1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên

89 549 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯƠNG THỊ XUÂNNGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH ĐẦU ĐEN DO ĐƠN BÀO HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA Ở GÀ TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Thú y Mã số: 62 64 01 01 L

Trang 1

TRƯƠNG THỊ XUÂN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH ĐẦU ĐEN

DO ĐƠN BÀO HISTOMONAS MELEAGRIDIS

GÂY RA Ở GÀ TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Thú y

Mã số: 62 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguy ễn Thị Kim Lan

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi Các kết quảnghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng để bảo vệmột học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn.Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trương Thị Xuân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 2 năm học tập, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn củatôi đã hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơntrân trọng tới cô giáo GS TS Nguyễn Thị Kim Lan và NCS.Ths Trương Thị Tính

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhhoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của Khoa Chănnuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Khoa Nông Lâm - TrườngCao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng QLĐT SauĐại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôitrong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ Trạm thú y và nhândân của các huyện Phú Bình, Phổ Yên, Võ Nhai, Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên) đãtạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè và đồngnghiệp trong suốt thời gian thực hiện luận văn khoa học này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Trương Thị Xuân

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

4 Những đóng góp mới của đề tài 2

Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Đặc điểm của đơn bào H meleagridis ký sinh ở gia cầm 3

1.1.2 Bệnh đầu đen ở gà (Histomonosis) 10

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 33

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 33

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 33

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 34

2.3 Nội dung nghiên cứu 34

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà tại Thái Nguyên 34

2.3.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà 34

Trang 5

2.3.3 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu 34

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà nuôi tại Thái Nguyên 34

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà 39

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh đầu đen cho gà 39

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 41

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

3.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà tại Thái Nguyên 42 3.1.1 Kết quả điều tra thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung cho gà ở tỉnh Thái Nguyên 42

3.1.2 Tình hình nhiễm H meleagridis ở gà tại tỉnh Thái Nguyên 43

3.1.3 Nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh đầu đen và bệnh giun kim ở gà 53

3.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà tại Thái Nguyên 59

3.2.1 Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen tại tỉnh Thái Nguyên 59

3.2.2 Bệnh tích của gà bị bệnh đầu đen ở các địa phương 60

3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh đầu đen cho gà 63

3.3.1 Thử nghiệm hiệu lực của một số thuốc điều trị bệnh đầu đen 63

3.3.2 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh đầu đen cho gà 66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Đề nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

E coli : Escherichia coli

E tenella : Eimeria tenella

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng cho gà ở tỉnh Thái Nguyên 42

Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà theo địa phương 44

Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo lứa tuổi 46

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo phương thức chăn nuôi 49

Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y 51

Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kim ở gà mổ khám 53

Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis trong số gà nhiễm giun kim 56

Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis trong số gà không nhiễm giun kim 58

Bảng 3.9 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen 59

Bảng 3.10 Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở Thái Nguyên 60

Bảng 3.11 Bệnh tích vi thể của gà mắc bệnh đầu đen 62

Bảng 3.12 Thử nghiệm của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp 63

Bảng 3.13 Thử nghiệm của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện rộng 65

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại một số huyện thuộc tỉnh

Thái Nguyên 45

Hình 3.2 Đồ thị tỷ lệ nhiễm H meleagridis theo tuổi gà 48

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H meleagridis theo phương thức chăn nuôi gà 50

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H meleagridis theo tình trạng vệ sinh thú y 53

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kim ở gà và tỷ lệ nhiễm H meleagridis trong số gà nhiễm giun kim 57

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sảnxuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung Chăn nuôi vớinhiều phương thức phong phú và đa dạng đã góp phần giải quyết việc làm, nâng caothu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao, phù hợp với thị hiếungười tiêu dùng

Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, tổng đàn gia cầm tại thời điểm 01/4/2013

là 314,4 triệu con, tăng 1,2% so với năm 2012 Trong đó, chăn nuôi gà thả vườnkhoảng 80 %

Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm có khu hệ kýsinh trùng phong phú với nhiều giống, loài ký sinh gây bệnh cho gia súc, gia cầm.Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, có nhiều địa phương đang phát triển mạnh nghềchăn nuôi gà Tuy nhiên, do tập quán chăn nuôi gà nhỏ lẻ, tận dụng nguồn thức ăntrong tự nhiên nên tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng nói chung vàbệnh giun kim ở gà nói riêng phát triển, kéo theo sự phát triển của bệnh do đơn bào

Histomonas meleagridis gây ra Bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis (bệnh

đầu đen) ở gà hiện nay đã xuất hiện ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở các địaphương có ngành chăn nuôi gà và gà tây theo lối tập trung công nghiệp Bệnh gâytác hại đáng kể đối với chăn nuôi gà tại các địa phương và làm giảm hiệu quả kinh

tế trong chăn nuôi

Bệnh đầu đen là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do đơn bào

Histomonas meleagridis gây ra Bệnh gây ra những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu,

ban đầu có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở lên thâm đen nên có tên là bệnh đầuđen Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa và gan, thểtrạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen Gà bệnh chết rải rác và thường chết về banđêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng chết kéo dài, gây cho người chăn nuôicảm giác bệnh không nguy hiểm lắm, thực chất cuối cùng gà chết đến 85 - 95 %

Trang 10

Mặc dù vậy, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về bệnh đầu đen ở

gà, vì vậy cũng chưa có quy trình phòng chống bệnh cho gà hiệu quả

Thái Nguyên là một trong những tỉnh chăn nuôi nhiều gà, đặc biệt là gà thả vườn.Trong 3 năm gần đây ở nhiều địa phương của tỉnh Thái Nguyên đã liên tục xuất hiệnbệnh đầu đen trên đàn gà, bệnh có tỷ lệ chết cao gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh nhằm nâng cao

năng xuất chăn nuôi gà, chúng tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ

và bi ện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra

ở gà tại tỉnh Thái Nguyên”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis ở gà nuôi tại tỉnh Thái Nguyên

- Nghiên cứu đặc điểm bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà.

- Nghiên cứu biện pháp phòng trị và đề xuất quy trình phòng trị bệnh đầu đen cho gà

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

4 Những đóng góp mới của đề tài

- Là công trình nghiên cứu tương đối hệ thống về đặc điểm dịch tễ, bệnh

học và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do một loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas meleagridis (H meleagridis) gây ra Đơn bào H meleagridis ký sinh chủ yếu trong manh tràng và nhu mô gan,

gây viêm xuất huyết, hoại tử, tăng sinh ở manh tràng và gan, làm cho thể trạng của

gà suy yếu, da vùng đầu và mào tích thâm đen nên từ bệnh có tên là bệnh đầu đen

(Black head) Cũng vì các biến đổi đặc trưng tập trung song hành ở gan và manh

tràng, lây lan nhanh và gây chết gia cầm với tỷ lệ cao, nên bệnh còn có tên là bệnh

viêm hoại tử ruột - gan truyền nhiễm (Infectious Enteroheatitis).

Ở Việt Nam, do gà bệnh có các biến đổi đặc trưng, tạo kén ở manh tràng nênngười chăn nuôi thường gọi là bệnh kén ruột

1.1.1 Đặc điểm của đơn bào H meleagridis ký sinh ở gia cầm

1.1.1.1 Vị trí của đơn bào H meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh

Căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs (2010) [18] đã cho

biết vị trí phân loại của H meleagridis như sau:

Trang 12

1.1.1.2 Hình thái học loài Histomonas meleagridis

Histomonas meleagridis là một loài đơn bào đa hình thái; hình thái của chúng

biến đổi tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển và chủ yếu chúng tồn tại ở hai dạngchính là dạng hình cầu, hình trứng hay dạng gần tròn; bên trong có nhân dạng gầngiống như những bọc nước; có từ 1 - 4 roi, kích thước biến đổi từ 5 - 20 µm, (Phạm

Sĩ Lăng và Tô Long Thành, 2006 [6])

Cụ thể hình dạng của Histomonas meleagridis biến đổi theo các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Khi Histomonas meleagridis tồn tại ở dạng tiềm tàng, ít hoạt

động, trong trứng của giun kim (Heterakis gallinarum) Histomonas meleagridis có

hình cầu hoặc hình trứng

Giai đoạn 2: Khi Histomonas meleagridis xâm nhập vào cơ thể gà và chuyển

sang giai đoạn xâm lấn tới các khu vực ngoại vi thì chúng bắt đầu chuyển dần từdạng hình cầu sang dạng hình gần tròn, có kích thước 8 – 17 µm Các đơn bào

Histomonas meleagridis bắt đầu mọc thêm các roi hút ở đầu khi đó cơ thể của H.meliagridis chia làm hai phần: phần roi dài 6 – 11 µm và phần nhân tế bào gồm

một nhân có đường kính 1,7 - 2,2 µm Nhờ có roi hút và nguồn dinh dưỡng dồi dào

là máu gà nên số lượng Histomonas meleagridis được nhân lên nhanh chóng.

Giai đoạn 3: Ở giai đoạn cuối, gà mắc bệnh mất nhiều máu nên số lượng hồng

cầu giảm nghiêm trọng dẫn tới dinh dưỡng của đơn bào H meliagridis bị thiếu,

chúng phải tìm các vị trí ký sinh mới như khu vực phần đầu Tại đây, chúng gâychết các tế bào xung quanh hoặc chúng sẽ tìm đến vật chủ ký sinh mới phù hợp có

sẵn trong cơ thể gà là giun kim (Heterakis gallirum), đồng thời một số Histomonas meleagridis bị đào thải ra ngoài theo phân gà Vì vậy, để thích nghi với những điều kiện mới này bắt buộc các đơn bào Histomonas meleagridis phải chuyển sang hình

thái mới, đó là chuyển từ dạng hoạt động sang dạng tồn tại tiềm ẩn và cụ thể là từdạng hình gần tròn có roi sang dạng hình cầu hoặc hình trứng

Histomonas meleagridis có thể nuôi cấy nhân tạo trong các môi trường yếm khí.

Trang 13

Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào Histomonas meleagridis, các nhà khoa học cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong, cấu tạo của một đơn bào Histomonas meleagridis gồm 3 phần là màng, tế bào chất và nhân.

Màng đơn bào Histomonas meleagridis là một màng đơn.

Tế bào chất của Histomonas meleagridis chứa ß - glycogen, ribosome và ARN,

một số không bào và hạt nhân

Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, màng nhân là một màng kép Trong vùnglân cận của nhân có bộ máy Golgi

Histomonas meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể Lưới nội chất của

đơn bào này đã bị thoái hóa

1.1.1.3 Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis

Histomonas meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây

truyền bằng 2 con đường: lây truyền trực tiếp và lây truyền gián tiếp

* Lây truyền trực tiếp

- Qua đường miệng

Lund E E (1956) [45] đã gây bệnh bằng đường miệng đơn bào H meleagridis,

liều 10.000 – 50.000/gà cho 109 gà ở 6 – 9 tuần tuổi Kết quả, 43/109 gà có bệnh tích của

histomonosis ở manh tràng, 2/109 gà có bệnh tích ở gan và chỉ có 1/109 gà chết.

Theo Hu J và cs (2004) [37], có thể gây nhiễm Histomonosis cho gà và gà tây qua đường miệng đơn bào H meleagridis trong môi trường nuôi cấy, trong phân,

manh tràng và gan của gà bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm không cao Nguyên nhân, do đơn

bào H meleagridis không thích nghi với môi trường axit ở đường tiêu hóa trên của

gia cầm

- Qua lỗ huyệt

Mc Dougald L R (2005) [49] đã gây nhiễm cho gà 2 tuần tuổi bằng cách đưa

vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào Histomonas meleagridis nuôi cấy với liều 200.000 H meleagridis/con Kết quả thấy, tất cả số gà gây nhiễm đều chết ở ngày 10 – 18 sau

gây nhiễm Mổ khám gà chết thấy gan và manh tràng xuất hiện những tổn thương

điển hình của Histomonosis.

Trang 14

Theo Hess M và cs (2006) [34], bệnh đầu đen xảy ra dễ dàng khi lỗ huyệt của

gà khỏe tiếp xúc với mầm bệnh Ngay sau khi tiếp xúc, đơn bào H meleagridis sẽ

di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng Với đường truyền

lây này, Histomonosis sẽ lây lan nhanh chóng từ gà khỏe sang gà bệnh.

Như vậy, gà có thể nhiễm bệnh đầu đen khi tiếp xúc với mầm bệnh qua đườngmiệng và qua lỗ huyệt Do ảnh hưởng của độ pH trong dạ dày gà là axit nên tỷ lệnhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng Bệnh đầu đen có thể xảy rabất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi mang mầm bệnh Ngay

sau khi tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, Histomonas meleagridis sẽ di chuyển

ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng và gan

* Bệnh truyền gián tiếp qua giun kim

+ Giun kim và bệnh do giun kim gây ra ở gà

-Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun kim (Heterakis spp.)

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [3] cho biết: Bệnh do Heterakis spp thường do hai loài H gallinae và H beramporia ký sinh ở manh tràng, có khi ở ruột

non của gà, gà tây

Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở lưng và 2 môi ở bụng), túi miệnghình ống Phần sau thực quản phình to thành hình cầu giống hình củ hành, chiều dài0,27 - 0,33 mm, rộng 0,15 - 0,24 mm

- Heterakis gallinae:

Giun đực: dài 5,841 - 11,145 mm, chỗ rộng nhất 0,271 - 0,398 mm Đuôi nhọnhình chiếc kim Phía trước cách hậu môn 0,148 - 0,156 mm có một giác hút hơi tròn,đường kính 0,07 - 0,082 mm Có gai chồi xếp thành từng đôi ở hai bên giác hút Có 2gai giao hợp, gai phải dài gấp 3 lần gai trái; phía cuối gai phải rất nhọn, dài khoảng 2mm; gai trái to, dài 0,65 - 0,7 mm Lỗ bài tiết ở gần đầu về mặt bụng, cách đầukhoảng 0,254 mm

Giun cái: dài 7,982 - 11,439 mm, chỗ rộng nhất 0,27 - 0,453 mm, chiều dàithực quản bằng 1/9 cơ thể Chỗ phình to của thực quản hình củ hành dài 0,273 -0,332 mm, rộng 0,187 - 0,234 mm Hậu môn ở gần đuôi, cách đuôi 0,9 - 1,24 mm

Trang 15

Âm đạo uốn khúc cong, bắt đầu từ âm hộ rồi vòng về phía sau, sau đó chuyển vềphía trước, cuối cùng lại vòng về phía sau Lỗ bài tiết cách đầu 0,47 mm.

Trứng hình bầu dục, có 2 lớp vỏ, một đầu trong suốt, tế bào trứng có hạt lấmtấm, màu xám, dài 0,05 - 0,07 mm, rộng 0,03 - 0,039 mm

- Heterakis beramporia:

Rất giống H gallinae nhưng phân biệt ở gai giao hợp ngắn hơn, một gai dài

350μ, gai còn lại dài 300μ

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [7]:

Con đực: dài 5,5 - 5,7 mm, chiều rộng 0,20 - 0,21 mm Phần trước thực quản dài0,04 mm, rộng 0,022 mm Phần sau thực quản dài 0,616 - 0,625 mm, rộng 0,11 - 0,12

mm Lỗ bài tiết cách mút đầu 0,335 mm, vòng thần kinh cách mút đầu 0,285 mm Đuôinhọn, có các cánh bên Lỗ huyệt cách mút đuôi 0,36 mm Giác sinh dục có cấu tạo cutinhình đĩa, nằm cách lỗ huyệt 0,055 mm Có 13 đôi núm sinh dục, trong đó: 3 đôi trướchuyệt, 6 đôi ngang huyệt và 4 đôi sau huyệt Có 2 gai sinh dục dài 0,340 - 0,364 và0,0227 - 0,2500 mm

Con cái: chiều dài cơ thể 7,6 - 7,64 mm, rộng 0,250 - 0,286 mm Chiều dàithực quản 0,74 - 0,77 mm, rộng 0,050 - 0,055 mm Đuôi dài 0,14 mm Lỗ sinh dụchơi lồi ra so với phần thân cách mút đầu 4 mm Âm đạo ngay cạnh lỗ sinh dục tạothành nút hướng về phía sau cơ thể Trứng có kích thước 0,062 x 0,034 - 0,039 mm

+ Vòng đời của Heterakis gallinarum

Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) [1] cho biết: Trứng H gallinarum bài xuất

cùng với phân ra ngoài, trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ở môi trường bênngoài trong thời gian 6 - 17 ngày, hoặc hơn nữa, tuỳ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm

Sự phát triển của trứng H gallinarum đến giai đoạn cảm nhiễm ở nhiệt độ 30 - 37oCtrong vòng 6 - 7 ngày, ở nhiệt độ 20 - 27oC trong 10 - 15 ngày và 10 - 15oC là 72ngày Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng chứa ấu phát triển thànhtrứng có sức gây bệnh Mùa đông trứng không phát triển nhưng vẫn duy trì khảnăng sống Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, những trứng sống được qua mùa đông lạiphát triển thành trứng cảm nhiễm và có thể là nguồn gây bệnh Gà, gà tây mắc bệnh

Trang 16

là do ăn phải trứng H gallinarum có sức gây bệnh Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào

đường tiêu hoá, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống manh tràng Ở manh tràng, ấutrùng chui vào thành ruột, sau 5 - 7 ngày chúng lại trở lại xoang ruột Thời gian pháttriển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong cơ thể là 25 - 34 ngày, thời giansống của giun không quá 1 năm

Phan Lục và cs (2006) [8] cho biết, thời gian trứng phát triển đến giai đoạn gâynhiễm có thể kéo dài khoảng 1 tuần (mùa hè), mùa đông nhiệt độ thấp nên mấtkhoảng 2 - 4 tuần Bệnh phát triển và lây lan mạnh chủ yếu là do gà ăn phải trứnggiun có sức gây bệnh Gà mắc bệnh khoảng 1 tháng sau khi nuốt phải mầm bệnh

- B ệnh giun kim (Heterakiosis)

Phạm Sỹ Lăng và cs (2001) [5] cho biết: Giun kim Heterakis gallinarum ở cả

hai dạng trưởng thành và ấu trùng có tác hại rất lớn đối với vật chủ Giun kim kýsinh ở manh tràng, gây tụ huyết, xuất huyết, chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tốđầu độc vật chủ làm cho vật chủ gầy yếu, còi cọc, chậm lớn và giảm sức đề kháng.Trong quá trình ký sinh, giun bám vào niêm mạc ruột làm cho niêm mạc ruột bị tổnthương, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh, từ đó gà dễ bị nhiễmtrùng và mắc một số bệnh kế phát Ngoài ra, trứng giun kim chứa đơn bào

Histomonas meleagridis khi vào cơ thể còn gây bệnh đầu đen, làm cho gan và manh

tràng bị viêm, hoại tử Ở những gà bị chết, bệnh tích thường thấy là xác gà gầy,niêm mạc manh tràng dày và hoại tử

* Giun kim là sinh vật truyền bệnh đầu đen cho gà

Theo Tyzzer E E, (1926) [61], bệnh do đơn bào H meleagridis thực sự truyền qua trứng Heterakis gallinarum Tuy nhiên, không phải tất cả trứng của giun kim

đều có khả năng truyền bệnh đầu đen, chỉ những trứng có phôi mới truyền được cănbệnh này

Lund, (1960) [46] cho biết, H meleagridis có sức đề kháng kém, sau khi

theo phân ra ngoài môi trường đơn bào này chỉ tồn tại được vài giờ, nhưng trong

trứng của H gallinarum đơn bào H meleagridis có thể sống được vài năm và khi vào cơ thể ký chủ H meleagridis vẫn có khả năng gây bệnh Đây là nguyên nhân

làm dịch bệnh đầu đen phát triển từ năm này sang năm khác

Trang 17

Gibbs B J (1962) [24] đã tìm thấy H meleagridis trong đường sinh dục và trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học Ở giun đực, H meleagridis có trong

ống sinh tinh của tinh hoàn, ống dẫn tinh và túi tinh Ở giun cái, chúng có trong tất cảcác bộ phận của đường sinh dục như buồng trứng, ống dẫn trứng và tử cung Đơn bào

H meleagridis chỉ tồn tại trong hệ thống sinh sản của cả giun kim đực và cái mà không gây bất kỳ tác hại nào cho tế bào Trong ống dẫn tinh H meleagridis có kích

thước nhỏ và ít hoạt động hơn so với những vị trí khác trong cơ thể của giun đực

* Lây truy ền gián tiếp qua giun đất

Giun đất thuộc ngành hoàn tiết trùng (Annelida) lớp Lygochaetae, họ Lumbricidae Giun phân đốt bên ngoài, bên trong cơ thể cũng chia thành từng đốt

tương ứng, ngăn cách gần như những phần độc lập Số lượng đốt biến thiên từ 110

-180 đốt Giun đất di chuyển nhờ các sợi tơ ngắn hai bên thân

Giun đất là ký chủ dự trữ của Heterakis, do đó cũng đóng vai trò quan trọng

trong truyền tải bệnh đầu đen Gà có thể mắc bệnh đầu đen khi ăn phải giun đất có

chứa trứng giun kim nhiễm đơn bào Histomonas meleagridis Đơn bào Histomonas meleagridis có thể tồn tại hơn 1 năm cùng trứng giun kim trong cơ thể giun đất Sau

khi gà và gà tây nuốt phải giun đất nhiễm mầm bệnh, ấu trùng giun kim ở ra sẽ di

hành xuống manh tràng, đồng thời các đơn bào Histomonas meleagridis cũng được

giải phóng và gây bệnh

1.1.1.4 Vòng đời của Histomonas meleagridis

Lê Văn Năm (2010) [9] đã tóm tắt vòng đời phát triển của đơn bào

Histomonas meleagridis như sau:

Trong mô tổ chức của ký chủ (gà ta và gà tây), Histomonas meleagridis sinh sản

theo phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) haythể hợp bào Khi theo phân ra khỏi ký chủ, ở thể hình roi và thể amip chúng chỉ sốngđược trong vòng 24 giờ, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm trong

các trứng của giun kim Heterakis gallinarum Do đó gà bị nhiễm bệnh khi ăn thức ăn, nước uống bị nhiễm trứng giun kim Heterakis gallinarum có chứa thể hợp bào Histomonas meleagridis.

Trang 18

Tại khu vực nuôi gà mắc bệnh, giun đất trở thành vật chủ chứa trứng giun kim

Heterakis gallinarum Do đó, trứng Heterakis gallinarum và đơn bào Histomonas meleagridis sẽ tồn tại khá lâu ngoài ngoại cảnh.

Khi gà và gà tây ăn giun đất, trứng Heterakis gallinarum vào đường tiêu hóa,

làm cho gà và gà tây vừa bị bệnh giun kim, vừa bị bệnh đầu đen

Ở những vùng có kiểu khí hậu và loại đất phù hợp cho sự phát triển của giun

kim và giun đất, cần định kỳ kiểm soát bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis

gây ra ở gà

Vòng đời của Histomonas meleagridis gây bệnh trên gà

1.1.2 B ệnh đầu đen ở gà (Histomonosis)

1.1.2.1 Lịch sử bệnh

Kể từ khi bệnh đầu đen xuất hiện ở Rhode Island vào năm 1893, các nhà khoahọc đã tập trung nghiên cứu về bệnh Người ta nhận thấy rằng, dấu hiệu biến đổi davùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì nó có thể quan sát thấytrong một số bệnh khác của gà tây Theo Smith (1895) [59], khi gà tây mắc bệnh thìgan và manh tràng bị tổn thương nặng nề nhất Tác giả đã lấy bệnh phẩm gan và

Trang 19

manh tràng để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật

đơn bào (Amoeba meleagridis), từ đó bệnh được đặt tên là bệnh truyền nhiễm Enterohepatitis.

Từ năm 1926 Histomonosis ở Mỹ đã nhanh chóng lây lan sang các châu lục

khác như châu Âu, Úc và Đông Á

Bệnh xảy ra tại Nhật Bản vào năm 1905 Ở Châu Âu, dịch Histomonosis cũng

xuất hiện và đã được báo cáo ở Ireland (1894), Áo (2006), Bỉ (2007), Anh (2007) và

Hà Lan (2009)…

Ở Đông Âu, bệnh có mặt ở Bungari vào năm 1950

Ngày nay, Histomonosis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới, nhất là các nước

có ngành chăn nuôi gà tây và gà ta thả vườn và tập trung công nghiệp (Mc Dougald,

2005 [49])

Tại Việt Nam, bệnh đã xảy ra ở nhiều nơi, song chưa có những công trìnhnghiên cứu về bệnh Lê Văn Năm (2010) [9] đã quan sát thấy hàng loạt đàn gà nuôitập trung thả vườn tại một số tỉnh phía Bắc bị mắc bệnh Bệnh đã bùng phát dữ dội

và gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi

1.1.2.2 Những thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra

Trong nhiều thập kỷ đầu thế kỷ 20, Histomonosis đã gây thiệt hại nghiêm

trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà tây Những năm 1930, dịch bệnhđầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu vực Đông vàTrung Tây của Hoa Kỳ Trong năm 1945, tỷ lệ tử vong do bệnh đầu đen gây rachiếm 32,2 % tỷ lệ tử vong của gà tây ở Bắc California

Những năm tiếp theo, dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường xuyên pháttriển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi

Ổ dịch Histomonosis trên đàn gà tây với tỷ lệ chết 25 - 75 % đã được báo cáo

ở California vào năm 2001 (Jinghui hu, 2002 [39])

Ở khu vực Bắc Mỹ, bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến đàn gà tây nuôi tậptrung, tỷ lệ tử vong lên đến 80 - 100 % Mặt khác, bệnh cũng được tìm thấy ở gànhưng tỷ lệ chết chỉ tới 10 % (Mc Dougald, 2008 [50])

Trang 20

Ở California, Histomonosis tiếp tục gây tỷ lệ tử vong cao cho gà tây 9 - 11

tuần tuổi Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: ăn ít hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy, giảm cân, tỷ

lệ tử vong tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi Gà tây mắc bệnh ở 7 tuần tuổi, tỷ lệ tửvong 24 - 68 % Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề mặt gan xuất hiện các nốt trắngnhạt khác nhau, kích thước 0,3 - 1,5 cm Thành manh tràng dày lên, niêm mạc bị lở

loét, túi Fabricius sưng to và có tiết dịch màu vàng nhạt Thận, tuyến tụy, lá lách

sưng Quan sát dưới kính hiển vi thấy có nhiều ổ hoại tử trong gan, manh tràng,

phúc mạc, túi Fabricius, thận, phổi, tuyến tụy (Van der Heijden H., 2009 [63]).

Tại Đức, trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch

Histomonosis xảy ra ở gà tây, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Tác

giả đã mô tả sự tiếp diễn liên tục qua các năm của bệnh đầu đen tại một trang trạichăn nuôi gà tây ở Đức

Ở Việt Nam, Lê Văn Năm (2010) [9] cho biết: bệnh bùng phát mạnh vào cáctháng nóng ẩm: cuối xuân, hè, hè thu Trong khi đó ở gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ)bệnh thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông Bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế chongười chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của đại bộ phận khôngnhỏ người dân nước ta Tác giả cũng cho rằng, các trang trại chăn nuôi gà thịt đang

bị ô nhiễm nặng giun kim mà giun kim là ký chủ trung gian truyền bệnh đầu đencho gà tây và gà thả vườn nuôi tập trung

1.1.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm

* Động vật mắc bệnh

Trong tự nhiên, gà tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều

có thể bị bệnh Trong đó gà tây mẫn cảm hơn cả (Lotfi A.R., 2012 [44])

Gregory V., Lamann (2010) [26] cho biết, tất cả các giống gà đều dễ bị nhiễm đơn

bào Histomonas meleagridis Gà bị bệnh gan tổn thương ít nên tỷ lệ chết thấp hơn

gà tây

* Tuổi mắc bệnh

Theo Lori Ann Lollis (2010) [43], tuổi đã từng được cho là một yếu tố ảnh

hưởng đến sức đề kháng của gia cầm với H meleagridis Có ý kiến cho rằng, gia

Trang 21

cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm Histomonosis hơn cả Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm Histomonosis càng giảm.

Theo Lê Văn Năm (2011) [10], bệnh do đơn bào H meleagridis xảy ra chủ

yếu ở gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, ở gà ta thì chậm hơn: từ 3 tuần đến 3 - 4tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc bệnh

* Vật chủ trung gian truyền bệnh

Giun kim có vai trò quan trọng trong việc truyền Histomonosis bởi chúng bảo

vệ Histomonas trong trứng và truyền bệnh.

Ngoài ra, giun đất cũng có vai trò trong việc lưu trữ trứng giun kim chứa

Histomonas Khi gia cầm ăn giun đất, trứng giun kim được giải phóng, đơn bào

cũng được giải phóng và gây bệnh

* Thời kỳ ủ bệnh

Các dấu hiệu của Histomonosis xuất hiện rõ ràng từ 7 - 12 ngày và thường xảy

ra 11 ngày sau khi nhiễm bệnh Thời gian ủ bệnh tương tự với các cách nhiễm bệnh

tự nhiên, tức là truyền qua trứng Heterakis gallinarum chứa Histomonas meleagidis Trên thực nghiệm, gà tây được gây nhiễm bệnh bằng cách truyền Histomonas

vào lỗ huyệt thì thời gian xuất hiện các tổn thương sớm hơn so với nhiễm bệnh do

nuốt trứng Heterakis gallinarum khoảng 3 ngày.

* Mùa vụ

Ở Việt Nam, Lê Văn Năm (2010) [9] báo cáo rằng bệnh bùng phát mạnh vàocác tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè và thu Đối với những gà lớn tuổi (gà già và gàđẻ), bệnh thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông

* Điều kiện vệ sinh thú y

Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trại,dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới

khả năng nhiễm Histomonosis của gà Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại

và phát triển của giun kim - vật chủ trung gian truyền bệnh`

Lê Văn Năm (2011) [10] cho rằng, bệnh do đơn bào H meleagridis xảy ra chủ yếu ở

những đàn gà nuôi thả vườn, nơi mà gà thường xuyên tiếp xúc với môi trường đất

Trang 22

Theo Callait – Cardinal M P và cs., (2010) [17], chuồng trại không đảm bảo

vệ sinh, phân và rác không dọn thường xuyên là những nguy cơ gây tái phát

histomonosis ở gia cầm.

2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh

Việc truyền đơn bào H meleagridis tới gà và gà tây có thể xảy ra riêng lẻ hoặc

đồng thời theo các đường sau:

Thứ nhất, gà và gà tây ăn phân tươi có chứa Histomonas hoặc lỗ huyệt tiếp xúc với phân tươi chứa Histomonas Con đường này không quan trọng ngoại trừ

trường hợp gà khỏe mạnh và gà mắc bệnh được nuôi chung cùng đàn

Thứ hai, gà có thể nuốt phải trứng Heterakis gallinarum có phôi và có chứa Histomonas Vào trong đường tiêu hóa của gà, các đơn bào Histomonas và ấu trứng

giun kim sẽ giải phóng khỏi vỏ trứng

Thứ ba, gà có thể ăn phải những con giun đất chứa trứng giun kim đã mang

đơn bào Histomonas.

Khi vào trong cơ thể gà, đơn bào xâm nhập vào manh tràng rồi vào niêm mạc

manh tràng Tại đây, đơn bào H meleagidis nhân lên rất nhanh bằng sinh sản trực

phân Số lượng lớn đơn bào tác động vào niêm mạc manh tràng làm cho niêm mạcdày dần lên, sau đó dẫn đến hiện tượng viêm, loét và hoại tử Màng nhày và dịchviêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng như

phomat Từ manh tràng, H meleagidis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc, theo dòng máu xâm nhập vào gan H meleagridis ký sinh ở

gan và gây hoại tử gan Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đườngkính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt gan Từgan, đơn bào này sẽ lan đi khắp cơ thể Do đó, ngoài gan và manh tràng, người ta

còn tìm thấy H meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương Tuy nhiên, H meleagridis không gây tổn thương ở các cơ quan này.

1.1.2.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen ở gà

* Triệu chứng

Gia cầm khoảng 3 - 12 tuần tuổi tỷ lệ và cường độ nhiễm Histomonas meleagridis cao, có triệu chứng điển hình và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90%.

Trang 23

Biểu hiện lâm sàng có thể quan sát thấy sau thời gian ủ bệnh từ 15 - 21 ngày.Gia cầm mắc bệnh đột nhiên thấy sốt cao 43 - 44ºC, đứng ủ rũ, hai mắt nhắmnghiền, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều, đứng sã cánh, run rẩy, dấu đầu vào dướicánh Gà bệnh lông xù, vùng hậu môn lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưuhuỳnh Triệu chứng tiêu chảy, phân màu lưu huỳnh xảy ra trong giai đoạn cuối củabệnh, khi chức năng gan bị suy yếu (Mc Dougald và cs 2008 [50]).

Gia cầm lớn triệu chứng không điển hình, bệnh thường kéo dài, gà gầy dầnrồi chết

Giai đoạn cuối quan sát thấy gia cầm mào thâm tím, da mép và da vùng đầuxanh xám, thậm chí xanh đen Bệnh thường kéo dài khoảng 10 - 20 ngày nên gà rấtgầy Trước khi chết thân nhiệt gà giảm xuống tới 39 - 38oC Lúc đầu gà chết rải rácvào ban đêm, sau số gà chết tăng dần và chết cả vào ban ngày Nếu không đượcđiều trị tỷ lệ gà chết lên đến 80 - 95 % tổng đàn (Lê Văn Năm 2010 [9])

* Bệnh tích

- Biến đổi ở manh tràng

Có thể chỉ một cả hai manh tràng xuất hiện các biến đổi: lúc đầu manh tràngphồng to, dài hơn, sau đó thành manh tràng dày lên và rắn chắc hơn Màu sắc, độđàn hồi và độ trơn bóng của manh tràng bị thay đổi Bề mặt bên trong manh tràngtrở nên sần sùi, màu vàng xám, thành manh tràng tăng sinh dầy lên và rắn chắc Khi

bổ đôi manh tràng thấy chất chứa màu trắng vàng, trắng xanh hoặc trắng nâu dodịch thẩm xuất chứa Fibrin đóng quánh cùng các tế bào bị cazein hoá tạo thành cáckén màu trắng, vì thế người chăn nuôi gọi là bệnh kén ruột Niêm mạc manh tràng

bị viêm loét nặng, thậm chí bị thủng, chất chứa chảy vào xoang bụng gây viêm phúcmạc làm gà chết Rất nhiều trường hợp hai manh tràng dính chặt với nhau, hoặc mộttrong hai manh tràng dính vào các cơ quan nội tạng hoặc phúc mạc Vết loét nhỏhoặc lớn có thể vỡ ra, tràn phân và dịch viêm vào xoang bụng, gây viêm dính ruột.Khi cắt ngang manh tràng thấy có những đám bã đậu trắng, thành manh tràng dàylàm long manh tràng hẹp lại (Lê Văn Năm 2010 [9])

Trang 24

- Biến đổi ở gan

Theo Lê Văn Năm (2010) [9]: Gan sưng to gấp đôi bình thường, mềm nhũn

và có nhiều ổ viêm, xuất huyết, hoại tử trên bề mặt gan làm cho lá gan lúc đầu cómàu lổ đổ hình hoa cúc Về sau các ổ hoại tử có màu trắng xám vàng hoặc trắngxám đỏ, lõm ở giữa Ổ hoại tử có hình tròn, đường kính 1 - 2 cm, rìa mép có hìnhrăng cưa Khi cắt đôi ổ hoại tử thấy chúng có hình nón, chứa đầy chất chứa đặcquánh Nếu phết kính và soi dưới kính hiển vi sẽ thấy các tế bào bạch cầu, đại thực

bào và đơn bào Histomonas còn sống.

1.1.2.6 Chẩn đoán

* Với gà còn sống

Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với gàcòn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn ít,lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu sạm màu, đi ỉa phân màuvàng lưu huỳnh…) Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà đi ỉa phân màu vàng lưuhuỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald, 2008 [50])

Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm,nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩnđoán dễ dàng hơn

* Mổ khám gà

Phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là phương pháp mổ khám, kiểm tra

bệnh tích kết hợp xét nghiệm tìm đơn bào H meleagridis ký sinh ở các cơ quan nội

tạng như gan, manh tràng

Tiến hành mổ khám gà mắc bệnh, quan sát thấy gan và manh tràng bị tổnthương nặng, gan to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoacương hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt

Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa chết hoặc vừa mổ khám, phết

kính, kiểm tra dưới kính hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H meleagridis Tuy

nhiên, đơn bào trong các tổn thương tổ chức ở thể lưới, không có hình roi và rất khó

để phân biệt với đại thực bào và các tế bào nấm men

Trang 25

Kiểm tra mô bệnh học giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn Đặc biệt là phần

mô của gan và manh tràng Phương pháp nhuộm tiêu bản mô bệnh phẩm thườngđược áp dụng là nhuộm Hematoxilin - eosin và nhuộm PAS (Mc Dougald, 2008 [50]).Nuôi cấy đơn bào trong môi trường Dwyer cổ điển (Van der Heijden, 2009 [63]),

giúp cho việc quan sát H meleagridis dễ dàng hơn dưới kính hiển vi.

Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (phản ứng chuỗi polymerase) cho kết quả nhanh

chóng và chính xác Với phản ứng PCR, người ta có thể phát hiện ADN của H meleagridis trong phân hoặc ruột PCR cũng giúp tìm ra ADN của ký sinh trùng H meleagridis trong các cơ quan khác như trong não, hoặc tuyến ức,… nơi mà các

phương pháp thông thường không thể chẩn đoán được sự có mặt của ký sinh trùng này

* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác

Theo Lê Văn Năm (2010) [9] để chẩn đoán bệnh đầu đen thì cần phân biệt vớicác bệnh sau:

- Chẩn đoán phân biệt với gà bị Newcastle.

+ Triệu chứng: gà bị bệnh Newcastle ủ rũ, sã cánh, tiêu chảy, phân loãng màu

xanh trắng, gà co giật

+ Bệnh tích: Xuất huyết hình đinh ghim ở dạ dày tuyến

- Chẩn đoán phân biệt với bệnh Gumboro:

+ Triệu chứng: gà bị Gumboro luôn ở trong tình trạng sốt cao 43 - 440C, mấtnước hay ngoẹo đầu, quay mỏ gãi hoặc mổ vào phao câu, hậu môn của chính mình

Gà ỉa chảy nặng, phân trắng hoặc toàn nước Nếu dùng kháng sinh điều trị thì gà sẽ

bị chết nhanh hơn

+ Bệnh tích: túi Fabricius biến đổi về màu sắc, kích thước, hình dạng và độdai bền Xuất huyết cơ đùi, cơ ngực và dưới da, xuất huyết toàn bề mặt khu vực tiếpgiáp giữa dạ dày cơ và dạ dày tuyến

- Chẩn đoán phân biệt với hội chứng hen khẹc ở gà (CRD).

+ Triệu chứng: gà bệnh ủ rũ, uống nhiều nước, đứng một mình, rụt cổ hay lắcđầu, vảy mỏ, thở khò khè, nếu bệnh nặng gà phát ra tiếng kêu lạo sạo, khoẹt khoẹt.+ Bệnh tích: màng nhày bao phủ ở thanh khí quản, viêm túi khí xuất hiện các thểFibrin dạng hạt, kích thước từ 0,5 - 2 cm, màu vàng nằm xen lẫn trong các túi khí

Trang 26

- Chẩn đoán phân biệt với bệnh Marek

+ Triệu chứng: gà ủ rũ, xù lông, giảm ăn, gầy và sút cân rất nhanh, xuất hiệntriệu chứng bại liệt

+ Bệnh tích: mắt gà bên trong có các hạt nhỏ li ti, xuất hiện khối u ở các cơ

Gan sưng to, hoại tử, dạ dày tuyến sưng to gấp 2 -3 lần.

- Chẩn đoán phân biệt với bệnh Leucocytozoon

+ Triệu chứng: gà gầy sút dần, nhợt nhạt thiếu máu, gà đẻ thì giảm đẻ hoặcngừng đẻ hoàn toàn, gà suy nhược rồi chết dần

+ Bệnh tích: khối u tập trung ở gan, lách, buồng trứng, thận

- Chẩn đoán phân biệt với bệnh sưng gan thận ở gà

+ Triệu chứng: gà bệnh có dấu hiệu bị stress trầm trọng như nóng, lạnh bấtthường, suy giảm sức khỏe vài giờ trước khi co giật và chết

+ Bệnh tích: da vùng dưới cổ và xung quanh khớp mắt cá chân có màu hồng

Gan sưng to màu vàng nhạt và bở; thận sưng, màu nhợt nhạt.

Ngoài ra, còn cần phân biệt với một số bệnh sau:

- Chẩn đoán phân biệt với bệnh cầu trùng

Bệnh cầu trùng do Eimeria tenella gây hiện tượng gà ỉa phân có màu đỏ nâu,

có hiện tượng co giật trước khi chết, gà không sốt Nhìn từ ngoài vào qua thành ruột ởbệnh cầu trùng ta thấy rõ các nốt đỏ xen lẫn các điểm trắng, khi tách ruột ra thì thấychất chứa bị lẫn máu hoặc toàn cục máu đông, thậm chí máu tươi, trong khi đó chất

chứa do Histomonas gây ra lúc đầu cũng lẫn máu khó đông giống như bệnh cầu trùng,

nhưng về giai đoạn cuối tạo thành kén đông đặc, gạt lớp phủ niêm mạc thấy niêmmạc ruột bị viêm hoại tử rất nặng, thành ruột thừa dầy và rắn chắc

- Chẩn đoán phân biệt với bệnh do Trichomonas

Các triệu chứng và biến đổi bệnh lý do Trichomonas gây ra trong một số trường hợp cũng rất giống với bệnh đầu đen Điểm khác là do bệnh Trichomonas

gây ra tìm thấy biến đổi ở ruột thừa, luôn kèm theo các biến đổi ở 1/3 cuối ruột non.Các biến đổi ổ viêm hoại tử trên bề mặt gan có kích thước nhỏ hơn và lồi lên khỏi

bề mặt gan giống như các ổ lao gà, trong khi các ổ viêm loét hoại tử ở bệnh đầu đenlại bị lõm ở giữa

Trang 27

- Chẩn đoán phân biệt với bệnh lao gà

Các ổ lao (viêm hoại tử) quan sát được không chỉ ở gan mà còn thấy ở lách,ruột và tủy xương Bệnh lao gà chỉ quan sát thấy ở gà lớn tuổi, không thấy ở gà con

và gà dò Trong bệnh lao gà không có các biến đổi tạo kén ở ruột thừa như ở bệnhđầu đen

1.1.2.7 Phòng, trị bệnh đầu đen cho gà

* Phòng b ệnh

Sullivan T W và cs (1977) [60] cho biết Cũng như các bệnh ký sinh trùng khác,

để phòng chống bệnh đầu đen cần áp dụng một cách triệt để các phương pháp sau:

- Diệt đơn bào Histomonas meleagridis trong cơ thể gà Có thể dùng một số

thuốc sau:

Dimetridazole: trộn thức ăn với tỷ lệ 200 gam/ 100 kg thức ăn, cho ăn trong 4

-5 ngày liên tục

Rodanidazole pha với nước cho gà uống 3 ngày liên tục

- Diệt ký chủ trung gian - giun kim, giun đất ngoài ngoại cảnh

Sử dụng biện pháp ủ phân gà, đồng thời thường xuyên cày xới khu vực vườn chănthả gà để tiêu diệt trứng giun kim và giun đất ở lớp đất bề mặt

* Một số biện pháp cụ thể:

- Không nuôi gà nhiều lứa tuổi trong cùng một cơ sở chăn nuôi và không nuôichung gà ta với gà Tây

- Thường xuyên quét dọn, vệ sinh khu vực chăn nuôi

- Hàng tuần cần phun thuốc khử trùng tiêu độc chuồng trại, định kỳ cuốc xớivườn rồi rắc vôi bột

- Thức ăn và nước uống phải được vệ sinh sạch sẽ, thiết kế vị trí sao chokhông lây nhiễm phân vào thức ăn, nước uống của gà

- Không thả gà ra vườn vào những ngày mưa gió

- Histomononas meleagridis có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim,

gà ăn phải trứng giun kim có chứa Histomononas meleagridis sẽ bị bệnh, do đó cần

định kỳ tẩy giun kim cho gà

Trang 28

- Từ 20 ngày tuổi trở lên cho gà uống Sulfat đồng hoặc uống thuốc tím Cáchlàm: Cứ 7 - 10 ngày cho uống 1 lần Mỗi lần pha 1 gam thuốc tím hoặc 2 gam sulfatđồng với 10 lít nước cho uống trong 1 - 2 giờ, nếu thừa thì bỏ đi.

Hiện tại chưa có loại hóa dược điều trị đầu đen có hiệu quả cao

Gần đây, một số tác giả cho rằng, dùng doxycillin hoặc sulfamonomethoxin có

tác dụng rất tốt đối với Histomonas.

Tại Việt Nam, công ty thuốc thú y Năm Thái đã khuyến cáo phác đồ điều trịbệnh đầu đen cho gà như sau:

Cách 1:

- Bước 1: Tiêm bắp T.Avibrasin 1 ml/5 kg gà 1 lần/ngày, tiêm 2 - 3 ngày

- Bước 2: Cho uống

T cúm gia súc: 1,5 - 2 gam, T coryzin: 1,5 - 2 gam, Super Vitamin 2 gam Cả

3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm

Cách 2:

- Bước 1: Tiêm bắp Macavet 1 ml/ 6 - 8 kg TT/1 lần Sau 48 giờ tiêm mũi thứ 2

- Bước 2: Cho uống

T cúm gia súc: 1,5 - 2 gam, T coryzin: 1,5 - 2 gam, T.Flox - C 1,5 gam, DocyvitThái Cả 4 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên c ứu trong nước

Theo Phạm Sĩ Lăng và Tô Long Thành (2006) [6], gà, gà tây và gà sao thường

bị bệnh đầu đen dưới 12 tuần tuổi, gà trưởng thành bị bệnh nhẹ hơn, đôi khi bên

Trang 29

ngoài không thấy rõ các triệu chứng đặc trưng, chỉ gầy yếu dần, ở gà mái thì lượngtrứng giảm rõ rệt, đây chính là nguồn tàng trữ và gieo rắt mầm bệnh trong đàn gà.

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [4], Histomononas meleagridis sống

ký sinh trong trứng loài giun kim Heterakis gallinae Cả Histomononas meleagridis

và Heterakis gallinarum đều sống ký sinh trong ruột gà, gà tây và cả hai đều gây

bệnh cho gà

Giun Heterakis gallinarum kích thích niêm mạc ruột gây tụ huyết, ngoài ra

còn chiếm đoạt dinh dưỡng của gà làm con vật gầy yếu, gà con chậm lớn Trongquá trình ký sinh, chúng tiết độc tố và sản vật khác nên gà bị trúng độc và dễ mắc

bệnh viêm gan, ruột do loại đơn bào H meleagridis xâm nhập vào trứng giun kim,

gà ăn phải trứng này thì mắc bệnh (Phạm Văn Khuê và cs., 1996 [2])

Trong chăn nuôi, bệnh lây lan chủ yếu do gà khỏe ăn phải thức ăn hoặc nước

uống phải nước có chứa Histomonas meleagridis Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng có những đàn gà mắc Histomonosis nhưng không nhiễm giun kim (Heterakis gallinae), trong trường hợp này giun đất đóng vai trò như một vật

trung gian môi giới truyền bệnh Đặc biệt là trứng của giun kim thải ra từ gà bệnh

có mang mầm bệnh nhưng trứng của gà bệnh lại không mang mầm bệnh (Phạm SĩLăng và cs 2006 [6])

Lê Văn Năm và cs (2010) [9] đã đề cập về căn bệnh này tại một số tỉnh phíaBắc (trong đó có tỉnh Bắc Giang) Tác giả kết luận rằng, nguyên nhân cơ bản gâynên hiện tượng chết hàng loạt gà thịt tại thời điểm đó là do sự cảm nhiễm, xâm nhập

và nhân lên nhanh chóng của đơn bào Histomonas meleagridis trong cơ thể gà

thông qua việc đàn gà đang bị nhiễm nặng giun kim và trứng giun kim có chứa đơn

bào gây bệnh Tác giả cho biết, H meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái:

hình trùng roi (4 roi), hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát

triển để có hình dạng tương ứng phù hợp,… H meleagridis với hình amip có kích

thước 8 - 30 μm, với hình roi thì có kích thước 20 - 30 μm, kích thước nhỏ nhất khi

H meleagridis ở thể lưới: 5 - 10 μm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H meleagridis thể hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại (60 - 80 μm) Trong các

Trang 30

dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân

(1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4 roi, H meleagridis vận động theo hai

phương thức: xoắn hoặc theo kiểu làn sóng Theo tác giả, ở miền Bắc Việt Nam,bệnh thường thấy ở gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, nhưng gà ta thì chậm hơnmột chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc

Theo Lê Văn Năm (2011) [10], đơn bào H meleagridis có sức đề kháng kém.

Sau khi theo phân ra ngoài môi trường, ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể gia cầm,đơn bào này chỉ sống được vài phút hoặc vài giờ tùy thuộc vào nhiệt độ bên ngoài

Trong đó, thời gian sống lâu nhất không vượt quá 24 giờ Nhưng H meleagridis có thể tồn tại hàng năm trong trứng của giun kim - Heterakis gallinae, mà vẫn có khả năng

gây bệnh

1.2.2 Tình hình nghiên c ứu trên thế giới

* Những nghiên cứu về đơn bào histomonas meleagridis

Hess M và cs (2006) [34] đã chế tạo thành công môi trường nuôi cấy chodòng sinh sản vô tính của Histomonas meleagridis, Tetratrichomonas gallinarum và Blastocystis sp Nhờ đó, một trong các sinh vật này sau khi tách từ

hỗn hợp vi sinh trong manh tràng gà bệnh sẽ được nhân giống và duy trì trongống nghiệm Như vậy, chế tạo thành công môi trường nuôi cấy cho sinh sản vôtính các đơn bào sẽ hữu ích để phục vụ các nghiên cứu sâu, chi tiết hơn về cấutrúc cũng như bệnh do chúng gây ra

Mielewczik M và cs (2008) [52] đã quan sát hình thái đơn bào H meleagridis trong môi trường nuôi cấy dưới kính hiển vi điện tử Tác giả mô tả, H meleagridis là sinh vật đơn bào, kích thước 10 - 20 µm, có 1 roi duy nhất, một hệ thống vi ống phát sinh từ căn cứ của roi, hydrogenosomes, hạt nhân, trục chính và các bào quan tự dưỡng của H meleagridis.

Zaragatzki E và cs (2010) [68] cho biết, đơn bào H meleagridis có sức để

kháng yếu với nhiệt độ thấp và độ axit cao

Hauck R và cs (2010) [32], đã thử nghiệm nuôi cấy đơn bào H meleagridis trong các môi trường khác nhau Kết quả, H meleagridis phát triển

Trang 31

tốt nhất trong môi trường nuôi cấy của Dwyer, bao gồm: M 199, phôi gà, huyếtthanh và bột gạo Số lượng đơn bào tăng khoảng 5 x 105 trong 3 - 4 ngày nuôicấy, sau đó giảm nhanh chóng.

Popp C và cs (2011) [53] đã lấy mẫu từ những đàn gà, gà tây bị histomonosis nuôi tại miền Nam nước Đức từ năm 2005 – 2008 để nghiên cứu về chủng H meleagridis gây bệnh Kết quả, có ít nhất 2 chủng H meleagridis gây bệnh cho gà

và gà tây

Theo Ganas P và cs., (2012) [23], sự phát triển của đơn bào H meleagridis

phụ thuộc vào các vi khuẩn, đặc biệt là quá trình chuyển hóa năng lượng của vi

khuẩn Escherichia coli được xác định là hỗ trợ cho sự phát triển của đơn bào Vi

khuẩn đóng vai trò như một nguồn cung cấp thức ăn cho các đơn bào

Lotfi A R và cs (2012) [44] đã nghiên cứu thời gian tồn tại của đơn bào H meleagridis ngoài môi trường Kết quả, ở nhiệt độ 22 ± 20 C đơn bào H meleagridis sống được 1 giờ trên vật liệu gỗ, cao su, kim loại; 3 giờ trên hộp khay

trứng, vỏ trứng và gạch; 6 giờ trên rơm rạ, lông gà tây và thức ăn chăn nuôi; 9 giờtrong nước lọc và phân

* Những nghiên cứu về bệnh do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở gia cầm

- Nghiên cứu phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis

H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2

con đường: bệnh truyền trực tiếp và bệnh truyền gián tiếp

Graybill và cs (1920) [25] cho rằng, tác nhân gây bệnh đầu đen có liên quan

tới trứng giun kim Heterakis gallinarum Trứng giun kim có phôi khi nhiễm vào gà

là cần thiết để lây truyền và phát bệnh đầu đen ở gà

Huber K và cs (2007) [38] cho biết, khi trứng giun kim ở trong cơ thể gà

nhiễm bệnh đầu đen thải ra ngoài môi trường Giun đất ăn phải, ấu trùng Heterakis được giải phóng trong đường tiêu hóa của giun đất Sau đó, ấu trùng Heterakis mang theo đơn bào H meleagridis xâm nhập vào các xoang và mô trong cơ thể giun

đất Gà ăn phải giun đất này sẽ bị mắc đồng thời 2 bệnh giun kim và đầu đen

Trang 32

Ngoài giun đất thì một số động vật không xương sống khác như: châu chấu,

ruồi, dế, cũng có vai trò làm truyền lây bệnh do đơn bào H meleagridis Tuy nhiên,

mức độ lây lan qua các động vật này ít hơn so với giun đất

Hu J và cs (2003) [36], đã làm thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho gà tây 2 tuần

tuổi Ông tiến hành đưa vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào H meleagridis nuôi cấy với liều 200.000 H meleagridis/ gà Kết quả, tất cả gà tây gây nhiễm đã chết ở ngày 10

– 18, tiến hành mổ khám gà chết thấy gan và manh trang xuất hiện tổn thương điển

hình của histomonosis.

Tác giả tiếp tục thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho gà tây 2 tuần tuổi bằng cách

đưa vào lỗ huyệt mỗi gà 200.000 H meleagridis Những gà tây nhiễm bệnh được

phân làm 2 lô thí nghiệm, cụ thể:

Lô 1: gồm 10% gà bệnh cho tiếp xúc trực tiếp với 90% gà khỏe

Lô 2: gồm 25% gà bệnh cho tiếp xúc trực tiếp với 75% gà khỏe

Kết quả thu được như sau: những gà tây tiếp xúc với 25% gà tây bệnh bắt đầuchết ở ngày thứ 16 và tất cả đều chết ở ngày 23 sau tiếp xúc Những gà tây tiếp xúcvới 10% gà tây bị bệnh, bắt đầu chết ở ngày thứ 19, ngày 31 mổ khám những gà cònsống đều thấy tổn thương gan nặng, manh tràng bị đóng kén điển hình của

histomonosis.

Như vậy, sử dụng đơn bào H meleagridis trong môi trường nuôi cấy đưa vào

lỗ huyệt gà tây, gà tây sẽ mắc histomonosis với tỷ lệ cao trong khoảng thời gian ngắn và histomonosis dễ dàng truyền từ con bệnh sang con khỏe qua tiếp xúc trực

tiếp không cần sự có mặt của trung gian truyền bệnh

Hu J và cs (2004) [37] đã gây nhiễm H meleagridis cho gà tây 2 tuần tuổi,

liều 105H meleagridis/ gà theo các đường khác nhau Kết quả, không gà tây nào bị

bệnh sau khi gây nhiễm qua đường miệng Ngược lại, gà gây nhiễm qua lỗ huyệtphát bệnh nặng sau 12 ngày

McDougald L R và cs (2005) [49] nghiên cứu đường truyền lây bệnh do

đơn bào H meleagridis trên ga tây Tác giả gây bệnh Histomonosis cho 9 gà tây khỏe mạnh ở 2 tuần tuổi bằng cách tiêm vào lỗ huyệt 20.000 đơn bào H.

Trang 33

meleagridis/ gà, sau đó nuôi chung chuồng với gà tây khỏe Kết quả, 100 % gà tây gây nhiễm qua lỗ huyệt chết ở 7 – 13 ngày sau gây nhiễm, gà tây nhốt chung

chuồng tỷ lệ chết là 87,5 % trong khoảng 14 - 21 ngày tiếp xúc Tất cả gà chết

mổ khám kiểm tra thấy bệnh tích điển hình của Histomonosis, manh tràng không thấy xuất hiện Heterakis gallinarum.

Trong một thí nghiệm khác, gây nhiễm bệnh Histomonosis cho gà 2 tuần

tuổi, sau đó cho gà bệnh vào 4 chuồng (2 gà/chuồng) nuôi chung với gà khỏe 1,

2 , 3, 4 ngày Kết quả, 16,67% gà có tổn thương nhỏ manh tràng sau khi tiếp xúcvới gà bệnh 1 ngày, 87,5% - 100% gà bị nhiễm sau tiếp xúc với gà bệnh trongkhoảng 2 - 4 ngày

Như vậy, bệnh do đơn bào H meleagridis có thể truyền từ gà bệnh sang gà khỏe qua tiếp xúc trực tiếp, với sự vắng mặt của Heterakis gallinarum Trong đó, số

gà lây bệnh tỷ lệ thuận với thời gian tiếp xúc

Nhiều tác giả đã nghiên cứu và rút ra kết luận: Tỷ lệ nhiễm histomonosis sẽ

khác nhau khi gây nhiễm qua lỗ huyệt đơn bào H meleagridis cho gà ở các lứa tuổi

khác nhau với các liều khác nhau, thật vậy:

Tỷ lệ tử vong lên đến 80% đã được báo cáo bởi Landman và cs (2004) [40] khi

tác giả gây nhiễm đơn bào H meleagridis qua lỗ huyệt cho gà tây ở 15 ngày tuổi, liều 200.000 H meleagridis/ gà.

Hauck và cs (2005) [30], gây nhiễm bệnh cho gà tây 3 tuần tuổi với liều 150.000

H meleagridis /gà Theo dõi kết quả sau gây nhiễm cho thấy, tỷ lệ tử vong ở gà tây thấp

hơn 50%

Một nghiên cứu khác về khả năng truyền bệnh trực tiếp ở gà tây cũng được mô

tả bởi Hess M và cs ( 2006) [34]: ông cũng tiến hành gây nhiễm thông qua lỗ

huyệt cho gà tây ở 14 ngày tuổi với liều 380.000 đơn bào H meleagridis/ gà Kết

quả gà được gây nhiễm bài tiết mầm bệnh ngay sau khi gây nhiễm 2 ngày Sau 14ngày gây nhiễm, mổ khám tất cả những gà sống sót, kiểm tra thấy manh tràng vàgan xuất hiện tổn thương nặng của bệnh đầu đen Ngoài ra túi Fabricius cũng bị pháhủy nặng nề

Trang 34

Hess M và cs (2006) [34] cho biết, bệnh do đơn bào H meleagridis truyền

trực tiếp qua tiếp xúc giữa các đàn gà tây xảy ra nhanh và dễ dàng hơn so với cácloài gia cầm khác

Liebhart D E và cs (2008) [42], đã gây nhiễm trực tiếp qua lỗ huyệt cho gà ở

8 tuần tuổi với liều từ 10.000 – 1.000.000 H meleagridis/ gà Kết quả, khi gây

nhiễm với liều thấp hầu như gà không có dấu hiệu lâm sàng của bệnh Ngược lại, ở

liều 1.000.000 H meleagridis/ gà, tất cả gà đều mắc bênh và chết từ 11 – 21 ngày sau gây nhiễm Mổ khám gà chết, kiểm tra có bệnh tích điển hình của Histomonas Liebhart D và cs (2009) [41] đã gây nhiễm đơn bào H meleagridis qua

đường miệng cho 8 gà tây một ngày tuổi Kết quả, có 6/8 gà tây mắc bệnh và chết(75 %) Tác giả cho rằng, gà một ngày tuổi lượng axit tiết ra ở đường tiêu hóa trêncủa gà ít nên dễ mắc bệnh khi gây nhiễm qua đường miệng

Jana Choutková (2010) [69], đã gây nhiễm đơn bào H meleagridis cho gà tây

bằng cả 2 đường miệng và lỗ huyệt Kết quả, gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắcbệnh và tử vong thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt Cụ thể, gây nhiễm quađường miệng tỷ lệ mắc bệnh dưới 20%, tỷ lệ chết khoảng 2%, trong khi gây nhiễmqua lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh lớn hơn 65%, tỷ lệ chết khoảng 45%

Armstrong P L và Mc Dougald L R (2011) [13] đã tiến hành nuôi nhốt gàchung với những gà đã mắc bệnh đầu đen Sau 14 ngày theo dõi, tiến hành mổ khám

và thấy có 11/36 gà mắc bệnh có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng (30,5 %).Hauck R., Hafe H M (2013) [29] cho biết, trong 10 năm qua phương phápgây nhiễm qua lỗ huyệt được tiến hành một cách phổ biến nhất và đạt độ tin cậy cao.Trong hầu hết các nghiên cứu liều gây nhiễm thường từ 10.0000 - 1000.000 đơn

bào Histomonas được sử dụng, tỷ lệ chết ở gà gây nhiễm khoảng hơn 70% Trong

đó gà chết sớm nhất ở ngày thứ 6, muộn nhất từ 13 – 15 ngày sau gây nhiễm Mổkhám có thể quan sát được tổn thương ở manh tràng sau 3 – 4 ngày, tổn thươngnặng sau 3 tuần, gan ở giai đoạn đầu không thấy xuất hiện tổn thương hoặc một số

ít có các tổn thương nhẹ

Trang 35

- Nghiên cứu về dịch tễ bệnh đầu đen ở gia cầm

Schulze (1975) [56] báo cáo, ở miền Bắc nước Đức giữa năm 1971 và 1973 đã

xuất hiện Histomonosis trên gà, gà mắc bệnh chủ yếu ở 3 - 9 tuần tuổi Tỷ lệ chết

trong đàn không được điều trị là 10%

Ở Hoa Kỳ và các nước khác, bệnh đầu đen ở gà đã tăng đáng kể trong nhữngnăm qua (Banerjee P S và Yadav C L., 2002 [14])

Theo McDougald L R (2005) [49], cũng giống như gà tây, gà dễ nhiễm bệnhnhưng khả năng gây bệnh cho gà thấp hơn so cho gà tây Tỷ lệ tử vong ở gà khoảng10% trong khi con số này ở gà tây có thể đạt 80 đến 100%

Theo Callait và cs., (2007) [16], gia cầm mắc bệnh do đơn bào H meleagridis

ở tất cả các tháng trong năm nhưng nhiều nhất từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm

Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện 113 ổ

dịch Histomonosis trên gà tây, trong đó 15 ổ dịch là các trang trại gà giống

(Callait và cs., 2007 [16]) Năm 2009 có sự bùng nổ của dịch Histomonsis ở gàtây 9 đến 11 tuần tuổi với tỷ lệ tử vong 24 - 68% (Senties Cue và cs., (2009) [57])

Alkhalaf và Mahmoud, (2009) [12] cho biết, histomonosis đã nổ ra ở một đàn

vịt nuôi tại Saudi Arabia Vịt nhiễm bệnh có triệu chứng gầy yếu, lười vận động,uống nhiều nước và tiêu chảy ra máu

Potts, (2009) [54] cho biết, từ 1912 - 2003 tác giả đã mổ khám 12056 gia cầmchết ở Anh, chủ yếu là gia cầm hoang dã trong đó có gà lôi Kết quả mổ khám cho

thấy một mối tương quan mạnh mẽ giữa sự xuất hiện của Heterakis và sự xuất hiện của Histomonosis.

Histomonosis là một bệnh nguy hiểm cho gia cầm gây ra bởi Histomonas meleagridis Gà thường hồi phục trong khi tỷ lệ tử vong ở gà tây là cao Các đáp ứng miễn dịch với H meleagridis của gà mạnh hơn gà tây Khi mắc bệnh, đơn bào

di cư vào gan gà tây với số lượng lớn hơn so với gà (Powell F L và cs., 2009 [55])

Ở Đức, Hauck R và cs (2010) [32] cho biết, Histomonosis là một căn bệnh nghiêm trọng gây ra bởi ký sinh trùng đơn bào Histomonas meleagridis, có thể dẫn

đến tổn thất cao trong chăn nuôi gà tây Báo cáo này mô tả sự tái diễn của

Histomonosis trong một trang trại chăn nuôi gà tây Các ổ dịch đầu tiên xảy ra vào

Trang 36

năm 2005 ở gà 17 tuần tuổi Ổ dịch thứ 2 xảy ra năm 2009 ở gà 8 tuần tuổi Tỷ lệ tửvong tăng đến 26 - 65 % trong vòng vài ngày, mặc dù điều trị với các hóa dược

khác nhau Trong cả hai trường hợp, Histomonas meleagridis thuộc kiểu gen A đã

được phát hiện, nhưng chưa phát hiện nguồn lây nhiễm rõ ràng

Gregory V Và Lamann (2010) [26] cho biết, tất cả các giống gà đều dễ bị

nhiễm đơn bào H meleagridis Gà bị bệnh gan tổn thương ít nên tỷ lệ chết thấp hơn

so với gà tây

Theo Windisch M và Hess M (2010) [66], gà mắc bệnh, tổn thương manhtràng đã được tìm thấy lúc 7 và 14 ngày sau nhiễm Xét nghiệm các mẫu mô manhtràng tổn thương cho thấy các phản ứng miễn dịch rất mạnh ở manh tràng với sựxuất hiện của kháng thể IgM, IgG ở mức cao và tăng liên tục của kháng thể IgA

Theo Zahoor M A và cs (2011) [67], tính mẫn cảm với đơn bào H meleagridis khác nhau giữa các giống gà.

Hauck R and Hafez M (2012) [28] đã làm thí nghiệm và cho biết, chim bồ

câu dễ nhiễm bệnh do đơn bào H meleagridis khi gây nhiễm qua lỗ huyệt nhưng

bệnh không lây truyền từ chim ốm sang chim khỏe khi tiếp xúc

- Nghiên cứu về triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen ở gia cầm

Lund E E (1967a) [47] cho biết, một trong những triệu chứng điển hình nhất

của bệnh do đơn bào H meleagridis là tiêu chảy phân màu lưu huỳnh, trong đó có

thể lẫn một ít máu Triệu chứng này quan sát thấy trong giai đoạn cuối của bệnh, dorối loạn tiết mật và do chức năng của gan, thận bị suy yếu Ở gà các triệu chứng củabệnh tiến triển chậm, ngược lại ở gà tây các triệu chứng trên có thể xuất hiện saukhi nhiễm mầm bệnh ít ngày

Singh A và cs (2008) [58] cho biết, gia cầm nhiễm đơn bào H meleagridis

bệnh tích tập trung chủ yếu ở gan và manh tràng Nhưng từ manh tràng và gan đơnbào có thể theo dòng máu đến ký sinh ở các cơ quan khác như thận, lá lách, tuyếntụy, tuyến ức, tim, não, tủy xương, và phổi, tuy nhiên bệnh tích ở các cơ quan nàythường nhẹ

Sentíes-Cué G và cs (2009) [57] cho biết, ở gà tây mắc bệnh do đơn bào H meleagridis thì ống dẫn mật bị viêm, thành ống dẫn mật có nhiều tế bào hạt và đơn

Trang 37

bào H meleagridis Ở gà và gà tây bị nhiễm histomonosis tự nhiên hoặc do gây

nhiễm đều thấy hiện tượng viêm ổ nhớp Kiểm tra mô bệnh học thấy, nhu mô hoại

tử, có sự thâm nhiễm một số lượng lớn bạch cầu hạt heterophil, tế bào lympho, tế

bào huyết tương, đại thực bào, tế bào khổng lồ, fibrin và H meleagridis Tác giả

cũng cho biết, thận của gà tây bị bệnh cũng xuất hiện số lượng lớn các đại thực bào,

tế bào khổng lồ, một số tế bào plasma và một số không bào lớn thường có chứa H meleagridis Trong các ổ viêm ở phổi, tụy và niêm mạc dạ dày tuyến thấy xuất hiện đơn bào H meleagridis Ngoài ra, ở miền tủy của lá lách quan sát thấy bạch cầu hạt

heterophilic, đại thực bào và các tế bào huyết tương

- Biến đổi máu trong Histomonosis

Venkataratnam và Clarkson (1963) [64] đã nghiên cứu ảnh hưởng của

Histomonosis tới các tế bào máu của gà sáu tuần tuổi, kết quả thấy số lượng bạch

cầu trong máu tăng ngay sau khi nhiễm bệnh một ngày và đạt tối đa 70.000/ mm3máu sau khi nhiễm 10 ngày Sự gia tăng bạch cầu bao gồm bạch cầu đơn nhân vàbạch cầu ái toan Số lượng các tế bào lympho, bạch cầu ái kiềm và hồng cầu khôngthay đổi

Khi nghiên cứu sự thay đổi công thức máu của gà 3 tuần tuổi nhiễm bệnh,Wilson và Perie (1967) [65] cũng thu được kết quả tương tự Số lượng bạch cầu caonhất là 92.000/mm3 vào ngày thứ 10 sau khi gây nhiễm Bạch cầu ái toan và bạchcầu đơn nhân tăng, còn số lượng tế bào lympho không thay đổi

- Nghiên cứu về biện pháp phòng, trị bệnh đầu đen ở gia cầm

Thu ốc dự phòng

Sullivan T W và cs (1977) [60] cho biết, Ronidazole liều 30 – 40 ppm hòa

nước cho gà uống trong 7 – 10 ngày có tác dụng làm giảm tỷ lệ mắc histomonosis ở

Trang 38

Thí nghiệm của De Gussem M và De Gussem J (2006) [21]: trộnparomomycin vào thức ăn cho gà tây từ lúc 1 ngày tuổi đến kết thúc thí nghiệm vớicác nồng độ 100 - 400 ppm 16 ngày tuổi gây nhiễm cho gà tây tổng là 700.000

Histomonas/2 lần gây nhiễm, cách nhau 15 phút Tỷ lệ tử vong do Histomonosis

(với các tổn thương bệnh lý) xảy ra từ ngày thứ 6 sau gây nhiễm Hầu hết gà chết từngày thứ 11 - 17 sau gây nhiễm với tổn thương điển hình ở gan và manh tràng(những nhóm không được bổ sung paromomycin) Riêng với các nhóm được bổsung paromomycin, tỷ lệ tử vong, tổn thương gan và manh tràng giảm đáng kể Với

nhóm gây nhiễm nặng nhất (700.000 Histomonas/gà), tỷ lệ tử vong đã giảm từ

97,5 % (trong nhóm gây nhiễm nhưng không được dùng thuốc) đến 10 % ở nhómliều lượng cao nhất Tác giả kết luận rằng, paromomycin có hiệu quả tốt trong việc

phòng chống Histomonosis cho gà tây.

Bleyen N và cs (2009) [15] đã nghiên cứu hiệu quả của thuốc paromomycin

trong phòng và trị bệnh do đơn H meleagridis gây ra trên gà, đồng thời xác định

ảnh hưởng của thuốc tới tăng trọng vật nuôi

Thí nghiệm thứ nhất, bổ sung paromomycin vào thức ăn (200 – 400 ppm)hoặc nước uống (420mg/ lit) cho gà trước hoặc đúng ngày gây nhiễm Kết quả chothấy, tỷ lệ chết và bệnh tích ở gan, manh tràng gà giảm đáng kể khi so sánh vớinhóm đối chứng không sử dụng thuốc Ngoài ra, tăng trọng trung bình sau thínghiệm của nhóm gà dùng thuốc cũng cao hơn so với nhóm đối chứng

Thí nghiệm thứ 2, tác giả bổ sung thuốc vào thức ăn, nước uống cho gà bịbệnh sau gây nhiễm Kết quả, không có sự khác biệt về tỷ lệ chết giữa nhóm gà sửdụng thuốc và nhóm đối chứng không dùng thuốc Mặt khác, tổn thương ở gan,manh tràng cũng như tăng khối lượng trung bình giữa nhóm gà thí nghiệm và đốichứng là tương đương nhau Từ đó các tác giả kết luận rằng, paromomycin có thể

được bổ sung vào thức ăn, nước uống để phòng bệnh histomonosis trong gà.

Thu ốc điều trị

McDougald L R (1998) [48] cho biết, hiện tại ở Mỹ vẫn không có thuốc điềutrị bệnh đầu đen, việc sử dụng anthelminthics để diệt giun kim – ký chủ trung giantruyền bệnh là biện pháp hiệu quả nhất để giảm tỷ lệ gia cầm mắc bệnh đầu đen

Trang 39

Hegngi F N và cs (1999) [33] cho biết, albendazole liều 100 mg/ kg TT vàfenbendazole 10 mg / kg TT, cho gà uống hai lần một ngày, sử dụng trong 5 ngày

liên tiếp không có hiệu quả điều trị bệnh do đơn bào histomonas meleagridis.

Ngược lại, dùng albendazole, fenbendazole liên tục trong 14 ngày để phòng bệnhthấy tổn thương ở gan và manh tràng giảm, gà vẫn tăng trọng

McDougald L R và Hu J., (2001) [51] đã thử nghiệm thuốc hỗ trợ điều trị

bệnh đầu đen cho gà Tác giả gây nhiễm cùng một lúc Histomonas và Coccidia cho

gà broiler thấy bệnh đầu đen trầm trọng hơn Thuốc kháng sinh được thử nghiệmtrộn vào thức ăn hoặc nước uống hàng ngày cho gà với hàm lượng thấp không cótác dụng trong việc cải thiện tổn thương gan, manh tràng và tăng trọng của gà bệnh.Tác giả sử dụng kháng sinh với hàm lượng cao cho gà lúc 14 ngày tuổi, sau đó

gây nhiễm Histomonas và Cocidia cho gà lúc 15 ngày tuổi, đến 28 ngày tuổi mổ

khám toàn bộ gà thí nghiệm Kết quả thu được:

Thuốc bacitracin với hàm lượng 50, 100, 200, hoặc 300 g/tấn TT hoặcapramycin 300 ppm có tác dụng làm giảm tổn thương ở gan đáng kể (P < 0,05)nhưng không có tác động tích cực đối với tổn thương ở manh tràng và tăng trọngcủa gà Các loại kháng sinh penicillin (100 ppm), chlortetracycline (100 ppm),tylosin (110 ppm) và sarafloxacin (40 ppm) pha vào nước uống cho gà đã có sự cảithiện tổn thương ở gan, manh tràng và tăng trọng của gà (P < 0,05)

Năm loại thuốc điều trị cầu trùng manh tràng (salinomycin, diclazuril,roxarsone nicarbazin, và lasalocid) đã được thử nghiệm trong điều trị bệnh đầu đen.Kết quả điều trị: nicarbazin có tác động tốt nhất trong việc giảm đáng kể các điểmtổn thương ở gan và manh tràng gà bệnh so với các nhóm thuốc khác (P < 0,05) và

số lượng gà dương tính với tổn thương gan thấp hơn (P < 0,05) cho thấy rằng, tác

động của cầu trùng manh tràng vào tính nhạy cảm của gà H meleagridis không chỉ

đơn giản là tổn thương cơ học vào niêm mạc manh tràng

Các thuốc có hiệu quả cao đối với E tenella có thể được dự kiến sẽ hỗ trợ trong phòng chống dịch bệnh đầu đen vì E tenella và H meleagridis có sự tương

tác hiệp đồng rất lớn Diclazuril đã được thử nghiệm có tác dụng rất tốt trong điều

trị bệnh cầu trùng do E tenella (McDougald L R và Hu J., 2001 [51]).

Trang 40

Conraths F J và cs (2005) [20] cho rằng, tất cả các hợp chất sử dụng để

phòng, trị bệnh do đơn bào H.meleagridis ở gà trong quá khứ đã bị cấm Vì vậy,

nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và phát triển các loại thuốc mới vừa có kết quả điều trịvừa an toàn với sức khỏe của người và động vật là vô cùng cấp thiết

Hafez H M và cs (2006) [27] đã nghiên cứu tác động của một số sản phẩm

thảo dược được chiết xuất từ quế, tỏi, chanh, hương thảo trên đơn bào H meleagridis ký sinh ở gà 60 gà 2 tuần tuổi khỏe mạnh được chia làm 3 nhóm.

Nhóm 1, nhận được sản phẩm thảo dược trong thức ăn sáu ngày và trong nước uống

ba ngày trước khi gây nhiễm, sản phẩm thảo tiếp tục được bổ sung trong thức ăn vànước uống của gà nhóm này tới khi kết thúc thí nghiệm Nhóm 2, 3 không được bổ

sung sản phẩm thảo dược Khi gà được 3 tuần tuổi, tiêm đơn bào H meleagridis

vào lỗ huyệt để gây bệnh cho gà nhóm 1, 2 Kết quả, 3 tuần sau gây nhiễm nhóm 1

có 20% gà chết, tỷ lệ gà chết ở nhóm 2 là 50%, không có gà chết ở nhóm 3 Tất cả

gà chết kiểm tra thấy có DNA của Histomonas trong manh tràng và gan Như vậy, trong điều kiện tất cả các loại thuốc phòng, trị hiệu quả đối với Histomonosis đã bị

cấm ở EU, thì việc điều tra các sản phẩm thảo dược được coi là một sự thay thế hiệu

quả để giảm tỷ lệ chết ở gà do Histomonosis.

Ngày đăng: 22/07/2015, 11:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà theo địa phương - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà theo địa phương (Trang 52)
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số huyện thuộc - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số huyện thuộc (Trang 53)
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo lứa tuổi - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo lứa tuổi (Trang 54)
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y (Trang 59)
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H. meleagridis theo tình trạng vệ sinh thú y - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H. meleagridis theo tình trạng vệ sinh thú y (Trang 61)
Bảng 3.7. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà nhiễm giun kim - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà nhiễm giun kim (Trang 64)
Bảng 3.9.  Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.9. Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen (Trang 67)
Bảng 3.10. Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở Thái Nguyên - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.10. Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở Thái Nguyên (Trang 68)
Bảng 3.11. Bệnh tích vi thể của gà mắc bệnh đầu đen - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.11. Bệnh tích vi thể của gà mắc bệnh đầu đen (Trang 70)
Bảng 3.12. Thử nghiệm của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.12. Thử nghiệm của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp (Trang 71)
Bảng 3.13. Thử nghiệm của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện rộng - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.13. Thử nghiệm của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện rộng (Trang 73)
Hình 1: Gà nuôi chăn thả - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 1 Gà nuôi chăn thả (Trang 85)
Hình 2: Gà nuôi bán chăn thả - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 2 Gà nuôi bán chăn thả (Trang 85)
Hình 10: Gà bị bệnh đầu đen manh - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 10 Gà bị bệnh đầu đen manh (Trang 86)
Hình 14: Mẫu gan và manh tràng - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
Hình 14 Mẫu gan và manh tràng (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w