [15]
Mặc dù phụ nữ đóng vai trò then chốt trong sản xuất nông lâm nghiệp nhưng sự tiếp cận của họ với kỹ thuật từ các hoạt động khuyến nông còn thấp
và chưa đầy đủ Trong năm 2002 chỉ có hơn 3% trên tổng số phụ nữ nông thôn trên 13 tuổi có trình độ kỹ thuật chuyên môn [3]
* Về vấn đề việc làm và thu nhập của phụ nữ
Năm 2005, lao động nữ chiếm khoảng 21,14 triệu người trong tổng số lao động của nền kinh tế quốc dân (48,6% so với 43,45 triệu lao động), đến 8/2007 đã tăng lên khoảng 22,77 triệu người (49,4% so với tổng số trên 46,11 triệu lao động) Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 1,33 triệu người, trong đó, lao động nữ là 835 nghìn người [26] Theo đánh giá tổng quan, nếu mức độ ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu là thấp, khả năng đến cuối năm 2010, lao động nữ sẽ đạt và vượt chỉ tiêu 50% lực lượng lao động của cả nước Tuy nhiên, vấn đề quan tâm hiện nay là chất lượng công việc của lao động nữ vì chủ yếu các chị em vẫn chiếm số đông ở những lĩnh vực không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp và việc làm bấp bênh, độ rủi ro cao Trong các ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu lao động, nhưng vẫn thể hiện sự bất bình đẳng về giới, thể hiện qua tỷ lệ lao động nữ trong khu vực nông- lâm- ngư nghiệp dù có chiều hướng giảm nhưng xét về cơ cấu giới thì vẫn còn rất cao [26]
Nhiều nghiên cứu hiện nay về vai trò của nam và nữ trong kinh tế thị trường phản ánh thực tế là ở cả 2 khu vực lao động được trả lương và không được trả lương, phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn nam giới
Mặc dù pháp luật quy định “Công việc như nhau, tiền công ngang nhau” nhưng trong khu vực có lương do thường làm lao động giản đơn nên tiền công trung bình trả cho lao động nữ chỉ bằng 72% so với nam Nguyên nhân chủ yếu là do lao động nữ tập trung vào khu vực ngành nghề không đòi
Trang 37hỏi tay nghề, kỹ thuật cao, năng suất lao động thấp và bị trả lương thấp Trừ khu vực dịch vụ và may mặc, còn ở hầu hết các ngành khác lương của phụ nữ thấp hơn lương của nam giới do không làm quản lý Trong công việc tiền công bình quân của phụ nữ chỉ bằng 62% tiền lương của nam giới [3]
Trong khu vực không trả lương phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới Việc phân công lao động trong nội bộ gia đình ở nông thôn đang đặt gánh nặng lên vai người phụ nữ Ngoài công việc sản xuất trên đồng ruộng phụ nữ còn chăn nuôi và các công việc khác thuộc về gia đình và phục vụ gia đình
*Về vấn đề ra quyết định: tìm hiểu vấn đề ai là người có tiếng nói
quyết định đối với những vấn đề quan trọng của gia đình như mua sắm tài sản đắt tiền, xây dựng nhà cửa, những khoản chi lớn liên quan đến thành quả lao động của gia đình ta thấy có nhiều bất cập Phụ nữ được tham gia ý kiến và bàn bạc chung với tư cách là người giữ tiền của gia đình “tay hòm chìa khoá” trong những quyết định quan trọng nhưng trên thực tế họ không có quyền quyết định việc chi tiêu
* Vấn đề tham gia các hoạt động cộng đồng: Phụ nữ không có thời
gian dành cho các hoạt động xã hội, hoặc cho việc học tập kinh nghiệm từ người khác Đặc biệt phụ nữ các dân tộc thiểu số rất ít có cơ hội tham gia các lớp học văn hoá buổi tối thậm chí các lớp học đó đã có sẵn và thích hợp với
họ Kết quả là phụ nữ không thể tham dự các buổi họp thôn bản cộng với việc
ít có điều kiện tiếp cận các nguồn lực và khả năng tạo thu nhập kém, không có tiếng nói trong các quyết định quan trọng của đời sống gia đình dẫn đến địa vị kinh tế, xã hội của phụ nữ thấp hơn so với nam giới Đó là những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong cộng đồng và
ở cấp quốc gia
1.3 Đánh giá chung
Qua nghiên cứu tổng quan có thể thấy hiện nay phụ nữ Việt Nam chiếm
tỉ lệ hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội Ngày càng có
Trang 38nhiều phụ nữ tham gia giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước,
tỷ lệ phụ nữ giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước cao nhất ở châu Á
và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới Trong thực tế, phụ nữ đang có mặt ở hầu hết cơ quan quản lý hành chính và doanh nghiệp Đây là bằng chứng sinh động về chính sách của Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm vì sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ Điều này tác động tích cực đến việc nâng cao vai trò của phụ nữ nói chung và phụ nữ khu vực
nông thôn nói riêng
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những hạn chế đặc biệt có nhiều vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn Có là sự thiếu hụt cán bộ nữ trên một số lĩnh vực quan trọng làm cho việc hoạch định kế hoạch, chính sách không có tiếng nói đại diện của phụ nữ, dẫn đến thực hiện bình đẳng giới về mọi mặt chưa đạt kết quả mong muốn Vấn đề bất bình đẳng giới vẫn còn là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo, cản trở cho sự phát triển bền vững Vẫn còn đó nguy cơ bạo lực gia đình, là mối đe dọa cho một bộ phận phụ nữ, làm cho đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ bị tổn thương Bên cạnh những phụ nữ được tạo điều kiện để tham gia công tác xã hội vẫn còn những người phụ nữ sống cam chịu, khép kín, tự ti, mặc cảm…
Để nâng cao vị thế người phụ nữ trong gia đình cũng như xã hội, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp Trước hết là tổ chức tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong xã hội về quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ, được quy định trong Luật Bình đẳng giới, Luật hôn nhân và gia đình, luật Phòng, chống bạo lực gia đình; các quyền về đất đai, lao động, chính trị…được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật khác Nâng cao năng lực cho phụ nữ để họ tự giải quyết được những vấn đề của mình, giảm bớt tự ti, an phận
Trang 39CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn nông thôn thuộc thành phố Thái Nguyên
- Về thời gian nghiên cứu: tổng quan về vai trò của phụ nữ được phân tích thông qua số liệu của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị kinh tế
xã hội trong thời gian gần đây, chủ yếu từ năm 2011 đến năm 2013 Các số liệu điều tra thực hiện trong năm 2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Thái Nguyên
- Nghiên cứu thực trạng về vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế hộ thành phố Thái Nguyên
- Đánh giá vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
- Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn thành phố
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
Trang 40- Tiếp cận nghiên cứu xã hội học (giới): nhằm nghiên cứu đặc tính của giới, sự khác nhau và các yếu tố ảnh hưởng đến giới
- Tiếp cận nghiên cứu kinh tế hệ thống: nhằm nghiên cứu các hệ thống sản xuất kinh doanh các loại hình cây trồng, vật nuôi, các yếu tố trong nền kinh tế của địa phương, của hộ
2.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
2.3.2.1 Chọn vùng nghiên cứu
Căn cứ vào tỷ lệ nữ làm chủ hộ, tỷ lệ nữ tham gia quản lý sản xuất của
hộ, tham gia lãnh đạo chính quyền đoàn thể của địa phương, tham gia hoạt động cộng đồng và tình hình phát triển kinh tế của các hộ, căn cứ địa giới hành chính tôi lựa chọn điều tra trọng điểm tại 3 xã : Tân Cương, Đồng Bẩm
và Lương Sơn
2.3.2.1 Chọn hộ nghiên cứu
Hộ nghiên cứu phải nằm trong các xã đã được chọn, đồng thời mang tính đại diện cho các hộ trong vùng Số mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên dựa theo danh sách hộ và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm hộ: nghèo, trung bình và khá
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.3.1 Số liệu thứ cấp
* Nguồn số liệu: Được thu thập từ số liệu thống kê hàng năm, nhiệm kỳ của: - Một số bộ, ngành có liên quan
- Ban vì tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ tỉnh Thái Nguyên
- Phòng thống kê, phòng LĐ-TBXH, LĐLĐ thành phố Thái Nguyên
- Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ thành phố
- Văn phòng UBND-HĐND thành phố, thànhn uỷ, Ban Dân vận, Ban
Tổ chức thành uỷ
- Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn