1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.

63 472 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 4,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan Thị Hồng Phúc Giảng viên khoa Chăn nuôi thú y - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên Trang 2 LỜI CẢM ƠN Sau 4 năm học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và 5 tháng thực t

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HỨA THỊ HUỆ

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA

LỢN TẠI HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Thú y

Giảng viên hướng dẫn : TS Phan Thị Hồng Phúc

Giảng viên khoa Chăn nuôi thú y - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau 4 năm học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và 5 tháng thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ và chỉ bảo ân cần của các thầy cô giáo trong trường, lãnh đạo và toàn thể các cán bộ của Chi cục thú y tỉnh Quảng Ninh và Trạm thú y huyện Hải Hà, đặc biệt là các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, đến nay em đã hoàn thành khóa học và khóa luận tốt

nghiệp với đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn

tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị”

Với lòng biết ơn vô hạn, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới: Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Ban chủ nhiệm Khoa và tập thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dìu dắt và dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn

TS Phan Thị Hồng Phúc đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá

trình thực tập và hoàn thành bản khóa luận này

Qua đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo và toàn thể các cán bộ của Chi cục Thú y tỉnh Quảng Ninh và trạm Thú y huyện Hải Hà và đồng chí Trương Thị Hoài Thu học viên cao học khóa 21 đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và trực tiếp giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở

Nhân dịp này, em cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện vật chất cũng như tinh thần, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình

thực tập

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 5 tháng 12 năm 2014

Sinh viên

Hứa Thị Huệ

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

A.suum : Ascaris suum

cs : cộng sự Nxb : Nhà xuất bản PTCN : Phương thức chăn nuôi

TT : Thể trọng

tr : trang VSTY : Vệ sinh thú y

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn tại một số xã thuộc huyện

Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 26 Bảng 4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi lợn 28 Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn 31 Bảng 4.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 32 Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tháng trong năm 34 Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo phương thức chăn nuôi 35 Bảng 4.7 Sự ô nhiễm trứng giun đũa ở ngoại cảnh 37 Bảng 4.8 Thời gian trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh

trong phân ở ngoại cảnh 38 Bảng 4.9 Thời gian sống của trứng giun đũa có sức gây bệnh trong phân ở

ngoại cảnh 39 Bảng 4.10 Biểu hiện lâm sàng của lợn nhiễm giun đũa 40 Bảng 4.11 Bệnh tích đại thể bệnh giun đũa ở lợn 41 Bảng 4.12 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể trong số tiêu bản nghiên cứu 42 Bảng 4.13 So sánh số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố

giữa lợn bị bệnh giun đũa và lợn khoẻ 45 Bảng 4.14 So sánh công thức bạch giữa lợn bị bệnh giun đũa và lợn khoẻ 46 Bảng 4.15 Hiệu lực của thuốc tẩy giun đũa lợn 47

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc huyện

Hải Hà 27

Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện cường độ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc huyện Hải Hà 27

Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ và cường độ nhiễm theo tuổi lợn 30

Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo giống lợn 31

Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh thú y 33

Hình 4.6 Niêm mạc ruột bị thoái hóa, long tróc 43

Hình 4.7.Lông nhung ruột bị tổn thương, một số bị đứt, nát 44

Hình 4.8 Các tế bào viêm, bạch cầu ái toan (1) và hồng cầu (2) xuất hiện nhiều ở niêm mạc ruột 44

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

1.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 13

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 13

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 15

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Đối tượng nghiên cứu 17

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17

3.3.Nội dung nghiên cứu 17

3.3.1.Tình hình nhiễm giun đũa lợn tại một số địa phương thuộc huyện Hải Hà 17

3.3.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun đũa lợn ở ngoại cảnh 18

3.3.3 Nghiên cứu bệnh giun đũa lợn (Ascariosis) 18

3.3.4.Biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho lợn 18

3.4 Phương pháp nghiên cứu 18

3.4.1 Phương pháp lấy mẫu 18

3.4.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu 19

3.4.3 Phương pháp xác định thời gian phát triển và tồn tại của trứng giun đũa có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh 20

3.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun đũa 21

Trang 7

3.4.5 Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết học của

lợn bị bệnh giun đũa và lợn khỏe 21

3.4.6 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể, vi thể 21

3.4.7 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy giun đũa lợn 22

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 23

3.5.1 Một số tham số thống kê 23

3.5.2 Một số công thức tính tỷ lệ (%) 25

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1.Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 26

4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi lợn 28

4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn 30

4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 32

4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tháng trong năm 34

4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi 34

4.7 Sự ô nhiễm trứng giun đũa lợn ở nền chuồng nuôi, xung quanh chuồng và vườn bãi trồng cây thức ăn cho lợn 36

4.8 Thời gian trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh 37

4.9 Thời gian sống của trứng giun đũa lợn có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh 39

4.10 Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa ở lợn 40

4.11 Bệnh tích đại thể của lợn nhiễm giun đũa 41

4.12 Biến đổi vi thể của lợn nhiễm giun đũa 42

4.13 So sánh số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố giữa lợn bị nhiễm giun đũa và lợn khoẻ 45

4.14 So sánh công thức bạch cầu của lợn bị bệnh giun đũa và lợn khoẻ 45

Trang 8

4.15 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa cho lợn 46

4.16 Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho lợn 48

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

I Tài liệu tiếng Việt 51

II Tài liệu dịch 53

III Tài liệu tiếng Anh 53

Trang 9

Chăn nuôi lợn giữ vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp ở Việt Nam Cung cấp phần lớn thực phẩm cho con người, phân bón cho ngành trồng trọt và các sản phẩm phụ: da, lông, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến Chăn nuôi lợn còn góp phần rất lớn trong vấn đề giải quyết việc làm ở nông thôn, xóa đói giảm nghèo và cơ hội làm giàu cho nông dân

Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm có tính chất lây lan mạnh, gây thiệt hại lớn thì bệnh ký sinh trùng cũng gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi Bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun đũa ở lợn nói riêng không gây chết lợn ngay nhưng chúng làm cho lợn mắc bệnh trở lên còi cọc, chậm lớn… ảnh hưởng đến sinh trưởng, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm

Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh giun đũa gây ra trên đàn lợn, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất trên cơ sở thừa kế kết quả của các tác giả trong và ngoài nước, chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài:

Trang 10

“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn tại huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị”

1.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn tại một số

xã thuộc huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

- Xác định hiệu lực tẩy của một số loại thuốc tẩy giun đũa lợn

1.2 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ những thông tin về bệnh giun đũa lợn, có cơ sở khoa học

để đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun đũa lợn Từ đó sử dụng các biện pháp điều trị

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: đề tài là thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn tại huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh; về một số đặc điểm bệnh lý lâm sàng ở lợn do giun đũa gây ra

- Ý nghĩa thực tiễn: đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh một cách hiệu quả, từ đó hạn chế những thiệt hại cho ngành chăn nuôi lợn

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa thường là những bệnh tiến triển thể thể mãn tính, triệu chứng không rõ, thường bị triệu chứng của các bệnh khác che lấp Do đó chính những con vật bị nhiễm đã trở thành nguồn reo rắc mầm bệnh ra bên ngoài và lây ra các con khác làm cho bệnh càng có điều kiện phát triển mạnh ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của vật nuôi

*Đặc điểm hình thái, kích thước của giun đũa lợn

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [6] giun đũa lợn thuộc họ Ascaridae, loài Ascaris suum ký sinh ở ruột non lợn: giun màu trắng sữa, hình ống, hai đầu

hơi nhọn Đầu giun đũa có 3 môi bao bọc quanh miệng (1 môi ở phía lưng, 2 môi ở phía bụng) Trên rìa môi có một hàng răng cưa rất rõ, cấu tạo của răng này rất khác nhau giữa hai loài giun đũa Giun đực dài 12 - 22cm, đường kính 2,7 - 3mm Đoạn đuôi cong về phía bụng Trên mặt bụng ở mỗi bên có từ

69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt khác xếp trên một rồi trên hai hàng, một gai thịt lẻ ở trước hậu môn Con cái dài từ 29 - 35cm, đường kính 4 - 5mm, đoạn sau thẳng Đuôi mang hậu môn về phía bụng, hậu môn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên, âm hộ có hình dáng một lỗ nhỏ, hình bầu dục ở về phía bụng khoảng 1/3 đoạn trước thân

Phân biệt giữa giun đực và giun cái là giun đực nhỏ, đuôi cong về mặt bụng, đuôi giun cái thẳng Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau, khoảng cách 1,2 - 2mm không có túi giao hợp

Trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước từ 0,056 - 0,087mm x 0,046 - 0,067mm, vỏ dày gồm 4 lớp vỏ, lớp ngoài cùng là màng protit, màu vàng cánh dán, nhấp nhô làn sóng

Trang 12

*Vòng đời của giun đũa lợn

Theo Phan Lục (2006) [12], giun đũa ký sinh ở ruột non Sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng, số lượng trứng từ 10.000 - 150.000 trứng/ngày Trứng theo phân ra môi trường ngoài, sau 2 - 3 tuần trong trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm Nếu lợn nuốt phải trứng có chứa ấu trùng gây nhiễm ở đường tiêu hoá, ấu trùng được giải phóng ra xuyên qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch màng treo, theo tuần hoàn về tim, phổi Ấu trùng được ho lên miệng, cùng niêm dịch viêm phổi trở lại đường tiêu hoá, lột xác thành giun trưởng thành, ký sinh ở ruột

non và tiếp tục đẻ trứng sau 2 - 2,5 tháng

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [6], cho biết: vòng di chuyển của giun đũa và vòng di chuyển từ gan - phổi - ruột

(Ký sinh ở ruột non lợn) (có sức gây bệnh)

Ấu trùng Thời gian hoàn thành vòng đời của giun đũa lợn là 54 - 62 ngày Giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian Giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng Trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 24oC và độ ẩm thích hợp, được hai tuần trong trứng có phôi thai, sau một tuần nữa thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải trứng này thì ấu trùng nở ở ruột, chui vào mạch máu niêm mạc, theo máu về gan Một số ít chui vào ống lâm ba và màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột, vào gan Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày thì hầu hết ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào

Phổi< Gan< Máu< Niêm mạc ruột

Trang 13

phổi Khi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào tế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch lên hầu, rồi được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian ấu trùng di hành là 2 - 3 tuần, trong khi di hành một số ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não

Giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân Tuổi thọ của giun đũa không quá 7 - 10 ngày Nhưng nếu điều kiện sống bất lợi (ký chủ sốt cao) thì tuổi thọ giun ngắn hơn

*Sức đề kháng của giun đũa lợn

Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [20], trứng giun đũa khi thải qua phân đã có phôi Trứng tiếp tục phát triển phụ thuộc vào áp lực, oxy, nhiệt độ,

ẩm độ, môi trường

Nuôi trong phòng thí nghiệm trứng phát triển thành phôi thai bình thường trong dụng dịch formol 2% Dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp trứng bị tiêu diệt trong một tuần Theo Phạm Chức (1980) [2], trứng giun đũa phát triển bình thường trong axit axetic và axit lactic 20% nhưng axit picric đặc có thể dung giải vỏ kitin Trứng bị phá hủy trong NAOH 10% ở 70oC trong vòng

15 - 20 phút Formalin 10% làm cho trứng không nở và ấu trùng trở nên không gây nhiễm

Theo Nguyễn Thị kim Lan (2012) [6], trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1 - 2 năm, có sức đề kháng mạnh đối với một số chất hóa học như formol 2%, Creolin 3%,

H2SO4 10%, NAOH 2%

Ở nhiệt độ 45 - 50o

C chết trong nửa giờ, nước nóng 60oC diệt trứng trong 5 phút, nước 70oC chỉ cần 1 - 10 giây Vì vậy ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa

* Dịch tễ học

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [9] bệnh giun đũa lợn là bệnh phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt các nước đang phát triển của châu Á và

Trang 14

châu Phi Nguyên nhân bệnh giun đũa lợn rất phổ biến vì vòng đời của nó đơn giản, có thể truyền trực tiếp và có sức đề kháng cao

- Tuổi mắc bệnh giun đũa: Chu Thị Thơm và cs (2006) [20] cho biết, lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao và cường độ lớn ở lợn từ 3 - 5 tháng tuổi Theo Bùi Quý Huy (2006) [4], lợn từ 2 - 6 tháng tuổi mắc bệnh với tỷ lệ cao, tuy nhiên mọi lứa tuổi đều mắc Nhìn chung, lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi 2 - 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần

Nguyên nhân có tình trạng này là do điều kiện khí hậu nước ta nóng và

ẩm, thuận lợi cho trứng giun phát triển Mặt khác công tác thú y ở các cơ sở chăn nuôi mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa được thực hiện tốt, chưa ủ phân, còn bón phân tươi vào ruộng trồng cây thức ăn cho lợn

- Động vật cảm nhiễm: theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [11], lợn nhà

và lợn rừng ở các lứa tuổi 1 - 4 tháng tuổi nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao nhất

và bị bệnh nặng hơn lợn trưởng thành Lợn con dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm giun đũa 39,2%; 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 48,0%; trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 24,9%

- Đường bài xuất mầm bệnh: lợn mắc bệnh thải trứng theo phân ra ngoại cảnh Ở ngoại cảnh những trứng này được phát tán rộng rãi và bắt đầu quá trình phát triển để trở thành trứng giun đũa có sức gây bệnh

- Đường truyền bệnh: theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [1], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [6], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [11], bệnh được truyền chủ yếu qua đường miệng, qua thức ăn, nước uống có nhiễm trứng giun đũa Lợn liếm dụng cụ, máng ăn, nền chuồng và đất ở bãi chăn nên trứng dễ theo vào đường tiêu hóa Khi bón phân tươi cho cây trồng, cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng Khi lợn ăn phải sẽ bị nhiễm bệnh Lợn con nhiễm bệnh do lúc bú nhiễm phải trứng giun đũa nhiễm ở đầu vú mẹ

Trang 15

- Theo Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [13] thường 70% lợn nuôi ở các gia đình theo phương thức truyền thống như cho lợn ăn bèo, rau sống đều mắc bệnh ký sinh trùng Lợn nuôi theo phương pháp mới không cho ăn bèo, rau sống thì ít mắc bệnh hơn Lợn nuôi ở vùng đồi núi, trung du không ăn rau sống dưới nước, lợn con chưa ăn rau bèo cũng mắc bệnh

* Cơ chế sinh bệnh

Giun đũa gây bệnh cho lợn ở cả giai đoạn là ấu trùng và giai đoạn trưởng thành

Ấu trùng di hành gây tổn thương, mở đường cho vi khuẩn xâm nhập vào

cơ thể Ấu trùng di hành qua phổi làm cho bệnh suyễn lợn càng nặng hơn, tỷ

lệ phát bệnh suyễn có thể tăng gấp 10 lần Khi ấu trùng từ mạch máu vào gan gây xuất huyết lấm tấm, đồng thời gây hủy hoại tế bào gan Khi ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển tới phế bào gây vỡ mạch máu, ở phổi có nhiều điểm xuất huyết, phổi bị viêm

Khi là giun trưởng thành, do giun bám vào niêm mạc ruột non làm loét niêm mạc ruột non, gây đau bụng, nếu nhiều thì làm tắc và thủng ruột Có những trường hợp giun trưởng thành chui vào ống dẫn mật làm tắc ống dẫn mật, gây hoàng đản, làm cho con vật đau dữ dội

Sở dĩ, có tác hại này là do ba tác động sau của ký sinh trùng đến cơ thể vật chủ

Tác động cơ giới: hầu hết các ký sinh trùng đều gây nên những biến

loạn cơ giới, ngăn trở ít hay nhiều khí quan mà nó xâm nhập, làm tắc, chèn

ép, phá vỡ các tổ chức hoặc làm thủng, rách, do khí quan bám hút của ký sinh trùng mà làm tróc niêm mạc, gây xuất huyết và viêm thường gặp ở thể cấp tính, thứ cấp tính, mãn tính

Tác động đầu độc: ký sinh trùng bài tiết các chất độc hằng ngày, ký chủ

hấp thụ chất độc, sinh ra những biến loạn khác nhau nhưng thường thấy nhất

là biến loạn thần kinh và tuần hoàn Nói chung, chất độc do ấu trùng bài tiết mạnh hơn thanh trùng

Trang 16

Tác động truyền bệnh: một số loài tiết túc đốt súc vật, làm cho con vật khó

chịu có thể bị viêm ngoài da nhưng không nguy hiểm mà cái nguy hiểm là chúng truyền bệnh truyền nhiễm có thể thành dịch lưu hành giết hại nhiều súc vật

* Triệu chứng:

Theo Chu Thị Thơm và cs, 2006 [19] lợn nhiễm ít giun, triệu chứng không rõ Bệnh giun đũa thường biểu hiện rõ ở những lợn nuôi thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin, nhiễm nhiều giun

Phạm Sỹ Lăng (2007) [10] cho biết, bệnh giun đũa thường có triệu chứng rõ rệt và tác hại nhiều ở lợn 2 - 4 tháng tuổi

Giun ký sinh trong ruột non của lợn, lấy chất dinh dưỡng từ ký chủ, tiết độc tố Lợn trưởng thành biểu hiện lâm sàng không rõ, phần nhiều mang giun đũa, trở thành nguồn reo rắc mầm bệnh: gầy, chậm lớn, sút cân, rối loạn tiêu hóa Từ đó con vật gầy yếu suy nhược, còi cọc, thiếu máu Lúc này bệnh hay thể hiện ở thể mãn tính

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] khi ấu trùng ở phổi gây viêm phổi (thân nhiệt cao, ăn kém, hô hấp nhanh, ho) Khi nhiều giun thì làm tắc, thủng ruột, đau bụng Một số con có triệu chứng thần kinh, nổi mẩn Lợn lớn thì triệu chứng không rõ

Thể cấp tính ít xảy ra, thường gặp ở giai đoạn ấu trùng di hành trong cơ thể và trong điều kiện nuôi dưỡng kém Biểu hiện con vật suy nhược, kém ăn,

ỉa chảy, chướng bụng, miệng hôi, sốt, gan sưng và đau, thiếu máu, vàng da và niêm mạc, đôi khi có triệu chứng thần kinh: đi xiêu vẹo, quay cuồng kiệt sức Lợn nhiễm trứng giun đũa nặng có các biến chứng: co giật do độc tố tác động đến hệ thần kinh trung ương, tắc ruột, tắc ống dẫn mật do quá nhiều giun đũa Đôi khi giun đũa chọc thủng ruột chui vào xoang bụng, con vật chết đột ngột hoặc viêm phúc mạc cấp

Trang 17

* Bệnh tích

Lương Văn Huấn và cs (1997) [3], Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [9], đã

mô tả những tổn thương bệnh lý qua mổ khám những lợn nhiễm giun đũa nặng như sau:

Khi viêm phổi thấy trên mặt phổi có đám xuất huyết màu hồng thẫm, có nhiều ấu trùng giun đũa ở phổi

Trường hợp nhiễm giun đũa với số lượng lớn thì lòng ruột giãn rộng và sưng to, gan phổi viêm, xơ hoá thành những vệt dài, ruột viêm cata, khi ruột

bị vỡ thì gây viêm phúc mạc và xuất huyết

Mổ khám lợn bị nhiễm giun đũa nặng thấy ruột có nhiều giun, lòng ruột chứa nhiều dịch nhầy, niêm mạc ruột có tổn thương, tăng sinh dày ra Bề mặt gan có nhiều điểm hoại tử màu trắng Nếu viêm cata thứ phát sẽ thấy niêm mạc dạ dày, ruột có tụ huyết từng đám, đôi khi có vết loét

* Chẩn đoán

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [6], chẩn đoán bệnh đối với con vật sống, kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi tìm trứng giun Có thể dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên pha loãng 1:200 tiêm nội bì vành ngoài tai hoặc nhỏ vào xoang kết mạc mắt) phương pháp này rất tốt, không gây phản ứng chéo với các giun khác, có kết quả dương tính sau khi nhiễm giun đũa 8 - 11 ngày

Đối với súc vật chết, mổ khám tìm giun trưởng thành, ấu trùng và kiểm tra bệnh tích Lợn dưới hai tháng tuổi: mổ khám tìm ấu trùng giun ở phổi vì giun chưa đẻ trứng

* Phòng bệnh

Phòng bệnh ký sinh trùng có nhiều biện pháp nhưng đều nhằm mục đích không cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển, thực hiện tốt các chu trình tiến hóa của nó, để nó không thể sinh ra ký sinh trùng trưởng thành mới được Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], các phương pháp tấn công

ký sinh trùng ở từng giai đoạn như sau:

Trang 18

Giai đoạn thứ nhất: ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở ký chủ cuối cùng Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp: dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh trùng (việc tẩy ký sinh trùng này có tính chất dự phòng, tức là thực hiện trước khi súc vật phát hành triệu chứng bệnh và trước khi súc vật reo rắc mầm bệnh ra bên ngoài môi trường), tiêu diệt ký sinh trùng bằng cách giết tất cả những vật mắc bệnh (phương pháp này triệt để nhưng tốn kém mặc dù thịt súc vật vẫn sử dụng được)

Giai đoạn thứ hai: trứng Có thể dùng hai phương pháp: tiêu diệt hầu hết trứng bằng cách thu nhặt hết phân của gia súc ốm trong chuồng và đem chôn (biện pháp này phải làm đi làm lại nhiều lần để trứng không có thời gian phát triển thành phôi thai) hoặc có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học Đối với súc vật chăn thả, phải ngăn không cho trứng trên đồng cỏ phát triển bằng cách làm cho đồng cỏ khô ráo

Giai đoạn thứ ba và thứ tư: phôi thai và ấu trùng tự do ngoài thiên nhiên có hai cách:

Diệt toàn bộ phôi thai và ấu trùng ngoài đồng cỏ và ao tù bằng vôi bột, sunfat sắt, sunfat đồng với lượng dùng 400 kg cho 1 ha đồng cỏ, 5 kg cho

cả các biện pháp cơ giới, vật lý, hóa học, sinh vật học nhằm tiêu diệt ký sinh trùng trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt ký sinh trùng ngoại giới, tiêu diệt ký sinh trùng

ở tất cả các giai đoạn phát dục, tiêu diệt ký sinh trùng ở cả người và gia súc

Về mặt điều trị gia súc bệnh, nội dung của nó cũng là dự phòng: chữa cho súc vật khỏi bệnh, diệt được ký sinh trùng trong cơ thể súc vật là trừ được một con vật mang ký sinh trùng, trừ được một nguồn gieo mầm bệnh

Trang 19

Như vậy, đối với con vật mắc bệnh là điều trị nhưng đối với các con khác là tích cực đề phòng Vì vậy, việc phòng và trị bệnh giun sán tuy là hai vấn đề khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau để tiêu diệt giun sán tận gốc, tránh lây lan mầm bệnh

Mỗi hộ gia đình, mỗi trại chăn nuôi cần phải thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp như sau:

+ Định kỳ cho thuốc tẩy giun sán

+ Dùng thuốc đặc hiệu để tẩy giun sán, chống tái nhiễm, bội nhiễm + Nuôi dưỡng chăm sóc tốt

+ Xử lý phân để diệt các mầm bệnh giun sán

+ Điều trị trên quy mô lớn

+ Để đảm bảo vệ sinh chuồng trại và môi trường hạn chế việc lây nhiễm mầm bệnh

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [7], căn cứ vào kết quả nghiên cứu sinh thái, chu trình sinh học của giun đũa lợn, kết quả nghiên cứu của thuốc điều trị giun đũa cần thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp và các khâu sau:

Diệt căn bệnh ở cơ thể lợn:

+ Đối với từng cá thể: tẩy giun 3 tháng 1 lần Nếu sau khi tẩy, vệ sinh tốt, cho ăn thức ăn chín một đời lợn bột thì chỉ cần tẩy 1 lần vào lúc tách mẹ + Đối với lợn nuôi tập trung: cả đàn lợn 100 - 1000 con, 3 - 4 tháng/1 lần tẩy giun, cho tất cả lợn ở diện cần tẩy (lợn con mới tách mẹ, lợn mới tách con, lợn nuôi thịt và các loại lợn khác)

- Đảm bảo vệ sinh chuồng trại và môi trường, hạn chế việc lây lan mầm bệnh cho lợn Vệ sinh thức ăn nước uống Không nên cho lợn ăn sống các loại rau được tưới bằng phân tươi

- Ủ phân để diệt trứng giun, ngăn ngừa sự phát tán mầm bệnh ra ngoài

Ủ bằng phương pháp nhiệt sinh học để diệt trứng và ấu trùng

- Xử lý phân theo các biện pháp sau:

+ Dùng ánh sánh mặt trời, nhiệt độ để diệt mầm bệnh (như phơi các dụng cụ chăn nuôi )

Trang 20

+ Dùng hóa chất để diệt trứng và ấu trùng

+ Biện pháp sinh học: ủ phân

Nguyên lý của biện pháp ủ phân: lợi dụng hệ vi sinh vật yếm khí và hiếu khí phân hủy và lên men các chất hữu cơ ở trong phân làm nhiệt độ phân tăng lên (55 - 60oC), ở nhiệt độ đó có thể diệt trứng và ấu trùng giun đũa Đây

là biện pháp đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả cao, tốn ít công sức và tiền bạc, không gây ảnh hưởng đến súc vật, đảm bảo vệ sinh môi trường cho người và súc vật

Nguyên lý ủ: phân chuồng + lá xanh + vôi bột + tro bếp

+ Ủ nổi trên mặt đất: trộn 4 loại trên, đem đánh đống để ủ, bên ngoài trát bùn dày 10cm

+ Ủ chìm: trộn 4 loại trên, đào hố ủ sâu dưới đất và bên trên trát bùn dày 10cm

- Silici flucorat natri (Na2SiF6): không cần nhịn ăn trước và sau khi cho thuốc Trộn lẫn với thức ăn ngon cho lợn ăn hết liều Hiệu quả đạt 75 - 100% Lợn 4 - 6 kg: 1,2 g chia đều cho mỗi bữa 0,2 g

Lợn 7 - 20 kg: 1,8 g chia đều cho mỗi bữa 0,3 g

Lợn 20 - 40 kg: 3,0 g chia đều cho mỗi bữa 0,5 g

- Piperazin hydrat: 250 mg/kg TT Trộn thuốc vào thức ăn ngon cho lợn

ăn hoặc pha nước uống Nếu lợn trúng độc thì dùng Atropin để giải độc

- Piperazin citrate: 150mg/kg TT Trộn vào thức ăn

- Mebenvet: 0,2 g/kg TT Trộn vào thức ăn

- Levanmisol: 6 - 6,5 mg/kg TT Tiêm bắp

Trang 21

Theo Trịnh Văn Thịnh (1996) [17] nên tẩy giun cho lợn mẹ trước khi

đẻ 1 tháng để khỏi lấy bệnh sang lợn con Lợn thịt phải được tẩy giun 2 lần: 1 lần sau khi cai sữa và một lần vào 4 tháng tuổi trước khi vỗ béo

- Những thuốc nam thường dùng để điều trị bệnh giun sán là:

+ Hạt cau 5 - 10 g, tùy theo lợn lớn, nhỏ

+ Sử quân tử (bột) 20 g

+ Vỏ rễ xoan: 20 g, cạo sạch vỏ ngoài, thái mỏng ngâm vào nước trong, để cách đêm, sang hôm sau gạn lấy nước, hòa thêm bột diêm sinh 10 g, cho lợn uống lúc đói Cho uống 3 sáng liền Liều này dùng cho lợn nặng trên 20 kg

+ Lá đu đủ tươi 200 g, thái nhỏ, trộn với 15 - 20 kg cám, ăn vào buổi sáng, sau khi ăn cho lợn nhịn ăn 1 bữa

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [9] cho biết, có thể tẩy giun đũa cho lợn bằng một trong các hóa dược sau:

- Febetel: 20 mg/kg TT Cho uống

- Menbedazol: 5 mg/kg TT Cho uống

Levamisol, Mebendazol, Ivermectin,

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Giun đũa lợn được phân bố rộng khắp trong toàn quốc, gây bệnh vào tất cả các tháng trong năm, gây bệnh cho lợn mọi lứa tuổi, mọi giống lợn và gây bệnh cho cả lợn chăn nuôi hộ gia đình và chăn nuôi tập trung

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [6] bệnh giun đũa lợn là một bệnh phổ biến ở nước ta, lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao từ 13,2% - 43,6% (điều tra qua mổ khám lợn ở các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Ninh, Yên Bái ) Bệnh phân bố ở tất cả các vùng núi, trung du và đồng bằng Biến động theo độ , lợn

Trang 22

nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao ở lứa tuổi dưới 4 tháng tuổi sau đó tỷ lệ nhiễm giảm dần

Nguyễn Thiện và cs (2004) [18] cho biết, trứng giun đũa lợn có khả năng sống rất lâu từ 11 - 24 tháng vì trứng có sức đề kháng rất mạnh với tất cả

cá hóa chất (kiềm, axit), chống đỡ kém với thời tiết khô ráo và ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Tuổi thọ của giun đũa lợn khoảng 7 - 10 tháng Hết tuổi thọ giun đũa theo phân ra ngoài Gặp điều kiện không thuận lợi (con vật bị bệnh truyền nhiễm, sốt cao ) thì tuổi thọ của giun đũa ngắn lại Số lượng giun có thể vài con đến hàng nghìn con trên một cơ thể lợn

Trương Thị Thu Trang (2010) [21], nghiên cứu bệnh giun đũa lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên với tổng số 2022 mẫu phân lợn kiểm tra có 805 mẫu phân lợn nhiễm giun đũa , tỷ lệ nhiễm chung là 39,81% trong đó cường độ nhiễm nặng và rất nặng chiếm 11,92%

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhiễm giun sán trên đàn lợn tại một số địa phương vùng đồng bằng Sông Hồng, Trần Văn Quyên

và cs (2008) [16] cho biết: xét nghiệm 221 mẫu phân lợn tại một số địa phương, kết quả cho thấy lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ 22,4 - 37,3%

Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [1] biện pháp phòng và trị bệnh giun đũa đối với lợn con từ sơ sinh đến 2,5 tháng tuổi phải tẩy giun một lần Sau 2 - 3 tháng phải tẩy giun lần 2 Nếu để nái phải tẩy giun lần 3 trước khi phối giống Nguyễn Phước Tương (2002) [20] cho rằng, bệnh giun đũa có thể truyền qua người nhưng hiếm thấy Tuy vậy, bệnh giun đũa lợn do ấu trùng trên người không phải do giun trưởng thành thì khá nhiều, gây nên các phản ứng tăng dị ứng và hội chứng Loeffer Những người có thể trạng suy nhược, thiếu dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch dễ mắc bệnh giun đũa lợn do nuốt phải đất hay thực vật nhiễm trứng giun đũa lợn chứa ấu trùng Chu kỳ phát triển của giun đũa trên người cũng giống như ở lợn

Trang 23

Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8] cho biết, trứng giun đũa lợn có thể sống rất lâu ngoài ngoại cảnh từ 11 tháng đến 5 năm và tuổi thọ của giun đũa khoảng

7 - 10 tháng, hết tuổi thọ giun sẽ theo phân lợn ra ngoài môi trường

Đoàn Văn Phúc và cs (2005) [14] đã cho 7 lợn nuốt trứng giun đũa người, qua 66 ngày theo dõi tác giả cho thấy: với liều 10.000 trứng có ấu trùng, lợn không có triệu chứng dấu hiệu khác thường Kết quả mổ khám 2 lợn và xét nghiệm phân của 7 lợn thì không thấy giun đũa và trứng giun đũa người Điều này cho thấy lợn không bị nhiễm giun đũa người

Lê Thị Tài và cs (2002) [16] đã đưa ra phương pháp điều trị giun đũa bằng thuốc nam: vỏ xoan cho vào nước đun sôi, cô đặc thành cao mềm, sau

đó triết cao bằng cồn etylic, thu hồi cồn được nhựa màu vàng nâu, vị đắng, mùi hăng, thuốc có tác dụng làm chết giun trong vòng 30 phút

Phạm Thế Việt và cs (1997) [24] đã nghiên cứu thành phần, đặc tính giun sán ký sinh ở Nam Bộ cho thấy giun sán ký sinh ở lợn là 21 loài và biết tình hình nhiễm giun sán ở lợn ở 2 miền Nam, Bắc có những điều kiện khác nhau

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Holmqvis A và cs (2002) [29] cho biết: A suum ở lợn rất giống

A.lumbricoides ở người Trứng giun đũa lợn có sức đề kháng cao với ngoại

cảnh Theo tác giả thì số lượng trứng trong phân là một chỉ tiêu đánh giá cường độ nhiễm giun đũa ở lợn

Lợn có thể bị nhiễm số lượng giun đũa khác nhau Ở lợn 2 - 5 tháng tuổi, giun gây tiêu chảy, giảm cân, gây viêm phổi, gây ho và có thể gây nhiễm trùng phổi do ấu trùng di hành mang vi khuẩn vào, lợn con có thể chết Bề mặt gan của lợn bệnh có các đốm trắng hay còn gọi là điểm hoại tử

Theo Anderdahl (1997) [25] nếu cho lợn nhiễm trứng giun đũa, sau 5 ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích gây ra ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn chỉ bị nhiễm bệnh suyễn

Johanes Kaufman (1996) [30] cho biết, sự lây nhiễm giun đũa cho lợn con có thể được ngăn chặn bằng cách điều trị cho lợn mẹ trước khi đẻ

Trang 24

Bezimidazle, Febatel và Levamisol có tác dụng hữu hiệu để chống lại sự lây nhiễm Ivermectin (30 microgam/kg TT) dùng cho lợn trưởng thành, dùng trước khi đẻ 1 - 2 tuần có thể kiểm soát được sự lây nhiễm cho lợn con sau khi sinh

Mixinkova E.A (1977) [26] đã chứng minh hiệu quả thụt formalin 0,5% với liều 200ml cho lợn nặng 120 - 140 kg Chữa bằng formalin nên tiến hành ở chỗ nhốt đặc biệt, nền chuồng nghiêng 30 - 40o, đầu lợn thấp hơn phần thân sau, như vậy thuốc được ngấm nhiều nhất trong ruột, tức ngấm nhiều chỗ giun sán ký sinh

Bowman D.D (1995) [28], cho biết: Các phương pháp miễn dịch như phương pháp ngưng kết (SAT), phương pháp ELISA, phương pháp huỳnh quang gián tiếp (IFAT) cũng được dùng trong chẩn đoán bệnh ký sinh trùng

Trang 25

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: lợn nuôi ở các lứa tuổi trên địa bàn huyện Hải

Hà tỉnh Quảng Ninh; lợn mắc bệnh giun đũa

- Vật liệu:

+ Mẫu phân tươi của lợn ở các lứa tuổi nuôi tại một số xã huyện Hải

Hà, tỉnh Quảng Ninh

+ Kính hiển vi, đũa thủy tinh, cốc thủy tinh, lưới thép, lam kính

+ Dung dịch muối NaCl bão hòa, kính hiển vi

+ Chi cục tỉnh Quảng Ninh

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

+ Phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh động vật, khoa Chăn nuôi- Thú y,

trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

+ Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: 9/6/2014 - 24/11/2014

3.3.Nội dung nghiên cứu

3.3.1.Tình hình nhiễm giun đũa lợn tại một số địa phương thuộc huyện Hải Hà

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn tại một số địa phương thuộc huyện hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi lợn

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo mùa vụ

Trang 26

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi

3.3.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun đũa lợn ở ngoại cảnh

- Sự ô nhiễm trứng giun đũa lợn ở nền chuồng, xung quanh chuồng và

ở vườn (bãi) trồng cây thức ăn cho lợn

- Thời gian và tỷ lệ trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh

- Thời gian sống của trứng giun đũa có sức gây bệnh ở ngoại cảnh

3.3.3 Nghiên cứu bệnh giun đũa lợn (Ascariosis)

3.3.3.1 Biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun đũa tự nhiên

3.3.3.2 Bệnh tích bệnh giun đũa lợn

3.3.3.3 Một số chỉ số huyết học của lợn bị bệnh giun đũa và lợn khỏe

3.3.3.4 Biến đổi vi thể ở ruột của lợn bị bệnh giun đũa

3.3.4.Biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho lợn

3.3.4.1 Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun đũa lợn

3.3.4.2 Độ an toàn của thuốc tẩy giun đũa lợn

3.3.4.3 Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho lợn

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp lấy mẫu

Mẫu được thu thập tại các nông hộ, các trại chăn nuôi lợn tập thể và gia đình theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc Mẫu được xét nghiệm trong ngày hoặc xét nghiệm sau khi bảo quản ở nhiệt độ 2 - 8oC không quá 3 ngày

- Mẫu phân: lấy mẫu phân mới thải của lợn các lứa tuổi ở một số xã

của huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh với lượng 20 - 30g/mẫu Để riêng mỗi mẫu phân vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có ghi nhãn: địa điểm, tuổi lợn, giống, tình trạng vệ sinh thú y, phương thức chăn nuôi, thời gian lấy mẫu (những thông tin này cũng được ghi vào nhật ký đề tài)

- Mẫu cặn nền chuồng: tại mỗi ô chuồng nuôi lợn lấy mẫu cặn ở 4 góc

chuồng và ở giữa, trộn đều được một mẫu xét nghiệm (khoảng 80 - 100g/mẫu) Mỗi mẫu được để riêng vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có ghi nhãn: địa điểm, thời gian lấy mẫu (những thông tin này cũng được ghi vào nhật ký đề tài)

Trang 27

- Mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi: trong khoảng bán kính 5m

xung quanh chuồng lợn, cứ 10 - 15 m2 lấy một mẫu đất bề mặt (một mẫu khối lượng 80 - 100g, được phối hợp bởi 4 mẫu ở bốn góc và 1 mẫu ở giữa) Mỗi mẫu được để riêng vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có ghi nhãn: địa điểm, thời gian lấy mẫu (những thông tin này cũng được ghi vào nhật ký đề tài) Mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày

- Mẫu đất bề mặt vườn, bãi trồng cây thức ăn cho lợn: cứ 10 - 15 m2 lấy một mẫu đất bề mặt (một mẫu khối lượng 80 - 100g, được phối hợp bởi 4 mẫu

ở bốn góc và 1 mẫu ở giữa) Mỗi mẫu được để riêng vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có ghi nhãn: địa điểm, thời gian lấy mẫu (những thông tin này cũng được ghi vào nhật ký đề tài)

- Mẫu máu: lấy máu lợn trước và sau gây nhiễm, lợn khoẻ và lợn bị

bệnh giun đũa do nhiễm tự nhiên ở vịnh tĩnh mạch cổ, mỗi lợn lấy 1 ml máu

- Bệnh phẩm: ruột non của lợn bị bệnh giun đũa do gây nhiễm

3.4.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu

- Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn

Tất cả các mẫu phân, mẫu cặn nền chuồng, mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng và vườn trồng cây thức ăn cho lợn đều được xét nghiệp bằng phương pháp Fulleborn với dung dịch muối NaCl bão hoà, tìm trứng giun đũa lợn dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 lần Những mẫu có trứng giun đũa lợn được đánh giá là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm

- Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun đũa lợn:

Đếm số trứng giun đũa lợn trong 1g phân bằng phương pháp Mc Master Cân 4 gam phân vào cốc thủy tinh, thêm nước lã sạch (100 - 150 ml), khuấy tan phân, lọc bỏ cặn bã thô Nước lọc để lắng trong 1 - 2 giờ, gạn bỏ nước, giữ lại cặn Cho 56 ml dung dịch nước muối bão hòa, khuấy đều cho tan cặn Trong khi đang khuấy, lấy công tơ hút hút 1ml dung dịch phân nhỏ đầy 2 buồng đếm Mc Master Để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 100) Đếm toàn bộ số trứng trong những ô của hai buồng đếm, rồi tính theo công thức sau:

Trang 28

Số trứng/ 1 gam phân = Tổng số trứng ở 2 buồng đếm x 60

- Quy định về lứa tuổi lợn: tuổi lợn nghiên cứu được phân theo 4 lứa

tuổi: ≤ 2 tháng tuổi; > 2 - 4 tháng tuổi, > 4 - 6 tháng tuổi, > 6 tháng tuổi

- Quy định về tình trạng vệ sinh thú y theo 3 mức:

+ Tình trạng vệ sinh thú y tốt: chuồng trại khô ráo, thoáng mát, sạch sẽ, nền lát gạch, láng xi măng hay nền sàn, có rãnh thoát nước và phân ra khỏi khu vực chuồng nuôi Chuồng, máng ăn, máng uống được cọ rửa hàng ngày Thức ăn, nước uống sạch sẽ, rau được rửa sạch trước khi cho lợn ăn Định kỳ khử trùng tiêu độc chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi

+ Tình trạng vệ sinh thú y trung bình: nền chuồng được láng xi măng hay nền gạch nhưng không được dọn phân và rửa chuồng, thường xuyên có hiện tượng tồn lưu phân trong vòng vài ngày Mỗi tuần cọ rửa máng ăn, máng uống 1 - 2 lần, không thường xuyên rửa rau xanh trước khi cho lợn ăn

+ Tình trạng vệ sinh thú y kém: chuồng trại chật chội, nền chuồng láng

xi măng hay nền gạch hoặc nền đất ẩm thấp, không có rãnh thoát nước, rất ít khi cọ rửa chuồng và dọn phân, thường xuyên có hiện tượng tồn lưu phân trong chuồng một vài tuần Rau xanh cũng không được rửa trước khi cho lợn ăn

3.4.3 Phương pháp xác định thời gian phát triển và tồn tại của trứng giun đũa có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh

Lấy phân của những lợn nhiễm giun đũa nặng cho vào 10 chậu nhựa có đường kính 15 cm và chiều cao 10 cm (mỗi chậu được coi là 1 mẫu, khoảng

400 – 500 g phân), trong đó, 5 mẫu được để tự nhiên trong điều kiện nhiệt độ

và ẩm độ không khí bình thường của mùa hè (nhiệt độ 28 - 30oC, ẩm độ 80 - 85%); 5 mẫu còn lại cũng được theo dõi trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ

Trang 29

không khí trên nhưng được bổ sung thêm nước hàng ngày để duy trì trong trạng thái ướt nhão

Hàng ngày lấy khoảng 3 - 5 g phân/mẫu, xét nghiệm bằng phương pháp Fullerborn, đếm số trứng có sức gây bệnh trong tổng số trứng trên một vi trường và đếm số trứng chết trong tổng số trứng trên một vi trường để xác định thời gian trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh và thời gian trứng giun đũa chết ở trong phân ngoài ngoại cảnh Vẫn duy trì theo dõi các mẫu thí nghiệm ở cả 2 lô trong điều kiện như đã trình bày

3.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun đũa

Sử dụng phương pháp chẩn đoán cơ bản là quan sát những biểu hiện của lợn: Thể trạng, ăn uống, vận động, niêm mạc và trạng thái phân

3.4.5 Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết học của lợn bị bệnh giun đũa và lợn khỏe

- Số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố được xác định bằng máy ABX Micros tại phòng Huyết học - Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên

- Công thức bạch cầu được xác định bằng phương pháp Tristova: làm tiêu bản máu, nhuộm Giemsa, đếm số lượng từng loại bạch cầu và tính tỷ lệ phần trăm của mỗi loại

3.4.6 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể, vi thể

- Phương pháp xác định bệnh tích đại thể: mổ khám một số lợn bị bệnh

giun đũa (không mắc các bệnh khác), quan sát bằng mắt thường và kính lúp các

phần ruột non để tìm giun đũa, chụp ảnh những vùng có bệnh tích điển hình

- Nghiên cứu biến đổi bệnh lý vi thể: bằng phương pháp làm tiêu bản tổ

chức học theo quy trình tẩm đúc parafin, nhuộm Hematoxilin - eosin, đọc kết quả dưới kính hiển vi quang học Labophot - 2 và chụp ảnh bằng máy ảnh gắn trên kính hiển vi

Phương pháp làm tiêu bản vi thể các đoạn ruột non có bệnh tích đại thể theo thứ tự các bước sau:

+ Lấy bệnh phẩm: cắt phần ruột non có nhiều giun đũa ký sinh

+ Cố định bằng dung dịch Formol 10%

Trang 30

+ Sau khi cố định, rửa tổ chức dưới vòi nước chảy nhẹ từ 12 - 24 giờ để loại bỏ Formol có trong tổ chức

+ Khử nước: dùng cồn tuyệt đối để rút nước trong bệnh phẩm ra

+ Làm trong tiêu bản: ngâm bệnh phẩm qua hệ thống Xylen

+ Tẩm parafin: ngâm bệnh phẩm đã làm trong vào các cốc đã đựng parafin nóng chảy, để ở tủ ấm nhiệt độ 56oC

+ Đổ Block: rót parafin nóng chảy vào khuôn giấy rồi đặt miếng tổ chức (bệnh phẩm) đã tẩm parafin vào Khi parafin đông đặc hoàn toàn thì bóc khuôn Sửa lại Block cho vuông vắn

+ Cắt và dán mảnh: cắt bệnh phẩm trên máy cắt microtocom, độ dày mảnh cắt 3 - 4 µm Dán mảnh cắt lên phiến kính bằng dung dịch Mayer (lòng trắng trứng

gà 1 phần, glyxeril 1 phần; 1 ml hỗn hợp trên pha trong 19 ml nước cất)

+ Nhuộm tiêu bản bằng phương pháp Hematoxilin - eosin Phương pháp như sau: tẩy nến bằng Xylen, sau đó ngâm tiêu bản tổ chức vào cồn Ethanol 96% trong 5 phút Tiêu bản tổ chức được rửa dưới dòng nước chảy nhẹ trong 5 phút và nhuộm Hematoxilin trong 5 phút, sau đó lại rửa nước trong 15 phút và nhuộm Eosin trong 1 - 2 phút Rửa dưới dòng nước chảy nhẹ, làm khô tiêu bản trong dung dịch cồn có nồng độ tăng dần 96% đến 100% với thời gian giảm dần từ 5 phút đến 2 phút

3.4.7 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy giun đũa lợn

Sử dụng 3 loại thuốc: Levamisol 10%, Hanmectin - 25, Dextomax để tẩy cho những lợn bị nhiễm giun đũa Sau khi cho lợn dùng thuốc 15 ngày, xét nghiệm lại phân bằng phương pháp Fulleborn Nếu không tìm thấy trứng giun đũa lợn trong phân thì xác định thuốc có hiệu lực triệt để với giun đũa, nếu vẫn thấy trứng giun đũa/g phân nhưng với số lượng giảm rõ rệt thì xác định thuốc có hiệu lực với giun đũa nhưng chưa triệt để Nếu số lượng trứng/gam phân vẫn không giảm so với trước khi dùng thuốc hoặc giảm không đáng kể thì xác định thuốc không có hiệu lực tẩy giun đũa

Xác định độ an toàn của thuốc bằng cách theo dõi trạng thái sinh lý của lợn trước và sau khi dùng thuốc Các vấn đề theo dõi chủ yếu gồm: ăn uống,

đi lại, da và niêm mạc, các phản ứng phụ khác

Trang 31

Thành phần của ba loại thuốc sử dụng trong đề tài như sau:

Trong đó: X : Tổng các giá trị của X

n: Dung lượng mẫu

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Phan Lục, Ngô Thị Hoà, Phan Tuấn Dũng (2006), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội, tr.20 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục, Ngô Thị Hoà, Phan Tuấn Dũng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
13. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
14. Đoàn Văn Phúc (2005), Bệnh giun tròn ở động vật nuôi Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun tròn ở động vật nuôi Việt Nam
Tác giả: Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
15. Trần Văn Quyên, Lại Thị Cúc, Nguyễn Văn Thọ (2008), “Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhiễm giun sán trên đàn lợn tại một số địa phương vùng đồng bằng Sông hồng”, Tạp chí Khoa học và phát triển, Tập VI (số 1), tr.42 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhiễm giun sán trên đàn lợn tại một số địa phương vùng đồng bằng Sông hồng”", Tạp chí Khoa học và phát triển, Tập VI
Tác giả: Trần Văn Quyên, Lại Thị Cúc, Nguyễn Văn Thọ
Năm: 2008
16. Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Song Phương Liên (2002), Phòng trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Song Phương Liên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
17. Trịnh Văn Thịnh (1996), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
18. Nguyễn Thiện (2004), Chăn nuôi lợn hướng nạc ở gia đình và trang trại, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn hướng nạc ở gia đình và trang trại
Tác giả: Nguyễn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó (2006), Phương pháp phòng chống bệnh giun sán ở vật nuôi, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phòng chống bệnh giun sán ở vật nuôi
Tác giả: Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2006
20. Nguyễn Phước Tương (2002), Bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi và thú hoang lây sang người (tập 2), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr.5 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi và thú hoang lây sang người (tập 2)
Tác giả: Nguyễn Phước Tương
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
21. Trương Thị Thu Trang (2010), “Nghiên cứu bệnh giun đũa lợn (Ascariosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”, Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bệnh giun đũa lợn (Ascariosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trương Thị Thu Trang
Nhà XB: Đại học Thái Nguyên
Năm: 2010
22. Cao Văn, Hoàng Toàn Thắng (2003), Sinh lý học gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.67 - 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Tác giả: Cao Văn, Hoàng Toàn Thắng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
24. Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Khuê (1997), Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam
Tác giả: Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Khuê
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
25. Anderdahl (1997), Cẩm nang bệnh lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bệnh lợn
Tác giả: Anderdahl
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
26. Miaxunikova E. A. (1977), Nguyên lý môn giun tròn thú y, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý môn giun tròn thú y
Tác giả: Miaxunikova E. A
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1977
27. Skrjabin K.I., Petrov A.M. (1963) Nguyên lý môn giun tròn thú y, tập 1, Bùi Lập, Đoàn Thị Băng Tâm và Tạ Thị Vinh dịch, Nxb Khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội, tr.102 - 104, 187 - 206.III. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý môn giun tròn thú y, tập 1
Tác giả: Skrjabin K.I., Petrov A.M
Nhà XB: Nxb Khoa học - Kỹ thuật
Năm: 1963
28. Bowman D.D, Lynn (1999), Parasitology for Veterinarians, W.B Saunder copany, tr.109 - 285 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parasitology for Veterinarians
Tác giả: Bowman D.D, Lynn
Nhà XB: W.B Saunder company
Năm: 1999
29. Holmqvis A. và Stenston A.T. (2002), Survival of Ascaris suum, Bacteria and Salmonella typhimurium phage 28B in mesophilic composting ofhousehould Waste, Dalarna University, Sweden Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ascaris suum, Bacteria" and "Salmonella typhimurium" phage 28B in mesophilic composting ofhousehould Waste," Dalarna University
Tác giả: Holmqvis A. và Stenston A.T
Năm: 2002
30.Johanes Kaufmann (1996), Parasitic infections of dosmetic animal, Birkhauser Verlag, Berlin, tr.303 - 304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parasitic infections of domestic animal
Tác giả: Johanes Kaufmann
Nhà XB: Birkhauser Verlag
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc (Trang 35)
Hình 4.2.  Biểu đồ thể hiện cường độ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện cường độ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc (Trang 35)
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ và cường độ nhiễm theo tuổi lợn  4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ và cường độ nhiễm theo tuổi lợn 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn (Trang 38)
Hình 4.4.  Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo giống lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 4.4. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo giống lợn (Trang 39)
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn (Trang 39)
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh (Trang 41)
Bảng 4.11. Bệnh tích đại thể bệnh giun đũa ở lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.11. Bệnh tích đại thể bệnh giun đũa ở lợn (Trang 49)
Hình 4.6. Niêm mạc ruột bị thoái hóa, long tróc - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 4.6. Niêm mạc ruột bị thoái hóa, long tróc (Trang 51)
Hình 4.7.Lông nhung ruột bị tổn thương, một số bị đứt, nát - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 4.7. Lông nhung ruột bị tổn thương, một số bị đứt, nát (Trang 52)
Hình 4.8. Các tế bào viêm, bạch cầu ái toan (1) và hồng cầu (2) - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 4.8. Các tế bào viêm, bạch cầu ái toan (1) và hồng cầu (2) (Trang 52)
Bảng  4.15  cho  thấy:  thuốc  Levamisol  liều  7,5  mg/kg  TT,  tẩy  giun  đũa  cho 20 lợn nhiễm ở cường độ 917,50  ± 32,90 trứng/g phân - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
ng 4.15 cho thấy: thuốc Levamisol liều 7,5 mg/kg TT, tẩy giun đũa cho 20 lợn nhiễm ở cường độ 917,50 ± 32,90 trứng/g phân (Trang 55)
Hình 5. Theo dõi sự phát triển của trứng  giun đũa lợn trong phân ở ngoại cảnh - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 5. Theo dõi sự phát triển của trứng giun đũa lợn trong phân ở ngoại cảnh (Trang 62)
Hình 1: Lợn 3 tháng tuổi nuôi tại hộ gia  đình ông Phùn Văn Thắng, thôn 3 xã Quảng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 1 Lợn 3 tháng tuổi nuôi tại hộ gia đình ông Phùn Văn Thắng, thôn 3 xã Quảng (Trang 62)
Hình 3. Lợn 2 tháng tuổi nuôi tại gia đình ông - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 3. Lợn 2 tháng tuổi nuôi tại gia đình ông (Trang 62)
Hình 9: Mổ khám lợn, tìm giun đũa và quan sát bệnh tích đại thể - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị.
Hình 9 Mổ khám lợn, tìm giun đũa và quan sát bệnh tích đại thể (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w