Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của thầy cô giáo hướng dẫn và sự ti
Trang 1- -
LÊ THỊ SÁU
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA BỆNH DO ĐƠN
BÀO HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA Ở GÀ TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH,
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khóa học : 2010 - 2015
Thái Nguyên - 2014
Trang 2- -
LÊ THỊ SÁU
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA BỆNH DO ĐƠN
BÀO HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA Ở GÀ TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH,
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Quang
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên - 2014
Trang 3Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, nhờ sự nỗ lực của bản thân và
được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè, sự động viên khích lệ của gia đình, em đã hoàn thành luận văn này
khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Văn Quang đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn này
Đồng thời em cũng xin trân trọng cảm ơn ThS Trương Thị Tính đã đóng
góp ý kiến quí báu và giúp đỡ nhiệt tình để em hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Lê Thị Sáu
Trang 4Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương
châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt
nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói chung và của khoa Chăn nuôi Thú Y nói riêng
Giai đoạn thực tập chiếm một vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước ngày càng giàu đẹp Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của thầy cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Trạm thú y huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi đã tiến hành đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh
lý, lâm sàng của bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm thuốc điều trị"
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập còn ngắn nên trong bản khóa luận này của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Trang
Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại 4 xã của huyện Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên 36
Bảng 4.2 Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen tại huyện Phú Bình 38
Bảng 4.3 Bệnh tích đại thể của gà mắc bệnh đầu đen tại huyện Phú Bình 40
Bảng 4.4 Kết quả gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà 43
Bảng 4.5 Thời gian gà xuất hiện triệu chứng lâm sàng sau gây nhiễm 46
Bảng 4.6 Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen sau gây nhiễm 48
Bảng 4.7 Kết quả theo dõi gà chết sau gây nhiễm 49
Bảng 4.8 Bệnh tích đại thể của gà sau gây nhiễm 52
Bảng 4.9 Bệnh tích vi thể của gà sau gây nhiễm 53
Bảng 4.10 Khối lượng cơ thể và các cơ quan nội tạng của gà thí nghiệm 54
Bảng 4.11 Thể tích các cơ quan nội tạng của gà thí nghiệm 56
Bảng 4.12 Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp 58
Bảng 4.13 Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện rộng 59
Trang 6Trang
Hình 4.1 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại một số địa phương của
huyện Phú Bình 37
Trang 7( - ) ADN
: gam : Glutamicoxalacetic transaminase
H meleagridis : Histomonas meleagridis
H gallinarum
Kg KGN LDH
ml Nxb
pp PCR
TT
tr
µm
: Heterakis gallinarum : ki lô gam
: Không gây nhiễm
: Lactic dehydrogenase
: mililít : Nhà xuất bản
: trang : polymerase chain reaction : thể trọng
: trang : micromet
Trang 8Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 3
2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh 3
2.1.1.2 Hình thái học loài Histomonas meleagridis 4
2.1.1.3 Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis 6
2.1.1.4 Vòng đời của Histomonas meleagridis 12
2.1.1.5 Nuôi cấy đơn bào H meleagridis 13
2.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 14
2.1.2.1 Lịch sử bệnh 14
2.1.2.2 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Histomoniasis gây ra 15
2.1.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonasis) ở gia cầm 17
2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh 19
2.1.2.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen 20
2.1.2.6 Chẩn đoán 23
2.1.2.7 Phòng, trị bệnh đầu đen cho gà 25
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 27
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 27
Trang 93.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 29
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 29
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.3.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà 30
3.3.1.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà nuôi tại một số xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 30
3.3.1.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 30
3.3.2 Đánh giá hiệu lực của 2 phác đồ điều trị bệnh đầu đen 30
3.3.2.1 Hiệu lực của phác đồ điều trị trên diện hẹp 30
3.3.2.2 Hiệu lực của phác đồ điều trị trên diện rộng 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 30
3.4.1.1 Bố trí thu thập gà để mổ khám 30
3.4.1.2 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 31
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà do gây nhiễm 32
3.4.2.1 Gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà thí nghiệm 32
3.4.2.2 Bố trí thí nghiệm gây nhiễm 33
3.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm 34
3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực của một số thuốc trị bệnh đầu đen cho gà 35
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 35
Trang 104.1.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà nuôi tại một
số xã thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 36
4.1.1.1 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà nuôi tại một số xã thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên qua mổ khám 36
4.1.1.2 Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen nuôi tại huyện Phú Bình 38
4.1.1.3 Bệnh tích của gà bị mắc bệnh đầu đen tại huyện Phú Bình 40
4.1.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lí và lâm sàng của bệnh đầu đen ở gà do
gây nhiễm 42
4.1.2.1 Khả năng gây bệnh của H meleagridis theo 2 con đường gây nhiễm
khác nhau 42
4.1.2.2 Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng của gà gây nhiễm 45
4.1.2.3 Triệu chứng của gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm 48
4.1.2.4 Thời gian chết của gà sau gây nhiễm 49
4.1.2.5 Bệnh tích của gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm 52
4.1.2.6 Bệnh tích vi thể ở manh tràng và gan của gà bị bệnh do gây nhiễm 53
4.1.2.6 Sự thay đổi khối lượng cơ thể và các cơ quan nội tạng của gà thí nghiệm 54 4.1.2.7 Sự thay đổi thể tích các cơ quan nội tạng của gà gây nhiễm 56
4.2 Thử nghiệm thuốc điều trị cho đàn gà trên thực địa 57
4.2.1 Thử nghiệm trên diện hẹp 57
4.2.2 Thử nghiệm trên diện rộng 59
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Tồn tại 62
5.3 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
I Tài liệu tiếng Việt 63
II Tài liệu tiếng Anh 63
Trang 11Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp có ngành chăn nuôi khá phát triển Chăn nuôi gia cầm đã và đang đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển chung của ngành chăn nuôi Có rất nhiều hình thức và quy mô chăn nuôi gia cầm khác nhau, từ chăn nuôi hộ gia đình đến quy mô trang trại, đã giải quyết được việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời ngành chăn nuôi gia cầm cũng
đưa ra thị trường một số lượng lớn sản phẩm thịt, trứng, đáp ứng được nhu cầu
trong nước và xuất khẩu
nước ở châu Á Trong những năm qua, chăn nuôi gia cầm luôn đạt mức tăng trưởng cao nhất, bình quân giai đoạn 2008 - 2012, quy mô đầu con tăng khoảng 5,6 %/ năm; sản lượng thịt tăng 12,9 %/ năm và sản lượng trứng tăng 10,1 % / năm Đến năm
2012, mức sản xuất gia cầm của Việt Nam đạt 50 % so với mức trung bình của thế giới Năm 2013 tổng đàn gia cầm có 314,7 triệu con, tăng 2,04 %, trong đó đàn gà 231,8 triệu con, tăng 3,6 % so với năm 2012 Để phát triển chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà nói riêng, chúng ta còn gặp không ít khó khăn Một trong những khó khăn gây trở ngại cho tốc độ phát triển chăn nuôi gà là vấn đề dịch bệnh Trong những năm gần đây, ở nước ta đã xuất hiện một bệnh mới, gây thiệt
hại không nhỏ cho người chăn nuôi gà, đó là bệnh đầu đen do đơn bào H
meleagradis gây ra Bệnh do đơn bào H meleagradis ( bệnh đầu đen) ở gà hiện nay
xuất hiện ở hầu hết các địa phương trong cả nước
Huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên là một trong những huyện có ngành chăn nuôi gà khá phát triển, chủ yếu nuôi theo hình thức thả vườn Vài năm gần đây trên
địa bàn huyện liên tục xuất hiện bệnh đầu đen trên đàn gà với tỷ lệ chết cao, gây
thiệt hại lớn cho người chăn nuôi
Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh kí sinh trùng truyền nhiễm nguy hiểm ở gà và gà tây do một loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas
Trang 12meleagridis gây ra Histomonas meleagridis ký sinh chủ yếu trong lòng manh
tràng và nhu mô gan, gây viêm xuất huyết hoại tử, tăng sinh ở manh tràng và gan, da vùng đầu và mào tích thâm đen Cũng vì các biến đổi đặc trưng tập trung song hành ở gan và ruột, lây lan nhanh và gây chết gia cầm với tỷ lệ cao,
nên bệnh còn có tên là bệnh viêm hoại tử ruột - gan truyền nhiễm (Infectious
Enteroheatitis) Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết
không ồ ạt nhưng sự chết kéo dài, tỷ lệ chết lên tới 85 % - 95 %
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao
năng suất chăn nuôi gà, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm bệnh
lý, lâm sàng của bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm thuốc điều trị”
1.2 Mục đích nghiên cứu
meleagridis gây ra ở gà
dụng điều trị đạt kết quả cao
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh kí sinh trùng truyền nhiễm nguy hiểm ở gà và gà tây do một loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas meleagridis gây ra Histomonas meleagridis ký sinh chủ yếu trong lòng manh tràng và nhu mô
gan, gây viêm xuất huyết hoại tử, tạo tăng sinh ở manh tràng và gan, thể trạng xấu,
da vùng đầu và mào tích thâm đen nên từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen
(Blackhead) Cũng vì các biến đổi đặc trưng tập trung song hành ở gan và ruột, lây
lan nhanh và gây chết gia cầm với tỷ lệ cao, nên bệnh còn có tên là bệnh viêm hoại
tử ruột gan truyền nhiễm (Infectious Enteroheatitis)
Ở Việt Nam do các biến đổi đặc trưng tạo kén ở manh tràng nên người chăn nuôi thường gọi là bệnh kén ruột
2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm
2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh
phân loại nguyên sinh động vật như sau:
Sinh vật: Eukaryota
Giới: Excavata
Ngành: Metamonada
Lớp: Parabasalia Bộ: Trichomonadida
Họ: Monocercomonadidae Giống: Histomonas Loài: Histomonas meleagridis
cho biết vị trí phân loại của H meleagridis như sau:
Trang 14Loài: Histomonasmeleagridis 2.1.1.2 Hình thái học loài Histomonas meleagridis
Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen Tyzzer (1919) [36], đã mô tả hình thái
của H meleagridis ở từng giai đoạn phát triển khác nhau Ở giai đoạn kí sinh
tại khu vực ngoại vi của các tổn thương ban đầu được gọi là giai đoạn xâm lấn Trong giai đoạn này chúng di động kiểu amip và hình thành một chân giả có chiều dài 30 µm Trong các mô cố định, quan sát được đường kính dao động từ
8 - 17 µm Nguyên sinh chất trong giai đoạn này chứa các hạt không bào và
một thể nhân Tiếp đến là giai đoạn sinh dưỡng, H meleagridis tồn tại dưới
dạng có tế bào chất mà không có thể vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt phân phối xung quanh thể nhân Ở giai đoạn này, chúng có kích thước lớn
hơn, đường kính từ 12 - 21 µm Một giai đoạn tồn tại khác của H meleagridis
đã được Tyzzer mô tả và gọi với cái tên là giai đoạn kháng, kích thước nhỏ hơn, đường kính từ 5 - 22 µm
SmithT (1895) [35], đã mổ khám 50 gà tây mắc bệnh đầu đen Ông cho biết: ở gà mắc bệnh gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất Lấy chất chứa trong manh tràng gà bệnh soi tươi và tìm thấy tác nhân gây bệnh
là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc hình bầu dục,
đường kính 8 - 14 µm, ngoại trừ một dạng gần giống cấu trúc nhân
Trong mô gan được cố định và nhuộm màu, Smith nhận thấy đơn bào có dạng hình bầu dục nhỏ, đường kính dao động từ 6 - 10 µm, ở giữa có nhiều cấu trúc
nhỏ tập trung lại thành thể nhân
Trang 15Dẫn theo Smith 1895 đến năm 1920 Tyzzer từ đặc điểm trùng roi của tác nhân
gây bệnh ông đã đổi tên loài ký sinh trùng này thành H meleagridis
Tyzzer và Fabyan (1925) [38] đã báo cáo: khi quan sát dưới kính hiển vi, tác
giả thấy H meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi) Trong mô (giai
đoạn xâm lấn) nó có dạng amip, trong lòng manh tràng H meleagridis ở dạng có roi
hình dạng có roi đường kính có thể lên tới 30 µm
và mô tả, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay ngược chiều kim đồng hồ
Lê Văn Năm (2010) [5] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở Việt Nam báo cáo
rằng, H meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi),
hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để có hình
dạng tương ứng phù hợp,… H meleagridis với hình amip có kích thước 8 - 30
µm, với hình roi thì có kích thước từ 20 - 30 µm, bé nhất khi H meleagridis ở
thể lưới: 5 - 10 µm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H meleagridis thể
hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại đến 60 -80 µm Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1
nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4 cái roi, H meleagridis vận động
theo hai phương thức xoắn hoặc theo kiểu làn sóng (impuls)
biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H meleagridis cấu tạo gồm 3 phần:
màng, tế bào chất và nhân
không bào và hạt nhân Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleolus Màng nhân là một màng kép Trong vùng lân cận của nhân là bộ máy Golgi hoặc một phần theo chiều dọc của microtubule
H meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể Lưới nội chất đã bị thoái hóa
Trang 162.1.1.3 Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis
H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền
bằng 2 con đường: truyền bệnh trực tiếp và truyền bệnh gián tiếp
* Truyền bệnh gián tiếp qua giun kim
Cushman và cs (1894) [11] đã nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi chúng được nuôi trên khu vực mà trước đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh
Smith (1895) [35] đã tiến hành thí nghiệm với qui mô lớn và cho biết: H
meleagridis không lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ sang trứng, mặc dù phát
hiện gà con mắc bệnh đầu đen rất sớm và chết ở 12 - 14 ngày tuổi Tác giả cho rằng, những gà con này bị nhiễm bệnh do được nuôi trong khu đất nơi mà đàn gà nuôi trước đó đã mắc bệnh Thí nghiệm được bố trí như sau:
đầu đen phát triển, ấp trứng nhân tạo Trước khi ấp, trứng được rửa sạch, lau nhẹ
nhàng bằng nước ấm, ngâm trong clorua thủy ngân 0,5 % trong 30 giây, sau đó rửa sạch và lau khô bằng khăn khử trùng
Sau khi nở 1 tuần, 4 gà tây đã bị chết do quá yếu, những gà còn lại được nuôi tại khu vực được bảo vệ an toàn và không có sự lây nhiễm của mầm bệnh Sau 1 tháng theo dõi thấy gà khỏe bình thường
Thí nghiệm tiếp tục được tiến hành sau hơn 6 tuần quan sát thấy không có gà
nào bị tử vong và xuất hiện dấu hiệu bệnh Điều này khẳng định rằng bệnh đầu đen
không lây truyền từ gà mẹ thông qua trứng
Tác giả tiếp tục tiến hành thí nghiệm bằng cách chuyển những gà thí nghiệm trên về các trang trại đang có gà bị nhiễm bệnh, sau 17 ngày thấy gà xuất hiện triệu chứng bệnh, đến ngày thứ 26 tất cả gà đều tử vong, mổ khám thấy tổn thương rõ rệt
ở gan và đóng kén trắng ở manh tràng
kết quả tương tự
sát bệnh ở gà tây khỏe khi nhốt chung với gà bệnh Kiểm tra chất chứa trong manh
Trang 17tràng của gà bệnh chết, thấy có sự tồn tại của Heterakis gallinarum cùng với H
meleagridis Ông cho rằng tác nhân gây bệnh đầu đen có thể hấp thụ đồng thời cùng
với trứng Heterakis gallinarum
Tyzzer E E (1925) [38] cho biết, gà tây có thể nhiễm bệnh khi nuôi nhốt chung với gà mắc bệnh hoặc nuôi trên khu đất đã có gà bị bệnh trước đó
Sau đó, tác giả đã chứng minh trứng giun kim (Heterakis) chính là tác nhân
lây truyền bệnh đầu đen Trứng có phôi chứa thành phần axit nitric 1,5 % giúp chúng có khả năng bảo vệ khi đi qua đường tiêu hóa đến manh tràng của gà Những
phôi trứng Heterakis chứa H meleagridis là nguồn quan trọng để bệnh đầu đen phát
triển Đây là một phát hiện quan trọng vì đã xác định được vật chủ trung gian truyền bệnh, và có ý nghĩa quan trong cho các thử nghiệm sau này
Gibbs B J (1962) [17] đã tìm thấy H meleagridis trong đường sinh dục và trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học H meleagridis được tìm thấy trong tất cả các bộ phận ở sinh sản của cả giun cái và giun đực Ở giun đực, H meleagridis kí
sinh trong ruột, xâm nhập vào các tế bào ruột, tinh trùng, ống dẫn tinh và túi tinh Ở giun cái chúng kí sinh trong tất cả các bộ phận của đường sinh dục như buồng trứng,
ống dẫn trứng và tử cung Sau đó, H meleagridis đã được thu thập và gây nhiễm cho
gà 10 ngày tuổi Ông khẳng định rằng giun cái có khả năng truyền bệnh cho gà mà không cần có sự thụ tinh của giun đực
Lund và Chute (1973) [30], tìm thấy mối tương quan giữa số lượng Heterakis và
tỷ lệ mắc Histomonas, ông cho rằng H meleagridis được giải phóng khi Heterakis chết
Hàng loạt những nghiên cứu của Farr M M (1959) [16], đã chỉ ra rằng trứng
Heterakis có sức đề kháng tốt với môi trường, ở ngoài môi trường đất có thể tồn tại
từ 2 - 3 năm, khi nở vẫn có thể gây ra Histomoniasis Đây là nguyên nhân làm dịch
bệnh đầu đen phát triển từ năm này sang năm khác
* Truyền bệnh gián tiếp qua giun đất
Khi nghiên cứu về dịch tễ của bệnh đầu đen Lund và Chute (1973) [30], báo
cáo rằng: giun đất chính là kí chủ dự trữ của ấu trùng H gallinarum và tích trữ một lượng lớn đơn bào H meleagridis
Trang 18Nghiên cứu rõ hơn vai trò của giun đất trong việc truyền tải bệnh đầu đen, Curtice (1907) [12] tiến hành thí nghiệm cho gà khỏe ăn giun đất thu thập từ vùng
có gà bị nhiễm bệnh Theo dõi một thời gian thấy gà xuất hiện triệu chứng, mổ khám kiểm tra gan và manh tràng có bệnh tích điển hình của bệnh đầu đen
Kết quả trên đã chứng minh rằng sự lan truyền bệnh đầu đen từ gia cầm này
sang gia cầm khác còn do gia cầm ăn phải giun đất mang ấu trùng giun kim (H
gallinarum) chứa H meleagridis Theo tác giả giun đất chính là tác nhân làm dịch
bệnh đầu đen phát triển Đây là một phát hiện quan trọng vì đã xác định được vật
chủ trung gian truyền bệnh, từ đó có những khuyến cáo để ngăn ngừa bệnh đầu đen
Lund và cs (1956) [29] báo cáo: sau khi cho gà và gà tây ăn giun đất chứa ấu
trùng H gallinarum mang mầm bệnh, thấy gà mắc bệnh đầu đen, mổ khám gà có
bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng Sau đó các tác giả tiến hành đun nóng
giun đất trong phòng thí nghiệm, quan sát thấy rất nhiều ấu trùng giun kim (H
gallinarum) nổi lên trên bề mặt cơ thể Một lần nữa các nhà nghiên cứu kết luận
giun đất chính là vật chủ trung gian chứa ấu trùng giun kim mang mầm bệnh
Histomonas gây bùng phát bệnh đầu đen Kemp và cs (1975) [26] cho biết: Gà
trống và gà tây bị nhiễm cả hai loài H meleagridis và H gallinarum khi cho ăn
giun đất từ nơi trước đây mầm bệnh đã xảy ra
Gà có thể mắc bệnh đầu đen khi vô tình ăn phải giun đất có chứa trứng giun
kim nhiễm H meleagridis H Meleagridis có thể tồn tại hơn 1 năm trong giun đất
Sau khi gà và gà tây nuốt phải giun đất, ấu trùng giun kim sẽ di hành xuống manh
tràng, đồng thời các đơn bào H meleagridis cũng được giải phóng và gây bệnh
Ngoài ra, gà tây có thể lây truyền từ con này sang con khác khi mổ ăn phân
của gia cầm nhiễm bệnh Tuy nhiên, H meleagridis tự do trong phân mà không
được bảo vệ bởi trứng giun kim sẽ chết một cách nhanh chóng, đặc biệt là trong thời
tiết khô nóng
* Truyền bệnh trực tiếp
Trong báo cáo ban đầu của Smith (1895) [35], sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu
đen đã được chứng minh qua thí nghiệm cho gà khỏe uống đơn bào H meleagridis
Trang 19Theo đuổi quan điểm của Smith, Curtice (1907) [12] đã làm các thí nghiệm cho gà tây khỏe ăn phân và các cơ quan bị tổn thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy
gà tây khỏe cũng bị nhiễm bệnh Tuy nhiên, các tác giả đều kết luận có thể gây nhiễm bệnh đầu đen ở gà và gà tây qua đường ăn, uống nhưng tỷ lệ nhiễm không cao
và vịt được 4, 6, 16 ngày tuổi ăn Sau đó, Tyzzer và Collier (1925) [38], tiếp tục gây nhiễm bệnh đầu đen trên một số gà 5 ngày tuổi bằng cách cho ăn gan gà bệnh Sau
hàng loạt thí nghiệm, Tyzzer (1926) [39] đã kết luận rằng H meleagridis có thể
được truyền đến một mức độ nào đó trong tự nhiên bằng cách ăn, uống các cơ quan
bệnh nặng, tác giả đã phát hiện ra rằng H meleagridis sống sót với tỷ lệ thấp khi đi
qua đường tiêu hóa do nồng độ pH thấp
Tác giả đã tiến hành gây nhiễm sau khi bỏ đói gà 18 giờ bằng cách cho uống huyễn dịch trong manh tràng của gà bị bệnh nặng, ông nhận thấy rằng tỷ lệ nhiễm bệnh của gà thấp
nồng độ pH tăng lên rất cao sau khi bổ sung 1 gam hỗn hợp gồm: canxi cacbonat chiếm 40 %, magie trisilicate 17 %, và cao lanh 43 %, tác giả nhận thấy tỷ lệ nhiễm
H meleagridis ở gà tăng lên Kết quả này đã chứng minh rằng H meleagridis có
thể sống sót ở nồng độ pH cao
Lund E E (1956) [29] đã gây bệnh bằng đường miệng cho 109 gà ở 6 - 9 tuần
tuổi, mỗi gà nuốt 10.000 - 50.000 H meleagridis Kết quả chỉ có 1 gà tử vong trong số
2 gà bị mắc bệnh do gây nhiễm Mổ khám thấy gan và manh tràng bị tổn thương
Mc Dougald L R (2003) [32] đã làm thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho gà 2
Trang 20tuần tuổi Tác giả đã đưa vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào H meleagridis nuôi cấy với liều 200.000 H meleagridis/ con Kết quả, tất cả gà gây nhiễm đã chết ở ngày 10 -
18, tiến hành mổ khám gà chết thấy gan và manh trang xuất hiện tổn thương điển
hình của Histomonosis
Để nghiên cứu sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen mà không có sự có mặt
của giun kim (Heterakis gallinarum) Mc Dougald L R (2005) [33] đã bố trí thí
nghiệm với 120 gà ở 2 tuần tuổi thành các lô riêng biệt:
Lô 1: 10 % gà bệnh (được gây nhiễm qua lỗ huyệt với H meleagridis liều 200.000 H meleagridis/ gà) và 90 % gà khỏe cùng nhốt trong chuồng sàn bê tông
Lô 2: tương tự lô 1, 25 % gà bệnh với 75 % gà khỏe
Tác giả thu được kết quả như sau: Những gà tiếp xúc với 25 % gà được gây nhiễm bắt đầu chết ở ngày thứ 16 và tất cả đều chết sau 23 ngày Những gà tiếp xúc với 10 % gà được gây nhiễm, bắt đầu chết ở ngày thứ 19, sau 31 ngày mổ khám gà chết và những gà còn sống đều thấy tổn thương gan nặng, manh tràng bị đóng kén Tiến hành soi tươi bệnh phẩm và phân không thấy có sự xuất hiện của trứng giun
kim (Heterakis gallinarum) Tác giả kết luận rằng, mặc dù giun kim H gallinarum
là kí chủ trung gian lây truyền bệnh đầu đen từ đàn gia cầm này sang đàn gia cầm
khác, nhưng qua thí nghiệm này cho thấy, H meleagridis có thể dễ dàng truyền từ
đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác khi ăn phân gà nhiễm bệnh mà không cần
sự có mặt của H gallinarum
Một số tác giả cũng tiến hành gây nhiễm bệnh qua lỗ huyệt cho gà ở các lứa tuổi khác nhau với các liều khác nhau, sau đó tiến hành theo dõi trong 10 - 15 ngày những gà gây nhiễm Các tác giả cũng thu được những kết quả nhất định:
Hu và cs (2004) [24] tiến hành gây nhiễm H meleagridis qua lỗ huyệt cho gà
2 tuần tuổi, liều 100.000 tế bào/ con Theo dõi trong 12 ngày thấy không có gà nào
bị chết, tiến hành mổ khám, thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng
Tỷ lệ tử vong bởi bệnh đầu đen ở gà lên đến 80 % đã được báo cáo bởi Mc Dougald L R (2005) [33] sau khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây ở 15 ngày tuổi
với lượng 200.000 H meleagridis/con
Trang 21Một tỷ lệ tử vong thấp hơn 50 % đã được báo cáo bởi Hauck và cs (2006)
[19], khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây 3 tuần tuổi với liều 150.000 H
meleagridis/ con
Một nghiên cứu khác về khả năng truyền bệnh trực tiếp ở gà tây cũng được
mô tả bởi Hess M và cs (2006) [22]: tác giả cũng tiến hành gây nhiễm thông qua lỗ
huyệt cho gà tây ở 14 ngày tuổi với liều 380.000 đơn bào H meleagridis Kết quả
những gà được gây nhiễm bài tiết mầm bệnh ngay sau khi gây nhiễm 2 ngày Sau
14 ngày gây nhiễm, mổ khám tất cả những gà sống sót, kiểm tra manh tràng và gan
thấy xuất hiện tổn thương nặng của bệnh đầu đen Ngoài ra, túi Fabricius cũng bị
phá hủy nặng nề
Hess M và cs (2008) [23] đã nghiên cứu bệnh đầu đen ở các loài gia cầm khác nhau trên mọi lứa tuổi với liều gây nhiễm khác nhau Các tác giả tiến hành gây nhiễm trực tiếp thông qua lỗ huyệt cho 14 loài gia cầm ở 1 ngày tuổi, 14 ngày tuổi và
8 tuần tuổi với liều từ 10.000 - 1.000.000 H meleagridis/ con Kết quả thu được, gia
cầm 8 tuần tuổi khi gây nhiễm với liều thấp hầu như không có dấu hiệu lâm sàng
của bệnh và không có loài nào bị chết Khi gây nhiễm với liều 1.000.000 H
meleagridis/ con, tất cả gia cầm đều chết từ 11 - 21 ngày sau gây nhiễm Mổ khám
kiểm tra gan và manh tràng có tổn thương nặng của Histomoniasis
đường ăn uống và qua lỗ huyệt, kết quả như sau: Gà gây nhiễm qua đường miệng tỷ
lệ mắc bệnh và tử vong thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt Cụ thể, gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20 %, tỷ lệ chết 2 %, trong khi gây nhiễm qua lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh 65 %, tỷ lệ chết 45 %
Gần đây Armstrong P L, Mc Dougald L R (2011) [8], tiếp tục nghiên cứu
sự truyền bệnh trực tiếp cho gà tây mà không cần sự có mặt của các vật chủ trung gian và điều tra khả năng lây nhiễm khi tiếp xúc Ông đã tiến hành 3 lô thí nghiệm khác nhau:
Lô 1: tiến hành nuôi nhốt chung với gia cầm đã mắc bệnh đầu đen
Trang 22Lô 2 và 3: gây nhiễm trực tiếp bằng 2 đường, thông qua đường miệng và
bơm trực tiếp vào lỗ huyệt (bằng một đầu ống hút nhựa gắn vào ống tiêm 10 ml H
meleagridis có trong hỗn hợp phân và manh tràng của gà bệnh được 4 ngày)
gà ở lô 2 được bơm trực tiếp vào lỗ huyệt có bệnh tích điển hình ở cả gan và manh tràng, trong khi đó không thấy gà ở lô 3 bị tổn thương khi cho bằng đường miệng Ở
lô 1 khi cho nuôi nhốt chung với đàn gà mắc bệnh đầu đen trước đó, mổ khám thấy
có 11 gà mắc bệnh và có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng trong số 36 gà đối chứng (chiếm 30,5 %)
gây nhiễm thông qua lỗ huyệt được tiến hành một cách phổ biến nhất và đạt độ tin cậy cao
đơn bào H meleagridis được sử dụng, tỷ lệ tử vong ở gà được gây nhiễm chiếm
hơn 70 % Trong đó gà tử vong sớm nhất có thể xảy ra ở ngày thứ 6 sau khi gây nhiễm và muộn nhất thường từ 13 - 15 ngày sau gây nhiễm
tổn thương nặng sau 3 tuần, gan ở giai đoạn đầu không thấy xuất hiện tổn thương hoặc một số ít có các tổn thương nhẹ
Các kết quả trên, cho thấy: Có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe bằng
2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi bị nhiễm mầm
bệnh Ngay sau khi tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, H meleagridis sẽ di chuyển
ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng
2.1.1.4 Vòng đời của Histomonas meleagridis
Lê Văn Năm và cs (2010) [4] tóm tắt vòng đời phát triển của đơn bào H
meleagridis như sau:
Trang 23Trong mô tổ chức của kí chủ (gà ta và gà tây) H meleagridis sinh sản theo
phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) hay thể hợp bào Khi theo phân ra khỏi kí chủ, ở thể hình roi và thể amip chúng chỉ sống
được trong vòng 24 h, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm trong
các trứng của giun kim H gallinarum Điều kiện khô ráo và nhiệt độ thấp giúp cho
H meleagridis tồn tại lâu trong môi trường thiên nhiên ngoài cơ thể Do đó gà bị
nhiễm bệnh khi ăn thức ăn, nước uống bị nhiễm trứng giun kim H gallinarum có chứa thể hợp bào H meleagridis
2.1.1.5 Nuôi cấy đơn bào H meleagridis
meleagridis đã báo cáo rằng: H meleagridis sinh trưởng tốt ở môi trường thạch
máu chứa 1% pepton so với môi trường thạch máu thông thường và thích hợp nhất ở độ pH 7,2 - 7,8
Bishop (1937) [9] đã thu thập các đơn bào H meleagridis từ các tổn
thương ở gan của gà mắc bệnh nặng, sau đó nuôi cấy trong môi trường huyết thanh ngựa pha với bột gạo với tỷ lệ 1: 8, đặt ống nghiệm thẳng đứng cũng thu
được kết quả tốt
DeVolt (1943) [13] cũng tiến hành thí nghiệm nuôi cấy đơn bào H
meleagridis trong hỗn hợp dung dịch huyết thanh gà tây 2% và NaOH 2%, pH =
thêm một ít dung dịch tinh bột gạo vô trùng Tác giả báo cáo rằng, có một số vi
khuẩn tồn tại trong môi trường nuôi cấy cùng với đơn bào H meleagridis
Các nhà nghiên cứu khác cũng tiến hành nuôi cấy H meleagridis ở các
môi trường khác nhau Lesser (1960) [28] thử nghiệm thay thế huyết thanh ngựa bằng sữa tươi và sữa bò Tác giả nhận thấy chỉ có sữa tươi đã được tiệt trùng hoặc chưa được tiệt trùng và được lọc qua màng lọc Selas (0,6 micron) là có kết quả tương tự với huyết thanh ngựa Việc thay thế sữa tươi bằng sữa bò tươi cũng không đạt được kết quả
Trang 24Sau này, Lesser (1960) [28] đã nuôi cấy H meleagridis trong môi trường
M199 pha loãng 10 lần bằng nước cất và bổ sung 10 % sữa tươi đã lọc hoặc
Mc Dougald và Galloway (1970) [31] khẳng định rằng: Môi trường nuôi
cấy đơn bào H meleagridis tốt nhất là môi trường Dwyers (1970) Môi trường
này bao gồm 85 % M199; 5 % chiết xuất phôi thai gà và 10 % huyết thanh cừu
hoặc huyết thanh ngựa, điều chỉnh pH 7,8 H meleagridis phát triển nhanh trong môi trường này và được sử dụng để chẩn đoán, xét nghiệm Histomoniasis
từ 28 - 48 h sau khi tiêm
2.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà
2.1.2.1 Lịch sử bệnh
Histomoniasis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode Island
(Cushman, 1894) [11] Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm nông nghiệp tại địa phương về tình hình dịch bệnh từ năm 1891, báo cáo đã đề cập về một " bệnh khó hiểu" xuất hiện trên đàn gà tây, với triệu chứng chung là da vùng đầu bị biến
đổi màu, gà mắc bệnh tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gà tây
Những người nông dân địa phương căn cứ vào triệu chứng đặc biệt đã quan sát
được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh
xám, thậm chí xanh đen nên gọi tên bệnh là bệnh “đầu đen”
Kể từ khi bệnh “đầu đen” xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về bệnh Sau một thời gian nghiên cứu, người ta nhận thấy dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì nó
có thể quan sát thấy trong một số bệnh khác của gà tây Theo Smith (1895) [35], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất Tác giả đã lấy bệnh phẩm là 2 cơ quan này để nghiên cứu và xác định
được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis), từ
đó bệnh đã được đặt tên là bệnh truyền nhiễm Enterohepatitis Nghiên cứu kỹ
hơn, Tyzzer (1920) [37], đã xác định được nguyên nhân gây bệnh và gọi tên sinh
vật đơn bào gây bệnh đó là H meleagridis Từ đó, bệnh cũng được gọi bằng tên khoa
Trang 25học là Histomoniasis Tuy nhiên, vì lý do tiêu chuẩn hóa đã được đề xuất từ (năm
1990) về việc sử dụng hậu tố osis cho các bệnh ký sinh trùng (2006), do đó bệnh có
tên khoa học là "Histomonosis"
Sau sự bùng nổ đầu tiên ở Rhode Island, năm 1901 bệnh Histomoniasis lần đầu
tiên được phát hiện ở gà và đến năm 1908 vụ dịch đầu tiên bùng phát trên gà gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Từ đó, các trang trại chăn nuôi ở Mỹ đã thực hiện mọi
biện pháp để cải thiện, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh nhưng Histomoniasis vẫn xuất hiện ở
nhiều tiểu bang Mỹ và là nguyên nhân chính gây tử vong ở gà tây (Lund, 1956) [29]
Tiếp sau Hoa Kỳ, bệnh xảy ra tại Nhật Bản vào năm 1905 (1910) Ở Châu
Âu, dịch Histomoniasis cũng xuất hiện và đã được báo cáo ở Áo (2006), Hà Lan
(2009), Bỉ (2007), Ireland (1894) và Anh (2007)
Ở Đông Âu, Micheva đã thông báo bệnh có mặt ở Bungari vào năm 1950
Ngày nay, Histomoniasis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới nhất là các nước
có ngành chăn nuôi gà tây và gà ta theo lối thả vườn và tập trung công nghiệp (Mc Dougald, 2005) [33]
Hiện nay ở Việt Nam, bệnh đã xảy ra ở nhiều nơi nhưng chưa có nhiều nghiên cứu báo cáo về bệnh Lê Văn Năm và cs (2010) [5] đã quan sát thấy hàng loạt đàn gà nuôi tập trung thả vườn tại một số tỉnh Phía Bắc bị mắc bệnh Bệnh đã bùng phát dữ dội và gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi
2.1.2.2 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Histomoniasis gây ra
Trong những thập kỷ gần đây, Histomoniasis đã gây ra thiệt hại nghiêm
trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà tây Những năm 1930, dịch bệnh
đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu vực Đông và
Trung Tây của Hoa Kỳ Trong năm 1945, bệnh đầu đen chiếm 32,2 % tỉ lệ tử vong của gà tây ở Bắc Carolina
Những năm tiếp theo dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường xuyên phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi
Ổ dịch Histomoniasis mới trên đàn gà tây, tỷ lệ chết 25 - 75 % đã được báo
cáo ở California vào năm 2001 (Jinghui hu (2002) [25]
Trang 26Van der Heijden H (2009) [41] tiếp tục báo cáo rằng: Ở California một đợt
bùng phát Histomoniasis tiếp tục gây tỷ lệ tử vong cao cho gà tây từ 9 - 11 tuần
tuổi Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: ăn ít hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy, giảm cân, và tỷ
lệ tử vong tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi Gà tây mắc bệnh ở 7 tuần tuổi tỷ tử vong
từ 24 - 68 % Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề mặt gan xuất hiện các nốt trắng nhạt khác nhau, kích thước 0,3 - 1,5 cm Thành manh tràng dày lên, niêm mạc bị
lở loét, túi Fabricius sưng to và có tiết dịch màu vàng nhạt Thận, tuyến tụy, lá
lách sưng Quan sát dưới kình hiển vi thấy có nhiều ổ hoại tử trong gan, manh
tràng, phúc mạc, túi Fabricius, thận, phổi, tuyến tụy,…
Mc Dougald (2008) [34] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở khu vực Bắc Mỹ đã báo cáo: Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến đàn gà tây nuôi tập trung, tỷ lệ tử vong lên đến
80 - 100 % Mặt khác, bệnh cũng được tìm thấy ở gà nhưng tỷ lệ chết chỉ đạt 10 %
Hauck và cs (2010) [20] báo cáo: Histomoniasis là một căn bệnh nghiêm trọng gây ra bởi kí sinh trùng đơn bào H meleagridis Tại Đức, trong khoảng thời gian từ
2004 đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch xảy ra ở gà tây, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Trong báo cáo, tác giả đã mô tả sự tiếp diễn liên tục qua các năm của bệnh đầu đen của một trang trại chăn nuôi gà tây ở Đức Ổ dịch đầu tiên xảy ra vào năm 2005 khi gà đạt 17 tuần tuổi Ổ dịch thứ 2 xảy ra vào năm 2009 khi gà 8 tuần tuổi
Tỷ lệ tử vong tăng đến 26 - 65 % trong vài ngày mặc dù điều trị với các hợp chất khác
nhau Trong cả hai trường hợp H meleagridis thuộc kiểu gen A đã được phát hiện
nhưng chưa nghiên cứu được nguồn lây nhiễm rõ ràng Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng
3 năm 2005,ở Pháp xuất hiện 113 ổ dịch Histomoniasis trên gà tây, trong đó 15 ổ dịch
là các trang trại gà giống Năm 2009 có sự bùng nổ của dịch Histomoniasis ở gà tây 9
đến 11 tuần tuổi với tỷ lệ tử vong 24 - 68 %
Bệnh do ký sinh trùng đơn bào H meleagridis gây ra Trong cơ thể gà
H.meleagridis cư trú chủ yếu ở manh tràng, gan và gây tổn thương nghiêm trọng 2
cơ quan này
Trong trường hợp không được điều trị, hơn 90 % số gia cầm bị bệnh có thể chết, số sống sót sẽ còi cọc, chậm lớn
Trang 27Ở Việt Nam bệnh được phát hiện vào tháng 3 năm 2010 do Lê văn Năm và
cs báo cáo Bệnh thường thấy ở gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, nhưng gà ta thì chậm hơn một chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc
Lê Văn Năm (2010) [5] bước đầu đã quan sát thấy ở Miền Bắc Việt Nam bệnh bùng phát mạnh vào các tháng nóng ẩm như: cuối xuân, hè, hè thu Trong khi
đó gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ) bệnh thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông Bệnh
gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của đại bộ phận không nhỏ người dân nước ta Tác giả cũng cho rằng các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng với giun kim mà giun kim là kí chủ trung gian truyền bệnh cho gà tây và gà thả vườn nuôi tập trung
2.1.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonasis) ở gia cầm
* Động vật mắc bệnh
Histomonasis thấy ở đàn gà, gà tây trên toàn thế giới Trong tự nhiên, gà
tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều có thể bị bệnh
Trong đó gà tây mẫn cảm hơn cả
Lund và Chute (1973) [30] đã thử nghiệm và gây bệnh cho 8 loài chim thuộc về loài gà và thấy rằng gà lôi trắng Trung Quốc là vật chủ tốt nhất cho giun tròn, tiếp theo là gà và gà sao
Cũng giống như gà tây, gà dễ nhiễm bệnh, nhưng khả năng gây bệnh cho
gà thấp hơn so cho gà tây Tỷ lệ tử vong ở gà là 10 % trong khi con số này ở gà tây có thể đạt 80 đến 100 % (Mc Dougald (2008) [34])
trong manh tràng vịt nhưng vịt không có triệu chứng lâm sàng của bệnh Lấy H
meleagridis ở manh tràng vịt gây nhiễm cho gà tây, gà tây bị mắc bệnh Từ những
phát hiện này có thể thấy rằng vịt đóng vai trò truyền bệnh cho các loài nhạy cảm
Bệnh xảy ra ở bất cứ nơi nào thích hợp cho sự tồn tại của giun kim Heterakis
gallinarum và các loại giun đất khác nhau được các phòng thí nghiệm chẩn đoán ở
Mỹ, Canada, Mexico báo cáo
Trang 28do H meleagridis thường xuyên nổ ra ở những cơ sở nuôi gà ta nuôi chung với gà tây
Bệnh bùng phát chủ yếu ở gà nuôi theo lối chăn nuôi tập trung (gà thả vườn)
trường thiên nhiên là do chúng thường kí sinh trong trứng của giun kim H
gallinarum, mà khi nuôi gà thương phẩm hoặc làm giống thì hầu như 100 % gà bị
nhiễm loại giun này Bởi thế mà gà ta và gà tây bị nhiễm H meleagridis chủ yếu qua
đường ăn uống trong đó có trứng giun kim H gallinarum
* Tuổi mắc bệnh
Tuổi đã từng được cho là một yếu tố ảnh hưởng đến sức đề kháng của
gia cầm với H meleagridis Có ý kiến cho rằng gia cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm Histomonasis hơn cả Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm Histomonasis càng giảm
Hauck và cs (2010) [20] cho biết: giai đoạn 1 - 2 tháng tuổi tỷ lệ mắc
Histomonasis cao nhất, triệu chứng bệnh điển hình nhất
Tyzzer E E và Collier J (1925) [38] đã khẳng định, không có sự khác biệt
về tính nhạy cảm với H meleagridis của gà tây từ 7 đến 20 tuần tuổi khi thí nghiệm cho ăn H gallinarum hoặc qua lỗ huyệt với H meleagridis Bệnh đầu
đen ở gia cầm, những gia cầm nhỏ thường mắc bệnh nghiêm trọng hơn những
gia cầm trưởng thành Theo Gibbs B J (1962) [17], không bao giờ tìm thấy bệnh
đầu đen ở đàn gà trên 6 tuần tuổi Lund và Chute (1973) [30] đã nghiên cứu đưa
các tổn thương ở manh tràng và gan qua lỗ huyệt cho gà con Tỉ lệ tử vong cao nhất ở nhóm gây nhiễm tại 21 ngày tuổi và thấp nhất ở 34 ngày tuổi
Kemp R L và J C Franson (1975) [30] cũng tiến hành thí nghiệm cho gà
ăn trứng H gallinarum và nhận thấy rằng những gà ở 32 ngày tuổi dễ nhiễm
bệnh hơn gà ở 46 hoặc 64 ngày tuổi Khi đưa qua lỗ huyệt của gà đơn bào H
meleagridis tác giả nhận thấy, những gia cầm từ 3 - 4 tuần tuổi nhạy cảm nhất
với đơn bào này
Kết quả gây nhiễm Histomonosis qua trực tràng cho gà ở các lứa tuổi
khác nhau của Hu J và cs (2004) [24] một lần nữa chỉ ra được mối quan hệ giữa
Trang 29tuổi gia cầm với khả năng nhiễm Histomonosis Theo tác giả, gà tuổi càng cao sức đề kháng với Histomonosis càng lớn, trong đó gà ở 3 - 4 tuần tuổi tỷ lệ mắc
bệnh cao nhất
Theo Lê Văn Năm (2010) [5], bệnh thường thấy ở gà tây từ 2 tuần đến 2
- 3 tháng tuổi, nhưng gà ta thì chậm hơn một chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc
* Mùa vụ
Gà mắc bệnh ở tất cả các tháng trong năm nhưng nhiều nhất từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm
Ở Việt Nam, Lê Văn Năm và cs (2010) [4] cũng báo cáo rằng, bệnh bùng
phát mạnh vào các tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè và hè thu Đối với những gà lớn tuổi (gà già và gà đẻ) thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông
* Điều kiện vệ sinh thú y
Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn
tới khả năng nhiễm Histomonosis của gà Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn
tại và phát triển của giun kim - môi giới trung gian truyền bệnh Theo Tyzzer E E
và Collier J (1925) [38], bệnh đầu đen xảy ra chủ yếu trên những đàn gà nuôi thả vườn, nơi mà gà thường xuyên tiếp xúc với môi trường đất
* Yếu tố stress
Các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu nóng ẩm, thức ăn kém dinh
dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan Histomonosis ở gà
2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh
Khi gà bị nhiễm bệnh qua miệng hoặc qua lỗ huyệt với, tác nhân gây bệnh xâm nhập vào manh tràng và thâm nhập vào niêm mạc ruột Tại đây, bằng
sinh sản trực phân, đơn bào H meleagidis nhân lên rất nhanh Số lượng đơn bào
lớn tác động vào niêm mạc manh tràng làm cho niêm mạc dày dần lên, sau đó dẫn đến hiện tượng viêm, loét, hoại tử Màng nhày và dịch viêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng như phomat Từ manh
Trang 30tràng, H meleagidis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc, theo máu xâm nhập vào gan H meleagridis ký sinh ở gan và gây hoại tử
gan Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đường kính khoảng 0,5
cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt gan Từ gan, đơn bào này sẽ lây lan đi khắp cơ thể Do đó, ngoài gan và manh tràng người ta còn tìm
thấy H meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương Tuy nhiên, H meleagridis không
gây tổn thương ở các cơ quan này
H meleagridis nhanh chóng được giải phóng ra khỏi trứng giun kim và bám vào
thành dạ dày, ruột, nhất là đoạn ruột mù (ruột thừa) Tại đây chúng bắt đầu sinh sản theo phương thức tự nhân đôi để hình thành ra các thể phân lập… chỉ trong một thời gian ngắn có hàng triệu tế bào niêm mạc dạ dày và ruột thừa bị phá hủy gây ra các ổ viêm loét hoại tử, rồi ngay sau đó là viêm phúc mạc cấp
tuyến và dạ dày cơ Từ các ổ loét của thành ruột thừa H meleagridis đi theo đường
huyết đến kí sinh trong các tế bào gan, tại đây chúng gây ra các ổ viêm xuất huyết hoại tử và phá hủy cấu trúc cũng như chức năng gan làm cho thể trọng gà nhanh chóng giảm sút Các ổ viêm loét của ruột thừa và của gan đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng thứ phát khác, làm cho gà kiệt sức và chết nhanh chóng
2.1.2.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen
* Triệu chứng
Gia cầm khoảng 3 - 12 tuần tuổi tỷ lệ và cường độ nhiễm H meleagridis cao,
có triệu chứng điển hình và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90 % Những dấu hiệu lâm sàng phát triển từ 12 - 15 ngày sau khi nhiễm bệnh và tử vong sau 15 - 21 ngày
nghiền, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều, gà lông xù, vùng hậu môn lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưu huỳnh (Mc Dougald và cs (2008) [34]) Sung
Trang 31huyết, phù nề, bạch cầu đa nhân trung tính tăng ở giai đoạn đầu của gà bệnh, các tế bào đa nhân khổng lồ tăng lên với số lượng rất lớn Farmer và cs (1951) [15] cho biết: Gà mắc bệnh trong phân có lẫn những mảnh của niêm mạc manh tràng, ông cho rằng gà tiêu chảy, phân màu vàng lưu huỳnh và trong phân có những mảnh tổ chức của niêm mạc manh tràng là dấu hiệu phổ biến nhất Triệu chứng tiêu chảy phân màu lưu huỳnh xảy ra trong giai đoạn cuối của bệnh, khi chức năng gan bị suy yếu Gia cầm sã cánh, đứng run rẩy, dấu đầu vào dưới cánh
rồi chết Giai đoạn cuối quan sát thấy gia cầm mào thâm tím, da mép và da vùng
đầu xanh xám, thậm chí xanh đen Bệnh thường kéo dài khoảng 10 - 20 ngày Trước
mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng gà chết kéo dài lê thê, gây cho người chăn nuôi cảm giác bệnh không nguy hiểm Thực chất cuối cùng gà chết 85 - 95 %
bệnh như sau: Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 1 - 4 tuần và phụ thuộc rất nhiều vào nhiễm trùng thứ phát Bệnh thể hiện ở 2 thể cấp tính và mãn tính, rất ít khi bệnh xảy ra ở thể quá cấp
- Thể quá cấp và cấp tính: Các triệu chứng lâm sàng của bệnh ở thể này thể hiện rất dữ dội Bệnh xảy ra hết sức đột ngột, gà đột nhiên ủ rũ và rúc đầu vào dưới
phân vàng lẫn bọt, sau vài ngày ỉa ra máu hoặc phân lẫn máu rất giống bệnh cầu trùng Sau đó vài ngày gà ỉa ra các thỏi phân màu nâu đỏ hoặc loãng trắng lờ mờ như nước vo gạo đặc Da mép, da vùng đầu, mào, tích nhanh chóng có màu xám xanh rồi chuyển sang xanh đen, nhìn thấy rõ nhất là ở gà tây Gần cuối giai đoạn ốm
rất rét Vì vậy cho dù bệnh xảy ra trong các tháng mùa nóng, nhưng những gà ốm vẫn tìm những nơi có ánh nắng mặt trời hoặc lò sưởi để sưởi ấm, mắt nhắm nghiền, đứng yên không cử động, đầu rúc vào nách cánh Bệnh kéo dài 10 - 20 ngày nên gà rất gầy, chúng liên tục run rẩy hoặc co dật rồi chết do suy nhược
cơ thể Tỷ lệ chết rất cao 80 - 95 % (nếu không được điều trị kịp thời)
Trang 32- Thể mãn tính: Thể mãn tính thường thấy ở gà ta, gà tây lớn tuổi với sự xuất hiện các triệu chứng đặc trưng như đã mô tả ở phần thể cấp tính, nhưng cường độ biểu hiện yếu vì thế chúng ta có thể quan sát thấy thể trạng đàn gà lúc tốt, lúc xấu Bệnh kéo dài 2 - 3 tuần và kết thúc gà bị chết vì suy nhược, tự nhiễm độc hoặc chết
do bệnh kế phát
* Bệnh tích
tổn thương đầu tiên trong manh trành từ ngày thứ 8 sau khi nhiễm Manh tràng bị viêm sưng, thành manh tràng dày lên gấp nhiều lần Sau đó trong dịch tiết có hồng cầu, bạch cầu, ký sinh trùng và chất dịch từ thức ăn tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống như pho mát Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò
rỉ chất chứa gây viêm phúc mạc
viêm xuất huyết, hoại tử Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm làm cho gan
lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek, có đường kính lên đến 1cm, Trường hợp nặng, tổn thương xuất hiện trên toàn bộ bề mặt gan
Các tổn thương ở các cơ quan khác như túi fabricius, phổi, lá lách, tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể xảy ra dưới dạng các ổ hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng
khô, cứng của protein huyết thanh và các mảnh vỡ tế bào Bề mặt màng thanh dịch của manh tràng có các ổ viêm loét, những ổ viêm này lan xuống làm viêm màng phúc mạc Gan của gia cầm bị mắc bệnh sưng, phù nề, thoái hóa, và hoại tử tế bào Mạch máu và các xoang bị tắc nghẽn Trong các ổ hoại tử, thấy xuất hiện các tế bào
lympho, các đại thực bào và các tế bào khổng lồ, sau này thường chứa đơn bào H
meleagridis (Smith, 1915 ; Tyzzer, 1920) [37]
Trên bề mặt gan bị tổn thương nặng, các mô hoại tử và thoái hóa có hình đĩa,
có màu vàng đến xanh vàng
Trang 33Van der Heijden H (2009) [41], nghiên cứu ảnh hưởng của Histomonas trên
các tế bào máu, ông nhận thấy rằng số lượng bạch cầu trong máu tăng ngay sau khi
hồng cầu không thay đổi Tổng số lượng các tế bào trở về mức bình thường 21 ngày sau khi nhiễm bệnh
Mc Dougald và cs (1970) [31] xác định tác động của Histomoniasis trên
nhiều enzym huyết tương ở gà và gà tây Hàm lượng glutamicoxalacetic transaminase (GOT) và lactic dehydrogenase (LDH) tăng đáng kể và bền vững trong 9 - 12 ngày sau khi gà nhiễm bệnh GOT hoạt động tăng lên khi gà mắc bệnh sau 9 ngày có tổn thương gan, và ở dưới mức bình thường khi gà mắc bệnh có tổn thương manh tràng nhưng không có tổn thương gan
Khi gà tây bị bệnh nồng độ albumin giảm và γ - globulin tăng đáng kể trong thời gian nhiễm Sự sụt giảm albumin là do tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc manh tràng cùng với sự xuất hiện một lượng lớn huyết thanh protein trong lòng manh tràng, sự gia tăng γ - globulin xuất hiện liên quan đến đáp ứng miễn dịch
2.1.2.6 Chẩn đoán
* Với gà còn sống
- Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với
gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn ít, lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu sạm màu, đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh…) Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald, 2008) [33]
- Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm, nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn đoán dễ dàng hơn
Trang 34Tiến hành mổ khám gà chết do Histomonosis, quan sát thấy ở gan và manh
tràng bị tổn thương nặng, bệnh tích điển hình của bệnh là: gan to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá vân cương, hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt
hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H meleagridis Trong điều kiện nhiệt độ ấm,
đơn bào vẫn hoạt động và điều này giúp việc chẩn đoán dễ dàng hơn Dưới kính
hiển vi quan sát thấy H meleagridis di chuyển không theo một hướng cố định, roi
chuyển động xoay ngược chiều kim đồng hồ giúp việc xác định dễ dàng hơn (McDougald, 2008) [34]
phần mô của gan và manh tràng Phương pháp nhuộm tiêu bản mô bệnh phẩm thường được áp dụng là nhuộm Hematoxilin-eosin và nhuộm PAS (Mc Dougald,
2008 [34])
Đơn bào từ nguyên liệu tươi (manh tràng gà bệnh) có thể được nuôi và nhân
lên trong môi trường Dwyer cổ điển (van der Heijden, 2009 [41]), giúp cho việc
quan sát H meleagridis dễ dàng hơn dưới kính hiển vi
Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (phản ứng chuỗi polymerase) cho kết quả nhanh chóng và chính xác Với phản ứng PCR, người ta có thể chứng minh ADN
của H meleagridis trong phân hoặc ruột PCR cũng giúp tìm ra ADN của ký sinh trùng H meleagridis trong các cơ quan khác như trong não, hoặc tuyến ức,… nơi
mà các phương pháp thông thường không thể chẩn đoán được sự có mặt ký sinh trùng này
* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác
Bệnh do H meleagridis cần phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau:
Trang 35Khi bổ đôi ruột thừa thì thấy chất chứa bị lẫn máu hoặc toàn máu đông thậm chí
máu tươi, trong khi đó chất chứa do đơn bào H meleagridis gây ra giai đoạn giữa
của bệnh cũng rất giống bệnh cầu trùng: chất chứa có màu nâu, đỏ lẫn máu, nhớt như máu cá Giai đoạn sau đó các chất chứa này tạo thành kén đông đặc, gạt lớp phủ niêm mạc ruột thừa ta thấy niêm mạc ruột thừa bị viêm hoại tử rất nặng, thành ruột thừa dày lên và rắn chắc, lỗ ruột thừa bé và hẹp lại rất nhiều so với bình thường
bề mặt gan giống như các ổ lao gà Trong khi đó các ổ viêm loét hoại tử ở bệnh đầu
đen lại bị lõm trũng ở giữa (tâm của ổ viêm loét do bệnh đầu đen bị lõm xuống)
- Bệnh lao gà
Các ổ lao (viêm loét hoại tử) quan sát được không chỉ ở gan mà còn thấy ở lách, ruột và tủy xương Bệnh lao gà chỉ quan sát thấy ở gà ta, gà tây lớn tuổi, nhưng không thấy ở gà con gà dò Ở bệnh lao gà không có các biến đổi tạo kén ở ruột thừa như ở bệnh đầu đen
2.1.2.7 Phòng, trị bệnh đầu đen cho gà
* Phòng bệnh
- Để phòng Histomonosis, trước hết không được nuôi chung gà tây với gà ta
- Phải chú ý đến mật độ và các thông số nhiệt độ, độ ẩm, khí độc chuồng
- Không nuôi nhiều lứa gà trong cùng một cơ sở chăn nuôi
- Hằng ngày phải quan sát vùng da đầu mép, mào và tích… để kịp thời phát hiện và điều trị ngay khi chưa phát thành dịch
- Thường xuyên quét dọn, vệ sinh khu vực chăn nuôi
- Chia khu vực chăn nuôi thành nhiều ô, thực hiện nuôi luân phiên gà trên các ô, tiến hành làm sạch, khử trùng tiêu độc ô chuồng vừa nuôi, để trống chuồng một thời
gian dài giúp phòng Histomonosis có hiệu quả
Trang 36- Thức ăn và nước uống phải được vệ sinh sạch sẽ, thiết kế vị trí để sao cho không lây nhiễm phân vào thức ăn, nước uống của gà
pha với 10 lít nước cho uống trong vòng 1 - 2 h/ ngày/ đợt
- Không thả gà ra vườn vào những ngày mưa gió
- H meleagridis có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà ăn phải trứng giun kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh, do đó cần hạn chế cho gà tiếp
xúc với đất, nên nuôi gà trên nền bê tông
- Hàng tuần cần phun thuốc khử trùng chuồng trại, cuốc xới vườn rồi rắc vôi bột để diệt trứng giun kim (Mc Dougald, 2008 [34])
* Trị bệnh
Ở Hoa Kỳ, Dimetridazole và Ipronidazole là 2 loại thuốc điều trị Histomonosis
hiệu quả Cả hai đều là thuốc thuộc nhóm Nitroimidazoles Tuy nhiên, những năm
1990 các nhà quản lý thực phẩm và thuốc ở Hoa Kỳ đã có quyết định cấm sử dụng 2 sản phẩm này vì thuốc tồn dư lâu trong sản phẩm và có thể gây ung thư
Nitarsone, một hợp chất chứa asen, có hiệu quả trong ngăn ngừa bệnh đầu đen khi sử dụng liên tục trong thức ăn, nhưng đây là một loại thuốc đắt tiền
Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị đầu đen có hiệu quả cao
Tại Việt Nam, công ty thuốc thú y Năm Thái đã khuyến cáo phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà như sau:
Cách 1:
T cúm gia súc: 1,5 - 2 g, T coryzin: 1,5 - 2 g, Super Vitamin 2 g Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm
Cách 2:
Trang 37T cúm gia súc: 1,5 - 2 g, T coryzin: 1,5 - 2 g, T.Flox - C 1,5 g, Docyvit Thái
Cả 4 loại trên pha vào 1 lit nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện nay ở Việt Nam, bệnh đã xảy ra ở nhiều nơi nhưng chưa có nhiều nghiên cứu báo cáo về bệnh Lê Văn Năm và cs (2010) [5] đã quan sát thấy hàng loạt đàn gà nuôi tập trung thả vườn tại một số tỉnh Phía Bắc bị mắc bệnh Bệnh đã bùng phát dữ dội và gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi
Theo Lê Văn Năm (2010) [5], bệnh thường thấy ở gà tây từ 2 tuần đến 2
- 3 tháng tuổi, nhưng gà ta thì chậm hơn một chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc
mạc ruột gây tụ huyết, ngoài ra còn chiếm đoạt dinh dưỡng của gà làm con vật gầy
yếu, gà con chậm lớn Trong quá trình ký sinh, chúng tiết độc tố và sản vật khác nên
gà bị trúng độc và dễ mắc bệnh viêm gan, ruột do loại đơn bào H meleagridis xâm
nhập vào trứng giun kim, gà ăn phải trứng này thì mắc bệnh
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [3] đã có những thông tin về đơn bào H meleagridis
và những tác hại của chúng gây ra ở gà, gà tây ở nước ta và cũng thống nhất đặt tên bệnh
là “ bệnh viêm gan ruột do trùng roi ở gà (Infectious Enterohepatitis)”
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [2], H meleagridis sống ký sinh trong trứng loài giun kim Heterakis gallinae Cả hai loài này đều sống ký sinh trong
ruột gà, gà tây và cả hai đều gây bệnh cho gà
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, bệnh do đơn bào H meleagridis được phát hiện năm 1893 ở
Rhode Island, sau đó bệnh được báo cáo ở khắp lục địa và nhiều nước khác Dịch
bệnh đo H meleagridis nhanh chóng lan xuống các vùng ven biển phía Đông, miền
Trung Tây và miền Tây Hoa Kỳ Bệnh có tỷ lệ chết cao (có thể tới 100%) Các nhà
khoa học sớm xác định đơn bào H meleagridis là tác nhân gây bệnh Giống như
nhiều ký sinh trùng khác, vòng đời H meleagridis rất phức tạp, liên quan tới một vật
chủ trung gian là giun kim Heterakis gallinae
Trang 38Các nhà nghiên cứu cho rằng, gà nhiễm bệnh từ trứng của giun kim hoặc ăn phải giun đất đã mang trứng của giun kim Bệnh này hầu hết các loại gà đều mẫn cảm, đặc biệt là gà tây và gà dò, ít thấy ở gà lớn > 5 - 6 tháng tuổi
Tyzzer E E (1920) [37] lần đầu tiên mô tả về hiện tượng bệnh ở gà tây do một loại đơn bào gây ra với những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở nên thâm đen và tác giả đã đặt tên là bệnh đầu đen (Bleck Head) Sau đó, bệnh được các tác giả khác quan sát thấy ở Bắc Mỹ, Tây Âu
và hàng loạt nước khác ở Nam Mỹ, Nhật Bản…
Ở Đông Âu, Mincheva đã thông báo bệnh có mặt ở Bungari vào năm 1950 Ngày nay, bệnh có mặt trên khắp năm châu, nhất là ở các nước có ngành chăn nuôi
gà và gà tây và gà ta theo lối tập trung công nghiệp (Hauck R., 2010) [19]
Ở Đức, Hauck R., (2010) [19] cho biết Histomonosis là một căn bệnh nghiêm
trọng gây ra bởi ký sinh trùng đơn bào H meleagridis, có thể dẫn đến tổn thất cao
trong chăn nuôi gà tây Báo cáo này mô tả sự tái diễn của Histomonosis trong một
trang trại chăn nuôi gà tây Các ổ dịch đầu tiên xảy ra vào năm 2005 gà 17 tuần tuổi
Ổ dịch thứ 2 xảy ra năm 2009 gà 8 tuần tuổi Tỷ lệ tử vong tăng đến 26 - 65% trong
vòng vài ngày, mặc dù điều trị với các hóa dược khác nhau Trong cả hai trường hợp,
H meleagridis thuộc kiểu gen A đã được phát hiện, nhưng chưa phát hiện nguồn lây
nhiễm rõ ràng
Trong chăn nuôi gia cầm hiện đại, không phải là chuyện bất thường khi các trang trại chuyển đổi chăn nuôi gia cầm từ loại này sang loại khác, nhưng sẽ có nhiều tác hại khi các trại chăn nuôi gà thịt chuyển sang nuôi gà tây Hầu hết các trang trại
chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm giun kim (Heterakis gallinae) nặng, mà giun kim
được biết đến như một vector sinh học truyền đơn bào H meleagridis cho đàn gia
cầm (Mc Dougald L R., 2003) [32]
Trang 39Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà nuôi tại 4 xã: Tân Khánh, Tân Kim, Bảo Lý, Hương Sơn của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu bệnh phẩm (gan, manh tràng, lách, thận, phổi, tim) của gà bị mắc bệnh
đầu đen do gây nhiễm và gà khỏe
* Hoá chất nghiên cứu:
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau tại 4 xã trên địa bàn huyện Phú Bình
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
Trang 40+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
+ Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 09 tháng 6 năm 2014 đến ngày 24 tháng 11 năm 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà
3.3.1.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà nuôi tại một số xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Tình hình nhiễm bệnh đầu đen tại 4 xã của huyện Phú Bình: Xã Bảo Lý, xã Hương Sơn, xã Tân Kim, xã Tân Khánh
- Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra
- Bệnh tích của gà bị bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra
3.3.1.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm
- Kết quả gây nhiễm bệnh đầu đen trên gà
- Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng của gà gây nhiễm
- Triệu chứng ở gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm
- Thời gian chết của gà sau gây nhiễm
- Bệnh tích đại thể ở gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm
- Bệnh tích vi thể ở manh tràng và gan của gà bị bệnh do gây nhiễm
- Xác định sự thay đổi khối lượng và thể tích các cơ quan nội tạng của gà gây nhiễm và gà đối chứng
3.3.2 Đánh giá hiệu lực của 2 phác đồ điều trị bệnh đầu đen
3.3.2.1 Hiệu lực của phác đồ điều trị trên diện hẹp
3.3.2.2 Hiệu lực của phác đồ điều trị trên diện rộng
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở
gà tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
3.4.1.1 Bố trí thu thập gà để mổ khám
Bố trí thí thu thập gà mổ khám theo phương pháp lấy mẫu phân tầng
Chúng tôi tiến hành thu thập mẫu theo công thức:
315 , 0 1 315 , 0 973 , 0 1
2 2