1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.

69 250 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- --- LIỄU BÍCH DIỆP Tên đề tài: ỨNG DỤNG KIT CATT CHẾ TẠO TỪ KHÁNG NGUYÊN TÁI TỔ HỢP TRONG NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM TIÊN MAO TRÙNG Ở TRÂU CỦA HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN VÀ S

Trang 1

-  -

LIỄU BÍCH DIỆP

Tên đề tài:

ỨNG DỤNG KIT CATT CHẾ TẠO TỪ KHÁNG NGUYÊN TÁI

TỔ HỢP TRONG NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM TIÊN MAO TRÙNG Ở TRÂU CỦA HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

VÀ SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2010 - 2014

Thái Nguyên – 2014

Trang 2

-  -

LIỄU BÍCH DIỆP

Tên đề tài:

ỨNG DỤNG KIT CATT CHẾ TẠO TỪ KHÁNG NGUYÊN TÁI

TỔ HỢP TRONG NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM TIÊN MAO TRÙNG Ở TRÂU CỦA HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

VÀ SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

Sau quá trình học tập tại trường và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ

sở, đến nay em đã hoàn thành bản khóa luận này Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y đã quan tâm, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập lý thuyết tại trường

Đặc biệt, em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, cô đã ân cần chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ths.NCS Phạm Thị Trang cô đã luôn theo sát, giúp đỡ em trong quá trình thực tập

Em chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trạm Thú y huyện Chi Lăng, lãnh đạo chính quyền và nhân dân tại các xã đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại địa phương

Cuối cùng em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi - Thú y, cùng gia đình bạn bè đã động viên giúp đỡ tạo điều kiện để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp Em cảm ơn và kính chúc toàn thể các thầy, cô lời chúc sức khỏe, thành đạt trong cuộc sống

Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Liễu Bích Diệp

Trang 4

Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành” “lý thuyết gắn liền với thức tế sản xuất”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của chương trình đào tạo ở các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng giai đoạn thực tập rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường, đây là giai đoạn để sinh viên củng cố kiến thức và hệ thống hóa lại những kiến thức đã được học tại trường, đồng thời làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học và tiếp cận thực tiễn sản xuất Qua đó, giúp sinh viên nâng cao lý luận chuyên môn và kinh nghiệm bản thân

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi – Thú y, em tiến hành thực hiện đề

tài: “Ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử dụng phác đồ điều trị hiệu quả”

Với trình độ và thời gian có hạn, bước đầu còn bỡ ngỡ với công tác nghiên cứu khoa học nên khóa luận của em còn nhiều hạn chế và thiếu sót về phương pháp nghiên cứu cũng như kết quả nghiên cứu Em rất mong được sự đóng góp quý báu của thầy cô và bạn bè để bản khóa luận của em được đầy

đủ và hoàn thiện hơn

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại một số xã thuộc huyện Chi Lăng,

tỉnh Lạng Sơn 38

Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 40

Bảng 4.3: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt 42

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm 43

Bảng 4.5: Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện hẹp 46

Bảng 4.6 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng 48

Bảng 4.7: Đánh giá kết quả ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh tiên mao trùng cho trâu ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn 50

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1: Thử Kit CATT và tiêm truyền chuột, xác định tỷ lệ nhiễm tiên mao

trùng tại một số xã thuộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (%) 39

Hình 4.2: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 41

Hình 4.3: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt 42

Hình 4.4: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm 44

Hình 4.5 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng 48

Trang 7

T evansi : Trypanosoma evansi

ELISA : Enzym-Linked Immunosorbent Assay LATEX : Latex Agglutination Test

SAT : Silve Agglutination Test

PBS : Phosphat Burface Saline

VSG : Variant Surface Glycoprotein

ISG : Invariant Surface Glycoprotein

VAT : Variable Antigen Type

CATT : Card Agglutination Trypanomiasis Test

Trang 8

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Phân loại, đặc điểm hình thái và cấu trúc tiên mao trùng 3

2.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng 7

2.1.3 Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng 9

2.1.4 Đặc điểm bệnh lý và triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng 12

2.1.5 Phương pháp chẩn đoán bệnh 17

2.1.6 Phòng trị bệnh 25

2.2 Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng 28

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 29

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 30

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 31

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 31

3.3 Nội dung nghiên cứu 31

3.3.1 Ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp nghiên cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Chi Lăng , tỉnh Lạng Sơn 31

Trang 9

3.3.2 Nghiên cứu thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu

và đề xuất biện pháp phòng chống 31

3.4 Phương pháp nghiên cứu 32

3.4.1 Phương pháp thu thập mẫu 32

3.4.2 Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trong mẫu 32

3.4.3 Một số quy định trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ 34

3.4.4 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng 34

3.4.5 Đề xuất và ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả 37

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 37

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Xác định tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn 38

4.1.1 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở một số xã thuộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn 38

4.1.2 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 40

4.1.3 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt 42

4.1.4 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm 43

4.2 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T evansi cho trâu và đề xuất biện pháp phòng chống 45

4.2.1 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện hẹp 45

4.2.2 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng 47

4.3.3 Đề xuất và ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả 49

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Kiến nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

I Tài liệu tiếng Việt 52

II Tài liệu nước ngoài 55

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Bệnh tiên mao trùng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng

như trong nước quan tâm Trypanosoma evansi là ký sinh trùng đơn bào đường máu (Protozoa) thuộc lớp trùng roi (Flagellata) có tầm quan trọng lớn đối với ngành Thú y Bệnh Trypanosoma evansi thấy phổ biến ở các loài gia súc như:

trâu, bò, dê, ngựa, hươu, lạc đà… Wuyts N và cs (1994) [42] cho biết: Tại

Đông Nam Á, bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi là một trong

những bệnh gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi vì nó ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của trâu, bò

Lê Ngọc Mỹ (2002) [22], đã điều tra tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò Việt Nam Kết quả cho thấy, trâu, bò nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ

cao (21,27%), trong đó trâu, bò nuôi ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhiễm T

evansi cao hơn ở đồng bằng

Chi Lăng là một huyện miền núi thuộc tỉnh Lạng Sơn có địa hình bãi chăn thả và nguồn thức ăn đa dạng, rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi trâu, bò Song song với việc phát triển đàn trâu, bò thì việc chẩn đoán, phòng

và trị bệnh cũng luôn được coi trọng

Theo một số kết quả nghiên cứu tại tỉnh Lạng Sơn, bệnh tiên mao trùng

ở trâu thường xảy ra ở hầu hết các huyện trên địa bàn tỉnh, trong đó có huyện Chi Lăng Tuy nhiên, việc nghiên cứu về tình hình nhiễm tiên mao trùng chưa được tổ chức có hệ thống và khoa học, những phương pháp chẩn đoán thường quy đem lại hiệu quả không cao

Hiện nay việc ứng dụng Kit CATT chế tạo bằng kháng nguyên tái tổ hợp

để nghiên cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu từ đó đưa ra các phác đồ

Trang 11

điều trị có hiệu quả là một vấn đề cấp thiết Phương pháp này được đánh giá

là có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho kết quả nhanh, có khả năng chẩn đoán với số lượng mẫu lớn trong thời gian ngắn

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử dụng phác đồ điều trị hiệu quả”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên

cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi miền núi

- Đề xuất biện pháp phòng và trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại

do tiên mao trùng gây ra cho đàn trâu ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Kết quả đề tài là những thông tin khoa học về việc ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, chẩn đoán bệnh tiên mao trùng và biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả đề tài là cơ sở khoa học để hướng dẫn các cán bộ thú y ứng dụng Kit CATT trong chẩn đoán bệnh và khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh tiên mao trùng nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do

Trypanosoma evansi gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy

ngành chăn nuôi trâu phát triển

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Phân loại, đặc điểm hình thái và cấu trúc tiên mao trùng

* Phân loại Trypanosoma ký sinh ở trâu, bò

Theo Levine và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997) [7], vị trí

của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau: Ngành Sarcomastigophora

Phân ngành Mastigophora

Lớp Zoomastigophorasida

Bộ Kinetoplastorida Phân bộ Trypanosomatorida

Họ Trypanosomatidae Donein, 1901 Giống Trypanosoma Gruby, 1843 Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (M) theileria Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901 Loài Trypanosoma (H) leisi

Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909 Loài Trypanosoma (S) cruzi

Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918 Loài Trypanosoma (D) vivax Loài Trvpanosoma (D) uniform Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (N) congolense Loài Trypanosoma (N) siminae Loài Trypanosoma (N) vanhogi Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906 Loài Trypanosoma (T) brucei

Trang 13

Loài Trypanosoma (T) gambience Loài Trypanosoma (T) rhodesiense Loài Trypanosoma (T) equiperdum Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (P) suis Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843 Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885

Trong các loài tiên mao trùng trên, 7 loài có khả năng gây bệnh cho

người và động vật có vú, đó là: T brucei, T congolense, T cruzi, T

evansi, T gambiense, T siminae, T vivax Tuy nhiên, T evansi là loài

gây bệnh phổ biến vậy được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

* Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng

Tiên mao trùng T evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là

một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34 µm (trung bình là 25 µm), chiều rộng 1,5 – 2 µm Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân

nhọn Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Cấu trúc từ ngoài

vào trong được chia thành 3 phần chính

- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa) Lớp

vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (Variant Glycoprotein Surface - VGS) Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Phạm Sỹ Lăng, 1982) [15]; (Nguyễn Quốc Doanh, 1999) [6]

- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất

có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, kinetoplast (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào) và mạng lưới golgi

Trang 14

- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể Ngoài nhân,

về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN (kADN) Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự

do Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi ( Nguyễn Quốc Doanh, 1998) [5]

* Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi

Kháng nguyên của T evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng

nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi

- Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)

Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong quá trình sống ký sinh Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết

thanh thỏ tối miễn dịch với T evansi, có 30 thành phần kháng nguyên khác

nhau Có ba loại kháng nguyên không biến đổi ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invariant Surface Glycoprotein): ISG 65, ISG 75 và ISG 100 Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ

- Kháng nguyên biến đổi

Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Luckins A G và cs (1991) [37], đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt Đã mô tả lớp

áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ

bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107

Trang 15

phân tử) Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type) Chỉ

có kháng nguyên biến đổi mới có khả năng kích thích vật chủ tạo miễn dịch chủ động Người ta ước lượng rằng, một con tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này

Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùng biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ Tuy nhiên, Van Meirvenne N và cs (1989) [41] cho biết, sự biến đổi kháng nguyên bề mặt của ký sinh trùng đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước khi xuất hiện đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ) Hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng còn thấy ở gia súc

đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng Như vậy, quan điểm về sự biến đổi kháng nguyên lớp vỏ của tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất

- Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [10], khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì

đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hoá của gen Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi hoàn toàn bằng các phân tử của kháng nguyên VSG mới Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này

Theo Barry J D và cs (1991) [32], Vanhamme L và cs (1995) [40], các VSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt Từ kho chứa hàng nghìn gen khác nhau, một gen VSG được hoạt hoá một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp ra một loại kháng nguyên VSG Mỗi gen VSG mới tạo ra một loại kháng nguyên VSG

Trang 16

mới Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen kháng nguyên VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên mao trùng đã tạo ra nhiều kháng nguyên khác nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính

Cơ chế biến đổi kháng nguyên theo 2 cách: cách thứ nhất là sử dụng lần lượt các điểm biểu hiện gen (expression side) khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN Các điểm biểu hiện khác nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay đổi type kháng nguyên Cơ chế này quan sát được chủ yếu ở giai đoạn đầu của quá trình cảm nhiễm Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa có đáp ứng miễn dịch của vật chủ đối với VSG, chính điều này không gây ra một cản trở hoạt hoá tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này Cách thứ hai là tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen,

mà việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen; hoặc việc thay thế diễn ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào tái tổ hợp gen Trường hợp này được diễn giải như sau: một gen hoạt hoá được thay thế bằng bản sao chép của một gen khác Do có sự thay thế một phần của gen nên đã tạo ra loại gen phức hợp và đặc trưng

2.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng

2.1.2.1 Phân bố của bệnh

Bệnh tiên mao trùng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước quan tâm Các tác giả cho biết, bệnh tiên mao trùng có ở rất nhiều nước trên thế giới

T evansi là ký sinh trùng phân bố rộng rãi nhất trong các loài tiên mao

trùng, chúng đã gây bệnh ở hầu hết các khu vực thuộc Châu Mỹ, Châu Phi và dọc theo Ấn Độ tới Châu Âu, Châu Á

T evansi ký sinh ở ngựa, trâu, bò và nhiều động vật có vú khác Bệnh

thấy ở Bắc Phi, Châu Á, Trung và Nam nước Mỹ T evansi không có giai đoạn tiến hóa xảy ra ở vật truyền bệnh, đó là điều khác với loài T brucei

Trang 17

Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả rập Saudi, Yêmen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan Bệnh phổ biến ở các nước nhiệt đới ở Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ

Ở Châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa Trung Hải

Ở Châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine

Ở Châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria, hiện chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ)

Ở Châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia

Châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh tiên mao trùng Reid S A (2002) [38], cho rằng, bệnh tiên mao trùng phổ biến nhất ở châu Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia, Thái Lan, Lào, Camphuchia, Iran, Philippine

Luckin A G và cs (1991) [37], Davidson H C (1999) [34], ở Indonesia,

T evansi lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1899 ở trên trâu và ngựa và cho

đến năm 1996 - 1999 bằng kỹ thuật chẩn đoán ELISA phát hiện kháng nguyên cho kháng thể đã thấy tỷ lệ nhiễm ở đây rất cao gây thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi đến 22,4 triệu USD mỗi năm

Ở Philippine thì bệnh Surra đã xảy ra trên 13 khu vực Theo như báo cáo của chính phủ năm 1989 - 1997 thì loài trâu sống ở vùng đầm lầy có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất (3819 trường hợp) sau đó đến ngựa (3430 trường hợp) Tuy vậy, tỷ lệ chết cao nhất lại rơi vào ngựa (345 con chết) và ít nhất ở trâu

bò (112 con) Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng những phát hiện này khác xa với con số thực tế điều này chứng tỏ rằng ở Philippine tiên mao trùng cũng gây ra nhiều lo ngại đáng kể

Trang 18

Nguyễn Đăng Khải (1995) [9], ở Việt Nam, từ những năm 1960 trở đi bệnh tiên mao trùng đã được nghiên cứu và chứng minh được những thiệt hại

do bệnh gây nên Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi là một bệnh ký

sinh trùng đường máu khá phổ biến ở trâu, bò miền Bắc Việt Nam, nhất là trâu, bò cày kéo

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [15], bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây) Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằng nhiễm tiên mao trùng cao hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng)

Lê Ngọc Mỹ (1994) [21], điều tra tình hình nhiễm T evansi ở trâu, bò cho thấy, ở miền núi, trung du, đồng bằng, trâu, bò vẫn còn nhiễm T evansi với tỷ lệ tương đối cao Tỷ lệ nhiễm T evansi ở các tỉnh miền núi, trung du cao hơn trâu ở

đồng bằng

2.1.3 Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng

Tiên mao trùng là bệnh xảy ra ở nhiều loài gia súc của các nước trên thế giới Để nghiên cứu tìm hiểu bệnh nhằm hạn chế thiệt hại tới mức thấp nhất cho gia súc, các nhà nghiên cứu không chỉ tìm hiểu về quá trình phát triển

bệnh mà còn tìm hiểu những vật chủ trung gian truyền bệnh cho gia súc

Phạm Sỹ Lăng và cs, (2008) [16], T evansi là loại gây bệnh phổ biến

nhất trong các loại tiên mao trùng, trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu

bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch , nhưng không ký sinh ở người

Ngoài những động vật gây nhiễm T evansi tự nhiên, trong phòng thí

nghiệm có thể truyền bệnh tiên mao trùng cho các loài động vật nhỏ: chuột nhắt trắng, chuột cống trắng, thỏ, chuột lang, chồn, chó, mèo trong đó chuột

nhắt trắng và chuột cống trắng rất mẫn cảm với T evansi

Trang 19

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13], sự lây truyền tiên mao trùng

từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ

phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae) Ruồi

và mòng hút máu của gia súc bị bệnh, hút luôn cả tiên mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ Sự lây truyền này mang tính chất

cơ học Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật trung gian truyền bệnh tiên mao trùng quan trọng

Theo Phan Địch Lân (2004) [18], phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1.000 mét so với mặt nước biển, càng lên cao

số loài càng ít dần (độ cao trên 1.000 mét chỉ có 26 loài) Ở vùng trung du, rừng thưa, độ cao không quá 500 mét so với mặt nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài

Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là: Tabanus rubidus, T

triatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis

Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, T fumifer,

Chrysops vander Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến ở

tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất hiện

ở vùng có độ cao dưới 1.000mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở vùng núi

Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá)

Phan Địch Lân (2004) [18], cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy hai

loài mòng T rubidus và T striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ 15,2% và 14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỷ lệ 12,5%

Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng hút máu dễ dàng tìm thấy tiên mao trùng Sau khi máu theo vào vòi hút của ruồi và mòng,

Trang 20

tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34, trung bình là 24 giờ Sự hoạt động của tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42 Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao trùng ngừng hoạt động Trong thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của tiên mao

trùng sau khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: Thời gian từ giờ

thứ 1 đến thứ 5, tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự như khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài Điều này có thể giải thích là do độc lực của tiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực gây

bệnh cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus

2.1.1.2 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh

Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao trùng và đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu, giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất

Phan Địch Lân ( 2004) [18], đã tổng hợp kết quả điều tra 3.172 trâu ở các tỉnh đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,l%), trâu 3 -

5 tuổi nhiễm cao hơn (6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9 - 14,8%), trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi Theo Phan Văn Chinh (2006) [1], tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất ở

4 - 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3 năm tuổi (6,92% và 2,31%) Mùa lây lan bệnh thường xảy ra trong các tháng nóng

ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Thời gian này điều kiện sinh thái thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh Hút máu súc vật

và truyền tiên mao trùng

Theo Luckins A G và cs (1991) [37], sự xuất hiện lượng lớn ruồi, mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao

Trang 21

trùng ở trâu, bò, dê, lạc đà Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, trâu, bò nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ăn nên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này và trâu, bò bị đổ ngã hàng loạt Tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết khi

tiếp xúc với nước cất, cồn và thuốc sát trùng

Bệnh ký sinh trùng đường máu nói chung trong đó có bệnh tiên mao trùng trong quá trình phát sinh và phát triển có sự tham gia của vật chủ trung gian đó là ve, mòng, mà vật chủ trung gian thì tác động nhiều vào môi trường sinh thái và mùa vụ

2.1.4 Đặc điểm bệnh lý và triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng

2.1.4.1 Đặc điểm bệnh lý

Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, bò, ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da Ta có thể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò gây nhiễm thực nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiên mao trùng được tiêm truyền, (ước chừng khoảng 108 tiên mao trùng có thể gây viêm da - ở vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn tiên mao trùng phát triển ở tại chỗ viêm này

Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong bạch huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân chia theo chiều dọc Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng như nhau Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày Biểu đồ sóng tiên mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục

Trang 22

sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng

Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [16], tiên mao trùng lấy chất dinh dưỡng: đạm, đường, chất béo, chất khoáng từ máu của ký chủ bằng phương pháp thẩm thấu để duy trì sự hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh, 1 ml máu có thể có 10.000 - 30.000 tiên mao trùng Hiện tượng này đã làm cho súc vật bị bệnh gầy còm thiếu máu và mất dần khả năng sinh sản, sản xuất sữa, thịt, cũng như giảm sức đề kháng với dịch bệnh

Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin,

độc tố này gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra trong quá trình sống và độc tố

do xác chết của tiên mao trùng phân huỷ trong máu sau 15 - 30 ngày

Độc tố của tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hoà thân nhiệt, gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau) Khi sốt thường có rối loạn về thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống) Độc tố cũng phá huỷ hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần Độc tố còn tác động tới bộ máy tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá, làm con vật ỉa chảy Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh

Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc các mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thuỷ thũng chất keo vàng dưới da

2.1.4.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng do T Evansi gây ra ở trâu, bò

Ở trâu bệnh tiên mao trùng thường biểu hiện ở hai thể là thể cấp tính và thể mãn tính, tuy nhiên trong thực tế thường gặp ở dạng mãn tính là chủ yếu + Thể cấp tính:

Con vật béo tốt, đang đi làm đột nhiên bị ngã hoặc không thể làm được nữa, sốt rất cao ở trâu, là 39,50C – 41,50C, con vật thở mạnh Lúc này nếu lấy máu kiểm tra sẽ phát hiện ra tiên mao trùng Trong lúc sốt và sau cơn sốt con vật có hiện tượng bỏ ăn, miệng cắn chặt, nước miếng chảy ra liên tiếp, đầu rủ

Trang 23

xuống, nước mắt và nhử mắt chảy rất nhiều, phân nhão có lẫn máu Sau cơn sốt con vật gầy đi rất nhiều, nếu không can thiệp kịp thời thì con vật co giật, giẫy dụa và chết sau khoảng một vài giờ

Phạm Sỹ Lăng (1982) [15], đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm theo

dõi các triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng trên trâu Trâu nhiễm T

evansi thể cấp tính có các triệu chứng lâm sàng như sau: sốt cao gián đoạn,

thiếu máu, suy nhược, chảy nước mắt, bại liệt chân sau, thủy thũng dưới mỏm

ức và phần bụng sau Một số trường hợp bò nhiễm T evansi thể cấp tính chết

nhanh, chỉ trong vòng vài ngày, một số trường hợp kéo dài tới 6 tháng

+ Thể mãn tính:

Triệu chứng của trâu bị nhiễm T evansi thường không rõ ràng, chúng có

biểu hiện chung là gầy yếu và chỉ đến khi thời tiết rét, thức ăn thiếu thốn, lao tác nặng nhọc làm giảm sức đề kháng thì bệnh mới có những biểu hiện lâm sàng rõ ràng hơn Lúc này gia súc bệnh có biểu hiện sốt cách nhật, lông xù xì, mắt có nhử, giác mạc viêm hay chảy nước mũi, vùng bụng và chân sau thủy thũng Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [12] cho biết, trâu

bò bị bệnh ở bệnh mãn tính thường kéo dài, liệt hai chân sau, dần dần suy nhược rồi chết

Nhưng trên thực tế có rất ít gia súc có biểu hiện đầy đủ các triệu chứng lâm sàng, do vậy trong quá trình chẩn đoán ta có thể căn cứ vào các biểu hiện triệu chứng lâm sàng như sau:

- Sốt cao và gián đoạn: sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền tiên mao trùng, trâu thường đột ngột lên cơn sốt (400C - 41,70C) kéo dài 2 - 4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên Thời gian gián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tuỳ theo thể trọng con vật Khi sốt, kiểm tra máu thường thấy tiên mao trùng

Trang 24

- Hội chứng thần kinh: ở một số trâu, khi lên cơn sốt còn thể hiện hội chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanh kêu rống lên Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi đổ ngã vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng Sau 20 - 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được Những trâu mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng như trên thường là mắc bệnh ở thể cấp tính

Trâu, bò bị bệnh mãn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết

- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như

ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục

- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu bệnh Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ ngầu Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (củi nhãn) che kín giác mạc

- Hội chứng tiêu hoá: một số trâu bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy Các đợt ỉa chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường dai dẳng và con vật vẫn ăn được Có khoảng 30% trâu, bò bệnh thể hiện viêm ruột, ỉa chảy kéo dài sau những cơn sốt (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2011) [12]

- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau

7 - 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu Nếu bệnh kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu, bò

dễ chết Trong thực tế, có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khoẻ, làm việc bình thường khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Trang 25

Lương Văn Huấn và cs (1997) [7] cho biết, thể trạng súc bệnh gầy ốm suy nhược, sau 7 ngày có thể chết Nếu ở thể mãn tính con vật gầy rạc, lông dựng đứng xơ xác Mắt hõm sâu, cơ bắp teo dần, niêm mạc nhợt nhạt, hoàng đản Trâu bệnh có những biểu hiện gầy yếu, ủ rũ, kém vận động, bỏ ăn Khối lượng cơ thể giảm rõ rệt

Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T evansi gây ra Số

lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay đổi: bạch cầu lymphô, bạch cầu ái toan tăng nhưng bạch cầu trung tính giảm, protein tổng số và albumin giảm rõ rệt Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13], hồng cầu bị phá hoại nên số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin giảm

Phạm Sỹ Lăng (1982) [15], cho biết, khi protein tổng số và albumin giảm thì các thành phần α, β và γ globulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5

Theo các tác giả trong và ngoài nước, triệu bệnh chứng tương đối điển hình của gia súc chửa đẻ, đó là hiện tượng gia súc bị sảy thai có nhiều

Trypanosoma evansi Ở Việt Nam, Bùi Quý Huy (2006) [8], đã xác nhận một

ổ dịch ở trâu Murrah (Cúc Phương - Ninh Bình) sảy thai có tiên mao trùng trong máu Nguyễn Đăng Khải (1995) [9] cho biết, năm 1987 lần đầu tiên những ca sảy thai do tiên mao trùng đã được chẩn đoán và ghi nhận trên đàn trâu Murrah nuôi tại trung tâm Phùng Thượng Tổng số có 28 con bị sẩy thai chiếm 46,6% số trâu chửa đẻ Qua xét nghiệm toàn đàn 34/78 trâu dương tính

với Trypanosoma evansi sau khi đã loại trừ Brucella và Leptospira Sử dụng

naganin để điều trị bệnh, hiện tượng sảy thai đã được ngừng lại nhanh chóng Tác giả còn cho biết tháng 1 năm 1991 tại huyện Mường Khương, bệnh tiên mao trùng đã làm chết 26 trâu và sảy thai 60 trâu

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [12], hầu hết trâu bò sữa bị bệnh thì suy nhược, mất dần khả năng sinh sản và giảm lượng sữa 30 -

Trang 26

50%, có thể chết do kiệt sức Trâu cái bị sảy thai vào tháng thứ 7 - 8 khi

bị bệnh tiên mao trùng

Theo Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4], các triệu chứng lâm sàng

chủ yếu ở thỏ nhiễm T evansi gồm:

- Thủy thũng tai (tai cụp xuống) ở ngày 25 – 52

- Thủy thũng bẹn ở ngày 25 – 36

- Thủy thũng mi mắt (mắt có nhử) ngày 26 – 52

- Khó thở ở ngày 26 – 52

- Phân nhão ở ngày 15 – 30

2.1.4.3 Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [11], trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng khi chết gầy xơ xác, mổ khám thấy có những biến đổi bệnh tích đại thể rõ rệt ở

hệ tuần hoàn và hô hấp: tim nhão, xoang bao tim tích nước vàng; phổi sung huyết và tụ máu từng đám nhỏ; gan sưng to, nhạt màu; lách sưng, mềm nhũn và nhạt màu; hạch lâm ba sưng và có tụ máu trong hạch; cơ nhão, màu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước; xoang ngực và xoang bụng tích dịch màu vàng nhạt; có những đám keo nhầy vàng dưới vùng da thủy thũng

Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4], T evansi gây cho thỏ một thể

bệnh toàn thân, khi mổ thỏ bệnh ở ngày 70 thấy bệnh tích đại thể như sau: bao tim có dịch màu vàng; gan cứng; lách nhũn; phổi bám dính màu vàng, có vùng bị khí thũng; một số khớp bị viêm, trong có dịch màu vàng

2.1.5 Phương pháp chẩn đoán bệnh

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13], việc chẩn đoán tương đối khó khăn vì căn bệnh có khi ở mạch máu ngoại vi, có khi không Do đó phải chẩn đoán tổng hợp, gồm các biện pháp sau:

- Căn cứ vào triệu chứng điển hình: sốt lên xuống, thủy thũng, có triệu

chứng thần kinh

Trang 27

- Dựa vào đặc điểm dịch tễ của bệnh: vùng mắc bệnh, mùa phát bệnh,

vật môi giới truyền bệnh

- Điều trị chẩn đoán: dùng một trong ba loại thuốc đặc hiệu để điều trị

chẩn đoán: berenil, trypamidium, nagainin

2.1.5.1 Chẩn đoán lâm sàng

Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [11] cho biết, các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện Rất nhiều gia súc mang bệnh nhưng khó phát hiện triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc mắc bệnh tiên mao trùng mãn tính Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên loạn) và chết nhanh Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982) [15] Triệu chứng sảy thai có thể thấy ở trâu cái ở tháng thứ 7 - 8 tháng bị bệnh tiên mao trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2011) [12]

Nguyễn Đăng Khải (1995) [9], triệu chứng sảy thai có thể thấy ở trâu, bò mắc bệnh tiên mao trùng

2.1.5.2 Chẩn đoán thí nghiệm

Mục đích của chẩn đoán trong phòng thí nghiệm là phát hiện tiên mao trùng trong máu của gia súc Tùy từng trường hợp bệnh, tuỳ điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao

* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp

Có thể áp dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp xem tươi (Direct smear)

Khi bệnh súc sốt, T evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi

Vì vậy, trường hợp này nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi Cho 1 giọt

Trang 28

máu nhỏ lên phiến kính, đậy lamen lên giọt máu để giọt máu dàn theo lamen thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 và 10 x 40)

để phát hiện tiên mao trùng sống

- Phương pháp nhuộm giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky),

Đặt một giọt máu tươi cách 1 đầu phiến kính khoảng 2 cm, đặt cạnh của một lamen lên giọt máu, nghiêng 450 với phiến kính Khi máu đã lan hết cạnh lamen, đẩy nhẹ lamen trên phiến kính để dàn máu thành một lớp mỏng Để khô, cố định bằng cồn methanol trong 2 phút Nhuộm giemsa trong 25 phút (dung dịch giemsa mẹ pha trong nước cất theo tỷ lệ 1: 9)

Để nghiêng tiêu bản dưới vòi nước chảy nhẹ cho trôi hết giemsa thừa, để khô tiêu bản, soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100) tìm tiên mao trùng + Phương pháp làm tan hồng cầu: dung dịch SDS (Sodium Dodecyl Sulfat) là chất làm tan hồng cầu Nhờ dung dịch SDS, tiên mao trùng dễ dàng được phát hiện trong máu Dung dịch SDS rất độc nên tránh tiếp xúc với da

và tránh hút bằng pipet Dung dịch SDS dễ bảo quản ở nhiệt độ thường trong nhiều tháng (Van Meirvenne N., 1989) [48]

* Phương pháp tập trung tiên mao trùng:

Người ta đã sử dụng phương pháp ly tâm tập trung tiên mao trùng bằng ống Haematocrit hoặc tách tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose

- Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit: cho máu động vật nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống được bịt kín bằng chất dẻo matit, một đầu ống để hở Ly tâm với tốc độ 14.000 vòng/phút trong 5 phút Sau đó kiểm tra sự tập trung của tiên mao trùng tại vị trí tiếp giáp giữa huyết tương và hồng cầu (độ phóng đại 10 x 10)

Với ống Haematocrit trên, có thể thực hiện phương pháp Darkground: cắt ống ở vị trí tiên mao trùng tập trung (ranh giới giữa huyết tương và hồng cầu), dùng pipet lấy một ít huyết tương ở vị trí đó đặt lên phiến kính, đậy

Trang 29

lamen và kiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40)

- Phương pháp tách tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose - PSG (PSG: Phosphat Saline Glucose) mang điện tích dương đã liên kết và giữ lại các thành phần mang điện tích âm có trong máu là hồng cầu và tiểu cầu Còn lại, tiên mao trùng được tách ra cùng với dung dịch PSG và huyết tương Bằng phương pháp này, có thể tách được trên 96% tiên mao trùng

* Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:

Lê Ngọc Mỹ (1994) [21], Đoàn Văn Phúc (1994) [24] cho biết, đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng dụng nhiều

để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Phương pháp này có ưu điểm

là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược điểm của phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh, với số lượng nhiều và thời gian ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng được

Các phương pháp trên có đặc điểm chung là phát hiện được tiên mao trùng nhưng không triệt để, cho tỷ lệ thấp trên con vật mới nhiễm bệnh dưới một tháng Chính vì vậy, trong thực tế có nhiều trường hợp không tìm thấy tiên mao trùng trong con vật mới nhiễm do không phải lúc nào tiên mao trùng cũng có ở máu ngoại biên Do đó, ngày nay người ta thường áp dụng các phương pháp huyết thanh học và sinh học phân tử

* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học:

Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng nguyên tiên mao trùng Đây là các phương pháp huyết thanh học đặc hiệu

+ Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test):

Phạm Sỹ Lăng (1982) [15] cho biết, ngưng kết trên phiến kính giữa kháng nguyên tiên mao trùng sống có sẵn, kiểm tra trên huyết thanh động vật

Trang 30

nghi nhiễm có độ chính xác là 70 - 80% Theo Đoàn Văn Phúc (1994) [24],

Lê Ngọc Vinh (1992) [30], phương pháp được tiến hành như sau: Hoà tan 1 giọt huyết thanh trâu, bò nghi mắc bệnh vào 1 giọt nước muối sinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều tiên mao trùng vào, trộn đều, đậy lamen và soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 hoặc 10 x 40) Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là dương tính và ngược lại là âm tính Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng

+ Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test)

LATEX là phương pháp được dùng để phát hiện kháng thể lưu động có trong máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng

Nguyên lý của phương pháp LATEX: khi kháng nguyên bề mặt T

evansi gắn lên các hạt latex kết hợp với kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao

trùng ở trên bản nhựa, thì sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết giữa kháng nguyên với kháng thể Hiện tượng ngưng kết có thể quan sát được bằng mắt thường,

và được giải thích là do kháng nguyên bề mặt tiên mao trùng được gắn lên các hạt latex là loại kháng nguyên hữu hình, có nhiều điểm quyết định tính kháng nguyên bề mặt (epitop surface) Còn kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng lại có nhiều điểm thụ thể (receptor) tương ứng, đặc hiệu với các điểm quyết định của kháng nguyên Do đó, khi kháng nguyên tiên mao trùng gặp kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng, sẽ có hiện tượng một phân tử kháng thể đặc hiệu liên kết với nhiều phân tử kháng nguyên và ngược lại Kết quả là các hạt latex cùng với kháng nguyên chụm lại, tạo thành đám ngưng kết có thể quan sát bằng mắt thường Kháng nguyên dùng cho phản ứng là kháng

nguyên bề mặt được tinh chế từ chủng T evansi không nhuộm màu

Phương pháp này có thể ứng dụng để chẩn đoán nhanh, số lượng nhiều, tỷ lệ phát hiện cao Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là

có thể có phản ứng giả khi pha loãng huyết thanh dương tính ở nồng độ

Trang 31

thấp 1/2, 1/4 và cả ngay khi con vật khỏi bệnh nhưng vẫn còn kháng thể tồn tại trong huyết thanh Mặt khác, phải nhập kháng nguyên của nước ngoài nên giá thành rất cao

+ Phương pháp ngưng kết trên bản nhựa (CATT - Card Agglutination Test for Trypanomiasis)

Đây là phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng thể trên bản nhựa, được dùng để phát hiện kháng thể lưu động trong máu động vật nhiễm bệnh

Nguyên lý: kháng nguyên tiên mao trùng đã được nhuộm màu kết hợp với kháng thể tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh

Cách tiến hành: Dùng micropipette pha loãng huyết thanh theo tỷ lệ cần chẩn đoán (1/8) Cho các mẫu huyết thanh cần chẩn đoán đã được pha loãng lần lượt vào các vòng tròn của bản CATT, cho kháng nguyên đối chứng vào hai vòng tròn khác của bản, mỗi loại 1 giọt (tương đương 45 µl) Sau đó cho vào tất cả các vòng tròn trên bản CATT 1 giọt kháng nguyên chuẩn Dùng que nhựa trộn đều và đánh giá kết quả

Điểm khác của phương pháp này so với phương pháp LATEX là kháng nguyên dùng cho phản ứng này được nhuộm bằng dung dịch Commassie Blue sau đó đem đông khô Lương Tố Thu và cs (1996) [27], ứng dụng phương pháp Kit CATT ở Việt Nam để điều tiết bệnh tiên mao trùng, cho biết phương pháp này dễ sử dụng, có độ nhạy, độ đặc hiệu cao Theo tác giả độ nhạy của CATT gần gấp đôi phương pháp tiêm truyền chuột bạch (độ nhạy CATT

73,75%; tiêm truyền chuột bạch 40%)

+ Phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect Fluorescent Antibody Test)

Luckins A G và cs (1991) [37], Davidson H C và cs (1999) [34], phản ứng này là phản ứng huyết thanh học đặc hiệu có độ nhạy cao, được ứng dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm và thực địa Ngoài việc được dùng làm phản

Trang 32

ứng chuẩn để so sánh với các phương pháp huyết thanh khác, phương pháp IFAT dùng trong nghiên cứu các dòng kháng nguyên, phát hiện kháng thể Trong phương pháp IFAT, huyết thanh dương chuẩn được lấy từ trâu, bò mắc bệnh tiên mao trùng, huyết thanh âm chuẩn được lấy từ trâu, bò khoẻ mạnh, huyết thanh cần chẩn đoán là huyết thanh lấy từ gia súc nghi mắc bệnh Ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam, Lương Tố Thu (1994) [26], đã chế tạo conjugate huỳnh quang trên thỏ kháng IgG của bò để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Độ pha loãng của conjugate tự chế sử dụng cho phản ứng là 1/8 và huyết thanh chuẩn pha loãng ớ 1/40 Theo Lương Tố Thu và cs (1996) [27], độ nhạy của phương pháp IFAT là 71,25%, trong khi phương pháp tiêm truyền chuột bạch là 40%

Vương Thị Lan Phương (2004) [25] cho biết, tinh chế kháng nguyên T

evansi dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp để chẩn đoán

bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò đã nghiên cứu kháng nguyên bề mặt T evansi

phân lập từ trâu, bò ở 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam, thu được 6 mẫu tiên mao trùng từ 6 tỉnh, tiến hành phân dòng, phân VAT (Variable Antigenic Type) và thu được 26 VAT thuộc 6 kho kháng nguyên khác nhau

Bằng phản ứng dung giải miễn dịch và phương pháp thấm miễn dịch, tác

giả đã xác định được sự thay đổi kháng nguyên bề mặt của T evansi: Đa số

các VAT của các kho kháng nguyên khác nhau là khác nhau, chỉ có 8/26 VAT

có hiệu giá kháng thể đơn giá đặc hiệu, có phản ứng chéo với các VAT của các kho kháng nguyên khác Các VAT trội xuất hiện sớm trong 4 tuần lễ đầu nhiễm bệnh, có tính kháng nguyên mạnh có thể nghiên cứu ứng dụng chế kháng nguyên chẩn đoán Từ đó, tác giả đã tinh chế kháng nguyên theo phương pháp tách tiên mao trùng để dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao

+ Phương pháp ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay):

Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất

Trang 33

được ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng globulin (kháng kháng thể) có mang một enzym (Phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn trên mảnh Fc, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên Sau

đó, cho cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân huỷ tạo nên màu So sánh với màu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ của phản ứng

Phương pháp ELISA hiện đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Ở Việt Nam, Lê Ngọc Mỹ (2002) [22], đã bước đầu chế kháng nguyên tiên mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở nước ta

* Các phương pháp phát hiện kháng nguyên tiên mao trùng

+ Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag - ELISA)

Đây là phương pháp sử dụng phản ứng ELISA kháng nguyên để phát hiện kháng nguyên lưu động trong máu của gia súc nhiễm bệnh Phản ứng dựa trên kháng thể đơn dòng đặc hiệu với tiên mao trùng Theo Lê Ngọc Mỹ (1994) [21], đã bước đầu ứng dụng phương pháp này để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Tuy nhiên, phương pháp ELISA kháng nguyên có

độ nhậy kém hơn so với các phương pháp phát hiện tiên mao trùng cổ điển

Vì vậy, phương pháp này không được phổ biến

+ Phản ứng Suratex:

Phản ứng Suratex là phản ứng ngưng kết giữa các hạt latex được gắn kháng thể đơn dòng với kháng nguyên lưu động trong máu động vật nhiễm tiên mao trùng Phản ứng này đang được thử nghiệm và đánh giá ở thực địa

* Phương pháp phát hiện ADN của tiên mao trùng bằng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction)

PCR là phương pháp hiện đại nhất, mới được đưa vào ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trong những năm gần đầy

Nguyên lý: dựa vào phản ứng chuỗi polymerase để xác định sự có mặt gen ADN của tiên mao trùng trong máu động vật nhiễm bệnh

Trang 34

Phương pháp PCR có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại nên hiện nay mới đang được thử nghiệm tại một số phòng thí nghiệm hiện đại

2.1.6 Phòng trị bệnh

2.2.6.1 Phòng bệnh

Để phòng ngừa bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao, các nhà khoa học

đã đề nghị áp dụng 3 biện pháp sau:

+ Diệt mầm bệnh trên cơ thể ký chủ:

Theo Nguyễn Kim Lan (2012) [13]: diệt tiên mao trùng ký sinh ở vật chủ không những ngăn chặn được tác hại gây bệnh của chúng mà còn làm cho bệnh mất khả năng lây lan Các biện pháp cụ thể là:

- Phát hiện gia súc nhiễm tiên mao trùng ở vùng có bệnh và những vùng lân cận, nhốt riêng trong chuồng có lưới để ngăn côn trùng và điều trị triệt để cho gia súc bệnh

- Ở vùng không có bệnh thì không nhập gia súc từ vùng có bệnh về Chỉ nhập những gia súc khoẻ (có kết quả kiểm tra âm tính với tiên mao trùng), song vẫn cần nhốt riêng để theo dõi Nếu không bị bệnh mới cho nhập đàn

- Phát hiện và diệt những loài thú hoang nghi là nguồn tàng trữ mầm bệnh, hoặc không chăn thả gia súc trong những khu vực có loài đó sinh sống

* Diệt côn trùng môi giới truyền bệnh:

- Diệt côn trùng bằng thay đổi sinh thái:

Thay đổi sinh thái là thay đổi điều kiện sống, làm cho côn trùng không sinh sản, không thực hiện được chu kỳ phát triển

Phát quang cây cối, không để nước tù đọng, ủ phân để diệt trứng và ấu trùng ruồi, mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng là các biện pháp hữu hiệu, tạo ra những điều kiện bất lợi cho đời sống của côn trùng Tuy nhiên, do côn trùng có khả năng di chuyển khá mạnh nên các biện pháp trên phải thực hiện trên phạm vi rộng mới có hiệu quả

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại một số xã - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại một số xã (Trang 46)
Hình 4.1: Thử Kit CATT và tiêm truyền chuột, xác định tỷ lệ nhiễm tiên  mao trùng tại một số xã thuộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (%) - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Hình 4.1 Thử Kit CATT và tiêm truyền chuột, xác định tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng tại một số xã thuộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (%) (Trang 47)
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi (Trang 48)
Hình 4.2: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Hình 4.2 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi (Trang 49)
Bảng 4.3: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt (Trang 50)
Hình 4.4: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Hình 4.4 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm (Trang 52)
Bảng 4.5: Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện hẹp - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Bảng 4.5 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện hẹp (Trang 54)
Hình 4.5. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Hình 4.5. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng (Trang 56)
Bảng 4.6. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Bảng 4.6. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng (Trang 56)
Bảng 4.7: Đánh giá kết quả ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh   tiên mao trùng cho trâu ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn - Ứng dụng Kit CATT ch ế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhi ễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và sử d ụng phác đồ điều trị hiệu quả.
Bảng 4.7 Đánh giá kết quả ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh tiên mao trùng cho trâu ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm